Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời gian qua

 


Sau khi nước nhà thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn xác định đại đoàn kết dân tộc là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

 Tư tưởng chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đoàn kết dân tộc là:

Một là, khơi dậy và phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc, đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước và con người lên hàng đầu; coi đó là cơ sở để xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội nhằm chiến thắng đói nghèo và lạc hậu.

Hai là, xuất phát từ lợi ích dân tộc mà mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng có thể tranh thủ được để xây dựng, phát triển đất nước.

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta khẳng định, chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay.

Đại hội IX nhấn mạnh: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”[1]. Tiếp tục hoàn thiện đường lối được xác định trong các Đại hội trước, Đại hội X đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc thành một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội với quan điểm: Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XI của Đảng đã diễn ra với chủ đề: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Đại hội XI của Đảng thể hiện rõ các quan điểm:

Một là, nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, xoá bỏ mọi thiên kiến, mặc cảm, hận thù trong quá khứ; tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc.

Hai là, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, xác lập quyền làm chủ của người lao động trong lĩnh vực kinh tế, khuyến khích làm giầu chính đáng theo pháp luật, đồng thời thực hiện các chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, “xoá đói giảm nghèo”.

Ba là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế theo phương châm Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

 Đại hội XII của Đảng xác định: “ Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” .

Tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XIII của Đảng xác định: “ Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo”

Có thể khẳng định rằng, những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân ta giành được trong gần một thế kỷ qua là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr 23

TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN ĐOÀN 3 GIÚP DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ THIÊN TAI

Ngày 5-4, Trường Quân sự Quân đoàn 3 đã điều động gần 80 cán bộ, chiến sĩ về xã Cát Tài (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai.

Đây là địa bàn có 7/8 thôn có lúa, hoa màu đang vào vụ mùa thu hoạch bị ảnh hưởng bởi đợt mưa, lũ bất thường vừa xảy ra. Ngay sau khi tiếp cận địa bàn, bộ đội đã chia theo từng tổ, nhóm phối hợp cùng người dân địa phương để thu hoạch hoa màu.
Phụ trách lực lượng giúp dân, Thượng tá Lê Quang Tường, Phó trưởng Phòng Đào tạo, Trường Quân sự Quân đoàn 3 cho biết: “Xã Cát Tài bị ngập hơn 20 ha lúa, cùng với hoa màu đang chuẩn bị bước vào mùa thu hoạch. Hiện nay, thời tiết vẫn còn mưa nhỏ, nhưng với quyết tâm cao, không quản ngại khó khăn chúng tôi sẽ giúp nhân dân bằng khả năng cao nhất”.

Dự kiến với lực lượng hiện có, khoảng 5 ngày tới cán bộ, chiến sĩ Trường Quân sự Quân đoàn 3 sẽ thu hoạch hết lúa và hoa màu, giảm thiểu tối đa thiệt hại cho nhân dân.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh

 

Hồ Chí Minh nhất quán trung thành với các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh, trong xây dựng sức mạnh chiến đấu của Quân đội; đồng thời có sự chỉ dẫn, cụ hóa vào lãnh đạo chỉ đạo đấu tranh giải phóng dân tộc, vào xây dựng Quân đội ta.

Những nội dung trong tư tưởng về xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh và xây dựng quân đội bao gồm hệ thống những luận điểm phong phú về tính tất yếu phải xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội; về vai trò của nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội trong hoạt động quân sự, trong chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; về nội dung, hình thức, biện pháp và chủ thể - lực lượng xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của Quân đội.

 Người khẳng định, trong xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang phải quán triệt tư tưởng “Người trước, súng sau”; trong huấn luyện bộ đội phải coi trọng cả huấn luyện quân sự và huấn luyện chính trị, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”2. Xây dựng quân đội phải nhất quán nguyên tắc lấy chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta hiện nay.

Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung của nhân tố chính trị - tinh thần được xác định ở những yếu tố cơ bản, đó là: trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; tinh thần kỷ luật tự giác, nghiêm minh; tinh thần đoàn kết quân dân như cá với nước; tinh thần đoàn kết nội bộ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi; tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung; đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống khiêm tốn, giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tinh thần khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ và luôn nâng cao cảnh giác cách mạng, ý chí quyết chiến, quyết thắng, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Để xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội và nhân dân Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề tăng cường giáo dục, bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giáo dục đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng cho quân đội; xác lập hệ tư tưởng Mác - Lênin, làm cho hệ tư tưởng đó trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của quân đội; đồng thời, Người cũng rất quan tâm đến vấn đề xây dựng, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật trong quân đội.

Đảng ta là một Đảng cách mạng chân chính, trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo các cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, trong những điều kiện rất khó khăn, các lực lượng ngoại xâm có tiềm lực vật chất, vũ khí trang bị hơn ta nhiều lần. Trong những điều kiện khó khăn ấy, Đảng ta đã đúng khi quán triệt sâu sâu sắc các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân tố chính trị - tinh thần và coi trọng xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần của Quân đội.

Theo Đảng ta: Xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội ta hiện nay là phải xây dựng con người trong quân đội có chất lượng cao, đó là những con người có trình độ giác ngộ chính trị cao, có lập trường, tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh; có những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học công nghệ hiện đại, khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, có kỹ năng kỹ xảo, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật tốt; có ý thức, tổ chức kỷ luật cao, có sức bền dẻo dai về tâm lý, cường tráng về thể lực; đó còn là những con người có lòng nhân ái, nhân đạo cao cả và nhân văn sâu sắc.

Biểu hiện cụ thể là phải xây dựng lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện sai trái, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ hệ tư tưởng Mác - Lênin trong đời sống xã hội, đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần của quân đội ta hiện nay, còn phải nâng cao lòng yêu nước, chí căm thù giặc, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng trạng thái tâm lý vững vàng, ý chí quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do củaTổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống trung thực, lành mạnh, có văn hóa, có kỷ cương, củng cố tình đoàn kết máu thịt giữa quân và dân, đề cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, tạo động lực mạnh mẽ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao trình độ hiểu biết toàn diện về khoa học, công nghệ hiện đại, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, trình độ làm chủ vũ khí, kỹ thuật hiện đại. Kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc, nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh công nghệ cao của các thế lực thù địch. Xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần của quân đội là xây dựng tổng thể các yếu tố trên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tạo thành sức mạnh chiến đấu của Quân đội.QS

 

Kiên quyết đấu tranh với quan điểm sai trái xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh


Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin

C.Mác và Ph.Ăngghen dựa trên sự phân tích biện chứng tác động, ảnh hưởng của các nhân tố trong chiến tranh, nhất là mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong các cuộc chiến tranh đã rút ra kết luận: Trong sự tác động biện chứng giữa con người và vũ khí, thì nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định, “Con người chứ không phải vũ khí, sẽ thắng trong trận đánh”.

Khi phân tích về sức mạnh chiến đấu của Quân đội Ph.Ăngghen cũng lưu ý phải xem xét nhân tố chính trị - tinh thần của Quân đội trong mối quan hệ với các nhân tố khác. Để đánh giá đúng khả năng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, phải xem xét toàn diện các yếu tố, cả vũ khí, trang bị và trình độ chính quy, rèn luyện kỷ luật của bộ đội; yếu tố con người và khả năng, cùng sự chuẩn bị về tinh thần để vượt qua những thử thách khốc liệt của chiến tranh và “nhất là trạng thái tinh thần của nó, nghĩa là có thể đòi hỏi nó những gì mà không sợ làm cho nó mất tinh thần”. Vì vậy, cần tìm hiểu, nghiên cứu kỹ cơ sở của sức mạnh chính trị - tinh thần để phát huy vai trò của nó trong xây dựng Quân đội. Theo đó, phải phát huy được tính ưu việt của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa; các điều kiện và khả năng kinh tế của đất nước; hệ giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc,... cùng các nhân tố nội sinh từ bên trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, đặc biệt là yếu tố con người.

V.I.Lênin Người kế thừa các quan điểm duy vật biện chứng của C.Mác, Ph.Ăngghen về chiến tranh và quân đội, bằng sự phân tích khoa học các cuộc chiến tranh do chủ nghĩa đế quốc phát động và cuộc chiến tranh bảo vệ nước Nga non trẻ chống lại thù trong, giặc ngoài V.I.Lê-nin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”.

V.I.Lênin còn chỉ rõ: “Cuộc chiến tranh hiện đại cũng như kỹ thuật hiện đại thì đòi hỏi phải có nhân lực có chất lượng cao”. Chiến tranh hiện đại càng đòi hỏi phải có con người có chất lượng cao, cũng như phải có kỹ thuật hiện đại. Không có con người có tinh thần chủ động và giác ngộ thì không thể thắng lợi trong chiến tranh hiện đại. Bàn về vai trò, nhiệm vụ của công tác xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần Lênin chỉ rõ: “Ở đâu mà công tác chính trị trong quân đội, công tác của các chính uỷ làm được chu đáo nhất thì ở đấy không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ được trật tự tốt hơn và tinh thần của họ cũng cao hơn. Ở đấy thu được nhiều thắng lợi hơn”.QS

 


CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CẦN THẬN TRỌNG KHI TIẾP NHẬN THÔNG TIN TRÊN MẠNG INTERNET

 


Hiện nay trong “ma trận” thông tin, quan điểm về đủ các vấn đề của xã hội, của đất nước, nếu các cán bộ, đảng viên không đủ tỉnh táo, không đủ thông tin và thiếu bản lĩnh sẽ dễ cho rằng những ý kiến đó “đáng suy nghĩ”, “có lý”, thậm chí “cần ủng hộ”. Chẳng hạn, với một số thông tin về lãnh tụ, biên giới, chủ quyền biển và hải đảo, quan hệ với một số nước…, vốn có rất nhiều thông tin khác nhau, trong đó có những thông tin sai lệch, phiến diện, có dụng ý xuyên tạc, vẫn được một số người viện dẫn cho sự “phản biện” của mình.

Với những thông tin này, mỗi cán bộ, đảng viên cần lưu ý mấy điểm:

Xác định nguồn gốc thông tin đó ở đâu? Thông tin đó được lấy từ đâu dĩ nhiên rất quan trọng, bởi có những thông tin không rõ nguồn, chỉ được viện dẫn rất vu vơ hoặc xuất phát từ “nghe nói”, từ những người vốn có thành kiến với Đảng hoặc từ những người đã mất… Nên khi nguồn gốc thông tin không rõ ràng thì không vội vàng tin vào độ chính xác của thông tin đó.

Thông tin đó đã được kiểm chứng chưa? Thông tin được nêu ra nhưng đã có xác nhận từ nơi đáng tin cậy là chính xác chưa hay chỉ được ai đó nêu lên mà đã vội cho rằng thông tin đó là đúng đắn? Dĩ nhiên, sự kiểm chứng phải dựa trên các căn cứ khoa học và người đọc cũng nên đối chiếu với các nguồn thông tin khác để khẳng định tính chính xác của nó.

Lợi ích của thông tin đó? Một số người sử dụng phương thức “cắt cúp” để lọc lấy các thông tin có thực nhưng chỉ là một chi tiết trong một chuỗi sự việc nên thông tin đó chỉ có lợi cho ai đó. Khi thông tin chỉ có lợi cho người này mà bất lợi cho người kia thì phải hoài nghi tính chính xác của nó.

Như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải có “bộ lọc” và có chủ kiến của mình khi tiếp cận các vấn đề phản biện của một số người, nhất là những người được “ca ngợi” là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”… Không nên vội vàng tin ngay vào các ý kiến có vẻ phản biện của ai đó khi mình chưa xác định được đầy đủ về tính chính xác của thông tin, động cơ của việc nêu ý kiến đó…

 

NÂNG CAO NHẬN THỨC TRONG NHÂN DÂN ĐẨY LÙI ÂM MƯU CHIA RẼ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Cán bộ, nhân dân luôn là đối tượng các thế lực thù địch hướng tới tác động vào tư tưởng nhận thức nhằm làm suy giảm niềm tin của họ đối với sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy phải tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân để người dân miễn nhiễm với âm mưu xấu độc của kẻ thù. Để làm được điều này, việc đẩy mạnh giáo dục, đào tạo, nâng cao mặt bằng dân trí có ý nghĩa rất quan trọng. Trình độ dân trí cao sẽ tỉ lệ thuận với khả năng người dân tìm hiểu, nhận thức đúng chính sách, từ đó thực hiện đúng và hiệu quả cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có chính sách đại đoàn kết, cũng như khả năng cảnh giác trước âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch. Việc nâng cao dân trí ở đây bao hàm cả tri thức lẫn lần kỹ năng làm việc, cần đặc biệt lưu ý kỹ năng lao động đối với một số người thuộc nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, giúp bà con ổn định đời sống, vươn lên khẳng định bản thân, góp phần thu hẹp sự chênh lệch, khoảng cách giàu nghèo giữa các hộ, các cộng đồng cư dân, các thành phần dân tộc… điều mà các thế lực thù địch vẫn thường xuyên lợi dụng để kích động, chia rẽ dân tộc ta.

Hơn nữa, cần tăng cường công tác tuyên truyềnnâng cao nhận thức, ý thức về sức mạnh đoàn kết và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, rằng đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Như thế có thể giúphài hoà giữa cái riêng và cái chung, giữa ý thức tộc người với ý thức quốc gia - dân tộc, chống mọi biểu hiện tư tưởng dân tộc hẹp hòi, nêu cao trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngăn chặn âm mưu chia để trị của các thế lực thù địch. Đồng thời, chú trọng tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy truyền thốngyêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và khát vọng vươn lên vì mục tiêu của cả dân tộc.

Đối với quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, bảo đảm ở mỗi tộc người đều có được một lực lượng trí thức phù hợp, đại diện cho vị thế, tiếng nói của từng tộc người và là hạt nhân dẫn dắt, định hướng thái độ chính trị của tộc người đóđối với Đảng và Nhà nước. Như thế vừa thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước; vừa tạo cơ hội vươn lên, khẳng định mình của mỗi tộc người, vừa thuận lợi cho công tác phòng ngừa các âm mưu chia rẽ, phá hoại.

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CỦNG CỐ LÒNG TIN CỦA NGƯỜI DÂN VÀO ĐẢNG

 


Công tác cán bộ luôn là :công việc gốc” của Đảng. trong xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết cần khắc phục những cập về chất lượng và số lượng của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, nhất là cấp cơ sở, nhằm khắc phục tình trạng thiếu sót trong việc triển khai, thực hiện một số chính sách cụ thể, đặc biệt là ở các địa phương vùng xâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Những năm qua, chính những bất cập, thiếu sót đó đã bị các thế lực thù địch cố tình thổi phồng, tô vẽ làm cho người dân từ nghi ngờ đến mất lòng tin.Do đó, cần chú trọng từ khâu tạo nguồn đến việc bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại cũng như vấn đề quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị hiện nay. Việc tuyển chọn cán bộ phải trên cơ sở các tiêu chí cụ thể, như lập trường tư tưởng vững vàng; nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, quan điểm chính sách của Đảng và nhà nước; thông thạo tiếng địa phương; am hiểu thực tiễn, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, truyền thống lịch sử của các vùng miền, các dân tộc… Đối với quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, phải hết sức quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ là nguời dân tộc thiểu số đủ mạnh, bảo đảm cả về cơ cấu, số lượng, chất lượng và ngày càng có khả năng gánh vác nhiều hơn công việc của địa phương.

Việc xây dựng hình tượng người cán bộ, đảng viên gương mẫu, liêm chính, chí công vô tư, thực sự tâm huyết với địa phương và với nhiệm vụ được giao hiện cũng đang là vấn đề cấp bách. Bởi chính tình trạng suy thoái đạo, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viênnhững năm gần đây đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của người dân vào Đảng và chế độ, nhất là khi vấn đề này bị các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng, kích động sẽ làm tổn hại đến khối đại đoàn kết. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”.Có như thế mới hiện thực hoá được những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao đời sống người dân, củng cố niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, tránh bị kẻ xấu kích động, lợi dụng.

TĂNG CƯỜNG BỒI DƯỠNG CHỦ NGHĨA MÁC –LÊNIN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

 


 Để đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cho đội ngũ cán bộ Đảng viên là một trong những nội dung hết sức quan trọng và cần thiết. Trong giáo dục đội ngũ cán bộ, cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp nghiên cứu, giảng dạy, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý; cần quan tâm chăm lo bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ thực tâm, thực đức, thực tài, không có biểu hiện tham nhũng, “chạy chức”, “chạy quyền” để giới thiệu cho Đảng chuẩn bị nhân sự cho đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng; đồng thời, tăng cường giáo dục chính trị, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, giúp họ nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; đề cao ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh, đập tan âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; không để xảy ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các đơn vị, các khu dân cư.

TỈNH TÁO TRONG TIẾP CẬN THÔNG TIN, TRÁNH MẮC MƯU CHỐNG PHÁ CỦA KẺ THÙ

 


Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, từng bước chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Chúng tập trung triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, các blog để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Bằng việc sử dụng thông tin thật giả lẫn lộn, bịa đặt, sử dụng mạng xã hội để tác động, chuyển hóa người dân Việt Nam. Sản xuất những kênh, những video clip phản động, chống phá trực diện, cập nhật liên tục trên kênh Youtube, với thủ đoạn  cắt ghép hình ảnh từ các báo chí chính thống và lồng ghép nội dung xuyên tạc, bịa đặt để đánh lừa, kích động người xem, người đọc, gây phân tâm lớn trong xã hội.

Ngoài ra các thế lực phản động còn kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi và cực đoan trong các tôn giáo; tán phát nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam ; kích động để đẩy mạnh “dân chủ, nhân quyền”, tạo bất ổn về an ninh chính trị; lợi dụng những diễn biến phức tạp trên biển Đông, quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc để chống phá. Thâm hiểm hơn, chúng lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý điều hành của chính quyền một số nơi để xuyên tạc chống phá nhằm thúc đẩy xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

NẮM VỮNG CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG

 


- Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.

- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

 

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN, KHẢ THI

 


 

Trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu to lớn.  Đánh giá tổng thể về kết quả của 35 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta chỉ rõ: “Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhâp quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ XHCN được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên...; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”(9). Những thành tựu đó ngày càng khẳng định sự đúng đắn trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng khẳng định sự nhận thức và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu tiêu biểu đó là tiền đề quan trọng để cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội; là cơ sở, nền tảng vững chắc để củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ - nhân tố quan trọng để xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Đây cũng chính là minh chứng đầy sức thuyết phục để bác bỏ những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 

 

 

Những nguyên nhân khách quan dẫn đến khủng hoàng của CNXH hiện thực Liên Xô và Đôg Âu

 


- Nhận thức, lý luận về CNXH và xây dựng CNXH là vấn đề hoàn toàn mới, thực tiễn xây dựng CNXH chưa có tiền lệ; mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn luôn luôn đặt ra yêu cầu phải đánh giá và vận dụng đúng, sáng lạo lý luận Mác - Lênin về CNXH và xây dựng CNXH

+ Nếu so với các mô hình tổ chức xã hội có trước đó thì mô hình xã hội XHCN là một kiểu tổ chức xã hội hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ.

+ Bản thân các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin mới dự báo những nét cơ bản ban đầu (Xóa bỏ chế độ tư hữu; thời kỳ quá độ; phân phối). Mặt khác, giữa lý luận và thực tiễn luôn luôn có khoảng cách lớn: có những quan điểm Mác - Lênin về CNXH và xây dựng CNXH cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị; có những quan điểm cần nhận thức lại, nhận thức cho đúng.

+ Trong quá trình xây dựng CNXH, các nước vận dụng máy móc, chủ quan, duy ý chí, không tổng kết thực tiển, phát triển lý luận

+ Nguyên nhân khách quan này là một thực tế đòi hỏi phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận đề có được nhận thức đúng, phù hợp khi xây dựng với tư cách là một chế độ xã hội hiện thực.

- Các xu thế mới nảy sinh trong thời đại đã tác động lớn đến đời sống chính trị - xã hội thế giới, đến sự tồn vong của CNXH hiện thực

+ Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế trờ thành xu thế lớn lôi cuốn hầu hết các quốc gia - dân tộc tham gia, với những cơ hội và thách thức lớn.

+ Các xu hướng khác như dân chủ hoá đời sống xã hội, đa phương hoá các quan hệ quốc tế đi kèm với những xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, biển đảo v.v... đều tác động không nhỏ đến thể chế chính trị ở nhiều quốc gia, trong đó rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực tác động đến chế độ chính trị XHCN ở nhiều nước.

+ Những tác động từ khoa học, công nghệ, các xu thế lớn của thời đại đều diễn mạnh mẽ với những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với CNXH hiện thực.

- Sự chống phá điên cuồng của các thế lục thù địch  

+ Việc tồn tại song song hai thể chế chính trị: CNXH và chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự chống phá điên cuồng của các thế lục thù địch của CNXH trên thế giới. Thời kỳ "chiến tranh lạnh" là thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản hiện đại với mọi toan tính thâm độc muốn xoá bỏ CNXH hiện thực. Rất nhiều âm mưu, thủ đoạn từ các nước tư bản lớn, nhất là từ Mỹ đã được thực hiện để thay đối tương quan lực lượng giữa "hai phe", hai thể chế chính trị trên thế giới.

+ Trong rất nhiều âm mưu, thủ đoan chống phá CNXH hiên thực có chiến lược "diễn biến hoà bình" đã được Mỹ và nhiều nước tư bản chủ nghĩa sử dụng và gây hậu quả nghiêm trọng đối với hệ thống CNXH thế giới. Chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các nước đế quốc thực hiện đã góp phần đẩy nhanh quá trình khủng hoảng và đổ vỡ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu.

Phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới

 


        - Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong  từng chính sách và từng bước phát triển.

 - Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú hơn đời sống văn hóa, con người Việt Nam.

       - Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, coi phát triển giáo dục, đào tạo cùng với  khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu.

      - Phát triển khoa học công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFT) vào tăng trưởng.

       - Quan tâm thực hiện các chính sác xã hội vì hạnh phúc của con người, coi đây là thể hiện tính ưu việt, bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và cũng là khắc phục mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường; nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên xã hội về ăn, ở, đi lại, lao động, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất. Mỗi năm tạo bình quân 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước gỉam 1,5-2%/ năm. Giảm nghèo của Việt Nam được Liên Hiệp quốc công nhận và đánh giá cao.

       Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh; hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp..

Thực tiễn xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam

 


Từ khi có Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc được xây dựng ngày càng rộng rãi, bền vững, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối chiến lược của Đảng, một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta luôn coi trọng việc xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

 Trong “Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”

Trong “Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”, Đảng ta nêu chủ trương đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân. Ngay sau khi Đảng ra đời đã chỉ đạo tổ chức thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương, Mặt trận Việt Minh với mục tiêu đoàn kết các tầng lớp nhân dân đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập, tự do cho dân tộc. Với đường lối đúng đắn sáng tạo đó, Đảng ta đã phát động toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành tổng khởi nghĩa, đập tan ánh thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do cho dân tộc.

 Thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Trong kháng chiến chống Pháp, để đánh thắng những đội quân xâm lược lớn của chủ nghĩa đế quốc, Đảng ta đã dựa vào sức mạnh của toàn dân, phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc. Theo đó, Đảng ta chủ trương thực hiện kháng chiến toàn dân gắn liền với kháng chiến toàn diện. Với chiến lược đó, Đảng đã tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận "cả nước đánh giặc". Điều kiện chủ yếu để quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến là huy động cho được sức mạnh toàn dân. Trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[1]. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời hiệu triệu, động viên, cổ vũ toàn thể các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các nhân sĩ yêu nước trong khối đoàn kết dân tộc đều cùng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

Đảng ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cuộc kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất đất nước. Đảng ta sớm xác định được mục tiêu chính trị đúng đắn. Đó là điều cơ bản nhất để thực hiện toàn dân kháng chiến. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, ta đã tạo được sức mạnh tổng hợp để đánh thắng thực dân Pháp xâm lược và cũng chính trong lòng cuộc kháng chiến, chế độ dân chủ nhân dân được xây dựng và củng cố.

 Trong kháng chiến chống Mỹ

Có thể nói, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một bức tranh đại đoàn kết dân tộc rất sinh động. Toàn thể dân tộc Việt Nam đã kết thành một khối vững chắc không gì có thể phá vỡ nổi, trong đó, Đảng, lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhau. Đảng tin vào dân, dân tin vào Đảng; quân với dân một ý chí, cả nước đồng lòng, toàn dân ra trận, tất cả vì mục tiêu quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Để phát huy được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - tháng 9 năm 1955; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - tháng 12 năm 1960), lấy liên minh công nông làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền với những mục tiêu, thành phần, phương thức hoạt động phù hợp với nhiệm vụ cách mạng của mỗi miền là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ trương đó thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mặt trận dân tộc thống nhất trên cả hai miền đã thực sự tập hợp, động viên được mọi lực lượng, mọi cá nhân có ý thức dân tộc, có tinh thần yêu nước, chống Mỹ, tham gia vào cuộc chiến đấu cho mục tiêu chung là đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh đó có cội nguồn từ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta trải qua mấy ngàn năm lịch sử. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã động viên đến mức cao nhất lực lượng nhân dân cả nước, kết hợp tiền tuyến lớn miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, gắn đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.



[1] Sđd: Tập 4, tr 480

Xác định những ưu tiên trọng điểm trong chính sách và các chương trình phát triển KT-XH ở Việt Nam

 

 


Ủy ban dân tộc xác định cần tiếp tục đổi mới côngtác dân tộc, hệ thống chính sách dân tộc một cách toàn diện. Ban hành chính sách tiếp tục hỗ trợ phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội vùng DTTS và miền núi, ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; xác định một số chỉ tiêu để tập trung lồng ghép ư tiên bố trí nguồn lực, phấn đấu đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đối với đồng bào DTTS làm cơ sở hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, góp phần phát triển toàn diện KT-XH, giảm nghèo nhanh, bền vững, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, các vùng. Tập trung quán triệt sây sắc, triển khai thực hiện quyết liệt, phấn đấu thực hiện thắng lợi nội dungNghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác dân tộc “Bảo đảm các dân tộc bìnhđẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bố xử dụng…”

Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong gần 30 Năm đổi mới

 


          Đảng ta đã quyết định từ bỏ mô hình tập trung bao cấp, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.

Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh, bình đẳng, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất.

Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông  nghiệp, dịch vụ, coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới.

 Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng miền; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời, tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng nền kinh tế độ lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong giai đoạn 2001- 2010, kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD gấp 3,26 lần so với năm 2000, năm 2011 khoảng 170 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1168 USD, năm 2014 là 1900 USD/ người.

Trong 5 năm 2011-2015, do sự tác động của khủng hoảng tài chính thê giới, suy thoái kinh tế toàn cầu nên  nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng GDP bị giảm sút. Tuy vậy, tốc độ tăng GDP bình quân vẫn ở mức khá, ước đạt 5,8%. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 5 năm 2006-2010 đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch đề ra. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấn hớn 1,3 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 17,5%. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực nông nghiệp giảm xuống. Năm 2010, trong cơ cấu GDP, khu vực công nghiệp chiếm 41,1%, khu vực dịch vụ chiếm 38,3%, khu vực nông nghiệp chiếm 20,6%. Kết cấu hạ tầng ngày càng được xây dựng hiện đại, đồng bộ; nguồn nhân lực qua đào tạo ngày càng tăng lên ( năm 2013 là 49%), đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.

Nợ công trong giới hạn cho phép và có xu hướng giảm[3]. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới, bổ sung và mua cổ phần trong 9 tháng đạt 25,5 tỷ USD, tăng 34,3%; vốn FDI thực hiện đạt kỷ lục 12,5 tỷ USD, tăng 13,4%. Thị trường chứng khoán vượt 800 điểm, cao nhất kể từ năm 2008 (ngày 20/10/2017 đạt 826,84 điểm); mức vốn hóa đạt trên 93% GDP[4]; đưa thị trường chứng khoán phái sinh vào hoạt động. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước cả năm khoảng 33,4% GDP, tăng 12,6%.

Tính đến hết tháng 9, xuất khẩu tăng 20%, trong đó rau quả tăng 43,4%, hạt điều tăng 25,6%, thủy sản tăng 19,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 41,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 29,7%; điện thoại và linh kiện tăng 23,6%[5]. Nhập khẩu tăng 22,7%; xuất siêu 328 triệu USD. Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường.

Trong 9  tháng có gần 94 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 15,4%; tổng vốn đăng ký tăng 43,5%; có trên 21 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tổng vốn đăng ký mới và bổ sung đạt 2,1 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Phần lớn doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và ngày càng tốt hơn[6]. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2017 - 2018 tăng 5 bậc, lên thứ 55/137 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 6,41%[7], ước cả năm đạt 6,7%. Đạt được kết quả này là nhờ cả 3 khu vực tăng trưởng khá đồng đều: Nông nghiệp tăng 2,78% (gấp hơn 4 lần cùng kỳ), trong đó thủy sản tăng cao 5,42%; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước cả năm đạt 35 tỷ USD. Công nghiệp và xây dựng tăng 7,17%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%. Khu vực dịch vụ tăng 7,25%, cao nhất kể từ năm 2008. Thu hút khách du lịch đạt kỷ lục, khách quốc tế đạt 9,45 triệu lượt, ước cả năm 13 triệu lượt, tăng 30%; khách trong nước đạt 57,9 triệu lượt, ước cả năm 75 triệu lượt, tăng 12%.

GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số định hướng, giải pháp như sau:

Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.    

Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên in-tơ-nét và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế  - xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên in-tơ-nét.

Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về: chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.

Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng  - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.

TMT 06.4

THÀNH PHẦN PHẢN BỘI CÁCH MẠNG LÀ AI

 


Đây là những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hoặc là những quần chúng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài nhưng bị lôi kéo, mua chuộc quay lưng lại chống Đảng, chống chế độ. Điều nguy hiểm ở lực lượng này là đa số họ nắm chắc về lý luận chính trị, thực tiễn cách mạng Việt Nam. Một bộ phận trong số họ đã từng giữ cương vị trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đất nước nên nắm được những sai lầm, khuyết điểm của chúng ta. Quan điểm của họ thường được ngụy trang, núp bóng dưới những kiến nghị, đề xuất, sáng kiến canh tân, cải tổ đất nước, vì vậy dễ được quần chúng tin tưởng.

Đây là lực lượng nguy hiểm nhất, chúng ta cần  nghiên cứu sâu về năng lực, sở trường của từng phần tử chống đối. Phải có lực lượng theo dõi thường xuyên, kịp thời đấu tranh bằng những luận chứng, luận cứ thuyết phục, sắc bén cùng với các biện pháp công nghệ, kỹ thuật để phong tỏa thông tin, gắn với làm rõ thân nhân, biểu hiện suy thoái, cơ hội để cán bộ, đảng viên sớm biết rõ bộ mặt thật của họ./.

TMT 06.4

 

KẺ THÙ GIAI CẤP

Nền tảng tư tưởng của chúng ta là hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, như vậy những người theo hệ tư tưởng tư sản sẽ chống đối là điều tất yếu. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, mang tính chiến lược lâu dài. Việc giai cấp tư sản huy động các nhà tư tưởng, lý luận để đưa những quan điểm sai trái, thù địch là không cần phải bàn cãi. Vì vậy, chúng ta không hoang mang và nôn nóng trong cuộc đấu tranh này. Mặt khác, đây là cuộc đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực tư tưởng trên phạm vi toàn cầu nên giai cấp tư sản đã có chiến lược, có bộ máy, con người, lộ trình, thủ đoạn, kinh phí, phương tiện dồi dào, hiện đại để chống phá.

Vì vậy, chúng ta phải nâng tầm cuộc đấu tranh này lên tầm chiến lược, phải đấu tranh ở tầm trí tuệ, tầm lý luận, học thuyết. Một mặt, chúng ta không dao động, không nhân nhượng, luôn kiên định mục tiêu lý tưởng mà chúng ta đã lựa chọn./. 

TMT 06.4

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 


Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc đã ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo, tổ thư ký, nhóm chuyên gia, nhóm cộng tác viên, thành lập các trang, nhóm Facebook phục vụ đấu tranh, phản bác. Hầu hết các huyện, thành ủy đã thành lập ban chỉ đạo, lập trang, nhóm trên mạng Facebook triển khai nhiệm vụ đấu tranh, phản bác... Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, nhất là Facebook, thời gian tới, chúng ta cần phải thực hiện một số giải pháp như sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Trong đó, chú trọng tuyên truyền Luật An ninh mạng; các quy tắc ứng xử trên môi trường mạng xã hội.

Hai là, thường xuyên cung cấp thông tin có định hướng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân qua kênh báo cáo viên, tuyên truyền miệng, báo chí, truyền thông, sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng.

Ba là, tập huấn định kỳ hoặc đột xuất cho cán bộ tuyên giáo, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, nhất là các đồng chí trực tiếp tham gia Ban Chỉ đạo 35 các cấp; các đồng chí tham gia quản trị, biên tập tin, bài của các trang, nhóm trên Facebook…; cập nhật tình hình mới về các hoạt động chống phá, nâng cao kỹ năng, trình độ quản trị.

Bốn là, đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội theo hướng giảm tính “hàn lâm, kinh viện”, tăng tính “thường thức”, gần gũi, dễ tiếp cận với đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân để tăng tính tương tác, khắc phục tình trạng “chủ yếu nội bộ đảng viên”, hoặc “lực lượng chuyên trách” tương tác với nhau, đối tượng cần được “giác ngộ” thì chưa được tiếp cận nhiều.

Năm là, khi xuất hiện các vụ việc, sự kiện “nóng, nhạy cảm” cần tích cực, khẩn trương, chỉ đạo thống nhất, đồng loạt công tác đấu tranh phản bác trên mạng xã hội và các công cụ truyền thông, gần đây có thể kể đến: Công tác phòng, chống dịch COVID-19, vấn đề tiêm vaccine, vấn đề phức tạp liên quan đến tình hình ở Cu Ba…

Sáu là, kịp thời phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ giỏi, có năng lực tham gia viết bài đấu tranh, phản bác có hiệu quả cao trên mạng xã hội.

Bảy là, hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý về mạng xã hội phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc và văn hóa, luật pháp của Việt Nam./.

TMT 06.4

PHÁT HIỆN KỊP THỜI, XỬ LÝ DỨT ĐIỂM CÁC ĐIỂM NÓNG DIỄN RA HIỆN NAY.

     Trước hết cần tập trung giải quyết những vấn đề hiện đang bức xúc hiện nay, như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, khiếu kiện liên quan đến tôn giáo, đất đai hay tình trạng thiếu lương thực, thiếu đất sản xuất, nhà ở tạm bợ, nhất là ở vùng dân tộc và miền núi…đề phòng những phần tử phản động, lợi dụng để kích động người dân gây mất ổn định an ninh xã hội, ảnh hưởng đếnkhối đại đoàn toàn dân tộc.Ngoài ra, thường xuyên thăm hỏi, nắm bắt tình hình, tâm tư của bà conđể sớm phát hiện và có giải pháp kịp thời, tháo gỡ những vướng mắc.

Khi xuất hiện điểm nóng, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân đểphân loại, từ đó đánh giá mức độ, phạm vi ảnh hưởng và đưa ra biện pháp giải quyết phù hợp, dứt điểm, không để lâylan rộng, tạo cớ cho các thế lực thù địch lợi dụng. Đặc biệt, xử lý nghiêm minh những hành vi chia rẽ nội bộ, phá hoại gây bất ổn về chính trị - xã hội và tổn hại đến khối đại đoàn kết theo đúng quy định của pháp luật. Để làm tốt vấn đề này cần chú trọng củng cố và phát huy hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng cơ sở, xây dựng lực lượng cốt cán, đồng thời lưu ý các kênh thông tin từ phía người dân để có thể nắm bắt tình hình nhanh và chính xác. Dự báo những tình huống phức tạp, kịp thời phát hiện những nguy cơ có thể xảy ra điểm nóng để chủ động ngăn chặn.

Có thể nói, sự nghiệp xây dựng, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam luôn đi liền với công tác đấu tranh chống âm cácmưu chia rẽ, phá hoại. Trong cuộc chiến này, Đảng ta đã xác định: “chủ động phòng ngừa là chính”.Nhờ quan điểm đúng đắn ấy cùng với sự nỗ lựccủa toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, toàn bộ hệ thống chính trị, nhiềunguy cơ, mầm mốngcho âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch từng bước bị đẩy lùi.Khối đại đoàn kết toàn dân tộcViệt Nam ngày càng củng cố và mở rộng, phát huy mọi nguồn lực trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

TMT 06.4