Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

Xây dựng hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong thời đại mới

 

Văn học, nghệ thuật (VHNT) là tấm gương phản chiếu cuộc sống. VHNT cách mạng Việt Nam có thể coi là cuốn đại nhật ký bằng nghệ thuật về nhân dân anh hùng, về Quân đội nhân dân anh hùng.

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ bình dị mà kiên cường, hiền lành mà dũng cảm, khiêm nhường mà tài giỏi, không sợ hy sinh gian khổ, với lý tưởng cao cả “Không có gì quý hơn độc lập tự do”... đã trở thành nguồn sống cho VHNT cách mạng. VHNT cách mạng lớn lên từ sức sống ấy lại trở thành nguồn cổ vũ to lớn, góp phần làm nên những kỳ tích của cách mạng Việt Nam. Ai đã từng hành quân gian khổ mới hiểu sức mạnh tinh thần là như thế nào.

Để có thể bước tiếp, cùng với ý chí chính là tinh thần, chính là sự thôi thúc của VHNT, trong đó có giai điệu Bác đang cùng chúng cháu hành quân (Huy Thục). Nhiều chiến sĩ trên đường ra trận, trong ba lô vẫn có cuốn tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy (Nikolai A.Ostrovsky) như là bùa hộ mệnh vậy.

Đọc nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc và Nhật ký Đặng Thùy Trâm, chúng ta có thể hình dung sức mạnh của VHNT có ý nghĩa như thế nào với người lính trên chiến trường xưa. Vậy ngày nay, anh Bộ đội Cụ Hồ có còn cần sức mạnh từ VHNT? Và, cuộc sống học tập, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của Bộ đội Cụ Hồ ngày nay có là nguồn cảm hứng cho VHNT phát triển?

Hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh giải phóng

Có thể nói, VHNT thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước đã rất thành công trong việc khắc họa hình tượng Bộ đội Cụ Hồ. Đó là những con người xuất sắc nhất, đẹp nhất: “Hoan hô anh Giải phóng quân/ Kính chào anh, con người đẹp nhất/ Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời” (Bài ca xuân 68, Tố Hữu).

Những con người đẹp nhất ấy là những con người bình dị, “người lính trường chinh áo mỏng manh”, những con người từ những làng quê nghèo: “Quê hương anh nước mặn, đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Hình ảnh người đồng chí, người lính chân thật không một nét tô vẽ: “Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá/... Chân không giày... Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”... Đôi tri kỷ cùng lý tưởng giải phóng quê hương, đất nước, bởi thế họ mới “Đứng bên nhau chờ giặc tới” rất tự tin, thanh thản, đẹp, tự nhiên nhưng cũng hết sức lãng mạn: “Đầu súng trăng treo” (Đồng chí, Chính Hữu).

Hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sống trong lòng dân được ví như cá với nước đã luôn xuất hiện trong VHNT. Hình ảnh gần gũi, thân thương và hết sức sống động của anh Bộ đội Cụ Hồ rất dễ gặp trong các tác phẩm VHNT từ thơ ca, hội họa, âm nhạc.

Dù khắc họa cách này hay cách khác, anh Bộ đội Cụ Hồ cũng hiện lên trong các tác phẩm VHNT hết sức chân thực, đó là hình ảnh đại diện cho một thế hệ Việt Nam anh hùng, bất khuất, dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân.

Thông qua những hình ảnh sống động của các tác phẩm nghệ thuật, người ta hình dung được hình tượng tuyệt vời, hình tượng hiên ngang của người có chính nghĩa đại diện cho một dân tộc anh hùng, đại diện cho chân lý, đại diện cho lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình...

Người chiến sĩ giải phóng quân hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất được Lê Anh Xuân khắc họa “Đứng lặng im như bức thành đồng” và đã “Để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”. Đúng như vậy! Hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ “tạc vào thế kỷ 20" là hình tượng bất diệt sẽ sống mãi cùng lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới!

Loài người tiến bộ sẽ ngày càng nhận thức rõ hình tượng tuyệt vời của anh Bộ đội Cụ Hồ thế kỷ 20 là người chiến sĩ của hòa bình tự do và công lý! Từ hình ảnh cụ thể người chiến sĩ hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất, Lê Anh Xuân đã xây dựng hình tượng dáng đứng Việt Nam, để từ dáng đứng ấy “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.

Điều đó khẳng định nghệ thuật có khả năng khái quát kỳ diệu, hình tượng nghệ thuật có đường đi riêng của nó, được xây dựng từ cái thực, cái cụ thể thành một cái chung, một cái khái quát mạnh mẽ hơn, đẹp hơn và thực hơn cả cái thực đơn lẻ. Vấn đề là làm thế nào để chớp được những khoảnh khắc hiếm có của những nhân vật đặc biệt trong hoàn cảnh đặc biệt.

Có ý kiến cho rằng, trong chiến đấu trực diện với kẻ thù xâm lược mới có những khoảnh khắc như vậy! Và trong khoảnh khắc ấy, hoàn cảnh ấy, trái tim người viết mới dâng tràn cảm xúc để sáng tạo nghệ thuật. 

Quả thực, hình tượng nghệ thuật tự hình thành từ hiện thực khách quan, chứ không thể “xây đắp, tô vẽ”, nhưng hiện thực khách quan cũng không tự trở thành hình tượng nghệ thuật nếu thiếu sự sáng tạo của người sáng tác. Vai trò của các nhà văn, các nhà sáng tạo nghệ thuật là hết sức quan trọng. Họ là thợ săn tài năng có thể “săn bắt” hiện thực khách quan.

Với nhà văn, nhà thơ, nhà sáng tạo nghệ thuật thì nó không chỉ có thế. Người họa sĩ nhìn thấy cái ánh sáng hết sức tinh tế của trăng trong tác phẩm cô gái tắm dưới trăng. Nhà thơ còn có thể hẹn hò cùng trăng: “Việc quân đang bận xin chờ hôm sau” khi “Trăng vào cửa sổ đòi thơ”! (Hồ Chí Minh).

Hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ muốn trở thành hình tượng trong VHNT thì chủ thể sáng tạo thuộc về các nhà văn, các nhà sáng tạo nghệ thuật... Còn với bộ đội thời nay, hoạt động sáng tạo trong luyện tập SSCĐ và chiến đấu, chính là hoạt động tạo nên cái hiện thực khách quan sinh động làm tiền đề để xây dựng hình tượng nghệ thuật về anh Bộ đội Cụ Hồ thời hiện đại.

Đôi điều suy nghĩ 

Từ những phân tích trên tôi cho rằng, để xây dựng hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ thời hiện đại trong tác phẩm VHNT, cần quan tâm đến hai thành phần quan trọng sau:

Thứ nhất, là người sáng tạo VHNT. Đó là những nhà văn, nhà hội họa, nhạc sĩ, đạo diễn, nghệ sĩ... những chủ thể sáng tạo VHNT. Không có họ không có VHNT, không có VHNT thì không có hình tượng nghệ thuật về anh Bộ đội Cụ Hồ!

Với vai trò chủ thể ấy, đội ngũ này cần được quan tâm đặc biệt. Về đào tạo, đành rằng lĩnh vực sáng tạo VHNT không đơn thuần học trong sách vở mà thành được, nhưng không học, không có tri thức, không có sự hiểu biết sâu rộng không thể thành công lớn trong sáng tạo VHNT.

Lĩnh vực sáng tạo cần người có năng lực trời phú, người có “thiên bẩm” đặc biệt được trân trọng, nhưng không vì thế mà đề cao một cách lệch lạc về yếu tố này. Không được đào tạo khó có thể thành công lớn. Nhìn đội ngũ các nhà văn, các nhà hội họa, các nhạc sĩ, đạo diễn, nghệ sĩ tên tuổi một thời, phần lớn họ được đào tạo tại Liên Xô (trước đây) và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Trung Quốc, Cuba...

Hiện công tác đào tạo trong nước cũng đã được chú trọng, các hội cũng mở nhiều trại sáng tác có kết quả tốt... Tuy nhiên, đào tạo tại nước ngoài trong điều kiện mở cửa hội nhập là hết sức cần thiết. Nhà nước nên có chính sách cụ thể về việc này.

Cùng với việc đào tạo tại các trường, các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, cần tạo môi trường thực tiễn sinh động cho sáng tạo VHNT. Bài học sinh động của những văn nghệ sĩ áo lính ra chiến trường vẫn còn nguyên giá trị cho hôm nay. Nếu không hành quân trên dãy Trường Sơn thì Phạm Tiến Duật khó có Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây hay Tiểu đội xe không kính; Hữu Thỉnh không là lính xe tăng khó có Năm anh em trên một chiếc xe tăng.

Nên chăng có những chiến sĩ cầm bút nơi biên cương, nơi hải đảo bình yên nhưng cũng đầy thách thức hiểm nguy. Nếu có thể có người cầm bút theo các chiến sĩ Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình với những hoạt động mới mẻ khẳng định tầm vóc anh Bộ đội Cụ Hồ thời đại mới.

Chỉ có đẫm mình trong thực tiễn sinh động mới có những cảm xúc thực và những thăng hoa nghệ thuật đặc sắc. Thợ săn phải vào rừng. Đánh bắt cá lớn phải ra khơi xa. Điều giản đơn ấy chắc không ai phủ nhận!

Thứ hai là anh Bộ đội Cụ Hồ. Cần nhận diện anh Bộ đội Cụ Hồ thời nay như thế nào? Cái gốc anh bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu có lẽ không có nhiều thay đổi. Nhưng nhân dân Việt Nam ngày nay cũng đã có nhiều điều khác xưa, ít nhất không nghèo như xưa, không có cảnh “Áo anh rách vai/ Quần tôi có vài mảnh vá”.

Người mẹ Hà Bắc thương anh bộ đội cũng không phải vá tấm áo cho các anh! Nhưng tình quân dân về bản chất vẫn hết sức sâu nặng, gắn bó, tình đồng chí, đồng đội vẫn "Như năm ngón tay trên một bàn tay”, vấn đề là hoàn cảnh và sự biểu cảm đã khác. Người sáng tạo không thể lặp lại hình ảnh cũ. Nhiều người cho rằng ngày nay, trong hòa bình khó có được những hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ như trong chiến tranh.

Đúng là thế! Nhưng giả sử có cái gì đó giống thế mà sao chép lại cũng không thành nghệ thuật. Nghệ thuật tối kỵ sự nhàm chán, sao chép hời hợt.

Có lẽ phải nhìn nhận anh Bộ đội Cụ Hồ ở tầm kích mới, tư duy mới, nhiệm vụ và vị thế mới. Anh Bộ đội Cụ Hồ hôm nay với nhiệm vụ lớn lao là giữ gìn hòa bình cho đất nước, đồng thời tham gia gìn giữ hòa bình thế giới. Nhiệm vụ giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ cả vùng trời, vùng biển và đất liền trong hoàn cảnh ngày nay cũng hết sức phức tạp.

Không chỉ cần làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại mà còn đủ hiểu biết và sự kiên nhẫn, khôn ngoan để không bị kích động rơi vào bẫy kẻ thù, đồng thời lại đủ nhanh nhẹn, sáng tạo kiên quyết giữ vững chủ quyền đất nước.

Xem vậy, anh Bộ đội Cụ Hồ thời nay phải học tập, rèn luyện phẩm chất, ý chí và năng lực tác chiến đặc biệt cao mới có thể hoàn thành nhiệm vụ. Mặt khác, nhu cầu chính đáng về đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người cũng có những tác động không nhỏ đến tâm tư và hình ảnh người lính. Quả thật, để xây dựng hình tượng nghệ thuật Bộ đội Cụ Hồ cho xứng tầm trong thời nay thật không dễ. Có thể phải trông chờ những người cầm bút tình nguyện sống rèn luyện SSCĐ và chiến đấu như người lính thực thụ để hiểu sâu sắc hơn về người lính Cụ Hồ hôm nay.

Thay lời kết

Vấn đề đặt ra thật thú vị! Tuy nhiên, kết quả của nó lại phải chờ thời gian kiểm chứng. VHNT không phải cái muốn là có ngay. Hy vọng và tin tưởng hình ảnh sống động của anh Bộ đội Cụ Hồ thời hiện đại sẽ là chất men say nồng làm cho các nhà sáng tạo nghệ thuật xây dựng hình tượng anh Bộ đội Cụ Hồ “tạc vào thế kỷ 21”, thế kỷ Việt Nam vươn tới chân trời mới!

ĐÚNG VÀ SAI. TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI

 Sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ đã quá quen với hình ảnh của mình là một siêu cường duy nhất của thế giới. Tuy nhiên sự kiện chấn động tại Ukraina trong hơn một tháng qua, như một gáo nước lạnh dội thẳng mặt Mỹ và phương Tây, khiến giới chính trị phương Tây không kịp phản ứng, bàng hoàng thức tỉnh bởi trước giờ họ vẫn quá sai lầm khi coi thường sự trỗi dậy của nước Nga.

Phương châm cơ bản trong giải quyết mối quan hệ đối ngoại vì lợi ích chiến lược của đất nước

 

Tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực đang có sự thay đổi dẫn đến sự điều chỉnh chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, tập hợp lực lượng xung quanh các nước lớn và trật tự khu vực đang diễn ra quyết liệt, khó lường. Việt Nam, với vị thế địa - chính trị của mình cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy của thay đổi tương quan lực lượng và điều chỉnh chính sách của các nước lớn trong khu vực, đòi hỏi cũng phải có sự điều chỉnh chính sách, nhất là chính sách đối ngoại để thực hiện được mục tiêu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước theo phương châm: Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế: “Thúc đẩy việc tôn trọng, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản và phổ quát của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế trong quan hệ quốc tế, nhất là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị - xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước... bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, bác bỏ hành vi cường quyền, áp đặt, gây căng thẳng và thù địch trong quan hệ quốc tế”.

Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam cần chủ động tranh thủ, khai thác có hiệu quả những điểm tương đồng, tạo dựng mặt đồng thuận, hạn chế, khắc chế mặt bất đồng với những tác hại đến lợi ích chiến lược của đất nước. Coi trọng và xử lý đúng đắn, linh hoạt, hài hòa quan hệ giữa các nước, nhất là các nước lớn, các nước có chung đường biên giới, các nước láng giềng, các tổ chức khu vực và quốc tế dựa trên vị trí địa chiến lược, lợi ích chiến lược của đất nước. Thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh và phát triển bền vững. Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, các đảng cầm quyền ở các nước và những tổ chức, phong trào tiến bộ khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương trong khu vực và trên thế giới. Chủ động đẩy mạnh hợp tác theo hướng thiện chí, minh bạch, tăng cường xây dựng lòng tin với các đối tác. Trong đó, cần khéo léo, không để hiểu lầm Việt Nam “bắt tay” với nước này chống nước kia, gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc.

Bối cảnh quốc tế, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó đoán định. Do đó, cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo toàn diện tình hình và xu thế phát triển trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, đối ngoại, khoa học - công nghệ, quân sự... của quốc tế, khu vực, các nước lớn, các nước ở Đông Nam Á; thực trạng và xu hướng phát triển mối quan hệ giữa các nước lớn, các nước Đông Nam Á, các nước có nhiều lợi ích liên quan đối với Việt Nam. Nhận diện kịp thời, đúng đắn, thực chất mối quan hệ, sự thỏa thuận hoặc mâu thuẫn, thống nhất giữa các nước lớn với các nước ở khu vực trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực liên quan đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc lớn (chủ nghĩa sô-vanh mới), chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân tộc ly khai và chủ nghĩa dân tộc biệt lập.

Đấu tranh, phê phán các quan điểm sai lầm, phản động trong việc tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình, xem nhẹ lợi ích của quốc gia - dân tộc khác, lảng tránh những vấn đề toàn cầu, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhân loại, như dịch bệnh, đói nghèo, ô nhiễm môi trường và chiến tranh... Kiên quyết, kiên trì trong việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biên giới trên bộ, trên biển, đảo bằng giải pháp hòa bình, trên cơ sở hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích giữa các nước, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong đó, hợp tác giải quyết tốt các vấn đề về xung đột lợi ích giữa các quốc gia trên biển, nhất là việc giải quyết thỏa đáng vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia ở Biển Đông; kiên trì, kiên quyết bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế.

Xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, kiên quyết thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), kiên trì thông qua đối thoại giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, hạn chế, loại trừ xung đột vũ trang, tạo môi trường và điều kiện tốt nhất để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước. Kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, lợi ích địa phương, lợi ích riêng của doanh nghiệp mình mà làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chiến lược của đất nước trong quá trình hợp tác, quan hệ với nước ngoài. Thường xuyên nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống./.

TÌM HIỂU VỀ LỢI ÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

 

Lợi ích là sự phản ánh quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hội (cá nhân, tập đoàn, giai cấp, tầng lớp, quốc gia, dân tộc...) trong những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định. Lợi ích của đất nước bao giờ cũng được phản ánh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao...; có các hình thức lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; lợi ích trong nước và các lợi ích hợp pháp khác ở nước ngoài. Đối với Việt Nam, lợi ích quốc gia - dân tộc là lợi ích của nhân dân; bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước là nội dung cốt lõi, nền tảng, nguyên tắc bất biến để giải quyết mọi vấn đề.

Chiến lược là tổng thể các phương châm, chính sách và mưu lược được hoạch định để xác định mục tiêu, sắp xếp, quy tụ lực lượng và đề ra giải pháp nhằm đạt một mục đích nhất định bằng con đường có lợi nhất, tạo ra trạng thái phát triển mới của một lĩnh vực (chiến lược chuyên ngành), toàn xã hội (chiến lược quốc gia) hoặc toàn thế giới (chiến lược toàn cầu) trong một thời kỳ nhất định. Chiến lược được áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, quân sự, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... Việc lựa chọn các mục tiêu chiến lược hiện thực (mục tiêu cơ bản, mục tiêu trung gian, mục tiêu trước mắt), sắp xếp lực lượng chiến lược hợp lý (lực lượng chủ lực, lực lượng hậu bị) và tìm các giải pháp chiến lược khả thi (giải pháp cơ bản, giải pháp tình thế, các chính sách liên quan) là các yếu tố đặc trưng của chiến lược.

Căn cứ vào tầm quan trọng của lợi ích, có thể thấy lợi ích cơ bản của Việt Nam là Tổ quốc độc lập, thống nhất, giàu mạnh, lãnh thổ toàn vẹn (cả vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo), nhân dân làm chủ để thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc. Lợi ích chiến lược là nội dung cốt lõi trong lợi ích cơ bản của đất nước, nó có hàm nghĩa sâu hơn. Lợi ích chiến lược của đất nước là tổng thể các mục tiêu cơ bản, trước mắt, lâu dài và mang tầm vĩ mô cần đạt được trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - công nghệ, quân sự, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ chính trị, bảo đảm quốc gia - dân tộc ngày càng phát triển lớn mạnh, có vị thế quốc tế ngày càng cao. Lợi ích chiến lược của đất nước không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia - dân tộc, mà còn là những lợi ích chính đáng nằm bên ngoài biên giới, lãnh thổ; là những quyền liên quan đến khả năng sinh tồn và phát triển của đất nước như hòa bình, hợp tác và phát triển; là quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển, trên không, đất liền, trên không gian mạng, dưới lòng đất... được luật pháp quốc tế công nhận. Nội dung tối thượng trong lợi ích chiến lược của đất nước là “giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm các điều kiện cho sự phát triển của quốc gia - dân tộc”; mục tiêu lớn nhất là sự trường tồn và hưng thịnh của đất nước.

Lợi ích chiến lược của đất nước là căn cứ quan trọng để xác định hình thức, biện pháp tổ chức thực hiện, tiến hành bằng cả sức mạnh vật chất và tinh thần trong quá trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược. Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước là bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị - xã hội, ngăn ngừa chiến tranh, xung đột...; bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển, đất liền, dưới lòng đất, trên không, trên không gian mạng...; bảo vệ cục diện đã được thiết lập, đan cài với các nước, có lợi cho Việt Nam; không đẩy Việt Nam vào trạng thái bị động, bất ngờ, trong thế bị bao vây, cô lập trên trường quốc tế; lấy sự ràng buộc lợi ích giữa Việt Nam với các nước để tạo thế cân bằng chiến lược trong mọi tình huống... Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước phải dựa vào đấu tranh kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa - xã hội... trong đó, lấy đấu tranh ngoại giao, pháp lý là chủ yếu. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”./.

PHẠM MINH VŨ "CON RỐI' LƯU VONG CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC.

 


Phạm Minh Vũ, sinh năm 1992, năm 1999 như mới là một đứa con nít vào lớp 2. Vậy mà một số người vẫn nghe nó phét nổ; thực chất đây là thằng mất dạy; nó viết bài thuê, lấy tiền của ba que. Sinh ra và lớn lên tại Quảng Trị, từng là sinh viên Trường Cao đẳng Phát thanh và Truyền hình 1 tại tỉnh Hà Nam. Không như những sinh viên khác luôn nỗ lực học tập để thành tài, Phạm Minh Vũ lại dành thời gian quý báu để truy cập vào những trang phản động và bị tiêm nhiễm những tư tưởng chống đối, rồi tham gia vào những hoạt động tội lỗi, đi ngược lại những quy định của nhà trường và bị đuổi học.

XỬ LÝ NGHIÊM MINH HÀNH VI THAM NHŨNG, TIÊU CỰC



Xử lý nghiêm minh, cả cán bộ cao cấp, đương chức và đã nghỉ hưu, có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao

QUYỀN ĐƯỢC BIẾT – QUYỀN ĐƯỢC NÓI – QUYỀN ĐƯỢC PHÁN XÉT

Năm 1997, xã hội Việt Nam ngỡ ngàng, khi ai đó đủ tiền mua một cái cục màu đen, cắm dây điện thoại vào, bấm số 1260 hoặc 1269… thế là kết nối với toàn nhân loại. Con người – không chỉ riêng người Việt, đã cảm thấy sự “vĩ đại” của bản thân vì đã “xóa nhòa” mọi khoảng cách, điều mà trước đó 100 năm, dù điện thoại hữu tuyến đã được đưa vào sử dụng cũng không tưởng tượng ra nổi. Mà nói chi cho xa, trước đó chỉ 30 năm thôi, 1967,  khi mạng lưới intranet đầu tiên của nhân loại được thiết lập, người ta cũng không tưởng tượng được cái ngày mà hai người ở hai nửa quả địa cầu ngồi trước cái màn hình như thể đang gần nhau lắm.

Xây dựng chính sách theo địa bàn và trình độ phát triển gắn với xây dựng nông thôn mới

 


 Mỗi vùng DTTS, mỗi cộng đồng DTTS có những đặc điểm riêng khác biệt, nhất là sự khác biệt về văn hóa, trình độ phát triển và địa bàn cư trú. Do đó để hệ thống chính sách về vấn đề dân tộc có hiệu quả, Chính phủ, các bộ ngành có liên quan cần trú trọng đến các đặc điểm riêng của từng vùng dân tộc, tôn giáo

 Khi đề xuất chính sách phải chú ý đặc biệt đến công tác bảo tồn và phát triển các dân tộc ít người, các dân tộc điều kiện KT-XH còn khó khăn; phát huy vai trò của người có uy tín trong việc phát huy các giá trị văn hóa. Bên cạnh đó các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Duyên hải Miền Trung cũng cần có chính sách đàu tư tập trung nhằm giải quyết cơ bản vấn đề dời sống các dân tộc gắn với việc xây dựng và củng cố an ninh, quốc phòng

Trong khi các khu vực khác có điều kiện thuận lợi hơn thì chinh sách tập trung cải thiện hạ tàng kỹ thuật, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tạo điều kiện kinh tế cho sự phát triển các lĩnh vực khác.

Cùng với đó các chính sách cần gắn kết chặt chẽ, thực hiện tốt các mục tiêu và nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới trên cơ sở chọn lọc nội dung, tiêu chí phù hợp với địa bàn từng dân tộc

Những thành tựu của CNXH hiện thực (1917-1991)

 


Trong quá trình xây dựng CNXH, Liên xô và các nước XHCN đã tiến hành CNH, HĐH, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, từng bước khẳng định vị thế, sức mạnh của chế độ XHCN. Liên xô trở thành một cường quốc hùng mạnh và đã trở thành trụ cột cho hòa bình, dân chủ; đồng thời xác lập vị trí, vai trò không thể thiếu trong đời sống chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế, với tiếng nói đầy trọng lượng trong nhũng quyết định quan trọng nhất của thế giới trong thế kỷ XX.

- Về chính trị. Hệ thống XHCN đã xây dựng một chế độ chính trị tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của văn minh nhân loại:

+ Xác lập quyền thống trị của giai cấp công nhân, đưa nhân dân dân lao động trở thành người làm chủ. Chế độ xã hội chủ nghĩa không chỉ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế cho nhân dân lao động ở các nước xã hội chủ nghĩa, mà hơn thế nữa nó còn thúc đẩy trào lưu đấu tranh cho quyền tự do dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa và trên toàn thế giới

+ Xoá bỏ mọi áp bức, bất công giữa người và người.

+ Xây dựng Nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Nhà nước từng bước hoàn thiện, lôi cuốn đông đảo ngưòi dân vào quản lý xã hội, quản lý đất nước. Chế độ chính trị này, trên thực tế đã tạo ra thế đối trọng giữa hai thể chế chính trị trên thế giới: CNXH và tư bản chủ nghĩa.

- Về kinh tế - kỹ thuật.

Trong hơn bảy mươi năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt được những thành tự to lớn trên lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật

+ Xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội trên quy mô lớn với trình độ càng hiện đại, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười so với nước phát triển khác bị lạc hậu từ 50 đến 100 năm. Khi bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ bằng 1/22 của Mỹ cùng thời. Nhưng, chỉ sau một thời gian ngắn, Liên Xô đã trở thành một trong hai siêu cường của thế giới. Năm 1937, tổng sản lượng công nghiệp của Liên Xô vươn lên đứng đầu châu Âu, dứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ. Năm 1985, thu nhập quốc dân của Liên Xô bằng 66% của Mỹ, sản lượng công nghiệp bằng 85% của Mỹ.

+ Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, vươn tới nhiều đỉnh cao về khoa học - công nghệ, đặc biệt đã mở ra kỷ nguyên con người chinh phục vũ trụ. Ngày 12/4/1961 trên con tàu vũ trụ Phương Đông, phi hành gia Alekseievich Gagari, công dân Liên Xô là người đầu tiên trên thế giới thực hiện chuyến bay vào vũ trụ, mở ra thời kỳ chinh phục vũ trụ của con người (20/7/69 Amstrong đặt chân lên mặt trăng).

+ Nền giáo dục Xô-viết đã được xếp vào hàng tiên tiến hàng đầu thế giới. Liên Xô đã trở thành một nước có trình độ học vấn cao, thu được những thành tựu đáng kể trong việc chăm sóc sức khỏe, phát triển y tế và bảo đảm phúc lợi xã hội cho nhân dân lao động. Trước Cách mạng Tháng Mười, 3/4 nhân dân Nga mù chữ, chỉ sau 20 năm, nạn mù chữ đã bị xóa bỏ. Vào cuối năm 1980, Liên Xô là một trong những nước có trình độ học vấn cao nhất thế giới (164 triệu nguời có trình độ trung học và đại học, số lượng các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực cũng đứng vào hàng đầu thế giới).

+ Liên bang Xô viết và một số nước XHCN ở Đông Âu có công lớn trong đào tạo giúp đỡ các nước thuộc hệ thống XHCN, các nước lạc hậu phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và lãnh đạo quản lý ở nhiều quốc gia, khu vực.

- Trên lĩnh vực xã hội, CNXH hiện thực đã có nhiều đóng góp, thành tựu trong giải quyết hàng loạt vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội (chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, tạo việc làm cho người lao động, chế độ phúc lợi công cộng trong GD - ĐT, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân v.v...).

- Trên lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật... đã phát triển rực rỡ, hết sức phong phú, độc đáo. Đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân đều được chăm lo, mọi người dân đều được hưởng thụ những phúc lợi xã hội chất lượng cao, được sống trong một môi trường yên bình, lành mạnh trong tình thương, lẽ phải và sự tôn trọng lẫn nhau.

- Về quốc phòng và đối ngoại, nhờ sự tồn tại, phát triển cả hệ thống các nước XHCN, CNXH hiện thực đã đóng góp thiết thực vào việc giữ gìn hoà bình trên thể giới, góp phần thúc đẩy các phong trào cách mạng dân tộc, dân chủ và các phong trào tiến bộ trên thế giới. Với nguyên lắc có giá trị thực tiễn về đổi ngoại là: hòa bình, hợp tác, hữu nghị, cùng có lợi và không xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của nhau của các nước XHCN đã góp phần gìn giữ hòa bình cho nhân loại.

Tóm lại, cho dù lịch sử có biến động như thế nào, dù ai đó cố tình xuyên tạc lịch sử cũng không thể phủ nhận được sự thật là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã có một thời phát triển rực rỡ và đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo nên mối quan hệ đối trọng giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản hiện đại, mở ra triển vọng phát triển mới, tiến bộ của nhân loại.

Cảnh giác với luận điệu bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

 

Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Chúng cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân.

Bóc trần âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc

Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản.

Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ.

Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội...

Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá.

Chúng còn đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”...

Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo.

Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”.

Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội...

Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ...

Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân.

Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta.

Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước.

Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch.

Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch.

Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta.

Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu./.

Khắc phục sự chồng chéo, bất cập, xây dựng tính dài hạn trong hệ thống chính sách dân tộc

 


Ủy ban dân tộc làm đầu mối rà soát lại hệ thống chính sách dân tộc đang được thực hiện trên địa bàn vùng DTTS nhằm đánh giá quá trình tổ chức thực hiện và kết quả thực hiẹn chính sách để duy trì các chính sách còn hiệu lực, có hiệu quả và phát hiện ra những chính sách chồng chéo, bất cập theo lĩnh vực do các bộ, ngành quản lý, từ đó có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung chính sách mớid cho phù hợp. Trong đó cần ưu tiên theo các lĩnh vực: đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phát triển nguồn nhan lực, đào tạo nghề gắn với việc làm, sử dụng cán bộ người DTTS và giảm nghèo bền vững ở các vùng DTTS.

Ngoài hệ thống chính sách chung cho cả nước, khu vực DTTS có số dân ít, các vùng dân tộc trọng điểm hay bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá chế độ cần phải được ưu tiên thực hiện một số cơ chế chính sách đặc thù và luôn được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với mỗi một giai đoạn phát triển.

-Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cần trú trọng xây dựng chính sách theo hướng dài hạn, hiệu quả, bền vững và công bằng.

+ Khi xây dựng các chính sách phải bảo đảm đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực

Khi xây dựng các chính sách phải bảo đảm đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đào tạo nguồn nhân lực và an sinh xã hội ở các vùng dan tộc theo chủ trương của Đảng.

+ Các chính sách kinh tế bảo đảm điều kiện đầu tư, khuyến khích, hỗ trợ các lĩnh vực xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng bền vững; phát triển sản xuất, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch; khoa học công nghệ…

+ Các chính sách xã hội bao hàm đầy đủ các lĩnh vực

Các chính sách xã hội bao hàm đầy đủ các lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe; giáo dục- đào tạo; tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý; an sinh xã hội; bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; phát triển nguồn nhân lực gồm các lĩnh vực nângcao thể lực và phát triển trí lực, giáo dục- đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, chính sách cán bộ người DTTS và bình đẳng giới…

+Chính sách kinh tế phải gắn liền với giải quyết các vấn đề công bằng, bình đẳng xã hội

-Các chính sách phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức đầy đủ những đặc điểm về dân cư, tộc người, văn hóa, điều kiện địa l;ý, tự nhiên môi trường ở các vùng dân tộc. Vì vậy, việc tạo ra những can thiệp chính sách ở tầm vĩ mô hay vi mô phải phù hợp với đối tượng tác động của chính sách.

Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam- qua 30 năm đổi mới

 


  Bám sát tình hình thực tiễn thế giới và trong nước, từng bước tổng kết thực tiễn khái quát lý luận, khắc phục những quan điểm ấu trĩ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí và bảo thủ, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Nhân dân ta đã nâng cao nhận thức lý luận về CNXH, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong đó tiêu biểu là 8 đặc trưng cơ bản, 8 phương phướng, 8 mối quan hệ phải giải quyết trong công cuộc xây dựng CNXH. Có thể coi đó là đường lối chung để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 8 đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; cón nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới”.

Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.

Lịch sử cho thấy, các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, có những hạn chế, khuyết điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguy hiểm hơn là khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...

Âm mưu chia rẽ và thách thức bên trong

Ngay khi Chính phủ quyết định tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương phía Nam, trên mạng xã hội lập tức xuất hiện những bài viết xuyên tạc, trắng trợn vu cáo Đảng, Nhà nước sử dụng quân đội để trấn áp nhân dân miền Nam. Thâm độc hơn, một số tổ chức phản động đã cắt ghép nhiều hình ảnh hoạt động của bộ đội và lu loa rằng “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn...”.

Thực tế cho thấy, hiện nay các thế lực thù địch, phản động ngày càng quyết liệt hơn với các âm mưu thâm độc và tinh vi hơn trong phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi chúng nhận thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, muốn phá hoại cách mạng Việt Nam thì phải làm tan rã sức mạnh to lớn đó. Theo đó, âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ hiện nay của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, bôi đen thành tựu thực hiện đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta. Chúng “té nước theo mưa”, thổi phồng hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của các cấp chính quyền để gây hoài nghi, phân tán nhân tâm, mất lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng đất nước.

Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn trong đời sống nhân dân để kích động chống đối, hình thành những điểm nóng gây chia rẽ từ bên trong. Chúng lợi dụng hội nhập quốc tế để xâm lăng và làm “biến dạng” các giá trị văn hóa truyền thống; tạo dựng “ngọn cờ”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, các vấn đề lịch sử... để kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân; giữa các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thúc đẩy hình thành các “khu tự trị”, “nhà nước tự trị”...

Đáng chú ý, chúng tập trung vào phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; nhân dân với các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang; mối quan hệ giữa quân đội và công an... Cùng với chống phá trên các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ hiện nay, chúng đẩy mạnh chống phá gây chia rẽ, mất đoàn kết ở các khu công nghiệp, trung tâm kinh tế, chính trị các địa phương. Internet, mạng xã hội đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng với những thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đất nước đã đạt được là nền tảng vững chắc củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những thách thức đặt ra hiện nay cũng rất lớn, Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ”.

Bên cạnh đó, là những vấn đề nảy sinh tất yếu trong quá trình phát triển cần phải tiếp tục nhận thức và giải quyết, như: Phân hóa giàu-nghèo; chênh lệch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế giữa các vùng miền; sự xuống cấp về một số mặt của văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa và những vấn đề lịch sử để lại... Đại hội XIII đánh giá, trong Đảng và hệ thống chính trị, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”; bệnh lãng phí, vô cảm, quan liêu, mất dân chủ... gây bức xúc xã hội và làm suy giảm vai trò hạt nhân đoàn kết của Đảng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Âm mưu chia rẽ từ bên ngoài và những thách thức bên trong có quan hệ chặt chẽ, làm suy giảm sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng nước ta.

Sức mạnh nội sinh và bài học thịnh suy, thành bại từ lịch sử

Đối với dân tộc Việt Nam, đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu và giá trị văn hóa cốt lõi; là sức mạnh vô địch trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng thiên tai, địch họa, định bờ cõi, xưng nền văn hiến, nêu cao độc lập, tự chủ. Đây là sức mạnh nội sinh có tính chủ đạo xuyên suốt, bền vững của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là chân lý về sức mạnh vô địch của đoàn kết và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Theo Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, đoàn kết là cội nguồn sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và gốc của đoàn kết là chăm lo, gìn giữ sức dân: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".

Sức mạnh của nhân dân khi kết thành một khối là sức mạnh vô địch. Đó là chân lý được Nguyễn Trãi khẳng định: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”. Tư tưởng này là nền tảng quan trọng hội tụ đại đoàn kết toàn dân của Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan ách đô hộ tàn bạo 20 năm của giặc Minh. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.

Trước đó, đối mặt với giặc Minh xâm lược, nhà Hồ xây thành cao, hào sâu nhưng không xây được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân nên thất bại là tất yếu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng nói: “Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.

Thời kỳ Pháp thuộc, triều đình nhà Nguyễn chia rẽ, không quy tụ được sức mạnh đoàn kết dân tộc; nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra song thường mang tính đơn lẻ, thiếu ngọn cờ tập hợp lực lượng toàn dân nên đều thất bại. Đất nước ta lại chìm trong đêm trường nô lệ trăm năm thuộc Pháp.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết vô địch của toàn dân. Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học lớn chính là mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lợi ích của dân tộc, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thế giới đương đại phản ánh sâu sắc sự cạnh tranh gay gắt, kiềm chế lẫn nhau giữa các cường quốc. Xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bất ổn chính trị ở nhiều nơi và hiện tại, tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn biến phức tạp... phản ánh rõ nét sự can dự, cạnh tranh của các nước lớn và sự chia rẽ, mâu thuẫn, phân hóa từ bên trong. Do vậy, phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng chính là bảo vệ hòa bình và phát triển bền vững đất nước ta trong “những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo” của thế giới hiện nay.

Tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “... phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Việt Nam là một dân tộc đoàn kết

 


Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển cao, nước ta vẫn luôn là một nước đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quốc phòng có hạn. Trong khi đó, bên cạnh chúng ta là một nước có nền văn minh phát triển sớm, một nước mạnh với tư tưởng đại bá. Việt Nam luôn là trọng điểm của tư tưởng bành trướng của các vương triều phong kiến phương Bắc. Có thể nói rằng, trong  lịch sử thế giới hiếm có dân tộc nào như Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử đã có hơn ngàn năm phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận lộn không cân sức ấy, dựng nước và giữ nước trở thành quy luật xuyên suốt của dân tộc . Điều đó, khiến cho nhân dân Việt Nam sớm có lòng yêu nước nồng nàn và ý thức đoàn kết, cố kết cộng đồng. Trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng thiên tai, địch hoạ, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc.

Điều đó xuất phát từ những tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình cảm đó đã trở thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non; ba cây chụm lại thành hòn núi cao”; và trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Tình làng, nghĩa nước; nước mất nhà tan; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.

Những tình cảm đó đã trở thành tư tưởng của các bậc minh quân, các bậc hiền tài của dân tộc: “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong tác phẩm Nên học sử ta, viết vào đầu năm 1942, Bác đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh chân lý đó.

Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của nhà nước Xô Viết

 


Sau cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là Chính phủ lâm thời tư sản và một bên là Xô-viết các đại biểu công nhân và binh sĩ, đứng đầu là Xô-viết Pê-tơ-rô-grát. Trước tình hình đó, V.I.Lênin và Đảng Bôn-sê-vích đã xác định cách mạng Nga  chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Ngày 7-11-1917, các lực lượng khởi nghĩa đã làm chủ tình hình ở Thủ đô Pê-tơ-rô-grát, trừ Cung điện Mùa Ðông và một vài nơi. Tới 2 giờ 10 phút sáng hôm sau, Cung điện Mùa Ðông được giải phóng. Cuộc khởi nghĩa vũ trang tại Pê-tơ-rô-grát kết thúc thắng lợi. Ngày 7-11-1917 đã được ghi vào lịch sử là ngày thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại

- Cách mạng Tháng 10 Nga đã đưa CNXH từ lý luận trở thành hiện thực

+ Cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 đã đập tan hoàn toàn chế độ phong kiến Nga sa hoàng đã lỗi thời lạc hậu, đánh đổ GCTS từng cấu kết với thù trong, giặc ngoài hòng bóp chết những thành quả của cách mạng XHCN

+ Thiết lập nên chính quyền Xô viết (một hình thức nhà nước XHCN) đưa nhân dân lao động trở thành chủ nhân của xã hội, tạo tiền đề cho ra đời một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN.

+ Dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích, chế độ XHCN ở nước Nga ngày càng phát triển, thể hiện chế độ ưu việt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và trở thành điểm tựa vững chắc cho cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và CNXH trên phạm vi toàn thế giới sau này.

Đánh giá về CM Tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: "Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế".

NGUYỄN ĐỖ TÙNG DƯƠNG, KẺ UNG THƯ TÂM HỒN HAY CUỘI DÂN CHỦ???

 

Trước hay xem phim thấy anh ta vào vai suốt , nhưng chưa bao giờ có cảm tình với những vai anh ta thể hiện, nên kể cả anh ta cũng thế luôn. Vậy mà đến giờ cái cảm nhận của mình chẳng sai về anh ta.

Mình từng xem đâu đó nói rằng anh ta thần kinh không được bình thường và giờ thấy đúng... Anh ta từng bị nhiễm độc thần kinh như báo chí đưa tin, và tự bao giờ anh ta đã nhiễm độc cả tâm hồn... đọc cái tút anh ta mới đăng mượn sự đau lòng về sự "giải thoát" của cậu bé lớp 10 vừa hôm qua để xúc phạm Lê Nin :"Đã đến lúc ngành giáo dục nên loại bỏ câu :"Học học nữa, học mãi của lão Nin hói ra khỏi SGK học đường được rồi đấy đau lòng" 

Với cái tút này thì anh ta không phải tâm thần bệnh như người bệnh bình thường mà đó là giọng điệu của những kẻ tâm thần chính trị, ung thư tâm hồn và dĩ nhiên anh ta và những kẻ vô cmt hùa với anh ta cũng chưa và mãi mãi không bao giờ hiểu ý nghĩa câu nói nổi tiếng đó của Lê Nin là như thế nào?

"HỌC, HỌC NỮA HỌC MÃI" chưa hẳn như suy nghĩ thiển cận khô cứng trong sách vở học đường của anh ta và những người hùa theo anh ta.

Sự học là mãi mãi, ngoài kiến thức sách vở thì học còn để làm người, học để nâng cao trí thức, học ở mọi lúc mọi nơi, học ở trường học, học ở trường đời, học hỏi lẫn nhau, học để giúp mình giúp người...

Chính với cái suy nghĩ nhỏ nhen, hèn mạt nên anh ta dù là người của công chúng nhưng anh ta chẳng còn gì trong lòng công chúng mà đã tuột xích lao dốc như những tay cuội dân chủ thứ thiệt.

Nguyễn Đỗ Tùng Dương nên hiểu rằng xúc phạm Lê Nin cũng chính là xúc phạm nền tảng tư tưởng của Đảng và Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam, nên những kẻ đi ngược đường đều phải chịu cái kết đắng.

Thúc đẩy quá trình xây dựng năng lực nội sinh, phối hợp các cấp các ngành, tăng cường công tác kiểm tra để thực hiện tốt công tác dân tộc

 


Rà soát lại hệ  thống chính sách và cơ cấu, xây dựng lại một cách đồng bộ các chương trình, chính sách phát triển hạ tầng, kinh tế- xã hội, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện dịch vụ xã hội và bảo tồn các giá tỵi văn hóa ở vùng dan tộc. Cần có những chính sách đặc biệt và thựuc thi để tạo nên sự thay đổi toàn diện trong đời sống chính trị- kinh tế- văn hóa của người dân một cách cơ bản theo các mục tiêu phát triển bền vững

Tăng cường công tác phối hợp trong xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc giữa ácc bộ, ngành có liên quan trong việc xây dựng, chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách. Việc xây dựng chính sách phải bảo đảm đúng quy trình, thủ tục, quy định của Luật ban hành van bản quy phạm pháp luật. các nội dung chính sách phải đảm bảo tính khoa học, thống nhất và cxó sự liên kết, tránh chồng chéo, xung đột, mâu thuẫn

Từ lâu các nước láng giềng đã có chính sách và chiến lược phát triển nhanh các dân tộc ở khu vực biên giới tiếp giáp với Việt Nam. Các chính sách và chiến lược phát triển của các nước láng giềng không thể không tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quan hệ dân tộc, đời sống KT-XH, văn hóa…của các tộc người ở các tỉnh biên giới Việt Nam. Do đó quan điểm, giải pháp để phát triển bền vững các tộc người và các tỉnh biên giới nước ta phải trú trọng đến những tác động nhiều chiều với nhiều cấp độ bởichính sách dân tộc và chiến lược phát triển vùng biên giới của các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Camphuchia.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp để bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo theo chủ trương, đường lối của Đảng ở tàm vĩ mô. Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với cơ quan tư pháp và sựgiám sát của đoàn thể, tổ chức chính trị-xã hội trong thực thi pháp luật ở vùng dân tộc và chính sách dân tộc