Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

Nhận diện một số thủ đoạn xuyên tạc về kinh tế thị trường định hướng xã hoiij chủ nghĩa của nước ta

 Đảng ta xác định: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội mà Việt Nam đạt được qua 35 năm đổi mới theo mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định tính đúng đắn, khoa học và phù hợp với thực tiễn của đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sáng tạo, là kết quả của một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay1.

     Thực tiễn là vậy, song các thế lực thù địch lâu nay vẫn thường xuyên đưa ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ trương đúng đắn này của Đảng hòng mưu toan chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Có thể nhận diện các luận điểm sai trái theo các nhóm vấn đề sau:
    - Họ xuyên tạc rằng,  kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, qua đó theo một phương án duy nhất là phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa.  Không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    - Kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, đạt được kết quả còn lớn hơn nhiều.
    - Việt Nam đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, trong khi vẫn tuyên truyền, mị dân bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của chủ nghĩa xã hội.
    Những luận điểm trên đã bộc lộ mưu đồ đen tối là xuyên tạc đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin đến một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân làm ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong xã hội. Vì vậy, xin được trao đổi để làm rõ về vấn đề này:
    Thứ nhất, về sai lầm của những luận điểm cho rằng, kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, qua đó theo một phương án duy nhất là phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    Trước hết, nguồn gốc và bản chất của kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa, chịu sự tác động các quy luật (quy luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu..) của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù, quy luật của kinh tế thị trường. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản sử dụng để phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Do đó, kinh tế thị trường có thể tồn tại và thích ứng với nhiều hình thái xã hội khác nhau, không phải là sản phẩm “riêng có” của chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường được xác định là sản phẩm chung của văn minh nhân loại.
    Như vậy, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển. Đối với Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nghèo, kinh tế kém phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhất định phải phát triển kinh tế thị trường, sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là xã hội tương lai, một xã hội bảo đảm các điều kiện phát triển toàn diện của con người. Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Mặt khác, không có nền kinh tế thị trường chung cho mọi quốc gia,  không phải là một cơ chế hoàn hảo. Do đó, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một tất yếu, khách quan. Và vì vậy, kinh tế thị trường không nhất thiết phải phát triển theo một phương án duy nhất là phát triển thành kinh tế tư bản chủ nghĩa.
    Thứ hai, rất sai lầm khi cho rằng kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; nếu bỏ “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, đạt được kết quả còn lớn hơn nhiều.
    Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, trao đổi, tiêu dùng...chịu sự tác động các quy luật kinh tế thị trường (quy luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu..). Qua đó, buộc các  chủ thể kinh tế trong sản xuất phải năng động, sáng tạo, hợp lý hóa tổ chức sản xuất; ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, tăng năng suất lao động...thực chất để giảm chi phí, tăng chất lượng, mẫu mã hình thức, tăng sức cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, kinh tế thị trường do chạy theo lợi nhuận có những mặt tiêu cực như: Cạnh tranh không lành mạnh, cắt xén tiền công người lao động, vi phạm sở hữu trí tuệ, phân hóa xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường... Trong nền kinh tế thị trường, những người sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chạy theo lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè bẹp đối thủ nên dẫn đến sản xuất thừa, khủng hoảng chu kỳ, phá hoại nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của cơ chế tự điều tiết của thị trường trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, ngày nay nền kinh tế thị trường hiện đại phải có quản lý của nhà nước, nhằm phát huy mặt tích cực của kinh tế thị trường mang lại và hạn chế thấp nhất mặt tiêu cực. Cụ thể, nhiều mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản phát triển như kinh tế thị trường xã hội ở Đức, kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi ở Thụy Điển, kinh tế thị trường phối hợp ở Nhật Bản, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc... dù ở mức độ khác nhau, đều có định hướng xã hội, như phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, giảm thiểu bất bình đẳng xã hội...
    Ở Việt Nam, phát huy vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng tuân theo các quy luật thị trường, Nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh tranh; bảo vệ, thúc đẩy, tôn trọng cạnh tranh lành mạnh; ngăn ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh; điều tiết và giải quyết các thất bại của thị trường; khắc phục những mất cân đối lớn, khủng hoảng chu kỳ do tự điều tiết của cơ chế thị trường gây ra. Đó chính là định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Định hướng xã hội chủ nghĩa ở đây phải được hiểu là nhằm phát huy tốt nhất những mặt tích cực của kinh tế thị trường, hạn chế tối đa mặt tiêu cực để phát triển kinh tế - xã hội phục vụ nhân dân. Đồng thời, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Công sản Việt Nam lãnh đạo, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển đất nước, nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng là mục đích cao nhất của nhân dân và toàn thể dân tộc. Do đó, kinh tế thị trường mà Đảng và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng, phù hợp với các quy luật phát triển, là xu hướng tiến bộ, văn minh của xã hội loài người.
    Thứ ba, sai lầm của những luận điểm cho rằng Việt Nam đang “xoay trục” sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa bằng việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, trong khi vẫn tuyên truyền, mị dân bằng cách sử dụng các từ ngữ, khái niệm của chủ nghĩa xã hội.
    Các thế lực thù địch đã sai lầm khi chỉ căn cứ vào việc phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội để quy chụp Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bởi vì, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong nền kinh tế quá độ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì sự tồn tại, phát triển của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan.  Qua nhiều kỳ đại hội, Đảng ta đã đề cập những nét cơ bản của nền kinh tế nhiều thanh phần. Đặc biêt, Cương lĩnh năm 1991 xác định đường lối của Đảng là: “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Cương lĩnh nêu rõ: Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo...Kinh tế cá thể còn có phạm vi lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân được kinh doanh ở những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do pháp luật quy định. Đến nay, các thành phần kinh tế, các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân đều có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời nhằm phát triển lực lượng sản xuất, Đảng ta xác định:  Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, kinh tế tư nhân ở nước ta không phải phát triển một cách tự phát mà phải tuân thủ pháp luật, chính sách của Nhà nước, được định hướng hoạt động phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế của Nhà nước.
    Nhằm tạo động lực cho kinh tế tư nhân phát triển, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động, tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc chuyển đổi sang hoạt động kinh doanh theo mô hình doanh nghiệp thông qua các chính sách như: Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền sử dụng đất trong những năm đầu hoạt động; tư vấn, hướng dẫn thủ tục thành lập doanh nghiệp, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh; tổ chức công tác tài chính, kế toán; cung cấp thông tin; hướng dẫn quản trị doanh nghiệp và tư vấn pháp luật. Hoàn thiện và bảo đảm thực thi minh bạch, hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tạo tiền đề hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân sở hữu hỗn hợp, bao gồm cả việc góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước có tiềm lực vững mạnh, đủ sức cạnh tranh, tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, nông nghiệp. Bảo đảm các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với cơ chế thị trường và thúc đẩy tính tự chủ, cạnh tranh của kinh tế tư nhân; không biến các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành bao cấp, phục vụ "lợi ích nhóm" dưới mọi hình thức. Không biến việc chấp thuận, xác nhận, chứng nhận đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật thành giấy phép con, gây cản trở hoạt động của kinh tế tư nhân...
    Mặt khác, cũng cần nhận thức, giữa nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có sự khác nhau căn bản và điểm khác biệt rõ nhất là trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, người làm chủ là giới chủ tư bản, là giai cấp tư sản, còn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, người làm chủ là Nhân dân. Vấn đề này, Đại hội VI Đảng ta xác định: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.
    Nhằm khẳng định lại những quan điểm trên, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra những nội hàm cơ bản về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như sau: “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã - hội”.
    Vì vậy, những luận điểm sai trái về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là những quan điểm chủ quan, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Do đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao nhận thức và đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, trong tình hình mới...nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 1. Trong thời gian gần đây, các thế lực phản động chống đối trong và ngoài nước không ngừng gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, thông tin sai sự thật, suy diễn về mặt tư tưởng; bôi nhọ, xúc phạm, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; kích động biểu tình, gây rối an ninh trật tự; sử dụng mạng xã hội để tác động tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân gây tâm lý hoang mang, làm giảm sút lòng tin đối với Đảng, chế độ và các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Các quan điểm sai trái, thù địch tập trung vào các nội dung sau:

- Phủ định, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN; xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin; cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời và chỉ phù hợp với các nước châu Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam.

- Phá hoại tư tưởng, tấn công chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, bịa đặt, thông tin lợi dụng các vấn đề nhạy cảm chính trị xã hội, vụ việc phức tạp thu hút sự quan tâm của quần chúng, các tổ chức phản động kích động biểu tình, gây bất ổn về an ninh, trật tự, tìm thời cơ tiến hành “cách mạng đường phố” tại Việt Nam... Thủ đoạn chủ yếu là giả mạo, cắt xén, ngụy tạo bằng chứng để vu cáo; sử dụng thông tin cũ với những luận điệu mới; lợi dụng những vấn đề chính trị, thời sự để tung tin thất thiệt, tạo dư luận xấu; từ các vụ việc tiêu cực, tham nhũng để quy chụp do đường lối của Đảng, Nhà nước và chế độ. Các đối tượng đặt tên trang mạng, blog và đặt các tiêu đề, tên bài với ngôn từ giật gân, kích thích tính tò mò của người đọc, người xem, đăng tải tin, bài viết, video clip có nội dung phản động, thật giả lẫn lộn; làm giảm niềm tin, tạo sự nghi ngờ về phẩm chất, uy tín, năng lực của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhất là vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị của đất nước.

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ, cả hệ thống chính trị và toàn dân Việt Nam đang chung tay vào cuộc với tinh thần “chống dịch như chống giặc” nhằm góp phần cùng các nước trên thế giới kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi, giảm thiểu những thiệt hại do đại dịch Covid-19 gây ra, song một số tổ chức phản động lưu vong móc nối, cấu kết với một số phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước sử dụng những thông tin giả, triệt để khai thác ưu thế của không gian mạng, đặc biệt là mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc về quan điểm, chủ trương, chính sách, các giải pháp và kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam. Đáng chú ý là một số tổ chức phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng khoảng trống thông tin khi các cơ quan báo chí, truyền thông của ta chưa kịp đăng phát những thông tin chính thống thì chúng đã lồng ghép những thông tin giả xuyên tạc, bóp méo sự thật rồi tung lên không gian mạng rất sớm nhằm làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang trong dư luận (như: Việc một số cán bộ đi công tác nước ngoài trở về từ vùng dịch nhưng chưa tự giác cách ly theo quy định; việc để cho quan chức từ các nơi có nguy cơ nhiễm bệnh dịch cao trở về, di chuyển bình thường, mà không đặt dưới sự giám sát chặt chẽ về y tế...). Từ đây chúng xuyên tạc, công kích Chính phủ Việt Nam “bưng bít thông tin, yếu kém trong xử lý dịch bệnh”… Những giọng điệu ấy ít nhiều đã làm cho thế giới hiểu chưa đúng về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và tinh thần phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của Đảng, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam.

- Lợi dụng vấn đề chống tham nhũng (nhất là sau khi ta xét xử một số vụ án tham nhũng, kinh tế) các đối tượng thù địch thông qua các trang mạng xã hội tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam. Chúng cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”. Chúng ra sức rêu rao, rằng: “Những cán bộ bị xử lý kỷ luật chẳng qua là do tư tưởng tiến bộ mà bị thanh trừng”; do “phe nhóm”, đấu đá “cục bộ” trong Đảng; “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết thời”; “Chỉ khi xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam thì mới hết tham nhũng”… Ngoài ra, chúng còn lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng kêu gọi biểu tình, khiếu kiện đông người làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội. Những bài viết xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện, biến việc xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên do tham nhũng thành tranh chấp quyền lực, phe phái trong Đảng, trong bộ máy nhà nước là một thủ đoạn cực kỳ trắng trợn, thâm độc của các phần tử cơ hội, thù địch...

- Để chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng, công tác quy hoạch nguồn cán bộ được các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chuẩn bị chặt chẽ, thống nhất; căn cứ kế hoạch tổng thể, cán bộ trong diện quy hoạch được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển công tác để rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, với nhiều cương vị công tác từ thấp đến cao. Quá trình này được các cấp tiến hành chặt chẽ, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch; kiên quyết không để những người có tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy cơ cấu, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng,… vào cấp ủy khóa mới. Tuy nhiên, thực tế đó bị các đối tượng phản động bác bỏ, xuyên tạc cho rằng: Quy hoạch nguồn cán bộ của Đại hội là “thiếu minh bạch”, vì “lợi ích nhóm”; là “xóa bỏ quyền của các đại biểu dự Đại hội”; là “tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử của các đại biểu dự Đại hội”, v.v…Để truyền tải các nội dung phản động nói trên, các đối tượng phản động, chống đối đã dùng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, song chủ yếu là chúng lợi dụng công nghệ 4.0; mạng xã hội để tuyên truyền, thông tin xấu, độc. Cụ thể là:

Thứ nhất: Tạo lập các website, blog, facebook, fanpage giả mạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, xuyên tạc về bản chất chế độ XHCN và kích động chống đối. Có thể kể đến các trang thông tin chống phá như: “Đại hội XIII”, “Dân làm báo”, “Dân luận”... Các website, blog, facebook, fanpage mạo danh thường được thiết kế theo dạng trang thông tin chuyển tải tin tức, có nhiều chuyên mục với bố cục rõ ràng, cung cấp thông tin cập nhật, đa dạng. Thời gian đầu, các trang mạng này muốn lôi kéo và tạo được sự tin cậy của người đọc nên chủ động đăng tải, chia sẻ những thông tin kịp thời, chính xác như các cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử chính thống của các cơ quan, tổ chức đã được cấp phép tên miền trên internet. Nhưng càng về sau, chủ nhân của các trang mạng mạo danh này có thể cài bẫy một vài thông tin theo kiểu “đánh lận con đen” nhằm làm rối nhiễu thông tin, phân tâm dư luận xã hội. Đó là một “đòn đánh” vào tâm lý người đọc rất tinh vi, thâm độc để lèo lái vào mục đích tuyên truyền lệch lạc, nguy hại.

Thứ hai: Tạo lập các trang giả mạo cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung khai thác tính lan tỏa, tương tác, chia sẻ, ẩn danh trên không gian mạng của website, trang thông tin điện tử, mạng xã hội để tán phát thông tin giả mạo, xấu độc, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, sau đó đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc, từng bước phủ nhận, gây hoài nghi về lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tinh thần độc lập, tự chủ.

Thứ ba: Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

Thứ tư: Kích động chống đối thông qua các hội, nhóm, tài khoản trên mạng xã hội, kích động những vấn đề liên quan đến các sơ hở, sai phạm và bức xúc xã hội. Chúng lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

Thứ năm: Lấy ý kiến qua mạng xã hội nhằm tạo áp lực dư luận, gây áp lực đối với chính quyền. Dưới sự giật dây của các thế lực thù địch, một số phần tử cơ hội trong nước và cả ở nước ngoài đã soạn ra các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh); thậm chí họ còn soạn hẳn một dự thảo văn kiện mới, hoàn toàn khác với dự thảo văn kiện chính thống được công bố... để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Với kiểu lập luận của họ, thông qua các câu từ có tính thuyết phục cao... thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là những “ý kiến tâm huyết”, “những đóng góp chân thành”... Các đối tượng dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

Thứ sáu: Thành lập các đài phát thanh, kênh truyền hình trên internet và các phần mềm chuyên dụng để chống phá Việt Nam. Các đài phát thanh, truyền hình của Mỹ và phương Tây như: BBC, VOA truyền tải nhiều nội dung xấu, độc. Một số tổ chức phản động lưu vong cũng lợi dụng phương thức này để phá hoại tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta như: “Đảng vì dân”, “Việt Tân”, Radio Chân trời mới”…

Thứ bảy: Sử dụng các trang mạng xã hội kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, phá rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn: Các thế lực thù địch tạo lập và huy động những tài khoản giả mạo kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân tụ tập, biểu tình ngoài thực địa và có các hành vi vi phạm pháp luật. Chúng sử dụng hàng loạt các mạng lưới tài khoản đã được xây dựng trước, lấy 2-3 tài khoản làm trung tâm thường xuyên đăng tải bài viết, thông tin xuyên tạc về một chủ đề, lĩnh vực và hàng trăm tài khoản vệ tinh thực hiện nhiệm vụ chia sẻ trên các nhóm, diễn đàn phản động hoặc các nhóm có lượng thành viên lớn. Một trong những biểu hiện của thủ đoạn này là kêu gọi “Biểu tình ảo trên không gian mạng” bằng cách huy động, kêu gọi tất cả các tài khoản trên mạng xã hội gắn các biểu ngữ phản đối chính sách pháp luật của Nhà nước ta, tạo ra hiệu ứng đám đông, trong đó người dùng mạng xã hội thường xuyên nhìn thấy các biểu ngữ phản đối, hoặc những người không có lập trường tư tưởng vững vàng sẽ bị tác động thay đổi tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực.

Thứ tám: Từ không gian mạng, các đối tượng phản động hướng dẫn cách thức chế tạo chất nổ, vũ khí, cách thức tiến hành khủng bố, phá hoại, gây rối an ninh, biểu tình, livestream các vụ việc nhạy cảm, tụ tập biểu tình, khiếu kiện... để kêu gọi cộng đồng mạng và những người cơ hội chính trị tham gia bình luận, chia sẻ, tạo điểm nóng. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trong đó, Bộ Chính trị nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, cương lĩnh chính trị, đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế…”; đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh: “Đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng…”.

2. Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên là thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW.

Hai là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh.

Ba là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam để có biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời.

Bốn là, các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp giải quyết kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, sai trái, thiếu gương mẫu của đảng viên. Phát hiện đảng viên tham gia các hội, nhóm trái quy định của Đảng, Nhà nước, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây ảnh hưởng xấu đến nội bộ Đảng.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN; thực hiện công khai, minh bạch; chú ý vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; vai trò nêu gương của của người đứng đầu trong công tác PCTN, có lập trường tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm. Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; mẫu mực về đạo đức, lối sống; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;  trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành.

Sáu là, nâng cao hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05-CT/TW “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” và Quy định số 205- QĐ/TW, ngày 23/9/2019, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh.

Bảy là, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Tổ chức chiến dịch truyền thông quy mô lớn, cung cấp thông tin chính thống, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, răn đe đối tượng vi phạm pháp luật, nâng cao cảnh giác, tăng sức “đề kháng” cho người dân khi tiếp cận thông tin; vô hiệu hóa các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại tư tưởng của các đối tượng, tổ chức phản động trong và ngoài nước, giúp chúng ta giành được thế chủ động trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền.

QUỐC HIỆU, QUỐC KỲ, QUỐC HUY, QUỐC CA, QUỐC KHÁNH CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

 

          Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc khánh là những biểu thị cơ bản của một quốc gia. Nó nói lên danh xưng, thể chế chính trị và mục tiêu chính trị của một đất nước và con người về cội nguồn, truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam.

          1. Quốc hiệu

          Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một quốc gia, nó có ý nghĩa biểu thị chủ quyền lãnh thổ, bên cạnh đó danh xưng chính thức được dùng trong ngoại giao, thể chế và mục tiêu chính trị của một nước. Dù thể hiện dưới dạng tiếng nói hay chữ viết, đối với mỗi công dân, quốc hiệu luôn là lòng tự hào dân tộc.

          Quốc hiệu của quốc gia Việt Nam là “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM” được quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 351/2017/UBTVQH14.

          2. Quốc kỳ

          Quốc kỳ có nghĩa là lá cờ của quốc gia, là loại cờ được dùng làm biểu trưng cho một quốc gia.

          Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh. (Được quy định khoản 1 Điều 13 Hiến pháp 2013).

          3. Quốc huy

          Quốc huy là huy hiệu tượng trưng cho quốc gia, Quốc huy của mỗi quốc gia thường được quy định trong Hiến pháp.

          Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (Được quy định tại khoản 2 Điều 13 Hiến pháp 2013).

          4. Quốc ca

          Quốc ca là bài hát chính thức của một quốc gia được dùng trong các nghi lễ trọng thể. Quốc ca của mỗi quốc gia thường được quy định trong hiến pháp của quốc gia đó.

          Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài Tiến quân ca. (Được quy định tại khoản 3 Điều 13 Hiến pháp 2013)

          5. Quốc khánh

          Quốc khánh là ngày khai sinh ra một nước, một dân tộc, có thể xem đây là ngày lễ lớn nhất của một quốc gia và là sự kiện trọng đại nhất của đất nước đó.

          Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945. (Được quy định tại khoản 4 Điều 13 Hiến pháp 2013)./.

                                                                                                          st

 

RÈN LUYỆN PHƯƠNG PHÁP TÁC PHONG CÔNG TÁC KHOA HỌC, NGHIÊM TÚC TRÁCH NHIỆM CAO

          Bộ đội Cụ Hồ là hình ảnh cao đẹp, trở thành một biểu tượng của văn hóa quân sự Việt Nam. Vẻ đẹp của người quân nhân cách mạng được hình thành và xây đắp từ nhiều yếu tố, trong đó có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao.

          Đó cũng là một trong những nét đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu ra trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương.

          Hoạt động quân sự mang tính đặc thù cao, đòi hỏi bộ đội phải có những phẩm chất, năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Phẩm chất, năng lực đó được biểu hiện thông qua phương pháp, tác phong công tác của quân nhân. Phương pháp, tác phong công tác giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Phương pháp, tác phong khoa học, đúng đắn sẽ giúp quân nhân thích ứng linh hoạt trong mọi điều kiện, hoàn cảnh để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Ngược lại, quân nhân dù có trình độ cao nhưng thiếu phương pháp, tác phong khoa học, nghiêm túc thì cũng khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ.

          Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện để mỗi quân nhân không chỉ có tư tưởng chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt mà còn có phương pháp, tác phong công tác dân chủ, khoa học, sâu sát, tỉ mỉ, gần gũi với quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bộ đội cách mạng, có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần kiệm, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn luôn giữ vững và phát triển”.

          Phương pháp, tác phong quân nhân được thể hiện từ những điều giản dị, thiết thực. Lịch sử ghi lại câu chuyện "nước nóng, nước nguội" mà Bác Hồ đã giáo dục cán bộ về phương pháp công tác. Có một cán bộ trung đoàn thường hay quát mắng chiến sĩ. Biết chuyện, một hôm, Bác gọi cán bộ đó lên gặp. Trời mùa hè, nắng chang chang, cán bộ đến nơi, Bác đã chờ sẵn. Trên bàn đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh. Sau khi chào hỏi xong, Bác chỉ vào cốc nước nóng nói: “Chú uống đi!”. Cán bộ đó kêu lên: “Nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được?”. Bác mỉm cười: “Nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn”. Hiểu ý Bác giáo dục nhẹ nhàng mà thấm thía, cán bộ đó nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa. Câu chuyện giản dị nhưng ẩn chứa bên trong bài học sâu sắc về rèn luyện phương pháp, tác phong công tác đối với cán bộ trong quân đội, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh phải hết sức linh hoạt, khéo léo trên cơ sở nguyên tắc công tác và tôn trọng nhân cách quân nhân, tuyệt đối tránh quân phiệt, chuyên quyền, độc đoán.

          Trong chiến đấu cũng như thời bình, phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, sâu sát giúp bộ đội vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ứng xử linh hoạt, hiệu quả trước mọi tình huống, nhất là những vấn đề nhạy cảm, mới xuất hiện. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đẹp trong mắt nhân dân là bởi có tác phong chính quy, tư thế nghiêm túc, ý thức tổ chức kỷ luật chặt chẽ, tinh thần trách nhiệm cao trong mọi nhiệm vụ. Điển hình trong đợt dịch Covid-19 bùng phát, bộ đội không ngại hiểm nguy gian khó, tận tình cứu chữa bệnh nhân, đến từng nhà trao quà an sinh cho bà con. Nhân dân nhìn thấy bộ đội là thấy an lòng, tự nguyện, tự giác chung tay phòng, chống dịch.

          Qua thực tiễn hoạt động, nhiều cán bộ, chiến sĩ ngày càng trưởng thành nhờ trau dồi, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc. Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng có một số quân nhân ứng xử, giải quyết những vấn đề nảy sinh có lúc còn lúng túng, hạn chế, chưa đúng điều lệnh, điều lệ quân đội. Nghị quyết 847 đã thẳng thắn chỉ ra nhiều biểu hiện tiêu cực liên quan đến phương pháp, tác phong công tác của quân nhân như: “Đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ”, “sợ trách nhiệm, tranh công đổ lỗi, giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm”, “độc đoán, gia trưởng, quân phiệt”... Những biểu hiện sai trái, tiêu cực đó hoàn toàn đối lập với phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao của người quân nhân cách mạng.

          Xuất phát từ tính chất nhiệm vụ quân sự, yêu cầu về chức trách được giao đòi hỏi quân nhân phải hình thành, xây dựng phương pháp, tác phong công tác phù hợp với chức trách, cương vị. Phương pháp, tác phong công tác của quân nhân là tổng hợp những lề lối, cách thức, biện pháp sắp xếp, xử lý công việc, ứng xử xã hội của quân nhân trong công tác, học tập, sinh hoạt theo những quy chuẩn nhất định, nhằm thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Xây dựng phương pháp, tác phong công tác cho quân nhân nhằm tạo ra sự chính quy, thống nhất, đem lại hiệu quả cao trong công việc, hình thành nét đẹp văn hóa công vụ trong quân đội.

          Để có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trước hết, trong mọi hoạt động, quân nhân phải đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, phát huy dân chủ, tôn trọng tập thể, nêu cao tự phê bình và phê bình. Mọi quân nhân, nhất là cán bộ các cấp cần quán triệt quan điểm lý luận gắn liền với thực tiễn, nói đi đôi với làm, làm việc có kế hoạch, khoa học, cụ thể, tỉ mỉ, chu đáo, cẩn trọng, sâu sát thực tiễn; đồng thời xây dựng và thực hiện nếp sống, làm việc chính quy, văn minh, giản dị, khiêm tốn, gắn bó với đồng đội, tôn trọng cấp dưới và yêu quý nhân dân.

          Năng lực, trình độ của quân nhân thực sự được phát huy khi có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao, tôn trọng và tuân theo quy luật khách quan. Điều đó hoàn toàn đối lập với phương pháp, tác phong chủ quan duy ý chí, rập khuôn máy móc, thiếu tính khoa học.

          Phương pháp, tác phong của quân nhân không phải tự nhiên có được mà phải trải qua quá trình rèn luyện thường xuyên, liên tục, bền bỉ. Khi mới nhập ngũ, quân nhân chưa được học tập, rèn luyện tinh thông các nghiệp vụ quân sự, lề lối, cách thức làm việc, sinh hoạt thì cán bộ chỉ huy phải đưa chiến sĩ vào môi trường thích hợp để rèn luyện, thử thách, từng bước hình thành phương pháp, tác phong công tác tốt. Rèn luyện phương pháp, tác phong công tác của quân nhân phải toàn diện, đồng bộ, tỉ mỉ, khoa học, bảo đảm yêu cầu nắm vững và thuần thục chức trách, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

          Phương pháp, tác phong công tác của quân nhân được hình thành trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt là quá trình tự học tập, rèn luyện của mỗi người. Do đó, phát huy tính tích cực, tự giác của quân nhân trong tự học tập, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác có ý nghĩa rất quan trọng. Đó vừa là nhu cầu tự thân vừa là đòi hỏi để mỗi quân nhân hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Muốn vậy, mỗi quân nhân phải tự lập kế hoạch, xác định nội dung yêu cầu và phương pháp tự học tập, rèn luyện phù hợp với chức trách, nhiệm vụ của bản thân và điều kiện thực tiễn đơn vị. Quá trình rèn luyện cần có sự kết hợp học đi đôi với hành, gắn lý luận với thực tiễn trên cơ sở giữ vững nguyên tắc. Trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, quân nhân cần vận dụng phù hợp, sáng tạo phương pháp, tác phong công tác bảo đảm khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao để góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị./.

                                                                                                          st

CẢNH GIÁC, CHỦ ĐỘNG DIỆT ÁC, TRỪ TÀ LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI CÁCH MẠNG

 


Hội nghị TW 5 khóa XIII của Đảng đã kết thúc tốt đẹp. Tại Hội nghị này, Đảng ta đã có nhiều quyết định quan trọng mang tính đột phá, mở ra thời kỳ phát triển mới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là phát triển kinh tế - xã hội, tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn; kinh tế tập thể và kinh tế hợp tác xã. Cùng với đó, Đảng có nhiều quyết sách quan trọng khác về đất đai, chứng khoán, bất động sản và đấu tranh phòng, chống “giặc nội xâm”, tham nhũng, tiêu cực; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.

Thế nhưng, những người có quan điểm đối lập với Đảng ta lại không nghĩ như thế. Họ vào hùa với nhau, xuyên tạc kết quả Hội nghị TW 5 khóa XIII với mục đích hạ thấp uy tín của Đảng, gây rối, cản trở nhân dân ta thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, của Hội nghị TW5 khóa XIII. Thái độ, hành vi của những người bất mãn là thiếu thiện chí, không có ý thức xây dựng, thậm chí là khiêu khích, kích động, phủ nhận sạch trơn mọi cố gắng và những thành tựu đã đạt được của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Cùng với việc xuyên tạc kết quả Hội nghị TW 5 khóa XIII của Đảng, các thế lực thù địch còn cố tình gây “bão dư luận” trên không gian mạng để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là xuyên tạc nội dung các chiến lược quân sự, quốc phòng và chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Những giọng điệu lạc lõng, sự xuyên tạc kết quả Hội nghị TW 5 khóa XIII và đường lối đổi mới của Đảng có thể làm quân và dân ta chạnh lòng; song chính điều ấy lại khẳng định rõ hơn tầm vóc, giá trị và ý nghĩa những thành tựu, kết quả to lớn mà quân và dân ta đã giành được. Nó khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Nghị quyết Đại hội XIII và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới đất nước. Rõ ràng, chúng ta càng đổi mới thành công, kẻ địch càng ra sức chống phá. Vì vậy, đề cao cảnh giác, ra sức diệt ác, trừ tà, bảo vệ cuộc sống hòa bình là trách nhiệm của chúng ta./.

THEN CHỐT CỦA THEN CHỐT TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

 


Một trong những bài học sâu sắc của sự nghiệp cách mạng là chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là khâu “then chốt của then chốt" trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Đảng ta mạnh là nhờ các tổ chức đảng vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh. Vì vậy, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận quan trọng về công tác này.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh là cơ bản, vẫn có không ít cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, nhất là tham nhũng trong lĩnh vực đất đai, chứng khoán, bất động sản ở một số quan chức là rất đáng lo ngại. Không ít cán bộ, đảng viên yếu kém về trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ; tụt hậu về trí tuệ, năng lực tư duy, năng lực tổ chức và hoạt động thực tiễn trước yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, giàu lên nhanh chóng bằng con đường phi pháp, gây nên sự bất bình trong nhân dân, thậm chí có cả cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Công an vi phạm kỷ luật của Đảng đến mức phải xử lý pháp luật. Đó là điều đáng tiếc. Nó tạo ra kẽ hở để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta…

Để phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế nêu trên, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, Đảng cần tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Đảng cần có biện pháp mạnh - mạnh hơn nữa để cán bộ, đảng viên không bị gục ngã bởi “viên đạn bọc đường” của thời “kinh tế thị trường”, không rơi vào suy thoái, tha hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống; hùa theo các tệ nạn xấu, các tiêu cực xã hội như tham nhũng, tiêu cực. Đảng cần có biện pháp mới hơn để quan chức sợ tham nhũng, không dám tham nhũng, không muốn tham nhũng. Đó là cách duy nhất để Dân tin yêu, theo Đảng./.

ĐỪNG LÀM Ô DANH “ĐẢNG VIÊN”

 


Có chi bộ tốt, đảng viên tốt làm nền móng vững chắc cho sức mạnh của Đảng, tuy nhiên trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cùng xu thế toàn cầu hóa, chỉ vậy là chưa đủ, mà Đảng phải hội tụ được trí tuệ, bản lĩnh mới có thể đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đó là phải chọn được quần chúng ưu tú đưa vào Đảng và thực hiện bố trí những cán bộ có tâm, có tầm tham gia cấp ủy các cấp.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bằng sự cố gắng học tập, rèn luyện nghiêm túc đạo đức cách mạng đã giúp cán bộ, đảng viên của Đảng luôn vững vàng trong mọi thử thách. Hàng nghìn đảng viên bị địch bắt, tù đầy, phải chịu những hình thức tra tấn dã man nhất, kinh hoàng nhất nhưng họ luôn tâm niệm sống theo Đảng, chết không rời Đảng, thà chấp nhận hy sinh chứ không bao giờ trở thành kẻ phản bội. Lúc đó, khi nghĩ đến danh xưng “đảng viên”, nhân dân luôn tin rằng, đó là những người can đảm nhất, ít vụ lợi nhất, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ quốc và nhân dân.

Vậy mà hôm nay, trong suy nghĩ của không ít người, phải vào Đảng mới có cơ hội thăng quan tiến chức; vào Đảng giờ đây gắn liền với quyền lợi, lợi ích, công danh sự nghiệp. Thực trạng này được Tiến sĩ Nguyễn Vũ Tiến, nguyên Phó Giám đốc Học viện Báo chí tuyên truyền chỉ rõ: đảng viên vào Đảng nhưng sau đó thoái hóa, đó là những kẻ cơ hội. Đặc biệt ngày hôm nay, chúng ta quan tâm đến cơ hội chính trị, vào Đảng theo cách nói của Bác Hồ, không phải để làm quan, làm giàu; nhưng do một số người vào Đảng để có một chức vụ nào đó, để từ đó họ trở thành những kẻ tha hóa hay nói cách khác, họ chưa hề có một chút nào khái niệm về việc rèn luyện bản lĩnh chính trị mà đã được đứng trong đội ngũ của Đảng. Thực tế hiện nay có một số người chưa quan tâm nhiều đến lý tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng nhưng tìm mọi cách để vào Đảng với mục đích vụ lợi cá nhân, từ đó chui sâu, leo cao. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng đảng viên đông nhưng không mạnh.

Để Đảng vững mạnh từ gốc, phải chọn cho được quần chúng ưu tú đưa vào hàng ngũ của Đảng, kiên quyết không để lọt những kẻ cơ hội, những người không đủ phẩm chất, đạo đức hay những người thuộc thành phân tư duy theo lối cũ, cơ hội chủ nghĩa đứng trong hàng ngũ của Đảng. Cần phải đổi mới được thành phần đảng viên, thay thế được thành phần suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tư duy theo lối cũ, cơ hội chủ nghĩa, tư duy theo lối vào Đảng để có chức có quyền, tư duy theo lối vô trách nhiệm, chỉ biết giữ chức vụ, còn trách nhiệm đổ cho người khác, tranh công đổ lỗi… để tạo ra thế hệ đảng viên mới có chất lượng hoàn toàn khác, đáp ứng điều kiện mới như Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường định hướng XHCN, cách mạng công nghệ 4.0, hội nhập toàn diện, sâu rộng…

Chưa lúc nào trách nhiệm đặt lên vai những người làm công tác tổ chức xây dựng Đảng lại nặng nề như lúc này. Đảng ta không thiếu những người đủ đức muốn cống hiến cho dân tộc, nhân dân, điều quan trọng là khâu lựa chọn nhân sự phải kỹ lưỡng, chặt chẽ với tinh thần chí công vô tư, vì sự nghiệp chung. “Thà ít mà tốt”; “những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không chúng ta cũng không cần!”./.

HIỆU QUẢ TỪ LỰA CHỌN MÔ HÌNH

 


Tới nay, hiệu lực, hiệu quả “công cuộc củi lửa” đã được thể hiện rõ, gắn liền việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI, Khóa XII và Kết luận Hội nghị Trung ương 4 Khóa XIII, khẳng định “nghị quyết của lòng dân”, củng cố niềm tin trong nhân dân với Đảng, Nhà nước. Từ quá trình triển khai và hiệu quả đạt được cũng như khó khăn, thách thức đặt ra cho thấy, vấn đề hàng đầu, có tính thời sự, được xem như chìa khóa quyết định của cuộc chiến trường kỳ và hết sức cam go này đó chính là mô hình.

Hội nghị Trung ương 5 Khóa XI (năm 2012), quyết định tổ chức lại ban chỉ đạo về PCTN. Theo đó, chuyển đổi mô hình ban chỉ đạo trực thuộc Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu sang mô hình ban chỉ đạo trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu. Hội nghị cũng quyết định không tổ chức ban chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố về PCTN. Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác PCTN và có trách nhiệm phối hợp với Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương. Mục đích của sự thay đổi này nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN, tăng cường tính độc lập tương đối của ban chỉ đạo với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong đấu tranh PCTN.

Từ khi chuyển mô hình Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN thuộc Bộ Chính trị đến nay, công tác PCTN đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, là dấu ấn nổi bật, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, XIII, công cuộc PCTN đã thực sự có bước chuyển biến mạnh mẽ, ban chỉ đạo trở thành địa chỉ tin cậy, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, củng cố sức mạnh nội lực của Đảng trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn, làm trong sạch, lành mạnh chính mình.

Đến nay, một trong những nội dung quan trọng được thảo luận tại Hội nghị Trung ương 5 Khóa XIII là việc thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực. Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Ban Chấp hành Trung ương đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Có ý kiến băn khoăn: Trước đã có ban chỉ đạo cấp tỉnh, hoạt động không hiệu quả nên giải thể, nay sao còn bàn lập lại, liệu có đi vào “vết xe đổ”? Tuy nhiên, cần thấy rằng việc tái lập nhưng không phải theo mô hình cũ (trước đây thuộc cơ quan hành pháp, do chủ tịch UBND tỉnh đứng đầu) mà chuyển đổi mô hình sang cấp ủy đảng địa phương, trên thuộc Bộ Chính trị thì dưới thuộc tỉnh ủy, thành ủy (do bí thư tỉnh ủy, thành ủy đứng đầu). Việc chuyển đổi theo mô hình mới sẽ đảm bảo sự chỉ đạo toàn diện, trực tiếp, thống nhất của Đảng từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. Do đó, việc kiện toàn bộ máy ban chỉ đạo cấp tỉnh là yêu cầu khách quan, cấp thiết, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu lực, hiệu quả cao hơn nữa trong công tác PCTN, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt.

MỆNH LỆNH CỦA CUỘC SỐNG, LƯƠNG TÂM, TRÁCH NHIỆM, QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ THIÊNG LIÊNG

 


Từ Đại hội VII (năm 1991) đến nay, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Ngay sau đó, trên các sách báo, đài phát thanh của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, luôn có những bài viết, bài nói xuyên tạc, vu khống, bác bỏ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta. Chúng không chỉ phê phán, xuyên tạc và phủ nhận các luận điểm khoa học, cách mạng, mà phủ nhận cội nguồn, gốc rễ, lịch sử hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vì, các thế lực thù địch hiểu quá rõ rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở châu Âu, được truyền bá sang Việt Nam thông qua các tài liệu dịch thuật. Người Việt Nam hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin thông qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và các tài liệu dịch thuật do Hồ Chí Minh và những người yêu nước chuyển về quê nhà.

Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau nên chỉ có một bộ phận nhân dân Việt Nam có điều kiện đọc, nghiên cứu kỹ và hiểu khá sâu sắc những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, còn phần đông nhân dân lao động mới hiểu biết chủ nghĩa Mác – Lênin ở những điểm căn bản, đại cương nhất. Trong đó có một vấn đề cơ bản như lịch sử quá trình hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác – Lênin thì chỉ có những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin thì mới hiểu biết tường tận, sâu sắc từng nội dung, luận điểm, học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin. Lợi dụng sự khác biệt này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã xuyên tạc, bóp méo sự thật về nguồn gốc, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Với cuồng vọng “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn”, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị bằng mọi cách, nhiều lần đưa ra các luận điểm xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, làm cho một số người dân do thiếu thông tin, nhẹ dạ, cả tin hay bất mãn với chế độ đã “tán thưởng, hùa theo”, nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, ca ngợi không công cho chủ nghĩa tư bản. Để những người này tỉnh ngộ, nhận thức ra những điều phải, trái, trong công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập chính trị, chúng ta cần phân tích, làm rõ hơn nữa bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là biện chứng của quá trình hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là phương cách hữu hiệu, một “liều thuốc đặc trị” có thể cắt đứt “căn bệnh hoang tưởng” của những người ảo tưởng về lòng tốt, đức tính “nhân từ”, “bác ái” của chủ nghĩa tư bản, mơ ước không cần lao động mà có cuộc đời ấm no, tự do, hạnh phúc.

Lịch sử triết học và lịch sử khoa học hiện đại ghi rõ từng sự kiện, cả nhân loại đều có chung nhận thức như thế; cớ sao lại có một số người lại cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, lừa dối lương tâm, phản bội chính mình, lừa gạt mọi người. Hiểu cho đúng sự thật, tôn trọng sự thật thì phải thừa nhận rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, điều kiện, lực lượng và phương pháp giải phóng triệt để xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, bất công, tha hoá, đói nghèo dưới mọi hình thức. Chủ nghĩa Mác chỉ ra những quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan, chứng minh đầy tính thuyết phục sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; đưa giai cấp công nhân và những người dân lao động từ nô lệ, lầm than trở thành chủ nhân đất nước, giữ địa vị làm chủ xã hội.

Mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ hãy phấn đấu làm hết sức mình, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu mà Đảng ta đã xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; chủ động, tích cực thực hiện kế hoạch phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội năm 2022 và những năm tiếp theo. Qua đó, đúc rút những kinh nghiệm quý, đề xuất chủ trương, giải pháp tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giành thắng lợi mới; cùng toàn Đảng và toàn dân thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hoá” quân đội.

Với sự tâm huyết, trách nhiệm và trí tuệ của mình, những người cầm súng và cầm bút trong quân đội cùng với đồng chí, đồng nghiệp trong cả nước, kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống lại mọi quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và những kẻ theo đuôi chúng, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân. Đó là mệnh lệnh của cuộc sống, là lương tâm, trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

ĐỪNG HÒNG PHỦ NHẬN CHÂN LÝ

 


Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng, ngay từ khi học thuyết Mác vừa mới chào đời, những kẻ thù “lớn, nhỏ” của C. Mác đã xúm lại, dùng mọi thủ đoạn, áp dụng đủ các kiểu loại biện pháp, kể cả những thủ đoạn, biện pháp đê tiện, hèn hạ nhất để xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá, hạ bệ học thuyết Mác, uy tín và vị thế của ông. Những người này ý thức rõ sự nguy hiểm của học thuyết Mác, sự lan tỏa, ảnh hưởng thuyết phục và sức sống mãnh liệt của học thuyết đối với phong trào công nhân cũng như sự nguy hiểm, tính răn đe của chủ nghĩa Mác đối với sự tồn tại, phát triển và lợi ích sống còn của chúng, nhất là khi chủ nghĩa Mác thâm nhập ngày càng sâu rộng, ảnh hưởng mạnh mẽ và đóng vai trò thống trị trong nhận thức và hành động cách mạng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Hơn thế nữa, uy tín, vị thế và sự lớn mạnh, ảnh hưởng của học thuyết Mác đã đến mức biến nó thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản, phong trào công nhân quốc tế; trong đó có sự lớn mạnh, trưởng thành của Đảng Cộng sản và cách mạng Việt Nam.

Trước những biến động lớn của tình hình thế giới và khu vực trong vài thập kỷ gần đây, đặc biệt là trước sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu; sự điều chỉnh chiến lược để thích nghi và phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại nói chung, của một số nước lớn nói riêng, cũng như cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ucraina hiện nay, cùng với việc chậm khắc phục những hạn chế, bất cập của nền kinh tế và một số hiện tượng tiêu cực trong quá trình đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một số người đã dao động, giảm lòng tin vào bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm lệch lạc, sai trái này bằng nhiều hình thức đã được tán phát, lan truyền rất nhanh, được đưa lên mạng internet, các trang mạng xã hội, công bố trên các báo điện tử, đài phát thanh bằng tiếng Việt do các thế lực thù địch lập ra, nuôi dưỡng, sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Ít, nhiều chúng đã và đang gieo rắc sự đố kỵ, hoài nghi, hoang mang, dao động cho nhiều người, để lại những hậu quả không thể xem thường trong xã hội ta. Bằng cách này, họ muốn “chuyển lửa về quê nhà”, tạo nên các “điểm nóng”, gây sự nhiễu loạn, “diễn biến bên trong” nội bộ Đảng, Nhà nước và xã hội ta, trước hết là tự diễn biến, tự chuyển hóa về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến những diễn biến về các mặt khác.

Sở dĩ những kẻ có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại chống phá chủ nghĩa Mác một cách điên cuồng và quyết liệt như vậy bởi chúng ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với sự tồn tại, phát triển và lợi ích của họ, nhất là khi chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành hệ tư tưởng thống trị trong phong trào công nhân, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các đảng và cách mạng Việt Nam. Hẳn là những người này hiểu rằng, chừng nào còn chủ nghĩa Mác – Lênin thì chừng ấy còn có Đảng Cộng sản lãnh đạo, còn có phong trào cách mạng và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân tất yếu sẽ tiêu diệt chúng. Và do đó, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản tất yếu sẽ được xây dựng thành công, sự nghiệp cách mạng sẽ thắng lợi. Do đó, các thế lực thù địch, bọn cơ hội chính trị và xét lại sẽ bị tiêu diệt. Sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin là hoàn toàn có hại cho chúng, hẳn là chúng không hề mong muốn có kết cục “bi thảm” như thế. Để duy trì sự tồn tại của mình chúng không thể ngồi im, nhìn sự “chết dần chết mòn” của chúng. Vì thế, chúng không thể “chịu đựng nổi” trước ảnh hưởng bởi uy tín và vai trò ngày càng tăng lên của Đảng Cộng sản, ưu thế và sức mạnh vô địch của chủ nghĩa xã hội. Để cứu lấy mình, chúng buộc phải dùng các biện pháp, mọi thủ đoạn có thể để chống phá, hạ bệ chủ nghĩa Mác – Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng âu cũng chỉ là “dã tràng xe cát biển đông” mà thôi.