Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022
DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: "LÊ CHIÊU THỐNG"!
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
Văn
kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia
- dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm
an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát
triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ
thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền
phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an
ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần
làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một
là, tiếp tục tăng
cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là các cán
bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế
lực thù địch, phản động trên không gian mạng.
Trên thực tế, không
gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi
dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động thường xuyên, phổ
biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng
của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng
in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không
gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng
số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng
của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm
các quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các
luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến
sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục
tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi
người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên
không gian mạng của các đối tượng.
Hai
là, làm tốt công
tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc
gia trên không gian mạng.
Thời gian qua, xuất
hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian
mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới
các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu
cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm
phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm
tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm
các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh
tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống
các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội
ngũ, lực lượng nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả
năng đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian
mạng.
Ba
là, phòng ngừa
không để chiến tranh mạng xảy ra.
Mặc dù chưa xảy ra
chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt
động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt Nam. Do đó,
yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần thiết. Để
đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các
giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn
trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến
tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin.
Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc
gia trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng
quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công
nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng
các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng
thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng
xảy ra.
Bốn
là, tăng cường
công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng.
Để bảo đảm an ninh,
an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng công tác bảo vệ
an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo
đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng
ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các
loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí
mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của
các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông
tin mạng năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế
phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý
nghiêm các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước,
thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện
các hành vi trái pháp luật.
Năm
là, xây dựng
nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, đồng thời
nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ
mạng.
Việt Nam có đội ngũ
kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong
các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực
chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số
lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc
biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến
lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất
lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp
tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến
tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị
và ứng dụng dịch vụ mạng./.
VIỆT NAM HIỆN CŨNG ĐANG ĐỐI MẶT VỚI KHÔNG ÍT CÁC NGUY CƠ, THÁCH THỨC ĐE DỌA ĐẾN AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG.
Thứ nhất, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Chúng chủ yếu sử dụng mạng xã hội, phổ biến là Facebook, Youtube để tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước triển khai thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Thứ hai, hoạt động gián điệp mạng và
các loại tội phạm công nghệ cao. Không gian mạng đã và đang trở thành môi
trường để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm vào Việt
Nam. Thời gian qua, cơ quan đặc biệt nước ngoài đã tiến hành tuyển lựa công dân
Việt Nam qua không gian mạng, có những trường hợp đã được các cơ quan chức năng
Việt Nam phát hiện, bóc gỡ. Bên cạnh đó, các cơ quan đặc biệt nước ngoài còn
triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm nhập gián
điệp, thu thập tin tình báo chống Việt Nam. Các hoạt động này được tiến hành
thông qua các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn trong các phần mềm, ứng
dụng, các thiết bị số làm quà tặng, bán ra thị trường hoặc có thể cài đặt từ xa
thông qua in-tơ-nét. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam
(VNCERT), hằng năm có hàng triệu mã độc tấn công các máy tính của Việt Nam, với
hàng nghìn virus máy tính mới xuất hiện và hàng trăm website của các cơ quan,
doanh nghiệp bị tấn công, xâm nhập. Trên thực tế, không gian mạng còn là nơi
tội phạm công nghệ cao tiến hành các hoạt động gây nhiều thiệt hại cho các cá
nhân, tổ chức. Phổ biến là các hoạt động giả danh các cơ quan thực thi pháp
luật tiến hành các hoạt động lừa đảo qua mạng; lừa đảo qua phương thức kinh
doanh đa cấp qua mạng (sử dụng các khoản lợi nhuận lớn làm “mồi nhử”, lôi kéo
số lượng lớn người dân đầu tư vào các dự án “ảo”, sau đó đánh sập hệ thống để
chiếm đoạt tài sản); giả mạo website của các ngân hàng để lừa người truy cập,
yêu cầu cung cấp thông tin giao dịch trực tuyến, sau đó chiếm đoạt quyền sử
dụng tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt tài sản; chiếm quyền điều khiển tài khoản
mạng xã hội, sau đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người thân, bạn bè; tổ chức
đánh bạc trên mạng với tổng số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng; tiến hành các
hoạt động “tín dụng đen” trên mạng, “giang hồ mạng”. Hoạt động trên của các đối
tượng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã
hội.
Thứ ba, nguy cơ chiến
tranh mạng. Thế giới đã và đang
đối mặt với nguy cơ chiến tranh mạng, đó là nguy cơ hiện hữu và trong một thế
giới vạn vật kết nối internet, Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy đó. Chính vì
vậy, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” khẳng định,
nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia
tăng. Mục tiêu tấn công của kẻ địch trong trường hợp xảy ra chiến tranh mạng
đối với Việt Nam là hệ thống hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế,
trục truyền dẫn nội bộ quốc gia); các hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng...
); các hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng máy tính nội bộ; hệ thống điều khiển tự
động hóa của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh, như nhà máy
lọc dầu, nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giàn khoan, sân bay, hải cảng. Năm 2016
đã xảy ra hàng loạt hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống quản lý thông tin
của các sân bay quốc tế lớn của Việt Nam, như sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn
Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc. Rõ ràng, nếu để xảy ra chiến tranh mạng sẽ dẫn đến
những hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho đất nước.
Thứ tư, tình
trạng mất an ninh, an toàn thông tin mạng đe dọa tới an ninh quốc gia. Việt Nam đang phụ thuộc vào thiết bị hạ
tầng và hệ thống công nghệ mạng lõi do các công ty nước ngoài cung cấp và luôn
thường trực nguy cơ bị nước ngoài kiểm soát, giám sát. Phần lớn hạ tầng công
nghệ phần cứng của Việt Nam, từ các hạ tầng lõi cho đến các thiết bị cá nhân
đều nhập từ nước ngoài, nhiều nhất là từ Trung Quốc và Mỹ. Các hãng bảo mật và
cơ quan chức năng nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã chứng minh và cảnh báo về
các mã độc, “cửa hậu” được cài sẵn trong các thiết bị trước khi xuất xưởng, cho
phép đối phương có thể truy cập, kiểm soát từ xa. Bên cạnh đó, nhiều trang
thiết bị mạng sử dụng trong nước, gồm cả các trang thiết bị của các cơ quan, tổ
chức nhà nước có xuất xứ nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu nguồn nhân lực
công nghệ thông tin chất lượng cao, nhất là về an ninh, an toàn mạng cũng dẫn
đến nguy cơ khó kiểm soát được các vấn đề an ninh, an toàn mạng. Đáng chú ý,
nhận thức của một số cấp lãnh đạo, quản lý, ý thức và kỹ năng về an ninh, an
toàn mạng của người sử dụng tại Việt Nam còn hạn chế, trong đó có cả cán bộ
thuộc các bộ phận cơ mật, thiết yếu, nắm quyền quản trị các hệ thống quan
trọng, liên quan đến nhiều bí mật nhà nước.
Thực
tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh trong khu
vực, nhưng tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém về an ninh, an toàn mạng. Hiện nay,
khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet, 66% sử dụng mạng xã hội; 100% số
cơ quan nhà nước có cổng thông tin điện tử, sử dụng mạng nội bộ LAN, Extranet,
internet; sử dụng các kênh liên lạc trên không gian mạng để giao dịch. Theo các
tổ chức an ninh mạng Kaspersky và Symantec, Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế
giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc, phần mềm độc hại (qua USB, thẻ nhớ) với gần
70% người dùng máy tính có nguy cơ bị lây nhiễm cao; đứng thứ ba về số lượng
người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất thế giới; đứng thứ 4 trên thế
giới về nguy cơ bị nhiễm độc khi sử dụng in-tơ-nét. Hệ quả là năm 2020 có tới
hơn 73% số vụ lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra trên không gian mạng, tăng khoảng
3% so với năm 2019.
HOẠT ĐỘNG XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
Cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành dựa trên nền tảng
của công nghệ số cùng với việc sử dụng phổ biến in-tơ-nét. Đặc trưng quan trọng
của cuộc cách mạng này là sự phát triển hệ thống liên kết thế giới thực và ảo
trên cơ sở internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT) và internet kết
nối các hệ thống (Internet of Systems - IoS). Trong bối cảnh diễn ra cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, trên không gian mạng xuất hiện những nguy cơ, hoạt
động tác động mạnh mẽ đến an ninh quốc gia của tất cả các nước, trong đó có
Việt Nam. Ở các nước trên thế giới, nhất là các nước có nền khoa học - công
nghệ phát triển, như Mỹ, Nga, Trung Quốc..., đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều
hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là:
Một là, chiến tranh mạng. Có thể
nói, chiến tranh mạng là một hình thái chiến tranh mới, vượt ra khỏi khuôn khổ
khái niệm về chiến tranh quân sự truyền thống. Đây là cuộc chiến tranh bất đối
xứng, chỉ một lực lượng rất nhỏ cũng có thể gây thiệt hại lớn cho đối phương.
Chiến tranh mạng không sử dụng khí tài quân sự truyền thống mà sử dụng lực
lượng tinh nhuệ để lập trình, chế tạo, sản xuất và nhân bản hàng loạt vũ khí
mạng, như mã độc, hệ thống công cụ tấn công mạng, hệ thống công cụ tình báo
mạng. Mặc dù được tiến hành trên không gian mạng nhưng hậu quả do chiến tranh
mạng gây ra có thể vượt ra ngoài phạm vi không gian ảo và có sức tàn phá lớn,
thậm chí vượt xa chiến tranh quân sự truyền thống. Tháng 4-2007, hàng loạt
trang thông tin điện tử (website) các cơ quan chính phủ, nhà cung cấp dịch vụ
internet và ngân hàng của E-xtô-ni-a bị tấn công liên tục. Hậu quả là hầu hết
các website tại E-xtô-ni-a bị tê liệt trong khoảng 3 tuần, gây ra nhiều thiệt
hại cho nước này. Năm 2009, hàng loạt website của chính phủ Mỹ và Hàn Quốc cũng
bị tấn công, trong đó nhiều website quan trọng của Mỹ và Hàn Quốc phải tạm
ngừng hoạt động.
Hai là, gián điệp
mạng. Gián điệp mạng
ra đời cùng với sự xuất hiện của không gian mạng với sự kết nối của mạng máy
tính, internet và sự phát triển của công nghệ thông tin. Gián điệp mạng có thể
gây ra những tổn thất khôn lường về nhiều mặt, thậm chí làm ảnh hưởng đến nhiều
quốc gia thông qua hoạt động tấn công vào hệ thống máy tính của các cơ quan
chính quyền, tập đoàn kinh tế, hệ thống ngân hàng hoặc hệ thống thông tin của
các cảng sân bay hàng không quốc tế,... để đánh cắp dữ liệu số, thông tin bí
mật hoặc tấn công mã độc, chiếm quyền kiểm soát, điều khiển hệ thống thông tin...
Từ năm 2006 đến năm 2017, WikiLeaks cho công bố hàng loạt tài liệu mật, trong
đó có nhiều tài liệu mật của Mỹ và một số nước, bao gồm cả các tài liệu phản
ánh hoạt động giám sát các thiết bị di động của Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ
(CIA). Năm 2013, E. Xnâu-đân (Edward Snowden) tiết lộ thông tin mật về chương
trình do thám toàn cầu do tình báo Mỹ và Anh thực hiện, gồm cả các hoạt động
giám sát điện thoại của một số nhà lãnh đạo trên thế giới, như Tổng thống Nga
D. Mét-vê-đép (Dmitry Medvedev), Thủ tướng Đức An-giê-la Méc-ken (Angela
Merkel)... Năm 2016, 11,5 triệu tài liệu mật cũng đã được công khai cho báo chí
trong vụ “Hồ sơ Panama”...
Ba là, khủng bố mạng. Thời
gian qua, các đối tượng khủng bố quốc tế; các thế lực thù địch; các tổ chức tin
tặc, điển hình như Tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS), tổ chức tin
tặc do “nhóm hacker ẩn danh” Anonymous sáng lập và chỉ đạo, luôn tìm cách lợi
dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện
các hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố. Hoạt động khủng bố mạng gồm tấn công
mạng nhằm mục đích khủng bố; tấn công khủng bố trên mạng; sử dụng không gian
mạng để đe dọa khủng bố. Năm 2015, nhóm hacker người Tuy-ni-di Al-Fallaga có
quan hệ chặt chẽ với mạng lưới thánh chiến toàn cầu đã tiến hành chiến dịch “Op
Electronic Badr” tấn công các trang tin điện tử của ngân hàng Hapoalim, Mossad
và nhiều website khác của Chính phủ I-xra-en, sau đó đăng tải các tài liệu thu
được lên Facebook. Thời gian qua, tổ chức khủng bố IS cũng liên kết chặt chẽ
với các nhóm tin tặc, như Cyber Caliphate, IS Hacking Division, ISIS Cyber Army
và một số nhóm tin tặc khác ủng hộ IS tiến hành các vụ tấn công mạng nhằm vào
mục tiêu của các nước mà chúng cho là thù địch.
Bốn
là, tội phạm
mạng. Bên cạnh những loại tội phạm, như khủng bố, gián điệp trên không
gian mạng, còn xuất hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác, như xâm nhập bất
hợp pháp, lấy cắp, sửa đổi, phá hoại dữ liệu, dùng dữ liệu đó vào mục đích xâm
phạm an ninh quốc gia, chiếm đoạt tài sản, phát tán thông tin thuộc bí mật nhà
nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư. Thủ đoạn của chúng là sử dụng kỹ thuật
tấn công chủ động, tấn công thụ động; tấn công lợi dụng lỗ hổng bảo mật, để xâm
nhập bất hợp pháp...; trong đó thủ đoạn phổ biến là lừa người sử dụng để cài
backdoor, trojan. Với ưu thế miễn phí, tiện lợi, các dịch vụ mạng như Skype,
Yahoo, Facebook, Viber, Zalo,... được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế
giới và Việt Nam. Tội phạm mạng đã lợi dụng các dịch vụ này để cài mã độc, phần
mềm gián điệp vào các thiết bị di động, máy tính kết nối internet nhằm kiểm
soát, lấy cắp nội dung thông tin, dữ liệu cuộc gọi, gây ra nhiều thiệt hại cho
người dùng, trong đó có các cá nhân, cơ quan chính quyền các nước. Ví dụ, như vụ
“hacker của thế kỷ 21” A. Gôn-da-lét (Albert Gonzalez) đánh cắp dữ liệu của hơn
170 triệu thẻ tín dụng trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2007, gây
chấn động dư luận Mỹ và thế giới do mức độ hậu quả thiệt hại nặng nề mà nó gây
ra. Hay vụ Mỹ và Anh bắt giữ 48 người ở Mỹ liên quan đến vụ tấn công được biết
đến với loại trojan mang tên Zeus mà họ dùng để trộm cắp hơn 70 triệu USD từ
các ngân hàng trên khắp thế giới.
GIỮ GÌN NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN!
KHÔNG GIAN MẠNG VÀ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
Hiện
nay, trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về không gian mạng. Quan
điểm của Mỹ đề cập trong Chỉ thị số 54 về An ninh quốc gia và Chỉ thị số 23,
năm 2008, về An ninh nội địa của Tổng thống Mỹ cho rằng, không gian mạng là
mạng lưới kết nối các cơ sở hạ tầng bao gồm internet, các mạng viễn thông, các
hệ thống máy tính, các hệ thống xử lý và điều khiển trong ngành công nghiệp
trọng yếu; không gian mạng được dùng để mô tả một môi trường ảo, trong đó diễn
ra việc trao đổi thông tin và tương tác giữa con người với nhau, không bị giới
hạn bởi không gian và thời gian. Bộ Quốc phòng Nhật Bản xác định không gian
mạng là không gian ảo, bao gồm cả internet, trong đó thông tin được trao đổi
bằng công nghệ thông tin và viễn thông; không gian mạng là “trường”, trong đó
các hoạt động tình báo, tấn công và phòng thủ được tiến hành như “trường” trên
bộ, trên biển, trên không và trong không gian. Trung Quốc coi không gian mạng
là chiến trường thứ năm và là mặt trận tình báo mới. Trong phát biểu tại hội
nghị thành lập Tiểu tổ Lãnh đạo an ninh mạng và thông tin hóa Trung ương ở Bắc
Kinh, ngày 27-2-2014, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cho rằng,
internet và an ninh thông tin đã trở thành thách thức mới đối với Trung Quốc vì
cả hai đều gắn liền với an ninh quốc gia và ổn định xã hội. Luật An ninh
mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
12-6-2018 khẳng định, không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng
công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ
thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi
con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời
gian. Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý
và kiểm soát. Trên không gian mạng, Việt Nam có hệ thống thông tin quan trọng
về an ninh quốc gia. Hệ thống này gồm hệ thống thông tin quân sự, an ninh,
ngoại giao, cơ yếu; hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật
nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có
giá trị đặc biệt quan trọng; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản vật liệu, chất
đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái; hệ thống thông tin
phục vụ bảo quản, chế tạo, quản lý cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên
quan đến an ninh quốc gia; hệ thống thông tin quan trọng phục vụ hoạt động của
cơ quan, tổ chức ở Trung ương; hệ thống thông tin quốc gia thuộc lĩnh vực năng
lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi
trường, hóa chất, y tế, văn hóa, báo chí; hệ thống điều khiển và giám sát tự
động tại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng
về an ninh quốc gia. Từ khái niệm bảo vệ an ninh quốc gia được đề cập trong
Luật An ninh quốc gia Việt Nam năm 2004 có thể hiểu, bảo vệ an
ninh quốc gia trên không gian mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu
tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian
mạng. Thực tế cho thấy, không gian mạng quốc gia Việt Nam chứa đựng
những yếu tố hết sức quan trọng, nếu bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới
lợi ích, an ninh quốc gia. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và
ngoài nước vẫn không từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng luôn lợi
dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và không gian mạng vào các hoạt động chống
phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Trong bối cảnh đó, yêu cầu
bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng đặt ra trong tình hình hiện nay là
hết sức cấp thiết. Chính vì vậy, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5-9-2019, của Bộ
Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia” xác định, cần phải
tăng cường bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc
gia và các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát
hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không
gian mạng; khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn, an ninh
mạng, an ninh thông tin. Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian
mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do đó,
để triển khai công tác này, phải phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức
mạnh thời đại; đồng thời, xác định đây là cuộc đấu tranh của toàn dân, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc
gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị,
trong đó, lực lượng công an giữ vai trò nòng cốt, lực lượng an ninh mạng và
cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao có trách nhiệm trực tiếp thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đây là quan
điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của Đảng, quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh
bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nguyên tắc cần
quán triệt trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng bao gồm: Tuân thủ
Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản
lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị
và toàn dân tộc; lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian
mạng làm nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với
nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ động phòng ngừa,
đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên
không gian mạng.Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là bảo vệ chế độ
chính trị và N hà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an
ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi
ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an
ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của
quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan
trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn
chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc
gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng.
Tâm thế người trong cuộc
Phải là người trong cuộc, những người có chung niềm ao ước, niềm tin tưởng mới dám “lăn” vào cuộc, góp sức lực dù nhỏ mọn trong công cuộc dựng xây xã hội tiến bộ, văn minh.
Mấy người bạn giờ tuổi sàn sàn sáu lăm, sáu sáu. Nhớ vài chục năm trước hăm hở ước mơ nhà khoa học, nhà văn, nhà này, nhà nọ. Đất nước có ngoại xâm, mỗi đứa mỗi ngả đường chiến dịch. Năm tháng trôi đi, đến một ngày cuộc hội ngộ như là tình cờ, mà cũng như lẽ tự nhiên. Có người nhìn nhau mãi mới nhận ra. Ồ! Hóa ra là Th. Lém hồi xưa đây, bây giờ là bác sĩ ngoại khoa. Cậu V. ít nói, đúng là hợp phong cách nhà nghiên cứu. Ồn ã một hồi thăm hỏi mày tao, cậu tớ như thuở trai tráng vậy. Mừng cho nhau, ai cũng có vị trí công tác nhất định, giờ thì đều đã nghỉ hưu.
Chuyện dài dài đến lúc quay về thực tại, những “đề tài” của ngày hôm nay. Tâm trạng được thổ lộ, quan niệm nhìn nhận về xã hội, thời cuộc không phải dễ nhất trí nhau. Điều ai cũng thấy cái được của thời mở cửa, hội nhập là sáng rõ. Bộ mặt đất nước như sang trang mới: công tác quản lý ở các lĩnh vực được chặt chẽ hơn; bộ máy công quyền làm việc dần vào nền nếp, khoa học hơn; con người hoạt động trong dây chuyền công nghiệp hiện đại ngày càng thông minh, linh hoạt hơn. Độ trì trệ, bảo thủ đã khắc phục nhiều. Vì nhịp sống, nhịp làm việc của thời mở cửa, hội nhập, cạnh tranh sôi động không cho phép ai đó cứ khư khư giữ ý kiến, quan điểm lo lắng, ngại sợ. Vậy là, cái được được nhiều, còn cái chưa được còn nhiều không? Nhiệt huyết, chí khí của một thời được xem như tấm gương đã hòa lẫn vào đâu? Lòng dũng cảm, tính trung thực ẩn ở nơi đâu? Những câu hỏi bức xúc, nóng nảy được bật lên: Trách nhiệm!. Khi thành công thì tán thưởng, vui mừng, lẽ thường là thế. Sao gặp bất trắc, không suôn sẻ thì bày ngay ra cái sợ: sợ liên lụy, sợ trách nhiệm, cứ đèn cù, đùn đẩy cho nhau. Phải bứt ra khỏi cái “ách” đeo bám ấy...
Những tâm tư riêng, chung, những cảm nhận trước thực tại những câu hỏi nóng bỏng, thực ra nó đã phản ánh đúng thực tế. Phải là người trong cuộc, những người có chung niềm ao ước, niềm tin tưởng mới dám “lăn” vào cuộc, góp sức lực dù nhỏ mọn trong công cuộc dựng xây xã hội tiến bộ, văn minh. Chặng đường dài mấy mươi năm những người trong cuộc đã dấn thân, sống, chết vì niềm tin tưởng sâu sắc. Chẳng đã có kẻ giữa đường ngã lòng, thụt chí, hụt hơi, bỏ lại sau lưng lời nguyền rủa của thế gian. Càng thấm hiểu câu tục ngữ: “Đường dài mới biết ngựa hay/Đến khi cả gió biết cây cứng mềm”. Cuộc trường chinh để dân tộc sánh bước, hội nhập nhân loại tiến bộ đầy gian nan, thử thách, rất cần những tấm lòng luôn coi mình là người trong cuộc. Sướng, vui vì thành công của muôn dân, trăm họ và sẻ chia trước mất mát, khổ đau của cộng đồng. Cao cả hơn, trên hết, không bao giờ vì mệt nhọc hay thiệt thòi mà rẽ ngang trên đoạn đường dài về tới đích.
Coi mình là “người trong cuộc”, mấy người bạn dù không đại diện cho đông đảo nhân quần, vẫn muốn đôi dòng bày tỏ tâm thế trước bao diễn biến thời cuộc, bao đổi thay trên đường trường chinh mà mình đã chấp nhận, dấn thân./.
"HỌC XỔI"!
TÁCH RỜI, ĐỐI LẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN: THỦ ĐOẠN TINH VI CHE ĐẬY BẢN CHẤT CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ CHẾ ĐỘ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ
Một
trong những thủ đoạn thâm độc mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ
hội chính trị thường sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ là tách rời,
đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuyên tạc nền tảng tư
tưởng của Đảng, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng,
thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Do đó, nhận diện, bóc trần thủ đoạn
này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
hiện nay. Có thể khẳng định, giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác -
Lê-nin có mối quan hệ biện chứng, được thể hiện trên 3 phương diện chính sau
đây:
Thứ
nhất, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là cội nguồn lý luận cơ bản hình thành tư tưởng Hồ
Chí Minh. Trong quá trình tìm đường cứu nước, bằng sự nhạy cảm chính trị và khảo
sát kỹ lưỡng thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác -
Lê-nin - chân lý lớn của thời đại. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cung cấp cho Người
nhân sinh quan cách mạng, thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trên cơ sở đó, Người tổng kết kiến thức, tổng kết lịch sử và kinh nghiệm thực
tiễn để hình thành nên “một phương lược cứu quốc đầy đủ nhất”. Tuyên bố đi theo
“chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trở thành một
nhà tư tưởng mác-xít sáng tạo. Nếu chủ nghĩa Mác - Lê-nin lấy giai cấp công
nhân làm vũ khí “vật chất”, giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm
“vũ khí tinh thần”, thì Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin
làm “vũ khí không gì thay thế được” nhận
thức và hành động của mình. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người sẽ không
thể vượt khỏi những hạn chế của những sĩ phu Việt Nam yêu nước thời trước; tư
tưởng của Người không thể mang đầy đủ đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn;
con đường cứu nước mà Người vạch ra không thể trở thành con đường “bách chiến,
bách thắng” như trên thực tế đã diễn ra. Có thể nói, dù tư tưởng Hồ Chí Minh được
hình thành dưới sự tác động của nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố khách quan và
nhân tố chủ quan, cả tiền đề lịch sử và tiền đề tư tưởng, hội tụ truyền thống
văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng quan trọng nhất, quyết định
nhất vẫn là chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Thứ
hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Tin và đi theo chủ nghĩa
Mác - Lê-nin nhưng thấu hiểu đặc tính “mở” của hệ thống lý luận ấy, Chủ tịch Hồ
Chí Minh không tiếp thu theo lối giáo điều, sách vở, không bị trói buộc trong
cái “vỏ” ngôn từ mà nắm lấy “cái thần”, cái “linh hồn sống” của chủ nghĩa Mác -
Lê-nin là phép duy vật biện chứng. Nắm vững nguyên tắc thực tiễn của chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, Người nhận thức rõ sự khác biệt giữa xã hội Việt Nam và xã hội
phương Tây nên đã khẳng định: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết
lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì?
Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Sau này, Người nói rõ hơn: “Học chủ nghĩa
Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải
thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ
nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính sách của Đảng... Chủ
nghĩa Mác - Lênin không phải ở đâu người ta cũng làm cộng sản, cũng làm Xô viết”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ít khi nói đến các khái niệm, phạm trù hay quy luật của
triết học Mác - Lê-nin, nhưng Người vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách rất linh hoạt và từ
chính thực tiễn đó, Người rút ra nhiều kết luận mang tầm chân lý nhưng lại rất
dễ hiểu để bổ sung, làm giàu cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Với tư duy sáng tạo,
Người đã phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên một loạt vấn đề căn cốt của
cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc cho đến cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Bằng cách đó, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành dòng chảy tiếp nối chủ
nghĩa Mác - Lê-nin trong một thời đại mới và không gian mới. Sự vận dụng, phát
triển sáng tạo của Người đã làm cho học thuyết Mác - Lê-nin được “Việt Nam
hóa”, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Người cũng giúp dân tộc ta
thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường và nhờ đó,
cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại. Người đã để lại bài học lớn:
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “kim chỉ nam” cho hành động cách mạng nhưng không phải
là khuôn mẫu, là “linh đan kê sẵn”; nếu biến lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin
thành “kinh thánh” và công thức sáo mòn thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi thực tiễn
không ngừng biến đổi. Vì thế, người trung thành nhất phải là người sáng tạo nhất.
Thứ
ba, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hai bộ phận cấu thành nền
tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước khi thành lập Đảng, khi viết
tác phẩm “Đường Cách mệnh”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu tác phẩm bằng câu
nói của V.I. Lê-nin: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong
trào cách mạng”; “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có
khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”. Trong Cương lĩnh thành lập Đảng
(tháng 2-1930), dù không trực tiếp tuyên bố Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm
nền tảng tư tưởng, nhưng Người đã đề ra chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng
và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” và khẳng định, điều kiện tiên
quyết để gia nhập Đảng là phải “tin theo chủ nghĩa cộng sản”. Theo đó, Đảng đi
theo lý tưởng cộng sản, đi theo con đường mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã vạch ra.
Đến Hội nghị Trung ương lần 1 (tháng 10-1930), Luận cương chính trị của Đảng
tuyên bố: “Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và
Lênin làm gốc”. Tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991), trong bối cảnh chế độ xã hội
chủ nghĩa sụp đổ ở các nước Đông Âu và Liên Xô, Đảng ta vẫn khẳng định: “Đảng lấy
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động. Đảng lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”. Sự bổ
sung “tư tưởng Hồ Chí Minh” vào nền tảng tư tưởng của Đảng tại Đại hội VII hoàn
toàn phù hợp với thực tế đã diễn ra từ năm 1930 và với tình cảm của cán bộ, đảng
viên, nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nền tảng tư tưởng của Đảng được tạo
thành bởi chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là “thể thống nhất liền
khối”, luôn hiện hữu và quyện chặt trong nhau, không thể tách rời. Nhận diện âm
mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị
khi đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đấu tranh bảo vệ nền
tảng tư tưởng của mình là vấn đề mang tính quy luật của một đảng chính trị. Như
mọi cuộc chiến khác, muốn giành thắng lợi, người tranh đấu phải hiểu rõ âm mưu
và thủ đoạn của đối phương. Thực tế cho thấy, để đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính
trị đã sử dụng các thủ đoạn chủ yếu sau đây:
Trước
hết, chúng mưu toan phủ nhận sự tồn tại của “tư tưởng Hồ Chí Minh”, xuyên tạc rằng
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhà tư tưởng.
Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi
của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được
thừa nhận bởi các học giả ở trong nước và nước ngoài, nhưng các thế lực thù địch,
phản động, phần tử cơ hội chính trị vẫn rêu rao xuyên tạc rằng, “tư tưởng Hồ
Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Để chứng minh cho điều
đó, họ đưa ra các luận chứng mang tính chủ quan, khiên cưỡng, như: Xét về nội
dung, Hồ Chí Minh là người đọc nhiều, nhớ nhiều, giỏi tổng thuật chủ kiến của
người khác và không dẫn nguồn nên người ta cứ tưởng Hồ Chí Minh là người đưa ra
các quan điểm đó, nhưng thực chất thì không phải (?!). Xét về hình thức, Hồ Chí
Minh chỉ có những bức thư ngắn, những bài viết, bài nói ngắn chứ không có các
tác phẩm đồ sộ như các nhà tư tưởng khác (?!). Họ còn rêu rao rằng, trong bối cảnh
ngọn cờ Mác - Lê-nin mất “thiêng” khi chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ liên tiếp ở
các nước Đông Âu, tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam vội vã
“nhào nặn” ra cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” để “gia cố” cho nền tảng tư tưởng
đang “lung lay” của mình. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản phẩm chủ
quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền lãnh đạo
của mình (?!). Những luận điệu xuyên tạc này của các thế lực thù địch hoàn toàn
đối lập với sự thật lịch sử. Trên thực tế, nhờ có tư tưởng Hồ Chí Minh - sự vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành được
những thắng lợi vĩ đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ làm biến đổi số phận của
dân tộc Việt Nam mà còn góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn
thế giới, thúc đẩy “bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ”. Cùng với Đảng Cộng sản
Việt Nam, nhiều nhà khoa học và chính khách lớn của thời đại cũng khẳng định
giá trị và tầm vóc thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản
Mỹ - Gớt Hôn viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng
mácxít-lêninnít vĩ đại của thế giới. Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết
xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu lịch sử với những tư tưởng và ý kiến đúng.
Chính vì vậy, đồng chí đã làm ra lịch sử”. Giáo sư Nhật Bản Sing-gô Si-ba-ta đã
viết một công trình có tên là “Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng”. Việc những kẻ chống
phá “quay lưng” lại với những bằng chứng hiển nhiên về sự tồn tại và giá trị to
lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy, họ không xuất phát từ lập luận
khoa học, mà từ động cơ chính trị đen tối. Đây là sự cố tình phủ nhận, “đổi trắng
thay đen” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với đặc
tính “tiền hậu bất nhất” của những kẻ chuyên “nói càn”, các thế lực thù địch,
phản động và phần tử cơ hội chính trị còn có một giọng điệu hoàn toàn khác là về
hình thức bề ngoài “giả bộ” làm ra vẻ ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để
phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Để “hạ bệ” chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
họ đưa ra nhiều lý do khác nhau. Đầu tiên, họ vin vào“yếu tố thời đại”, biện bạch
rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với bối cảnh của thế kỷ XIX, cùng lắm
là đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với văn minh công nghiệp, trong khi bây giờ
nhân loại đã ở thế kỷ XXI; trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, sứ
mệnh của giai cấp công nhân đã khác đi, vai trò của trí thức “lên ngôi” nên chủ
nghĩa Mác - Lê-nin trở nên lỗi thời và bị lịch sử vượt qua. Đây là cách lập luận
rất “hàm hồ”, bởi cho dù thời đại mà chúng ta đang sống rất khác với thời đại
mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin sống, nhưng những biến đổi của nó vẫn
không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin khám
phá ra. Với đặc tính “mở”, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp
luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ
nghĩa nào có thể thay thế.
“Yếu tố địa lý”
cũng là một lý do mà các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị
thù địch vin vào để phủ nhận một cách vô căn cứ chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Theo họ,
chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của các nước phương Đông cũng như
Việt Nam, mà là học thuyết “ngoại lai”, “nhập ngoại” từ phương Tây nên không
phù hợp với điều kiện xã hội của Việt Nam - một xã hội phương Đông với nền kinh
tế tiền tư bản chủ nghĩa. Họ còn “lu loa”: Khi chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã “chết”
trên chính quê hương của C. Mác, của V.I. Lê-nin, rộng hơn là ở cả châu lục mà
nó sinh ra, nhưng những người cộng sản Việt Nam vẫn cứ theo đuổi nó, “hà hơi tiếp
sức” cho nó thì đó là tư duy bảo thủ(?!). Có thể thấy, những kẻ đưa ra luận điệu
này đã cố tình không hiểu sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và tầm
nhìn thời đại trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Mặc dù chủ nghĩa Mác -
Lê-nin có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ phương Tây, nhưng khi được bổ sung bằng
“dân tộc học phương Đông”, thì “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó” (tức là ở
phương Đông), như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từng khẳng định và nỗ lực thực hiện. Thủ
đoạn được các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sử dụng
nhiều nhất để phản bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Theo họ, sự sụp đổ này chứng tỏ chủ nghĩa
Mác - Lê-nin sai lầm từ bản chất, chứ không phải là do nó được nhận thức sai, vận
dụng sai và vì thế, khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác - Lê-nin bách chiến, bách thắng”
đã hoàn toàn mất giá trị. Họ cố tình không hiểu rằng, tính bền vững của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin so với các học thuyết khác là ở chỗ, nó dựa trên một thế giới
quan khoa học là phép biện chứng duy vật, và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ
nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội
hiện thực có nhiều khuyết tật và chậm được sửa chữa, chứ không phải là sự sụp đổ
của một học thuyết khoa học. Một thủ đoạn khác được các thế lực thù địch, phản
động và phần tử cơ hội chính trị đưa ra để mưu toan phủ định chủ nghĩa Mác -
Lê-nin chính là sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Họ cho rằng, chủ nghĩa Mác chủ trương đấu tranh giai cấp còn Chủ tịch Hồ
Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa
dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản...”(!) Sau khi đưa ra nhiều “cơn
cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến
tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và vì thế,
cần loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc các
thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị giả vờ “đề cao” tư tưởng
Hồ Chí Minh, đem tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là
hoàn toàn trái với quan điểm, tư tưởng và tình cảm của bản thân Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Ngay từ năm 1927, Người đã khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ
nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là
chủ nghĩa Lê-nin. Người từng nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một
chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Câu nói đó đã nói
lên sự lựa chọn tiên quyết và sự kiên trì của Người đối với chủ nghĩa Mác và
sau này là toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người còn nhấn mạnh: “Chủ nghĩa
Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những
là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời
soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa cộng sản”(16). Khi viết Di chúc, Người gọi việc từ giã cõi đời của
mình là “đi gặp các cụ Các Mác, cụ Lê-nin”, bởi giữa các bậc vĩ nhân ấy là sự đồng
điệu về khát vọng giải phóng con người và “tình hữu ái vô sản” thiêng liêng. Thậm
chí, trong lần trả lời phỏng vấn cuối cùng vào ngày 15-7-1969, Người khẳng định:
“Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh
rằng... trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác -
Lênin”. Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản “Sơ thảo
lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.
Lê-nin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gắn
bó với chủ nghĩa Mác - Lê-nin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn. Phải khẳng
định rằng, việc “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin thực chất là một
âm mưu đen tối, thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, phản động và phần tử
cơ hội chính trị. Sự nguy hiểm của nó là ở chỗ, dễ làm cho người ta ngộ nhận,
tin theo, bởi nó “đánh vào” tình yêu lãnh tụ và tinh thần tự tôn dân tộc. Thực
chất, đây không phải là sự ca ngợi hay đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, mà chỉ là
thủ pháp “nâng lên để hạ xuống”, tìm cách cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh
khỏi ngọn nguồn lý luận chủ yếu của nó để qua đó, làm suy yếu và tiến tới phủ định
luôn cả tư tưởng Hồ Chí Minh. Thâm độc hơn, thông qua phủ nhận chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những kẻ chống phá còn muốn phủ nhận toàn bộ
cương lĩnh, đường lối của Đảng được hoạch định trên nền tảng tư tưởng đó để đi
đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ
chế độ hiện hành và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tiếp tục đấu
tranh chống âm mưu, thủ đoạn đem tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ
nghĩa Mác - Lê-nin của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính
trị. Lâu nay, để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” - “cuộc chiến tranh
không khói súng”, “khâu đột phá” mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử
cơ hội chính trị thường sử dụng là tấn công trên mặt trận tư tưởng. Việc đối lập
tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một thủ đoạn nhằm phủ định
đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động bạo loạn lật
đổ để thay đổi thể chế chính trị hiện hành ở nước ta. Chừng nào chưa đạt được mục
đích của mình, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sẽ
còn chống phá bằng các hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Để
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta phải mài sắc vũ khí lý luận để đấu
tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị nói chung và
âm mưu, thủ đoạn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói
riêng. Theo đó, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một
là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa
tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về động cơ đen tối của các thế
lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị khi phủ nhận mối quan hệ
này. Cần làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ rằng, mối quan hệ giữa
chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là mối quan hệ giữa cội nguồn và
phát triển, giữa cái chung và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là
hai”. Vì thế, không thể tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, cũng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa
Mác - Lê-nin và ngược lại. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo,
nhưng lại thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng
giải phóng con người... Việc các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội
chính trị mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cố
tình lờ đi mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống tư tưởng, lý luận này không
phải là do chưa có đủ thông tin hay chưa có phương pháp nghiên cứu phù hợp, mà
là sự chủ ý xuyên tạc, bịa đặt và lừa bịp nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình”
và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai
là, đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị để cán bộ, đảng
viên hiểu rõ nội dung, bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác
- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, kẻ
thù đế quốc từng dùng “trăm phương ngàn kế” để ly gián nhân dân miền Nam với
Bác Hồ, với Đảng, với miền Bắc xã hội chủ nghĩa nhưng đều bị thất bại trước ý
chí sắt đá của nhân dân ta: “Dù ai nói ngả, nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như
kiềng ba chân/ Dù ai rào giậu, ngăn sân/ Lòng ta vẫn vững là dân Bác Hồ”. Lúc
này cũng vậy, nếu cán bộ và nhân dân đều thấu hiểu, thấu cảm giá trị đích thực,
sức sống thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi sự
xuyên tạc sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, cần tập trung thực hiện có hiệu quả Chỉ
thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao
chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Làm tốt công tác giáo dục
lý luận chính trị, đẩy lùi căn bệnh lười học lý luận chính trị ở một bộ phận
cán bộ, đảng viên, tích cực bồi đắp tri thức khoa học cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng, chống sự xâm nhập của các luồng thông
tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù địch.
Ba
là, xây dựng đội quân tinh nhuệ tác chiến mặt trận tư tưởng lý luận là các
chuyên gia giỏi, am hiểu về lý luận chính trị để đấu tranh trực diện với những
âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các
chuyên gia khi tham gia vào trận chiến trên mặt trận đấu tranh tư tưởng phải có
thái độ vừa mạnh mẽ, điềm tĩnh, vừa kiên quyết, kiên trì; mọi lập luận đưa ra
phải đạt tới mức tinh thông, sắc bén về lý luận, phong phú, sinh động về thực
tiễn. Theo đó, cần thường xuyên và kịp thời cung cấp thông tin cho lực lượng
này và tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm với các cơ quan chức
năng, lực lượng nòng cốt về đấu tranh trên không gian mạng để họ trở thành những
chiến sĩ thực thụ trên mặt trận đấu tranh tư tưởng.
Bốn
là, kiên định và tăng cường hơn nữa việc vận dụng, phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước để thúc đẩy
tiến trình đổi mới đất nước, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và
không ngừng nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Đây thực chất là
giải pháp dùng thực tiễn để bảo vệ lý luận, bảo vệ chân lý, bởi thực tiễn là
nơi kiểm nghiệm mọi lý luận, mọi chân lý một cách xác thực nhất. Chúng ta phải
“kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường
lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng… Đây là vấn đề
mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững
chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”. Việc xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta chính là minh chứng hùng hồn nhất
cho sức sống, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong
thời đại ngày nay. Ngược lại, mỗi hành vi sai trái của từng cá nhân cán bộ, đảng
viên hay tổ chức đảng vô hình trung đều là sự “tiếp tay” cho kẻ thù trong việc
tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, việc tăng cường bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng phải gắn chặt với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh./.


