Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

Kết quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, trên lĩnh vực kinh tế:

 


Một là, nền kinh tế của Việt Nam vẫn giữ được độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đã chủ động phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại ý đồ “tư nhân hóa” nền kinh tế, tiến công vào vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. 

Hai là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; từ năm 1986 đến nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. 

Ba là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định với tốc độ tăng trưởng cao từ 6 - 7%/năm. Bốn là, phát triển kinh tế đã gắn chặt với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm công bằng xã hội.

                   T3.

Kết quả lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực chính trị.

 


Một là, đã làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ, phát triển và làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, xã hội Việt Nam. 

Hai là, đã vô hiệu hóa các luận điệu và hoạt động phá hoại tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; bảo vệ thành công các quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng. 

Ba là, góp phần củng cố giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; đã gắn chặt “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính. 

Bốn là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam về tổ chức, về công tác cán bộ; hệ thống chính trị của Việt Nam không ngừng được xây dựng và phát triển. 

Năm là, đã chủ động xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức lực lượng và các điều kiện bảo đảm cho công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 94 Trung ương, Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo 94 Đảng ủy Công an Trung ương; Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương và các Ban Chỉ đạo 94 trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47, cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

          T3.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

 


Lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là một bộ phận quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; góp phần quan trọng vào việc giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc tác hại vô cùng to lớn của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đã làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thoái trào và chính nó đã và đang gây không ít khó khăn, cản trở công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới của các nước chủ nghĩa xã hội còn lại, trong đó có Việt Nam và Cu Ba.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu kỹ bản chất, âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu và tìm ra được những nguyên nhân chủ yếu làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu mất quyền lãnh đạo, chế độ xã hội chủ nghĩ bị sụp đổ. Về nguyên nhân chủ quan: Một là, Đảng Cộng sản biến chất, nội bộ mất đoàn kết và chia rẽ sâu sắc. Hai là, Đảng Cộng sản từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện cải tổ, cải cách đất nước, xây dựng xã hội “dân chủ” kiểu phương Tây. Ba là, không thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang và làm trong sạch các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Về nguyên nhân khách quan, nổi lên hai điểm chính: Một là, chủ nghĩa đế quốc và một số nước phương Tây hỗ trợ đắc lực cho lực lượng đối lập chống đối trong nước chống phá Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội củ nghĩa; thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Hai là, lợi dụng thời điểm khó khăn, đời sống nhân dân không được đảm bảo, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và bộ máy nhà nước, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã lôi kéo, mua chuộc, tập hợp được một bộ phận đông đảo quần chúng đứng về phía họ để chống Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Từ nhận thức trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “diễn biến hòa bình” là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ cấp bách của cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội; là công cuộc giữ nước của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, gồm tổng thể hoạt động đối nội, đối ngoại về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,...được tiến hành bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa là vấn đề cơ bản, lâu dài; kết hợp giữa phòng ngừa, ngăn chặn và răn đe, trừng trị với việc tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Đây là cuộc chiến đấu trong thời bình, một “cuộc chiến không bom rơi, đạn nổ, không tiếng súng” nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, giữa dân tộc Việt Nam kiên cường trong chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc và đi theo con đường chủ nghĩa hội với “lũ giặc nội xâm”, đang tìm “trăm phương nghìn kế” để phá hoại công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là nhất quán và được khẳng định là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài gắn chặt với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thể hiện qua các kỳ đại hội và các hội nghị Trung ương kể từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986) đến nay.

Sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, tại Hội nghị Trung ương Ba khóa VII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hòa bình”. Vạch trần những âm mưu thâm độc và những luận điệu chiến tranh tâm lý. Quản lý chặt chẽ các cuộc hội thảo, các dịch vụ thông tin, ngăn chặn việc lợi dụng diễn đàn và các cơ hội để thu thập tin tức tình báo, truyền bá các quan điểm thù địch và lối sống tư sản”1. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng xác định 4 nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam, đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ tham nhũng và các tệ nạn xã hội; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Hội nghị Trung ương Tám khóa IX, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, xâm hại chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta”. Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Hội nghị Trung ương Tám khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới khẳng định: “Chủ động đấu tranh với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không để hình thành tổ chức chính trị đối lập dưới bất kỳ hình thức nào”. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định 4 nguy cơ vẫn tồn tại, “có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. 

Những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiếp tục được khẳng định trong văn kiện Đảng qua các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương ở các khóa tiếp theo; đồng thời, được bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa trong thực tiễn lãnh đạo công tác đấu tranh này.    

          T3.

 

HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC

* Cách đây 97 năm, ngày 9-4-1925, Nguyễn Ái Quốc với bút danh L.T viết thư nhận xét về tập luận văn “Cách mệnh” theo yêu cầu của tác giả H. H. ở đây chính là Nguyễn Thượng Huyền, con trai nhà yêu nước Nguyễn Thượng Hiền, lúc này cũng đang hoạt động chính trị ở Trung Quốc.
Trong thư, Nguyễn Ái Quốc bày tỏ một số quan niệm sâu sắc về công việc cầm bút: “Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thúy của các điển tích thường cũng bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm... Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt... Một lối hành văn giản dị chính xác hơn hẳn cái lối hành văn rườm rà, hoa mỹ. Nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩm hành văn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì”.
Về nội dung của luận văn bàn về cách mạng, Nguyễn Ái Quốc góp ý rằng, viết về cách mạng mà: “Ông không nói: 1.Phải làm cái gì trước cách mệnh; 2.Phải làm gì trong cách mệnh; 3.Phải làm gì sau cách mệnh. Ông chưa bàn đến lực lượng mà người Pháp có thể sử dụng ở nước ta, cũng chưa bàn đến lực lượng của ta”. Cuối thư viết: “Tôi đã nói thẳng những ý kiến của tôi về bài viết của ông và cũng nhân cơ hội này nêu lên một số vấn đề để thảo luận, mong rằng có thể rút ra từ đó một cái gì để mở rộng kiến thức của tôi. Xin thành thực và nhiệt liệt hoan nghênh tài cao trí lớn của ông. Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không sai lầm. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không”.
* Cách đây 83 năm, ngày 9-4-1939, tờ “Notre Voix” (Tiếng nói của chúng ta) đăng bài “Thư từ Trung Quốc” của PC.Lin, bút danh của Nguyễn Ái Quốc - lúc này đang ở Quế Lâm và mang bí danh là Hồ Quang, trong vai một báo vụ viên trong đơn vị “Bát Lộ Quân”. Qua tờ báo, Bác liên hệ với nhóm cộng sản đang hoạt động công khai từ thời Mặt trận Bình dân để chuẩn bị đón chờ những cơ hội cách mạng đang đến gần.
* Ngày 9-4-1946, tại Bắc bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các Khu tự vệ thành Hà Nội. Bác động viên và nhắc nhở cần bình tĩnh, nhấn mạnh đến phương châm: “Một sự nhịn là chín sự lành” và xác định những nhiệm vụ trước mắt.

* Ngày 9-4-1960, Bác dự họp Bộ Chính trị bàn về việc xây dựng Nhà Quốc hội do Trung Quốc thiết kế. Bác lưu ý khi tiến hành xây dựng phải cần, kiệm tránh lãng phí, phối hợp giữa các nhà chuyên môn hai nước. Sau đó, vì nhiều lý do, thiết kế này đã không thực hiện được. 

“Chi bộ là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chứ không phải là một tổ chức hành chính”.

 Đó là lời được trích trong bài viết “Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Nhân Dân số 176 ra từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 4 năm 1954, nêu lên nhiệm vụ phát huy vai trò “chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan” để đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất thắng lợi.

Nhận rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chi bộ theo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm cụ thể hóa và không ngừng bổ sung, phát triển chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng phù hợp với từng loại hình, qua các kỳ Đại hội. “Chi bộ là nơi trực tiếp nối liền Đảng với quần chúng, được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên. Chi bộ có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công và kiểm tra công tác của đảng viên, kết nạp đảng viên mới và thi hành kỷ luật đảng viên, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi đơn vị”.
Với chức năng là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chi bộ phải có trách nhiệm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị; tiến hành tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông qua thực tiễn lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, chi bộ lắng nghe những kiến nghị, góp ý, phản ánh và tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng về đường lối, chính sách đã ban hành để Đảng nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách cho đúng đắn, phù hợp. Chi bộ tuyệt đối không làm thay, lấn sang các công việc điều hành, quản lý của chính quyền, của đoàn thể.
Học tập và làm theo lời Bác dạy về phát huy đúng chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chi bộ trong Quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trọng tâm là chất lượng sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo; thực hiện quy chế dân chủ, công khai; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát... thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong cơ quan, đơn vị.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA “…Pháo binh ta có truyền thống oanh liệt, chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”.

  Đây là nội dung trong thư khen ngợi bộ đội Pháo binh mà Bác Hồ gửi ngày 13 tháng 4 năm 1967 vì đã lập được thành tích vẻ vang bắn trúng nhiều tàu chiến, bắn chìm nhiều tàu biệt kích của Mỹ - Ngụy và đánh trả pháo binh địch ở Cồn Tiên - Dốc Miếu. Trong thư khen, Người còn cǎn dặn: "Phải ra sức học tập và thi đua với pháo binh quân giải phóng miền Nam tài giỏi, anh hùng".

Binh chủng Pháo binh là Binh chủng chiến đấu, Binh chủng kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trưởng thành trong chiến đấu và gắn liền với những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, không ngừng lớn mạnh, trưởng thành trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; truyền thống của Bộ đội Pháo binh gắn liền với truyền thống và sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Pháo binh luôn khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm sắt đá, vượt mọi khó khăn gian khổ, tích cực huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, đoàn kết tốt, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, nắm chắc kỹ, chiến thuật, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội, truyền thống vẻ vang của Binh chủng mỗi cán bộ, chiến sỹ Pháo binh không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực làm chủ tiến bộ khoa học kỹ thuật , công nghệ hiện đại, đoàn kết thống nhất, xứng đáng với truyền thống “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng” và danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Đấu tranh với cái nhìn phiến diện, sai lệch về chính sách quốc phòng Việt Nam

 Trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ. Mọi luận điệu xuyên tạc, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đất nước, nhân dân Việt Nam đều phải bị lên án, bác bỏ.

Điều 4, Luật Quốc phòng chỉ rõ: “… không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 tiếp tục khẳng định: “Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế,…”. Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn chính sách quốc phòng đã đề ra với đường lối quốc phòng, quân sự độc lập, tự chủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định nhất quán quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về chính sách quốc phòng phù hợp với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, có tính nhân văn sâu sắc; được công khai, minh bạch nhằm tăng cường sự hiểu biết, xây dựng lòng tin của các quốc gia với Việt Nam.

Song, với dã tâm thâm độc, âm mưu nham hiểm, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào để chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ sử dụng nhiều hình thức, phương tiện, như: viết tin, bài, bình luận; quay, cắt ghép, phát tán các video clip trên YouTube và livestream trên các trang mạng xã hội; núp bóng dưới chiêu trò cái gọi là “Người yêu nước”, “Chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, phản biện “Sách trắng Quốc phòng”,... để suy diễn, bịa đặt, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Chúng cho rằng, chính sách quốc phòng Việt Nam đã lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp; chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ dùng vũ lực trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “ tự cô lập mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn trong bảo vệ Tổ quốc, không phù hợp với tình hình thực tế, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Họ lợi dụng các điểm mới trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 để đưa ra bình luận, quy chụp thiếu căn cứ về nguyên tắc “bốn không”; đưa ra tư vấn, góp ý, kiến nghị Việt Nam thiết lập, tham gia liên minh quân sự. Xảo trá, trắng trợn hơn, chúng còn quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông tác động đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, v.v. Từ đó, hô hào, cổ súy tư tưởng sai trái, kêu gọi dựa vào nước ngoài, nhất là các nước lớn và tham gia liên minh quân sự để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ đất nước.

Vậy, sự thật phía sau cái nhìn sai lệch, phiến diện, chống phá quyết liệt chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là gì? Trước hết, cần khẳng định rằng, bản chất, mục đích chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là không hề thay đổi, nhưng âm mưu, thủ đoạn, sách lược ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc, tiến tới thay đổi chế độ chính trị, xã hội. Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa” Quân đội, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Thứ tư, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong nhân dân, lừa bịp, dẫn dắt dư luận, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

 

                Người đảng viên kiên cường nơi sóng gió Cồn Cỏ

 Đến với huyện đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) và tình cờ gặp Trạm trưởng Trạm Khí tượng hải văn Cồn Cỏ Nguyễn Đình Nghị. Được nghe đồng chí kể về những thời khắc “giằng co” với bão, một cuộc “giằng co” vô cùng khốc liệt khi mà ranh giới giữa sự sống với cái chết quá đỗi mong manh thì mới thấy công việc của người làm khí tượng hải văn ngoài đảo nguy hiểm nhường nào.

“Đâu cần thanh niên có…”

“Mới đó mà đã 16 năm”, đồng chí Nguyễn Đình Nghị bắt đầu câu chuyện với tôi như thế khi được hỏi về những ngày đầu tiên đặt chân đến đảo. Đó là một ngày biển động của năm 2004, và cũng là thời điểm huyện đảo Cồn Cỏ được thành lập sau nhiều năm là một phần của mảnh đất Vĩnh Linh. Ngày đó phương tiện đi lại còn thô sơ, đồng chí phải đợi ở Cửa Tùng đến mươi ngày, đợi sóng yên ả mới có tàu cá của bà con qua để đi nhờ. Khoảng cách chỉ 15 hải lý nhưng con tàu lênh đênh trên biển đến 3 giờ đồng hồ, những con sóng xô đập vào tàu, bắn tung tóe khiến đồng chí ướt hết người.

Mặc dù đã được cấp trên làm công tác tư tưởng, thế nhưng đồng chí cũng không thể hình dung được hòn đảo này lại hoang sơ đến vậy. Đường sá, các cơ sở hạ tầng còn rất thô sơ, trụ sở làm việc là những nhà cấp 4 lụp xụp, xuống cấp. Cây cối mọc um tùm lấn vào cả nhà. Trên đảo không có điện, không có sóng điện thoại, thiếu nước ngọt và lương thực, thực phẩm. Mọi thứ sử dụng đều hết sức tiết kiệm. Ánh sáng hiếm hoi của buổi tối được phát ra từ chiếc đèn ắc quy mà đến giờ làm việc mới được phép bật lên, trong khi dây điện phải chắp nối chằng chịt. Mỗi ngày đồng chí chỉ có 2 bữa, bữa sáng vào lúc 8 giờ, bữa chiều ăn lúc 4 giờ để tranh thủ lúc trời còn sáng.

Ngày ấy việc quan trắc được thực hiện hoàn toàn thủ công, thông tin quan trắc được chuyển về bằng máy I-com, với những dãy số mã hóa khí tượng hải văn. Các thiết bị máy móc đều chạy bằng ắc-quy và pin mặt trời. Máy nổ chỉ được phép dùng trong những ngày mưa bão. Nhưng tất cả những khó khăn ấy đều không “đáng sợ” bằng việc thiếu hơi ấm của người đất liền ra. Thế rồi, mọi thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần cũng qua đi, lấy tiếng sóng thay tiếng người, 4 anh em ở Trạm động viên nhau cố gắng hoàn thành nhiệm vụ”, đồng chí Nguyễn Đình Nghị nhớ lại.

Chia sẻ động lực để vững tin ở lại và gắn bó đến giờ, đồng chí bảo, bản thân luôn khắc ghi lời dạy của Bác Hồ: “Đâu cần thanh niên có/ Đâu khó có thanh niên”. Đã là thanh niên thì phải sống có lý tưởng, hoài bão, không thể có khó khăn là chùn bước. Đó là thể hiện tình yêu nghề tha thiết, sự trách nhiệm lớn lao với công việc đem lại bình yên cho người dân trên đảo cũng như trong đất liền. Đồng chí đã vô cùng hạnh phúc mỗi khi gặp cán bộ, chiến sĩ, người dân đều có câu cửa miệng: “Hôm nay thời tiết thế nào?”.

“Tranh đấu”, “giằng co” với bão

Những người làm công tác khí tượng hải văn đâu chỉ có khó khăn, vất vả, thiếu thốn mà còn đầy rẫy những hiểm nguy rình rập. Đó là vào những ngày từ tháng 8 đến tháng 12, khi những mưa bão ngoài biển Đông ầm ầm kéo đến. Nếu như những ngày biển lặng, đồng chí Nguyễn Đình Nghị và các đồng nghiệp chỉ phải quan trắc 4 obs/ngày (ốp quan trắc) thì khi bão có nguy cơ ảnh hưởng, các anh phải ngày đêm thay nhau trực TYPH (mã bảng tin quan trắc bão) với tần suất 30 phút/ lần cho đến khi bão tan. Nếu như những ngành, nghề khác thì khi gió bão người ta sẽ tìm chỗ trú ẩn an toàn còn các đồng chí thì đấy lại là thời khắc phải “tranh đấu”, “giằng co” với cơn bão để hoàn thành nhiệm vụ.

Trên gương mặt cháy sạm, đồng chí vẫn không thể quên được những giây phút “nhớ đời” mà bản thân và các đồng nghiệp đã trải qua. Thời điểm trước năm 2018, khi Trạm còn ở nhà cấp 4 thì mỗi trận bão đi qua đều khiến cán bộ, nhân viên “thót tim”. Năm 2007, có trận bão gió to cộng với mưa ầm ập, xối xả có những lúc tưởng chừng như sắp bay mất cánh cửa. Lúc đó ai cũng nhận thức được rằng nếu bay mất cửa thì không những thiết bị máy móc bị hỏng hóc, cuốn trôi mà tính mạng con người cũng khó có thể bảo đảm vậy nên bằng mọi giá các đồng chí phải giữ được cửa. Các đồng chí chia nhau mỗi người một việc, 2 người lấy bàn ghế, dây rợ chèn/buộc để giữ cửa, còn một người tiếp tục quan trắc, một người truyền số liệu về Trung tâm. Thế rồi hình như cơn bão cũng chịu “khuất phục” trước sự kiên cường của những người “chiến sĩ”.

Một cơn bão nữa mà các đồng chí phải đối mặt trong giây phút sinh tử là bão Doksuri vào năm 2017. Năm ấy, xấp xỉ siêu bão, tiếng gió thét ào ào như dòng thác lũ ngoài cửa, và đây là một trong những cơn bão mạnh nhất ảnh hưởng đến đảo. Các đồng chí đã phải cố thủ trong phòng để bảo vệ tính mạng. “Khi ấy cấp trên đã ra lệnh cho chúng tôi: “Phải đặt an toàn tính mạng lên hàng đầu”. Thế nhưng cứ nghĩ đến việc những số liệu mình gửi về sẽ giảm thiệt hại tối thiểu cho bà con ngư dân và nhân dân nên chúng tôi vẫn bảo đảm “nhiệm vụ kép”, vừa đảm bảo tính mạng, vừa tiến hành khoan trắc trong nhà. Khi gió giảm, an toàn hơn, chúng tôi ngay lập tức ra kiểm tra máy móc, khắc phục hư hỏng, tiếp tục công việc quan trắc, đo đạc… để kịp thời cung cấp số liệu quan trọng vào bờ”, đồng chí Nguyễn Đình Nghị bồi hồi kể lại.

Luôn gương mẫu, đi đầu

Sau nhiều năm phấn đấu, nỗ lực, ngày 26-7-2011, đồng chí Nguyễn Đình Nghị được đứng trong hàng ngũ của Đảng, sinh hoạt tại Chi bộ Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Trị. Với vai trò là một người đảng viên, đồng chí luôn quyết tâm nỗ lực phấn đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chuyên môn mà cơ quan giao phó. Do đặc thù về khoảng cách địa lý, vào mùa khô, đồng chí sinh hoạt đảng tập trung (sinh hoạt chuyên đề) 1 lần/quý, sinh hoạt đảng hằng tháng theo hình thức trực tuyến. Còn vào mùa mưa bão, sinh hoạt đảng hoàn toàn theo hình thức trực tuyến.

Không chỉ nỗ lực trong công tác chuyên môn, đồng chí Nguyễn Đình Nghị còn cùng tập thể cán bộ, nhân viên Trạm Khí tượng hải văn Cồn Cỏ chung tay cùng quân và dân trên đảo phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường. Các đảng viên, đoàn viên của Trạm tình nguyện nhận nhiệm vụ dọn dẹp vệ sinh một đoạn bờ biển dài 2km, thực hiện phong trào thả cá về biển, bảo tồn cua đá, vích để giữ gìn tài nguyên biển. Với tinh thần gương mẫu của người đảng viên, với tình yêu nghề thẳm sâu, với sự kiên gan, bền chí giữa muôn trùng sóng gió, đồng chí Nguyễn Đình Nghị đã cùng các đồng nghiệp ngày ngày lặng thầm “đếm gió, đo mưa, đón bão”…

Đồng chí Nguyễn Đình Nghị đã đón nhiều cái Tết liên tiếp ngoài đảo. Đồng chí rất nhớ người thân, gia đình và cả những câu quan họ đằm thắm, mượt mà nơi quê nhà. Thế nhưng vì nhiệm vụ cấp trên giao phó, sự tin yêu của nhân dân trên đảo, đồng chí bảo mình sẽ kiên quyết bám trụ trên đảo. “Kiên quyết không rời vị trí”, tinh thần, khẩu khí ấy khiến tôi liên tưởng đến tinh thần của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Thái Văn A (1942-2001), người chiến sĩ lưu danh muôn thuở trên đảo nhỏ anh hùng này. Nguyễn Đình Nghị, người đảng viên, “chiến sĩ” trên “mặt trận không khói súng” đã, đang và sẽ tiếp bước thế hệ của người chiến sĩ trên “mặt trận đầy khói súng” Thái Văn A để “Sừng sững chòi cao trên hòn đảo nhỏ/ Như ngọn hải đăng bốn mùa sóng gió” như lời ca trong bài hát “Thái Văn A đứng đó” nổi tiếng của cố nhạc sĩ Văn An.

 

XIN TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO HƯNG ĐẠO VƯƠNG - ĐỨC THÁNH TRẦN KHÔNG THỂ LÀ QUAN VŨ!

         Đây là những bức tượng được cho là Tượng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đặt tại một địa điểm du lịch ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Điều đáng nói ở đây là bức tượng mô tả hình ảnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cưỡi ngựa trong tư thế phi mã, tay cầm thanh long đao oai phong lẫm liệt. Hình ảnh này thường gắn với hình tượng Quan Công đã bao đời nay.

Lịch sử hào hùng của dân tộc ta có rất nhiều anh hùng dân tộc và Đức Thánh Trần là một trong những anh hùng cổ kim hiếm gặp. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, giữ ấn tín để chỉ đạo toàn bộ quân dân nhà Trần ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, đội quân được coi là thiên hạ vô địch thời kỳ đó vào các năm 1258, 1285, 1288. Vị nguyên soái của hào khí Đông A (chữ Đông và chữ A ghép lại thành chữ Trần trong Hán tự) thường cưỡi voi đen ra trận chứ không phải là ngựa Xích Thố như Quan Công. Vũ khí của Hưng Đạo Vương dùng cũng không phải là đại đao mà là trường kiếm hoặc trường côn được bịt sắt nhọn một đầu. 

Quan Vũ chỉ là một võ tướng, vì kiêu căng tự phụ mà mất mạng ở Mạch Thành, mất luôn trong địa Kinh Châu, là nguyên nhân sâu xa khiến Thục Hán suy yếu và diệt vong vào năm 263. So với Yết Kiêu hay Dã Tượng thì Quan Vũ không bằng, chứ đừng nói là vị chủ soái của Đại Việt ta. Đề nghị cơ quan chức năng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần khẩn trương kiểm tra, rà soát và xử lý kịp thời. Dựng tượng Đức Thánh Trần là điều rất tốt, đó là truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta. Thế nhưng biến tượng Đức Thánh Trần thành kiểu ta không ra ta, tàu không ra tàu thì thật đáng trách. Non kém về lịch dẫn tới câu chuyện cười ra nước mắt thế này. Nói thế để biết nhân dân bức xúc như thế nào khi Bộ Giáo dục và Đào tạo coi môn  lịch sử cấp ba là môn tự chọn, ai không thích học thì thôi. Không hiểu biết về lịch sử sẽ dễ dàng bị nhồi sọ, đó là yết hầu và chúng ta cần thận trọng. Không thể tự tay đâm vào yết hầu của chính mình. Hậu quả của xem nhẹ lịch sử là thế./.
Yêu nước ST.

Cần nhìn nhận khách quan trong đánh giá của cơ quan ngoại giao nước ngoài

 

Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi của phóng viên về việc phản ứng trước việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng tự do báo chí cho đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam là Phạm Thị Đoan Trang: “Hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam”. Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin.

Liên quan việc Phạm Thị Đoan Trang bị xét xử theo pháp luật Việt Nam, hôm 14/12/2021, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price cũng ra “tuyên bố báo chí”, lên án và kêu gọi trả tự do cho Phạm Thị Đoan Trang. Trong tuyên bố còn cho rằng, hành vi phạm pháp của Trang thể hiện “nỗ lực thúc đẩy nhân quyền và quản trị tốt ở Việt Nam”.  Trong khi đó, một số tổ chức lấy mác “quốc tế” cũng đưa ra các “giải thưởng nhân quyền” và nhắm vào Phạm Thị Đoan Trang để tô vẽ hình tượng, trao giải.

Có thể thấy dù giải thưởng và thông cáo báo chí được đưa ra với danh nghĩa của cơ quan Nhà nước là Bộ Ngoại giao nhưng nội dung trong nhìn nhận, đánh giá cũng sai lệch, tương tự với sự “tôn vinh giải thưởng” và thông cáo báo chí mà các tổ chức như RSF, CPJ hay HRW đưa ra. Dễ nhận thấy, sự đánh giá về hành vi của Phạm Thị Đoan Trang với danh nghĩa nhà báo với vấn đề nhân quyền, sự chỉ trích phiên toà hay “nền dân chủ” trong các thông cáo này dường như vẫn là các bản copy của nhau. Đây là điều không nên. Bởi lẽ, những tổ chức như RSF, CPJ hay HRW đã được nhận diện rõ về động cơ, mục đích thù địch, chống phá Việt Nam, thường xuyên lấy các vụ việc phạm pháp ở Việt Nam để chụp mũ dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, làm nguyên cớ để kích động chống phá. Dư luận không lạ gì những thủ đoạn đánh lận, nguỵ biện mà các tổ chức này đưa ra, ngay việc sử dụng các giải thưởng lấy tên nhân quyền cũng chỉ là cái cớ để thu hút và đánh lừa dư luận. Thế nhưng, với cơ quan Nhà nước, ngoại giao hay tổ chức quốc tế chính danh, khi đánh giá về một vấn đề, sự việc ở quốc gia khác mà dựa vào “phiên bản” như của RSF, CPJ hay HRW là điều không nên. Với sự trùng lặp nội dung và đánh giá như vậy, người ta có quyền nghi ngại những cá nhân của chính các tổ chức này can thiệp hay đứng sau các bản báo cáo, đánh giá của cơ quan ngoại giao nhà nước, làm ảnh hưởng đến tính khách quan, chính xác của báo cáo. Trong quan hệ quốc tế, đây là điều mà các cơ quan ngoại giao luôn cẩn trọng, bởi những đánh giá của họ với một quốc gia khác cần phải thể hiện được tính khách quan, đúng đắn, thể hiện bằng việc nhìn nhận toàn diện chứ không nên “theo ý” bởi một cá nhân hay tổ chức nào khác, vì động cơ nào khác./.

Nâng cao nhận thức, rèn luyện bản lĩnh cho lực lượng thanh niên đề phòng chống, đấu tranh ngăn chặn các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

 

Chiếm khoảng 35% số dân, thanh niên là một bộ phận đông đảo, sung sức, năng động, nắm bắt thông tin nhanh nhạy, có năng lực tiếp cận, sáng tạo với công nghệ mới và luôn nhạy cảm với các vấn đề chỉnh trị-xã hội. Nhìn chung, đại đa số thanh niên có lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có nhận thức chính trị tốt, đóng góp rất lớn cho xã hội. Nhưng bên cạnh đó còn một bộ phận thanh niên xa rời đạo đức, lý tưởng cách mạng, có lối sống thực dụng nên dễ bị tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường. Cũng chính bởi đặc điểm là nhạy cảm, dễ tiếp cận cái mới, thích tự do, tự khẳng định mình, lại chưa có nhiều kinh nghiệm, nhận thức các vấn đề chính trị - xã hội còn hạn chế nên thanh niên thường dễ bị lôi kéo, kích động. Do đó, các thể lực thù địch của Đảng ta luôn coi thanh niên là đối tượng đặc biệt để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Để giúp thanh niên nhận diện được âm mưu của các thế lực thù địch, ngoài việc trang bị cho họ lý luận chính trị để có khả năng phản biện lại những quan điểm sai trái, cần có cơ chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi để họ được phát triển cả về trí tuệ, kỹ năng và thể lực, cống hiến cho xã hội ngày càng nhiều hơn. Đồng thời, cần chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên, thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhi đồng tham gia các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt và phụ trách. Bởi chỉ có tổ chức Đoàn mới tạo ra môi trường phù hợp với lứa tuổi để đoàn viên, thanh niên thi đua lao động, sáng tạo và cống hiến.

Phải thường xuyên coi trọng giáo dục ý thức cảnh giác cách mạng để thanh niên biết nhận diện, đề phòng và tránh xa những cám dỗ vật chất, văn hóa tầm thường, văn hóa ngoại lai xấu độc, biết tự bảo vệ mình, bảo vệ tổ chức Đoàn, không mắc vào bẫy “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch.
Đặc biệt, cần thẳng thắn, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, âm mưu, thủ đoạn lôi kéo, xúi giục thanh niên chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, góp phần cùng toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ gìn bản sắc, truyền thống dân tộc, tự tin hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Những luận điệu sai lệch về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng

 

Vào mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá, đưa ra những luận điệu xuyên tạc hòng làm lung lạc về nhận thức, niềm tin đối vai trò, vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ đó, chúng tích cực vận động, tập trung lực lượng, đẩy mạnh hoạt động chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu, luận điệu nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh, phản bác trong công tác tư tưởng hiện nay. Những luận điệu này tập trung ở những điểm sau đây:

- Các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán.

- Dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

- Các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng... để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng.

Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, kiên định, đấu tranh, hy sinh, thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng lựa chọn./.

TRÍ THỨC LÀ NIỀM TỰ HÀO VĨ ĐẠI CỦA NHÂN LOẠI, NGUỒN HỌC LÀ VÔ TẬN, KIẾN THỨC RỘNG LỚN BAO LA,.. VẬY MÀ CÓ KẺ LẠI KÊU GỌI DỪNG LẠI

         V.I.Lenin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ, Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại”. Chính vì vậy, vị lãnh tụ vĩ đại đã có một câu nói rất nổi tiếng, đó là: “Học, học nữa, học mãi”.    

Nguồn học là vô tận và con người đứng trước kiến thức rộng lớn của nhân loại lại trở thành một loài sinh vật bé nhỏ, nó giống như hạt cát giữa sa mạc rộng lớn. Kiến thức là vô tận, nếu con người chúng ta cứ sống mãi trong khuôn phép, cứ tự cho mình là tài giỏi thì quả thật là thiệt thòi. Chính vì chúng ta không tiếp thu là tạo cơ hội cho người khác giỏi hơn mình.

Học như một cánh cửa kì diệu nhưng không có chiếc chìa khóa nào để mở nó ra, vậy học cũng là đang dần dần chế tạo ra chiếc “chìa khóa” đó và khám phá mọi điều ở bên trong cánh cửa, đó là kiến thức và sự thành công. Nhà bác học Charles Robert Darwin cũng từng nói "Bác học không có nghĩa là ngừng học”.

Như chúng ta thấy có những cụ già, những người đã lớn tuổi nhưng ngày ngày vẫn đọc sách, vẫn ngâm nga những câu thơ trong những cuốn sách thời xưa. Học không chỉ là tính toán mà nó còn là đọc và chiêm nghiệm. Họ tuổi già sức yếu nhưng điều đó không có nghĩa là họ dừng lại mọi con đường đi đến với kiến thức.

Nhưng ngược lại, bên cạnh những người ngày đêm miệt mài với sách vở với trau dồi rèn luyện cho bản thân thì cũng không ít những người lại chây lười, tự cao tự đại không muốn tiếp thu của ai một điều gì và luôn tự cho mình là đúng.

Câu nói của Lenin mặc dù trải qua bao nhiêu thời gian nhưng nó vẫn luôn là một câu nói đầy động lực cho bất cứ một con người nào. "Học, học nữa, học mãi" để luôn là người linh hoạt và hiểu biết để bắt kịp với thời đại. Mỗi loại kiến thức đều giúp ta mở rộng hiểu biết về một lĩnh vực riêng.

Như kiến thức toán học giúp chúng ta tính toán dễ dàng, kiến thức văn học giúp ta có hiểu biết về ngôn từ, cách biểu đạt, kiến thức địa lí giúp chúng ta biết thêm về những miền đất mới, con người mới... Còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa với nhiều điều thú vị, hấp dẫn.

Trong mỗi một câu chuyện hay mỗi một lời nói đều ẩn chứa một phần của kiến thức, chúng ta chỉ cần biết hợp những điều mà mắt thấy tai nghe, sự hiểu biết của chúng ta lại thì sẽ có được một khái niệm, một chân lí, một định lí nào đó rồi hãy khắc ghi lại, sẽ có lúc chúng ta cần vận dụng đến. Chính những vốn kiến thức từ bé, tu luyện bồi dưỡng dần cùng thời gian, nó sẽ kết lại thành một khối kiến thức giúp ích cho ta về hiện tại và cả về sau, nó giúp chúng có thể thành đạt trong cuộc sống.

Trong thời đại khoa học ngày nay, nhu cầu về học tập là rất cấp thiết. Và để theo kịp xã hội và cách thích nghi với đời sống văn minh thì lại càng cấp thiết hơn. Cứ mỗi giờ trôi qua, mỗi ngày trôi qua thì lượng kiến thức lại càng nhiều, do đó chúng ta cần phải luôn luôn học. Đó chính là ý nghĩa của ý thứ hai “học nữa”.

Thế giới kiến thức là rất rộng lớn, để tiếp thu, tìm hiểu được hết mọi kiến thức thì chắc hẳn là không thể, thậm chí cả đời người cũng không xong, bởi vậy ngoài việc “học nữa”, thì còn phải “học mãi”.

Biểu tượng thế giới vì nhân quyền thế kỷ 20 - Tổng thống Nam Phi N. Mandela từng nói: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”. Bill Gates - Chủ tịch tập đoàn phần mềm khổng lồ Microsoft nói: “Nhà trường chỉ cho chúng ta chiếc chìa khóa tri thức, học trong cuộc sống là công việc cả đời”.

Hay tục nữ Việt Nam có câu: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Tất cả đều cho thấy rằng, mục đích của việc học tập là đổi mới con người, đổi mới xã hội, bởi kiến thức khoác lên cho dân tộc, cho thế giới một bộ áo văn minh, hiện đại mà mỗi chúng ta chính là người được hưởng thành quả ấy.

Câu nói “Học, học nữa, học mãi” của Lenin chính là chân lí của học tập. Câu nói trên chính là một lời khuyên, một định hướng đúng đắn trong cuộc sống. Có học mới có được kiến thức, có được kiến thức mới có thể có hành trang để bước vào đời.

Cái “học” ở đây không đơn thuần là tiếp nhận kiến thức khoa học mà nó còn là tiếp nhận kiến thức đạo đức, lí lẽ, biết phân biệt tốt xấu. Nó còn thể hiện cần học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi phương diện./.
Yêu nước ST.

Đấu tranh chống âm mưu đòi "chuyển đổi thể chế chính trị" ở Việt Nam

 

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.       

Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. 

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Đấu tranh chống âm mưu đòi "chuyển đổi thể chế chính trị" ở Việt Nam
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”(1).

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”(2).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”(3).

Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn lịch sử 92 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại: 

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH. 

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. 

Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá”(4). Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”(5).

Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020(6). Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(7). 

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ(8).

Đừng nên suy nghĩ một chiều

 

Thấy ông Quân đi nhanh qua ngõ, ông Tam gọi lớn: “Ông Quân ơi, đi đâu mà vội vàng thế? Vào đây uống với tôi chén nước. Có ấm trà ngon cháu nó biếu, tôi vừa pha xong”.

Trước lời chào mời vồn vã của người bạn già cùng xóm, ông Quân quay lại vào uống nước, tâm sự với bạn. Vừa nhấp vài ngụm trà nóng, câu chuyện của hai ông đã rôm rả. 

- Ông nghe tin gì chưa? Lại có doanh nhân “khủng” vừa bị bắt đấy-Ông Tam tỏ vẻ “bí hiểm” hỏi.

- À, tôi cũng có xem ti vi lúc trưa rồi! Những kẻ làm ăn gian dối, lừa đảo thì sớm muộn cũng bị pháp luật trừng trị thôi!

- Nhưng tôi đọc trên mạng thấy có nhiều bài bình luận vấn đề theo chiều hướng khác, ông ạ! Một số ý kiến cho rằng đây là “chiêu bài” của Nhà nước ta, cứ “nuôi cho béo là thịt”! Lại có ý kiến thông tin “cánh này" triệt hạ "sân sau” của “cánh kia” chứ chẳng trong sáng, nghiêm minh gì đâu. Có người phê phán mạnh mẽ và lo ngại rằng, cứ bắt bớ như thế này thì sẽ “loạn” đất nước, chẳng giải quyết được vấn đề gì!?

Đừng nên suy nghĩ một chiều
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

- Thế ông có đồng tình với những bài viết ấy không?-Ông Quân đặt chén trà xuống bàn, ngước mắt nhìn bạn hỏi.

- Tôi thấy họ nói cũng có lý. Ông thấy đấy, mấy năm vừa rồi, nhiều đại gia, quan chức bị bắt, vậy mà đất nước có thay đổi được gì đâu? Càng bắt có khi tội phạm lại càng tăng lên ấy chứ. Cuối cùng dân đen như anh em mình cũng chẳng được lợi ích gì.

Xoay người, nhìn thẳng vào mắt bạn, ông Quân nóng mặt: “Ông suốt ngày vào mấy trang mạng lá cải, đọc những bài viết xuyên tạc của những kẻ phản động để bị nhiễm tư tưởng xấu. Trước hết, nếu quan tâm, ông phải tìm hiểu từng vụ việc, xem những kẻ bị bắt có đúng người, đúng tội không. Mọi công dân của đất nước này đều phải sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Nếu vi phạm pháp luật, kỷ luật, quy định đều phải xử lý nghiêm minh. Việc cơ quan chức năng phát hiện, xử lý các cá nhân vi phạm theo đúng pháp luật thì có gì sai? Chẳng lẽ thấy nhiều người sai thì không xử lý nữa à?". 

Nhấp ngụm trà nhỏ, lấy lại bình tĩnh, ông Quân phân tích: “Đọc những bài viết, tiếp thu thông tin, ông phải suy nghĩ thấu đáo, lật đi lật lại vấn đề để hiểu cho đúng. Đối với những kẻ cố tình xuyên tạc, chống phá ấy, dù pháp luật có xử lý nghiêm minh thế nào chúng cũng tìm cách nói ngược. Nên chúng ta phải luôn tỉnh táo, loại bỏ khỏi đầu những ý kiến của kẻ chống phá, hoặc phải tỉnh táo nhận diện đúng sự thật để đấu tranh, phản bác lại chúng, bảo vệ những giá trị tốt đẹp. Nếu không chính chúng ta bị "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", quay lại nói xấu, nói không đúng về chế độ chính trị, phủ nhận giá trị pháp luật. Xa hơn chính ta vi phạm pháp luật, quy định đó".

Nghe người bạn già phân tích có tình, có lý, ông Tam vừa rót thêm trà vào chén của bạn, vừa ngượng ngùng: “Ông nói phải! Đúng là tôi mới suy nghĩ một chiều. Nghe ông phân tích, tôi mới thấy mình cả tin quá!”.

BẠO LỰC Ở QUỐC GIA NHÂN QUYỀN NHẤT THẾ GIỚI!

         Vụ nổ súng tại ga tàu điện ngầm ở Brooklyn sáng 12/4 có thể là lời cảnh báo đối với tình trạng bạo lực ngày càng gia tăng tại thành phố New York.

Số vụ xả súng ở thành phố New York đã tăng mạnh trong quý đầu tiên của năm 2022. Theo thống kê mới nhất của Sở Cảnh sát New York, số vụ nổ súng tăng từ 260 lên 296 so với cùng kỳ năm ngoái, phản ánh sự gia tăng bạo lực trong đại dịch.

Trong một cuộc khảo sát gần đây của Cơ quan Giao thông Đô thị, nỗi sợ tội phạm và quấy rối là yếu tố hàng đầu khiến người dân từ bỏ tàu điện ngầm. Sự hỗn loạn trong tàu điện ngầm gợi nhớ đến một loạt nỗi sợ hãi khác xảy ra tại thành phố New York trong những năm gần đây./.
Yêu nước ST.