Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022
Phản bác luận điệu xuyên tạc chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
Vận dụng tư tưởng tác phẩm “Đường cách mệnh” trong xây dựng đội ngũ giảng viên trường Đảng
KHÔNG ĐỂ MẠNG XÃ HỘI LÀ CÔNG CỤ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ, CHIA RẼ ĐOÀN KẾT
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, Internet và mạng xã hội
đang tác động, ảnh hưởng ngày càng lớn đến mọi mặt đời sống xã hội. Chúng ta
không phủ nhận những tiện ích to lớn mà mạng xã hội đem lại cho cộng đồng. Thế
nhưng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại triệt để lợi dụng
những ưu thế mà mạng xã hội đem lại để tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc nhằm
thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Hàng nghìn trang
mạng xã hội được các thế lực thù địch, phản động lập ra để sử dụng như một công
cụ chủ yếu tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt nhằm kích động hận thù, chia rẽ khối
đại đoàn kết dân tộc, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trong
khu vực và thế giới.
Từ những trang mạng xã hội có địa chỉ ở nước ngoài, rất nhiều thông tin,
tài liệu bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt, xấu độc được lan truyền gây ảnh hưởng
tiêu cực đến cộng đồng cư dân mạng. Những sự kiện “nóng”, những vấn đề nhạy
cảm, phức tạp các thế lực thù địch, phản động tập trung thời gian gần đây là:
mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn, đặc biệt phản ứng
của Việt Nam trước các sự kiện quốc tế, trong đó có cuộc xung đột vũ trang giữa
Nga và Ukraine; tình hình ở Biển Đông; những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân
quyền; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nội dung các kỳ họp
của Ban chấp hành Trung ương, Chính phủ, Quốc hội …
Chẳng hạn như xung quanh cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine, trên mạng xã
hội họ bịa chuyện cho rằng nước này, nước kia “rất thất vọng” khi Việt Nam bỏ
phiếu trắng. Họ trích dẫn ý kiến cá nhân của người này, người kia trên mạng xã
hội từ đó suy diễn cho rằng Việt Nam bị “gây sức ép” khi bỏ phiếu tại Liên hợp
quốc. Rồi họ quy kết: Vấn đề chính là ở Việt Nam tồn tại “một lobby tự
nguyện ủng hộ ông Putin”, thể hiện rõ trên mạng xã hội. Cũng chính từ đây
họ hoài nghi đặt câu hỏi: Có hay không việc Việt Nam ủng hộ dùng vũ lực để giải
quyết những bất đồng giữa Nga và Ukraine? Các hoạt động đối ngoại bình thường
giữa Việt Nam và Liên bang Nga gần đây cũng bị một trang mạng xã hội có địa chỉ
ở nước ngoài bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất vấn đề… nhằm lợi dụng sự
kiện ở Ukraine để chia rẽ mối quan hệ đoàn kết giữa Việt Nam với các nước trong
khu vực và thế giới.
Còn nhiều nữa những dẫn chứng có thể chỉ ra cho thấy mạng xã hội đang bị
các đối tượng có tư tưởng thù địch, phản động triệt để khai thác biến thành
công cụ tuyên truyền kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia
rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế.
Cần khẳng định rằng, những hành động đó không chỉ trái pháp luật Việt Nam
mà còn vi phạm công ước quốc tế. “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị” năm 1966 quy định rất rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Khoản 2,
Điều 19 của Công ước quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này
bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không
phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc
dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào
tùy theo sự lựa chọn của họ”.
Tuy nhiên, cần nhớ rằng, những quyền ấy không phải là quyền tuyệt đối.
Khoản 3, Điều 19 “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị” năm 1966
ghi rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo
những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc hưởng thụ quyền này có thể
phải chịu một số hạn chế nhất định (những hạn chế này phải được quy định trong
pháp luật) để tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh
quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”.
Năm 1982, Việt Nam tham gia “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị”. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn tôn trọng và quan tâm nội luật hóa các quy
định của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia. Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn
luận, báo chí của người dân được quy định rất rõ. Tại Điều 25 của Hiến pháp năm
2013 nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông
tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy
định”. Điều 9, Luật Báo chí Việt Nam 2016 nghiêm cấm: “1. Đăng, phát thông tin
chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc,
phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân
dân; c) Gây chiến tranh tâm lý. 2. Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây
chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với
lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội;
b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với
người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các
tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị-xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; d) Phá hoại việc thực hiện
chính sách đoàn kết quốc tế”. Những quy định ấy đều tương thích với “Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”.
Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, không một quốc gia nào dung túng,
bao che cho những hành động sử dụng Internet, mạng xã hội làm công cụ xâm phạm
lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nhà nước
Việt Nam luôn tôn trọng và tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet trên cơ sở tuân thủ Công ước quốc tế
và pháp luật Việt Nam. Chính phủ Việt Nam luôn chủ động phối hợp, tích cực hợp
tác với các nước, các tổ chức quốc tế để đẩy mạnh phát triển công nghệ thông
tin, phát triển Internet và các phương tiện truyền thông hiện đại. Nhưng Việt
Nam cũng làm hết sức mình để ngăn chặn thông tin xấu, độc, thông tin vi phạm
pháp luật Việt Nam và Công ước quốc tế. Việt Nam luôn mong muốn chung tay với
các nước, các tổ chức quốc tế xây dựng môi trường Internet lành mạnh, an toàn, hữu
ích ở Việt Nam và toàn cầu. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam lên
án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết, không cho phép bất kỳ ai được lợi dụng tự do
ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet để tán phát những thông tin xuyên tạc,
bịa đặt, những luận điệu thù hận, phỉ báng, kích động có thể gây căng thẳng,
gây chia rẽ đoàn kết và đưa đến xung đột. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực sử
dụng Internet, mạng xã hội và phương tiện truyền thông đều bị xử lý nghiêm minh
theo pháp luật./.
Đa22
Xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để vi phạm pháp luật
Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều này
được thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo
đảm, tôn trọng trên thực tế. Từ nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm,
tạo mọi điều kiện để người dân thực hành các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
lành mạnh, đúng pháp luật, đồng thời kiên quyết ngăn chặn các hành vi núp bóng
tôn giáo để chia rẽ vùng miền, gây mất đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ.
Điều 24, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: "1. Mọi người có
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các
tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Tính đến tháng
11/2021, tại Việt Nam có 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận với 43 tổ chức tôn
giáo; cả nước ghi nhận trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm xấp xỉ 28% dân
số), cùng hàng chục nghìn cơ sở tín ngưỡng, thờ tự. Đây là minh chứng cho thấy
quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam được bảo đảm và thực thi có hiệu quả trên
thực tế. Và cũng để bảo đảm hiệu quả thực thi, các hành vi vi phạm pháp luật
núp bóng tín ngưỡng, tôn giáo sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Cụ
thể, tại Điều 6, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 quy định các hoạt động tín
ngưỡng, hoạt động tôn giáo bị nghiêm cấm, trong đó có các hành vi: "Xâm
phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi
trường; Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài
sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Cản trở việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ công dân; Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín
ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người
theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau" và "lợi dụng hoạt động tín
ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi".
Trước đó, sớm nhận diện tính phức tạp của vấn đề, năm 2003 tại Nghị quyết
số 25-NQ/TW ban hành ngày 12/3, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo đánh giá: "Đồng bào các tôn giáo đã có
những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn chung,
các tổ chức tôn giáo đã xây dựng đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp
luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập
hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt
đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước. Các ngành, các cấp đã
chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng
đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước".
Đồng thời, Nghị quyết cũng chỉ rõ: "Tuy nhiên, tình hình hoạt động tôn
giáo còn có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn
định". Do đó, Nghị quyết yêu cầu: "Việc theo đạo, truyền đạo cũng như
mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không
được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không
được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người
truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến
pháp và pháp luật".
Tiếp tục nhất quán đường lối, chủ trương đối với công tác tôn giáo, tại Báo
cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội
XIII của Đảng, trong hệ thống các nhiệm vụ trung tâm và giải pháp chủ yếu thứ
năm, Đảng ta nhấn mạnh: "Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt
các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó
khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn
kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước". Đồng thời
trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phần xây dựng và phát huy giá trị văn
hóa, sức mạnh của con người Việt Nam nêu rõ: "Vận động, đoàn kết, tập hợp
các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống "tốt đời, đẹp đạo", đóng
góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức
tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà
nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn
lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý
nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ
xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn
dân tộc".
Như nhiều quốc gia trên thế giới, các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tại
Việt Nam luôn được bảo đảm, tôn trọng và phải tuân thủ pháp luật, hoạt động
đúng tôn chỉ, mục đích. Trước những diễn biến phức tạp của các hiện tượng tôn
giáo mới, các hiện tượng núp bóng tôn giáo gây mất trật tự xã hội, thời gian
qua các cơ quan chức năng có liên quan và chính quyền các cấp đã tăng cường
phối hợp ban tôn giáo địa phương, tích cực rà quét, phát hiện kịp thời những
hành vi vi phạm pháp luật trong thực hành tín ngưỡng, tôn giáo; ngăn chặn sự
lây lan của các tà đạo, cảnh báo người dân tỉnh táo, cảnh giác trong việc lựa
chọn các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh, hợp pháp để tham gia. Nhiều
vụ án liên quan tà đạo đã được xét xử công khai để người dân giám sát, đề cao
cảnh giác. Như ngày 28/5/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã mở phiên tòa lưu
động tại trụ sở UBND xã H’Ra, H.Mang Yang xét xử công khai tám bị cáo phá hoại
chính sách đoàn kết dân tộc theo Điều 87 Bộ luật Hình sự, liên quan tà đạo Hà
Mòn. Hay như tháng 3/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử
vụ án "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" xảy ra trên địa
bàn huyện Mường Nhé. Đáng chú ý trong số 14 bị cáo, có sự xuất hiện của bốn đối
tượng cốt cán cầm đầu tà đạo "Giê Sùa", đã được cơ quan chức năng
cảnh báo tới cộng đồng từ trước đó.
Không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới cũng có những biện pháp
kiên quyết để hạn chế sự lây lan của tà đạo gây bất ổn cho xã hội. Như để ngăn
chặn sự hoành hành trái phép của "Hội thánh Đức Chúa trời", tại Hàn
Quốc vào năm 2012, Hội đồng quốc gia các Giáo hội chính thức lên tiếng phê phán
cho rằng, đây là "phong trào phạm thượng", đồng thời ban hành quyết
định cấm mọi hoạt động của tà đạo này. Việc tẩy chay, phản đối "Hội thánh
Đức Chúa trời" tiếp tục lan rộng ở nhiều quốc gia mà phong trào này đặt
chân tới. Tiêu biểu như Tòa thánh Roma đã ban hành nhiều văn thư lên án các sai
lạc trong giải thích Kinh Thánh của "Hội thánh Đức Chúa trời" và coi
đây là một "lạc giáo".
Bất chấp thực tế đó, các thế lực phản động, thiếu thiện chí luôn tìm mọi lý
do hòng xuyên tạc quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam; vu cáo Nhà
nước Việt Nam "đàn áp tôn giáo", "vi phạm quyền con người trong
lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo"; đưa ra yêu cầu phi lý là phải đặt tôn giáo
đứng độc lập, ngoài sự quản lý của Nhà nước và pháp luật. Đồng thời, mượn cớ
bảo vệ tự do tôn giáo, một số tổ chức, hội nhóm thường xuyên lập ra cái gọi là
"phúc trình", "thư ngỏ", "nghị quyết" để lên án
tình hình nhân quyền tại Việt Nam, bảo vệ các đối tượng vi phạm pháp luật, gây
sức ép về ngoại giao, đòi can thiệp và các công việc nội bộ của nước ta. Nhận
diện rõ vấn đề này, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam một mặt thực hiện tốt
mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân theo quy định của pháp luật; một mặt đấu
tranh không khoan nhượng với các hành vi chống phá, xuyên tạc tự do tôn giáo
cũng như các hoạt động núp bóng tôn giáo để thực hiện những âm mưu đen tối.
Liên quan các hiện tượng tôn giáo mới, để ngăn chặn hiệu quả sự lây lan của
các tà đạo ngày càng tinh vi, xảo quyệt trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi cần có
sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ hơn nữa trong toàn hệ thống chính trị cũng
như ban tôn giáo tại các tỉnh, thành phố. Về phía các lực lượng chức năng cần
phải kiên trì, bám chắc địa bàn, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của quần
chúng nhân dân. Mặt khác, công tác vận động, tuyên truyền, giải thích để người
dân không tin và nghe theo các tà đạo cần đẩy mạnh hơn nữa, đặc biệt là tuyên
truyền trên không gian mạng, "trận địa mới" mà hiện nay các tà đạo
đang âm mưu triệt để khai thác. Bên cạnh đó, cần không ngừng khơi dậy ý thức
trách nhiệm, tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo trong công cuộc đấu tranh
làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề tôn
giáo gây bất ổn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ.
Cùng sự vào cuộc của lực lượng chức năng cũng rất cần sự hỗ trợ, chung tay
tham gia của cả cộng đồng. Bởi hơn ai hết, những người dân cùng chung sống,
sinh hoạt hằng ngày trên một địa bàn sẽ phát hiện sớm nhất sự nảy sinh của các
hiện tượng tôn giáo mới. Do đó, cộng đồng cần tăng cường sự gắn kết, chia sẻ,
nhận diện kịp thời những biểu hiện bất thường trong từng thôn xóm, làng bản,
khu dân cư, cũng như những vấn đề khó khăn, khúc mắc ở mỗi cá nhân để cùng nhau
tìm cách hỗ trợ, tháo gỡ, theo đúng đạo lý nhân văn của người Việt, đó là
"trong cơn tối lửa tắt đèn có nhau". Sự quan tâm sát sao, ân tình trong
cộng đồng dân cư sẽ góp phần quan trọng giúp mỗi cá nhân không bị lôi kéo, sa
ngã vào các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng trái phép. Trường hợp phát hiện
những dấu hiệu không lành mạnh trong sinh hoạt tôn giáo, người dân cần kịp thời
thông báo cho chính quyền sở tại hoặc cơ quan chức năng để thực hiện việc giám
sát và xử lý nếu có sai phạm. Đó cũng là cách hiệu quả để mỗi người tự bảo vệ
bản thân và gia đình trước sự lôi kéo, tấn công của tà đạo, không bị dẫn dắt
vào các hành vi vi phạm pháp luật.
Được tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không
tín ngưỡng, tôn giáo là quyền chính đáng của mỗi công dân. Tuy nhiên, việc thực
thi quyền đó phải trong khuôn khổ luật pháp và đạo đức xã hội. Quan trọng hơn
cả, đó là mỗi cá nhân phải hình thành thái độ sống tích cực và niềm tin lành
mạnh để lựa chọn tôn giáo đúng đắn cho riêng mình, sống "tốt đời đẹp
đạo", tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển của xã hội bằng những
việc làm có ý nghĩa.
Nguồn: Báo Nhân dân
Cảnh giác chiêu chụp ảnh CCCD không rõ mục đích
Việc xuất hiện một
nhóm người đến từng nhà dân xin chụp ảnh CCCD, sau đó trả tiền trên mỗi thẻ chụp
được công an khuyến cáo là hành vi lừa đảo.
Vừa qua, tại nhiều địa phương trên cả nước đã xuất hiện tình trạng lừa đảo
chụp ảnh CMND/CCCD không rõ mục đích. Các đối tượng đến từng nhà dân xin chụp
ảnh CCCD/CMND, sau đó trả cho người dân 100.000 đồng trên mỗi CMND/CCCD được
chụp.
Chia sẻ trên một tài khoản Facebook, chị PTT (ở xã Thanh Mỹ, huyện Thanh
Chương, Nghệ An) cho biết vừa qua có người lạ tới nhà chị xin chụp ảnh CCCD của
chị. Hỏi lý do thì người này trả lời không rõ ràng nên chị không cho chụp. Đã
có một số người dân khác cho chụp, khi chụp xong, những người này được cho một
chai dầu ăn và 100.000 đồng.
Một thủ đoạn khác: Có một nhóm đối tượng lừa đảo đóng vai nhân viên của các
hãng viễn thông, đến xin chụp ảnh với lý do là đăng ký thuê bao chính chủ cho
người dân rồi chiếm đoạt thông tin CCCD/CMND để thực hiện mục đích xấu.
Theo khuyến cáo của công an các địa phương, mã QR trên CCCD chứa rất nhiều
thông tin cá nhân mà tội phạm công nghệ cao có thể lợi dụng để trục lợi. Vì vậy
người dân không nên chia sẻ hình ảnh CMND/CCCD trên mạng xã hội, không cung cấp
thông tin cá nhân và không cho đối tượng lạ chụp ảnh CMND/CCCD mà không rõ mục
đích.
Tội phạm sử dụng công nghệ cao có thể lợi dụng để trục lợi như: Sử dụng
hình ảnh CMND/CCCD của công dân để vay tiền trên app; đăng ký số điện thoại trả
sau; đăng ký mã số thuế ảo...
Mới đây, lực lượng an ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ
cao tỉnh Lâm Đồng vừa đưa ra cảnh báo về thủ đoạn lừa đảo chụp ảnh CMND/CCCD.
Đại tá Nguyễn Quang Thống, Phó Giám đốc Công an tỉnh Lâm Đồng, cho biết mặc
dù ở tỉnh Lâm Đồng chưa phát hiện trường hợp nào liên quan đến hoạt động lừa
đảo trên nhưng công an tỉnh vẫn sớm đưa ra cảnh báo, để người dân cảnh giác
trước thủ đoạn lừa đảo của các đối tượng tội phạm công nghệ cao.
Tương tự, mới đây Công an tỉnh Tây Ninh cũng có khuyến
cáo người dân không nên chia sẻ hình ảnh CMND/CCCD trên mạng xã hội, không cung
cấp thông tin cá nhân và không cho đối tượng lạ chụp ảnh CMND/CCCD mà không rõ
mục đích.
Nếu phát hiện tình trạng trên, người dân cần báo ngay cho cơ quan công an
gần nhất để có biện pháp xử lý kịp thời.
Nguồn: Báo Pháp luật
Nâng cao hiệu quả việc cụ thể hóa nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
Để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm và bất cập nêu trên, trong
những năm gần đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và ban hành nhiều nghị
quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn... nhằm cụ thể hóa
nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xác định rõ
chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của tập thể và cá nhân; quy định cụ thể những
việc, những vấn đề phải đưa ra tập thể thảo luận, quyết định và chịu trách
nhiệm; những việc cá nhân, trong đó có người đứng đầu, được đề xuất hoặc quyết
định và chịu trách nhiệm về đề xuất, quyết định của mình, làm cơ sở cho việc
kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực của tập thể và cá nhân từ Trung ương
đến địa phương, cơ sở. Cụ thể là:
Thứ nhất, sau mỗi kỳ Đại hội Đảng,
tại hội nghị trung ương lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương đều bổ sung, sửa
đổi và ban hành Quy chế làm việc của Trung ương; trong đó, quy định cụ thể thẩm
quyền, trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy
ban Kiểm tra Trung ương và thẩm quyền, trách nhiệm của Tổng Bí thư, Ủy viên Bộ
Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương... Bộ Chính
trị, Ban Bí thư cũng bổ sung, sửa đổi và ban hành quy định về chức năng, nhiệm
vụ của Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ, các đảng đoàn, ban cán sự
đảng ở Trung ương và ban hành quy chế làm việc mẫu của đảng đoàn, ban cán sự
đảng trực thuộc Trung ương để thực hiện.
Thứ hai, Bộ Chính trị khóa XII đã
ban hành Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, “Về phân cấp quản lý cán bộ và
bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”, nhằm xác định rõ nguyên tắc, đối tượng,
nội dung công tác cán bộ và quy trình thực hiện việc bổ nhiệm, giới thiệu cán
bộ ứng cử theo quy trình 5 bước và quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng
cấp; chỉ rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và của mỗi thành viên
trong tập thể lãnh đạo đó, nhất là thẩm quyền của người đứng đầu cấp ủy, chính
quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân khi để xảy ra sai phạm. Quy định số
205-QĐ/TW, ngày 23-9-2018, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong
công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”, quy định rõ thẩm quyền, trách
nhiệm của tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi thành viên trong tập thể đó;
thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và các cá nhân trong việc tham
mưu, đề xuất về công tác cán bộ; quy định rõ những việc tập thể và cá nhân có
thẩm quyền trong công tác cán bộ phải làm và những việc không được làm; việc xử
lý đối với tập thể và cá nhân khi để xảy ra sai phạm, kể cả khi cán bộ đã nghỉ
hưu hoặc chuyển công tác khác. Quy định số 10-QĐi/TW, ngày 12-12-2018, của Bộ
Chính trị, về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của cấp
ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” đã
quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp ủy,
ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp tỉnh và của mỗi thành viên trong tập thể
đó. Đồng thời, chỉ rõ những nhiệm vụ cụ thể thuộc thẩm quyền quyết định của cấp
ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp tỉnh trên các lĩnh vực: Phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại, công tác xây
dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; những việc thuộc thẩm quyền, trách
nhiệm của mỗi thành viên và của người đứng đầu cấp ủy; các mối quan hệ công tác
của cấp ủy và việc xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân cấp ủy viên khi
để xảy ra sai phạm...
Thứ ba, Ban Bí thư khóa XII đã ban
hành Quy định số 202-QĐ/TW, ngày 2-8-2019, về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
mối quan hệ công tác của cấp ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện”,
nhằm quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể cấp
ủy, ban thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện và của mỗi thành viên trong tập
thể đó; chỉ rõ những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền quyết định của cấp ủy, ban
thường vụ, thường trực cấp ủy cấp huyện trên các lĩnh vực: Phát triển kinh tế -
xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, công tác đối ngoại, công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở địa phương; những việc thuộc thẩm quyền,
trách nhiệm của mỗi thành viên và của người đứng đầu cấp ủy cấp huyện; các mối
quan hệ công tác của cấp ủy và việc xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá
nhân cấp ủy viên khi để xảy ra sai phạm... Đối với cấp cơ sở, Ban Bí thư các
khóa gần đây đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công
tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các loại hình tổ chức cơ sở đảng để thực
hiện, trong đó có 2 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; 3
quy định đối với tổ chức cơ sở đảng cơ quan; 3 quy định đối với tổ chức cơ sở
đảng đơn vị sự nghiệp; 10 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị quân
đội; 6 quy định đối với tổ chức cơ sở đảng trong đơn vị công an; 7 quy định đối
với tổ chức cơ sở đảng trong các loại hình doanh nghiệp.
Thứ tư, ngoài các quy định về chức
năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các cấp ủy, tổ chức đảng nêu trên, Ban
Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XI, khóa XII đã ban hành
các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với
cán bộ chủ chốt và người đứng đầu các cấp, với phương châm “cán bộ có chức vụ
càng cao, thì càng phải gương mẫu” để thực hiện và đem lại những kết quả tích
cực.
Qua thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế... của
Trung ương nêu trên, các cấp ủy, tổ chức đảng đã có chuyển biến tích cực trong
việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ
trách; từng bước xác định rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể và cá
nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong quá trình thực thi nhiệm vụ
của mình, bảo đảm sự lãnh đạo của tập thể và đề cao trách nhiệm cá nhân, hạn
chế các sai phạm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc thực hiện nguyên tắc tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong thực hiện nhiệm vụ chính trị vẫn còn một
số hạn chế, bất cập và chưa được như mong muốn; vì thế, cần tiếp tục cụ thể hóa
để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời
kỳ phát triển mới của đất nước.
HAIVAN
Thực trạng việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
Thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm
qua cho thấy, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã có nhiều cố
gắng trong việc thể chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách; xác định chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm
quyền của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và của mỗi cá nhân, nhất là
đối với người đứng đầu cấp ủy, chính quyền để thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh
những ưu điểm và kết quả bước đầu đạt được, việc cụ thể hóa nguyên tắc tập
trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhất là việc xác định trách
nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với tập thể cấp ủy, ban lãnh đạo
cơ quan, đơn vị vẫn chưa thật rõ ràng và còn những hạn chế, bất cập. Người đứng
đầu cấp ủy, chính quyền có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát
triển của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; có vai trò “là thủ lĩnh”, là “đầu
tàu” để dẫn dắt, truyền cảm hứng và lôi cuốn đối với tập thể cấp ủy, lãnh đạo
và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhưng người đứng đầu cũng chỉ là một thành viên
dự họp và khi biểu quyết cũng chỉ có một phiếu như các thành viên khác.
Trong thực tế, cũng có không ít cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền,
đơn vị hành chính chưa thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách. Một mặt, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý và người
đứng đầu thiếu gương mẫu, uy tín thấp, phẩm chất, năng lực chưa ngang tầm nhiệm
vụ, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, quan liêu, xa dân, độc đoán,
chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi
ích nhóm”, nhưng không được tập thể theo dõi, giám sát, giúp đỡ kịp thời, dẫn
đến vi phạm nguyên tắc tổ chức và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Mặt
khác, cũng do chưa cụ thể hóa và phân định thật rõ thẩm quyền, trách nhiệm
của người đứng đầu nên còn có sự lúng túng giữa thẩm quyền, trách nhiệm của tập
thể và cá nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở nhiều
nơi. Cũng có nơi đã xảy ra sai phạm do nhầm lẫn giữa thẩm quyền, trách nhiệm
của người đứng đầu cấp ủy (thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập
thể quyết định theo đa số) với người đứng đầu cơ quan, đơn vị (thực
hiện nguyên tắc thủ trưởng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định
đó), nhất là đối với những đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là thủ
trưởng cơ quan, đơn vị. Vì thế, nhiều nơi có biểu hiện là, khi địa phương, tổ
chức, cơ quan, đơn vị có ưu điểm, thành tích thì ai cũng thấy có công lao,
thành tích của mình đóng góp ở trong đó; nhưng khi có sai lầm, khuyết điểm,
thậm chí để xảy ra sai phạm, thì không xác định được trách nhiệm của tập thể và
cá nhân đến đâu, nhất là của người đứng đầu; và cuối cùng là đổ cho nguyên nhân
khách quan và lỗi chung của tập thể, mà không có cá nhân nào chịu trách nhiệm.
Cũng không ít nơi còn biểu hiện dân chủ xuôi chiều, dân chủ hình
thức, ý kiến phát biểu của các thành viên lãnh đạo chủ yếu dựa theo ý kiến của
người đứng đầu, theo kiểu “gió chiều nào che chiều ấy”. Đây thực chất là thông
qua cơ chế dân chủ của tập thể để hợp thức hóa ý chí áp đặt và sự chỉ đạo của
người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ quan, đơn vị. Vì vậy, trong công tác đề
bạt, bổ nhiệm cán bộ, đã xảy ra không ít trường hợp là, mặc dù thực hiện “đúng
quy trình” nhưng vẫn không lựa chọn được đúng người, đúng việc, trong khi đó có
một số trường hợp được bổ nhiệm “thần tốc” lại là con, em, người thân của cán
bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, nên đã gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên
và nhân dân. Thực trạng trên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó
có nguyên nhân chủ quan là việc cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và việc phân định chưa thật rõ ràng trách nhiệm
của người đứng đầu trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn
vị; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể.
HAIVAN
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lê-nin về xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của cách
mạng Việt Nam, người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, luôn coi trọng
nguyên tắc tập trung dân chủ và coi đó là nguyên tắc số một về tổ chức và hoạt
động của một Đảng Cộng sản. Điều lệ của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng
sản Đảng, những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đều khẳng định và
chỉ rõ những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của
Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng 92 năm qua, Đảng ta luôn xác định tập
trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Điều lệ
Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua ngày 19
tháng 1 năm 2011) nhấn mạnh: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và
hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước
ta, biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ chính là nguyên tắc tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Việc thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách trong Đảng thống nhất với thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
trong bộ máy nhà nước và trở thành một phong cách làm việc cần thiết của cán bộ
lãnh đạo, quản lý. Hiện nay, việc thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
và phong cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có ý nghĩa rất quan
trọng đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu
và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thực chất, việc cụ thể hóa nguyên tắc
này là xử lý hài hòa mối quan hệ giữa cấp ủy, tập thể lãnh đạo và mỗi thành
viên, mà quan trọng nhất là đối với vị trí, vai trò của người đứng đầu cấp ủy,
chính quyền cơ quan, đơn vị đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Vì sao cần phải có tập thể
lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến
đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề,
không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải
có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này,
người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó... Vì sao cần phải cá nhân phụ
trách? Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng
rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế
hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”. Trong
hoạt động lãnh đạo, một mặt, nếu tập thể lãnh đạo cùng tham gia,
đóng góp ý kiến, thảo luận, bàn bạc thấu đáo, kỹ lưỡng, thì quyết định lãnh
đạo, chủ trương, chính sách mới sẽ bảo đảm được tính khách quan, chính xác hơn,
khắc phục được tình trạng chủ quan, duy ý chí; mặt khác, khi tập
thể đã thảo luận một cách dân chủ, kỹ lưỡng và có quyết định chính xác, đúng
đắn về chủ trương, thì không thể hô hào chung chung, mà tất cả mọi người phải
cùng thực hiện, phải phân công, giao nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách
trong từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể. Chỉ có như vậy, hoạt động của cơ
quan, đơn vị sẽ vừa phát huy được dân chủ, tập hợp trí tuệ của các thành viên
và nâng cao vai trò lãnh đạo của tập thể, vừa đề cao vai trò, trách nhiệm của cá
nhân, phát huy được năng lực, sở trường và tính chủ động, sáng tạo của mỗi
thành viên khi được phân công phụ trách, nhất là trách nhiệm của người đứng
đầu.
“Tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách” có mối quan hệ gắn bó
mật thiết, biện chứng với nhau, là hai mặt thống nhất trong một chỉnh thể không
thể tách rời. Khi một tập thể lãnh đạo gương mẫu, thực sự đoàn kết, thống nhất
ý chí và hành động, tất cả vì lợi chung của Đảng, luôn đặt lợi ích quốc gia -
dân tộc lên trên hết, trước hết, chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, sẽ tạo được môi trường thuận lợi
cho mỗi thành viên lãnh đạo rèn luyện, phấn đấu, phát huy hết phẩm chất, năng
lực, sở trường để đóng góp cho sự nghiệp chung. Bên cạnh đó, khi mỗi thành viên
cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất
đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự tiền phong gương mẫu, luôn năng động, sáng
tạo, dám đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử
thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, sẽ làm tăng thêm vai trò,
sức mạnh và năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị.
Trong mối quan hệ giữa “tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách”, thì mối quan
hệ giữa cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và người đứng đầu có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tập thể lãnh đạo và vai trò,
trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan,
đơn vị. Khi tập thể lãnh đạo thực sự đoàn kết, thống nhất, gương mẫu, giữ vững
nguyên tắc tổ chức và các quy định của Đảng, tất cả vì lợi ích của nhân dân,
các thành viên ban lãnh đạo đều đề cao tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn đấu
tranh với quan điểm và hành vi sai trái..., sẽ làm tăng thêm vai trò, trách
nhiệm của người đứng đầu, trở thành chỗ dựa vững chắc để người đứng đầu quyết
đoán, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành công việc theo chức trách, nhiệm vụ
được giao; đồng thời, sẽ ngăn ngừa, hạn chế được những biểu hiện chủ quan, duy
ý chí và hành vi vi phạm nguyên tắc của người đứng đầu. Điều đó là bởi, người
đứng đầu cấp ủy, chính quyền chỉ là một thành viên trong cấp ủy, tập thể lãnh
đạo, nhưng có vị trí rất quan trọng, đóng vai trò “thủ lĩnh”, định hướng, dẫn
dắt cả tập thể trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của
địa phương, cơ quan, đơn vị.
Thực tiễn cũng chỉ ra rằng, nếu người đứng đầu có phẩm chất, năng
lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gương mẫu về mọi mặt, giữ nghiêm kỷ cương,
kỷ luật của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ, sẽ
góp phần xây dựng tập thể lãnh đạo đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh,
nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đưa địa phương, cơ quan, đơn vị
vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.
Ngược lại, nơi nào và lúc nào người đứng đầu thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không
gương mẫu, chấp hành không nghiêm chủ trương, đường lối, các nguyên tắc, quy
định của Đảng, có tư tưởng vụ lợi, cá nhân chủ nghĩa..., thì sẽ dẫn đến thiếu
đoàn kết, thống nhất trong nội bộ lãnh đạo; nhiệm vụ chính trị không được hoàn
thành, trong cơ quan, đơn vị thường xảy ra tiêu cực, thậm chí tham nhũng, lãng
phí, vi phạm Điều lệ Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không những gây
thiệt hại về kinh tế, mà còn làm tổn thất, mất mát về cán bộ, làm suy giảm niềm
tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
HAIVAN








