QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HỌC THUYẾT MÁC-LÊNIN
Cùng với việc kế thừa các tư tưởng tiến bộ, học
thuyết Mác đã góp phần khắc phục được khuynh hướng xem xét con người một cách
trừu tượng. C.Mác chỉ rõ: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con
người là tổng hòa những quan hệ xã hội”[1].
Đây là cơ sở quan trọng để xem xét, đánh giá vấn đề quyền con người.
Ông cho rằng, con người vừa là sản phẩm của tự
nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội. Do đó, quyền con người không phải là sự ban
phát của Thượng đế. Mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhưng quyền con người
không phải tự nhiên mà có. C.Mác đánh giá cao quan điểm của Hêghen: “Nhân quyền
không phải là bẩm sinh mà là sản sinh ra trong lịch sử”[2].
Nhưng lịch sử, theo C.Mác, là lịch sử hiện thực của con người và xã hội loài
người. Thực tế lịch sử nền văn minh nhân loại cho thấy, quyền con người là
thành quá của sự phát triển lịch sử, của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo
xã hội.
C.Mác cũng cho rằng, khi xem
xét và giải quyết vấn đề quyền con người cần phải đặt vào những hoàn cảnh lịch
sử cụ thể: "Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự
phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định"[3].
Học thuyết Mác đề cao con người
và sự nghiệp giải phóng con người, nhấn mạnh quyền và tự do của con người không
tách rời quyền và tự do của mỗi dân tộc. Quyền tự do của mỗi dân tộc. trước hết
là quyền tự quyết dân tộc, là một bảo đảm vững chắc để có thể hiện thực hóa đầy
đủ các quyền con người. C.Mác chỉ rõ, một dân tộc đi áp bức dân tộc khác thì
chính dân tộc đó cũng không thể có tự do. Liên hợp quốc, ngay từ khi ra đời đã
khẳng định, việc tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc khác là một yêu cầu quan
trọng trong việc thiết lập mối quan hệ hữu nghị thực chất giữa các dân tộc, do
đó góp phần vào việc bảo vệ hòa bình thế giới và quyền con người.
Quyền con người là một thành tựu của nhân loại,
nhưng đó mới chỉ là một nấc thang của sự phát triển, trên hành trình hướng tới tự
do, binh đẳng thực sự của nhân loại. Ph.Ăngghen viết: "Bình đẳng không chỉ
còn hạn chế trong những quyền lợi chính trị, mà đã mở rộng ra đến cả địa vị xã
hội của mỗi cá nhân; không những phải xóa bỏ đặc quyền giai cấp mà còn phải xóa
bỏ ngay cả những sự khác biệt giai cấp”[4].
C. Mác và Ph. Ăngghen đánh giá cao các cuộc cách mạng
dân chủ tư sản, song các ông cũng chỉ ra những mặt hạn chế của xã hội tư bản
trong việc bảo vệ quyền con người. Đó là việc còn dừng ở mặt hình thức, lý thuyết.
Chủ nghĩa tư bản cổ súy cho sự chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; do đó,
quyên con người dưới chủ nghĩa tư bản chủ yếu là quyền của giới hữu sản. Quyên
con người trong chế độ tư bản còn đầy mâu thuẫn, cả về lý luận và thực tiễn; vẫn
còn khoảng cách khá xa giữa các tuyên bố chính trị với quy định trong pháp luật
và đặc biệt là trên thực tế. C.Mác từng vạch rõ: “Sự việc sau , đây cũng nói
lên cái tính chất đặc thù tư sản của những quyền của con người ấy: hiện pháp của
nước Mỹ, hiến pháp đầu tiến thừa nhận quyền của con người, đồng thời cũng lại
chuẩn y luôn cả chế độ nô lệ của người da mầu đang tồn tại ở nước Mỹ; đặc quyền
giai cấp bị cấm chỉ, đặc quyền chủng tộc được thần thánh hóa”[5].
Thực tế lịch sử cũng chứng minh luận điểm nói trên của C.Mác. Chẳng hạn, ở Mỹ,
phải đến năm 1920 phụ nữ mới được thực hiện quyền bầu cử; cho đến nửa cuối những
năm 1950, các quyền con người của người da màu mới được thừa nhận...
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh, chỉ trong xã hội
cộng sản mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng mới thực sự được giải quyết một cách trọn
vẹn: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của
nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều
kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[6].
Trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ
nghĩa đế quốc, thành lực lượng áp bức, thống trị các dân tộc, V.I.Lênin kiến
quyết ủng hộ quyền đấu tranh khẳng định quyền tự quyết dân tộc, cả về mặt lý
thuyết cũng như trên thực tế. Đóng góp nổi bật của V.I.Lênin đối với lý luận về
quyền con người còn là tư tưởng. về xây dựng chế độ dân chủ, bảo đảm quyền làm
chủ của nhân dân lao động và con đường giành quyền tự quyết của các dân tộc.
Nét đặc sắc, thể hiện tính hơn hẳn của các cuộc
cách mạng là thành hiện thực. Ngay sau khi giành được chính quyền năm 1917, Nhà
nước Nga Xôviết dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích đã tôn trọng trên thực tế quyền tự quyết của các quốc gia dân tộc
vốn là thuộc địa của nước Nga Sa Hoàng và kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh
giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới".
Trong tiến trình xây dựng xã hội mới, V.I.Lênin
đưa ra một trong những tiêu chí phân biệt nền dân chủ vô sản với các nền dân chủ
trước đó: Dân chủ vô sản là chế độ thống trị của đa số với thiểu số, vì lợi ích
của đa số[7]...
Ông cũng chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ
dân chủ hoàn toàn. Từ nhận thức nảy, V.I.Lênin đề xuất và lãnh đạo tiến trình
hiện thực hóa quyền tham gia của nhân dân lao động trong quản lý nhà nước và xã
hội; thực thi dân chủ trên thực tế ngay những ngày đầu thành lập chế độ mới ở
nước Nga. Dưới chế độ Xô viết tại Nga, quyền của các nhóm dễ bị tồn thương luôn
được quan tâm, bảo vệ; quyền của phụ nữ, trẻ em được nâng niu, trân trọng bằng
những chính sách và hoạt động cụ thể...
Như vậy, học thuyết Mác-Lênin
chủ trương đấu tranh giành lại quyền con người trên thực tế cho tất cả mọi người,
nhất là quyền con người của nhân dân lao động và các nhóm yếu thế trong xã hội,
đặt cuộc đấu tranh vì quyền con người trong tiến trình giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét