Thứ nhất, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Chúng chủ yếu sử dụng mạng xã hội, phổ biến là Facebook, Youtube để tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước triển khai thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Thứ hai, hoạt động gián điệp mạng và
các loại tội phạm công nghệ cao. Không gian mạng đã và đang trở thành môi
trường để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm vào Việt
Nam. Thời gian qua, cơ quan đặc biệt nước ngoài đã tiến hành tuyển lựa công dân
Việt Nam qua không gian mạng, có những trường hợp đã được các cơ quan chức năng
Việt Nam phát hiện, bóc gỡ. Bên cạnh đó, các cơ quan đặc biệt nước ngoài còn
triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm nhập gián
điệp, thu thập tin tình báo chống Việt Nam. Các hoạt động này được tiến hành
thông qua các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn trong các phần mềm, ứng
dụng, các thiết bị số làm quà tặng, bán ra thị trường hoặc có thể cài đặt từ xa
thông qua in-tơ-nét. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam
(VNCERT), hằng năm có hàng triệu mã độc tấn công các máy tính của Việt Nam, với
hàng nghìn virus máy tính mới xuất hiện và hàng trăm website của các cơ quan,
doanh nghiệp bị tấn công, xâm nhập. Trên thực tế, không gian mạng còn là nơi
tội phạm công nghệ cao tiến hành các hoạt động gây nhiều thiệt hại cho các cá
nhân, tổ chức. Phổ biến là các hoạt động giả danh các cơ quan thực thi pháp
luật tiến hành các hoạt động lừa đảo qua mạng; lừa đảo qua phương thức kinh
doanh đa cấp qua mạng (sử dụng các khoản lợi nhuận lớn làm “mồi nhử”, lôi kéo
số lượng lớn người dân đầu tư vào các dự án “ảo”, sau đó đánh sập hệ thống để
chiếm đoạt tài sản); giả mạo website của các ngân hàng để lừa người truy cập,
yêu cầu cung cấp thông tin giao dịch trực tuyến, sau đó chiếm đoạt quyền sử
dụng tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt tài sản; chiếm quyền điều khiển tài khoản
mạng xã hội, sau đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người thân, bạn bè; tổ chức
đánh bạc trên mạng với tổng số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng; tiến hành các
hoạt động “tín dụng đen” trên mạng, “giang hồ mạng”. Hoạt động trên của các đối
tượng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã
hội.
Thứ ba, nguy cơ chiến
tranh mạng. Thế giới đã và đang
đối mặt với nguy cơ chiến tranh mạng, đó là nguy cơ hiện hữu và trong một thế
giới vạn vật kết nối internet, Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy đó. Chính vì
vậy, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” khẳng định,
nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia
tăng. Mục tiêu tấn công của kẻ địch trong trường hợp xảy ra chiến tranh mạng
đối với Việt Nam là hệ thống hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế,
trục truyền dẫn nội bộ quốc gia); các hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng...
); các hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng máy tính nội bộ; hệ thống điều khiển tự
động hóa của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh, như nhà máy
lọc dầu, nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giàn khoan, sân bay, hải cảng. Năm 2016
đã xảy ra hàng loạt hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống quản lý thông tin
của các sân bay quốc tế lớn của Việt Nam, như sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn
Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc. Rõ ràng, nếu để xảy ra chiến tranh mạng sẽ dẫn đến
những hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho đất nước.
Thứ tư, tình
trạng mất an ninh, an toàn thông tin mạng đe dọa tới an ninh quốc gia. Việt Nam đang phụ thuộc vào thiết bị hạ
tầng và hệ thống công nghệ mạng lõi do các công ty nước ngoài cung cấp và luôn
thường trực nguy cơ bị nước ngoài kiểm soát, giám sát. Phần lớn hạ tầng công
nghệ phần cứng của Việt Nam, từ các hạ tầng lõi cho đến các thiết bị cá nhân
đều nhập từ nước ngoài, nhiều nhất là từ Trung Quốc và Mỹ. Các hãng bảo mật và
cơ quan chức năng nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã chứng minh và cảnh báo về
các mã độc, “cửa hậu” được cài sẵn trong các thiết bị trước khi xuất xưởng, cho
phép đối phương có thể truy cập, kiểm soát từ xa. Bên cạnh đó, nhiều trang
thiết bị mạng sử dụng trong nước, gồm cả các trang thiết bị của các cơ quan, tổ
chức nhà nước có xuất xứ nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu nguồn nhân lực
công nghệ thông tin chất lượng cao, nhất là về an ninh, an toàn mạng cũng dẫn
đến nguy cơ khó kiểm soát được các vấn đề an ninh, an toàn mạng. Đáng chú ý,
nhận thức của một số cấp lãnh đạo, quản lý, ý thức và kỹ năng về an ninh, an
toàn mạng của người sử dụng tại Việt Nam còn hạn chế, trong đó có cả cán bộ
thuộc các bộ phận cơ mật, thiết yếu, nắm quyền quản trị các hệ thống quan
trọng, liên quan đến nhiều bí mật nhà nước.
Thực
tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh trong khu
vực, nhưng tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém về an ninh, an toàn mạng. Hiện nay,
khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet, 66% sử dụng mạng xã hội; 100% số
cơ quan nhà nước có cổng thông tin điện tử, sử dụng mạng nội bộ LAN, Extranet,
internet; sử dụng các kênh liên lạc trên không gian mạng để giao dịch. Theo các
tổ chức an ninh mạng Kaspersky và Symantec, Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế
giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc, phần mềm độc hại (qua USB, thẻ nhớ) với gần
70% người dùng máy tính có nguy cơ bị lây nhiễm cao; đứng thứ ba về số lượng
người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất thế giới; đứng thứ 4 trên thế
giới về nguy cơ bị nhiễm độc khi sử dụng in-tơ-nét. Hệ quả là năm 2020 có tới
hơn 73% số vụ lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra trên không gian mạng, tăng khoảng
3% so với năm 2019.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét