Trang sổ lương của các thủy thủ tàu Amiral Latouche Tréville năm 1911, thủy thủ mang tên Văn Ba là Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Ảnh chụp lại.
Ảnh: Bến Nhà Rồng hôm nay.
Đúng là bọn 3 que xỏ lá, lượm lặt tin cũ để xuyên tạc, gần đến thời điểm học sinh cả nước chuẩn bị thi vào lớp 10 thì việc chống phá, xuyên tạc của bọn này cũng chẳng lấy gì làm lạ.
Nhưng chống phá cũng phải có não một chút, chứ nhắm mắt làm liều thì còn ai tin nữa. Chuyện 1 PGĐ sở Giáo dục & Đào tạo làm đơn xin không phụ trách khâu in đề thi lớp 10 đã xảy ra năm 2021, tôi cho rằng là đáng hoan nghênh. Bởi vì ông PGĐ này nhận thức được tầm quan trọng của việc tuyển sinh vào lớp 10, lỡ có chuyện gì sơ suất thì hậu quả thế nào? Không chừng là miếng mồi béo bở để bọn Vịt Tân xuyên tạc, chống phá. Ông PGĐ thấy làm không nổi thì từ chối, để người khác có trình độ, kinh nghiệm làm là điều đáng hoan nghênh.
Sợ nhất là năng lực hạn chế mà nhắm mắt làm liều. Cũng giống như Việt Tân ôm cột xuyên tạc thì biết khi nào phục cuốc.
Đối ngoại Quốc phòng Việt Nam phải đảm bảo góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân; thực hiện chính sách hợp tác quốc phòng song phương, đa phương trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, vì hòa bình, phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Đối ngoại Quốc phòng Việt Nam luôn bám sát chủ trương cùng cố, tăng cường quốc phòng, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội nhân dân Việt Nam làm nòng cốt; được triển khai chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, theo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc.
Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam phải bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thường xuyên trực tiếp là Quân ủy Trung ương; sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, quản lý thống nhất của Chính phủ và điều hành của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo đảm, tôn trọng trên thực tế. Từ nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện để người dân thực hành các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh, đúng pháp luật, đồng thời kiên quyết ngăn chặn các hành vi núp bóng tôn giáo để chia rẽ vùng miền, gây mất đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ.
Điều 24, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: "1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Tính đến tháng 11/2021, tại Việt Nam có 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận với 43 tổ chức tôn giáo; cả nước ghi nhận trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm xấp xỉ 28% dân số), cùng hàng chục nghìn cơ sở tín ngưỡng, thờ tự. Đây là minh chứng cho thấy quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam được bảo đảm và thực thi có hiệu quả trên thực tế. Và cũng để bảo đảm hiệu quả thực thi, các hành vi vi phạm pháp luật núp bóng tín ngưỡng, tôn giáo sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể, tại Điều 6, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 quy định các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo bị nghiêm cấm, trong đó có các hành vi: "Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau" và "lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi".
Trước đó, sớm nhận diện tính phức tạp của vấn đề, năm 2003 tại Nghị quyết số 25-NQ/TW ban hành ngày 12/3, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo đánh giá: "Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn chung, các tổ chức tôn giáo đã xây dựng đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước. Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước". Đồng thời, Nghị quyết cũng chỉ rõ: "Tuy nhiên, tình hình hoạt động tôn giáo còn có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định". Do đó, Nghị quyết yêu cầu: "Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật".
Tiếp tục nhất quán đường lối, chủ trương đối với công tác tôn giáo, tại Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, trong hệ thống các nhiệm vụ trung tâm và giải pháp chủ yếu thứ năm, Đảng ta nhấn mạnh: "Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước" (1). Đồng thời trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phần xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh của con người Việt Nam nêu rõ: "Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống "tốt đời, đẹp đạo", đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc" (2).
Như nhiều quốc gia trên thế giới, các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam luôn được bảo đảm, tôn trọng và phải tuân thủ pháp luật, hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích. Trước những diễn biến phức tạp của các hiện tượng tôn giáo mới, các hiện tượng núp bóng tôn giáo gây mất trật tự xã hội, thời gian qua các cơ quan chức năng có liên quan và chính quyền các cấp đã tăng cường phối hợp ban tôn giáo địa phương, tích cực rà quét, phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật trong thực hành tín ngưỡng, tôn giáo; ngăn chặn sự lây lan của các tà đạo, cảnh báo người dân tỉnh táo, cảnh giác trong việc lựa chọn các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh, hợp pháp để tham gia. Nhiều vụ án liên quan tà đạo đã được xét xử công khai để người dân giám sát, đề cao cảnh giác. Như ngày 28/5/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã mở phiên tòa lưu động tại trụ sở UBND xã H’Ra, H.Mang Yang xét xử công khai tám bị cáo phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc theo Điều 87 Bộ luật Hình sự, liên quan tà đạo Hà Mòn. Hay như tháng 3/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử vụ án "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" xảy ra trên địa bàn huyện Mường Nhé. Đáng chú ý trong số 14 bị cáo, có sự xuất hiện của bốn đối tượng cốt cán cầm đầu tà đạo "Giê Sùa", đã được cơ quan chức năng cảnh báo tới cộng đồng từ trước đó.
Không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới cũng có những biện pháp kiên quyết để hạn chế sự lây lan của tà đạo gây bất ổn cho xã hội. Như để ngăn chặn sự hoành hành trái phép của "Hội thánh Đức Chúa trời", tại Hàn Quốc vào năm 2012, Hội đồng quốc gia các Giáo hội chính thức lên tiếng phê phán cho rằng, đây là "phong trào phạm thượng", đồng thời ban hành quyết định cấm mọi hoạt động của tà đạo này. Việc tẩy chay, phản đối "Hội thánh Đức Chúa trời" tiếp tục lan rộng ở nhiều quốc gia mà phong trào này đặt chân tới. Tiêu biểu như Tòa thánh Roma đã ban hành nhiều văn thư lên án các sai lạc trong giải thích Kinh Thánh của "Hội thánh Đức Chúa trời" và coi đây là một "lạc giáo".
Bất chấp thực tế đó, các thế lực phản động, thiếu thiện chí luôn tìm mọi lý do hòng xuyên tạc quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam; vu cáo Nhà nước Việt Nam "đàn áp tôn giáo", "vi phạm quyền con người trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo"; đưa ra yêu cầu phi lý là phải đặt tôn giáo đứng độc lập, ngoài sự quản lý của Nhà nước và pháp luật. Đồng thời, mượn cớ bảo vệ tự do tôn giáo, một số tổ chức, hội nhóm thường xuyên lập ra cái gọi là "phúc trình", "thư ngỏ", "nghị quyết" để lên án tình hình nhân quyền tại Việt Nam, bảo vệ các đối tượng vi phạm pháp luật, gây sức ép về ngoại giao, đòi can thiệp và các công việc nội bộ của nước ta. Nhận diện rõ vấn đề này, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam một mặt thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân theo quy định của pháp luật; một mặt đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi chống phá, xuyên tạc tự do tôn giáo cũng như các hoạt động núp bóng tôn giáo để thực hiện những âm mưu đen tối.
Liên quan các hiện tượng tôn giáo mới, để ngăn chặn hiệu quả sự lây lan của các tà đạo ngày càng tinh vi, xảo quyệt trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi cần có sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ hơn nữa trong toàn hệ thống chính trị cũng như ban tôn giáo tại các tỉnh, thành phố. Về phía các lực lượng chức năng cần phải kiên trì, bám chắc địa bàn, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Mặt khác, công tác vận động, tuyên truyền, giải thích để người dân không tin và nghe theo các tà đạo cần đẩy mạnh hơn nữa, đặc biệt là tuyên truyền trên không gian mạng, "trận địa mới" mà hiện nay các tà đạo đang âm mưu triệt để khai thác. Bên cạnh đó, cần không ngừng khơi dậy ý thức trách nhiệm, tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo trong công cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề tôn giáo gây bất ổn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ.
Cùng sự vào cuộc của lực lượng chức năng cũng rất cần sự hỗ trợ, chung tay tham gia của cả cộng đồng. Bởi hơn ai hết, những người dân cùng chung sống, sinh hoạt hằng ngày trên một địa bàn sẽ phát hiện sớm nhất sự nảy sinh của các hiện tượng tôn giáo mới. Do đó, cộng đồng cần tăng cường sự gắn kết, chia sẻ, nhận diện kịp thời những biểu hiện bất thường trong từng thôn xóm, làng bản, khu dân cư, cũng như những vấn đề khó khăn, khúc mắc ở mỗi cá nhân để cùng nhau tìm cách hỗ trợ, tháo gỡ, theo đúng đạo lý nhân văn của người Việt, đó là "trong cơn tối lửa tắt đèn có nhau". Sự quan tâm sát sao, ân tình trong cộng đồng dân cư sẽ góp phần quan trọng giúp mỗi cá nhân không bị lôi kéo, sa ngã vào các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng trái phép. Trường hợp phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh trong sinh hoạt tôn giáo, người dân cần kịp thời thông báo cho chính quyền sở tại hoặc cơ quan chức năng để thực hiện việc giám sát và xử lý nếu có sai phạm. Đó cũng là cách hiệu quả để mỗi người tự bảo vệ bản thân và gia đình trước sự lôi kéo, tấn công của tà đạo, không bị dẫn dắt vào các hành vi vi phạm pháp luật.
Được tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo là quyền chính đáng của mỗi công dân. Tuy nhiên, việc thực thi quyền đó phải trong khuôn khổ luật pháp và đạo đức xã hội. Quan trọng hơn cả, đó là mỗi cá nhân phải hình thành thái độ sống tích cực và niềm tin lành mạnh để lựa chọn tôn giáo đúng đắn cho riêng mình, sống "tốt đời đẹp đạo", tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển của xã hội bằng những việc làm có ý nghĩa. ST
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) được thành lập đến nay, vấn đề dân chủ, nhân quyền luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm bảo đảm. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Ấy thế mà, nhiều năm qua, các thế lực thù địch liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, gây sức ép đối với Việt Nam trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền; họ phê phán, chỉ trích, thậm chí vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.
Các phần tử cơ hội chính trị, chống đối rêu rao rằng, ở Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền vì thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam sẽ là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” dẫn đến dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Chúng thường rêu rao “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”; “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thực sự”. Vấn đề dân chủ, nhân quyền cũng được các thế lực chống đối gắn kèm với vấn đề dân tộc, tôn giáo; với luận điệu gán ghép cho Việt Nam “vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.
Để thực hiện cái gọi là dân chủ, nhân quyền, một số thế lực ở phương Tây thực hiện chiêu bài về tự do, dân chủ, hợp tác, ngoại giao thân thiện; thúc đẩy hình thành hội, nhóm bất hợp pháp dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”; vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt, xử lý ở trong nước. Trên bình diện quốc tế, chúng vừa vận động, vừa dùng sức mạnh để ép Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc thông qua các nghị quyết về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, nhằm cổ súy, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn và từ đó có cớ can thiệp vào Việt Nam... Đích đến cuối cùng của vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mà vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ, nhân quyền suy đến cùng là mục đích phá hoại Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Chúng ta khẳng định dứt khoát không thể chấp nhận cái dân chủ, nhân quyền mà các thế lực thù địch muốn áp đặt cho chúng ta. Bởi vì, dân chủ, nhân quyền luôn gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua các chế độ xã hội. Dân chủ mà con người có được là quá trình phát triển thông qua đấu tranh xã hội để giải phóng con người.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, phong kiến, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, nhân dân ta từ thân phận nô lệ, trở thành người tự do; đất nước và dân tộc bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện rõ rệt; an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và bảo đảm. Chúng ta có môi trường chính trị - xã hội ổn định, cuộc sống thật sự hòa bình, ấm no, tự do, nhân dân thật sự là chủ nhân của đất nước; quyền con người được Hiến pháp, pháp luật thừa nhận. Việt Nam đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015; được Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới trao giải thưởng thành tích xuất sắc trong xóa đói, giảm nghèo. Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: “Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc”; “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”; “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội”; “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị”; “Công ước về quyền trẻ em”; “Công ước về quyền của người khuyết tật”… Điều này phản ánh rõ tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã lựa chọn.
Hoàn toàn sai lầm khi cho rằng, phải có đa đảng mới có dân chủ. Dân chủ và sự phát triển không đồng nghĩa, cũng không tỷ lệ thuận với đa nguyên, đa đảng, mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội; một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và kém dân chủ. Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay cho thấy, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, quyền con người vẫn không được bảo đảm. Những người tự cho mình cái quyền đi phán xét, ban phát dân chủ, nhân quyền cho nước khác, nhưng ở ngay trên quê hương họ, tình trạng phân biệt giàu nghèo, dân tộc, màu da diễn ra mạnh mẽ, nạn khủng bố, xả súng giết người vô cớ vẫn còn nhiều... Trong khi đó, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế - xã hội phát triển, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và vị thế của đất nước trên thế giới ngày càng được nâng cao. Mọi hoạt động coi trọng “dân chủ, nhân quyền” theo các giá trị của các nước tư bản phương Tây để áp đặt vào Việt Nam thực chất là vì lợi ích của các nước phương Tây chứ không phải vì sự tiến bộ và phát triển của Việt Nam.
Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo nhận rõ những thông tin bịa đặt cho rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền và phê phán những quan điểm sai trái đó là việc làm hết sức cần thiết, có ý nghĩa rất quan trọng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng ta, tạo sự đồng thuận xã hội vượt qua mọi khó khăn, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước./.
ST
Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã quyết định một nhiệm vụ quan trọng: Tiến hành cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Tại lễ kỷ niệm lần thứ 109 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã chính thức phát động cuộc vận động đó. Vào dịp 19-5-2000, Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã báo cáo với Người và đồng chí, đồng bào cả nước những kết quả bước đầu sau một năm tiến hành cuộc vận động và bày tỏ quyết tâm “tạo ra một bước chuyển mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”.
Tháng 6 này mỗi người dân Việt Nam cùng hướng về Hồ Chí Minh và có những suy nghĩ, việc làm thiết thực để bày tỏ lòng biết ơn Người. Với ý nghĩ đó, bài viết này là lòng thành kính, sự biết ơn sâu sắc của tôi đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
1. Từ giữa những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ muốn làm cách mạng trước hết phải có đảng cách mạng.Theo Hồ Chí Minh, trong đấu tranh giành chính quyền cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để cách mạng thắng lợi cần đến rất nhiều nhân tố, nhưng nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất là phải có đảng. Quan điểm cách mạng trước hết phải có đảng được Hồ Chí Minh khẳng định mạnh mẽ trong Di chúc. Trong mấy điều, mấy việc dặn lại trước lúc đi xa, điều đầu tiên, việc đầu tiên là: "Trước hết nói về Đảng".
Hồ Chí Minh chỉ rõ để Đảng hoàn thành sứ mệnh "trước hết" trong suốt quá trình cách mạng, cần phải đặc biệt quan tâm và coi trọng công tác chỉnh đốn Đảng. Do đó, viết về chỉnh đốn Đảng, Hồ ChíMinh thường sử dụng các cụm từ "trước tiên", "việc chính", "việc cần kíp", "việc đặc biệt", "việc phải làm ngay".
Tháng 1-1949, phát biểu tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng, chính quyền, đoàn thể Bắc-Trung- Nam, Hồ Chí Minh nói, hiện nay chúng ta cần tập trung vào mục tiêu kháng chiến thắng lợi, xây dựng dân chủ mới, tiến tới chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược ấy, Người yêu cầu phải chỉnh đốn chính quyền, đoàn thể từ dưới lên, từ trên xuống, trong đó "trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng". Báo cáo tại Hội nghị Trung ương 3 (khoá II) 4- 1952, ở phần "Nhiệm vụ và công tác trước mắt”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư tưởng phải thống nhất, hành động phải thống nhất. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Cho nên chỉnh Đảng là một việc chính, phải đặc biệt chú trọng". Đáng chú ý là trong báo cáo này, Hồ Chí Minh dành riêng một mục nói về "chỉnh Đảng". Theo Hồ Chí Minh, để cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên có tư tưởng, lập trường vững vàng thì "chỉnh Đảng là việc chính mà chúng ta phải làm ngay". Thật có ý nghĩa khi chúng ta biết rằng tháng 5-1968 khi xem lại những điều đã viết trong Di chúc từ tháng 5-1965, Hồ Chí Minh nhận thấy "cần phải viết thêm mấy điểm". Điểm đầu tiên, điểm quan trọng nhất trong mấy điểm viếtthêm ấy là "trước tiên phải chỉnh đốn lại Đảng".
Cần nói thêm là cụm từ "chỉnh đốn Đảng" hoặc "chỉnh Đảng" được Hồ Chí Minh sử dụng từ rất sớm; sử dụng nhiều lần vào những thời điểm khác nhau. Như vậy đối với Hồ Chí Minh chỉnh đốn Đảng là một việc làm cần thiết, cấp bách.
2. Hồ Chí Minh bàn về chỉnh đốn Đảng không phải là khi trong Đảng có gì đột biến, hay "có vấn đề" cần đến một giải pháp tình thế. Với Hồ Chí Minh, chỉnh đốn Đảng là một nhiệm vụ tất yếu để Đảng hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong trước giai cấp và dân tộc. Chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách khi cách mạng gặp khó khăn để cán bộ, đảng viên củng cố quan điểm, lập trường, bình tĩnh, sáng suốt, không bị quan, dao động. Ngay cả khi cách mạng trên đà thắng lợi cũng cần đến chỉnh đốn Đảng để xây dựng những quan điểm tư tưởng cách mạng khoa học, ngăn ngừachủ quan, tự mãn, lạc quan tếu và bệnh kiêu ngạo cộng sản theo cách nói của Lênin.
Đặc biệt việc chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh đặt ra và Người dành nhiều công sức, trí tuệ để lãnh đạo, chỉ đạo mỗi khi Đảng ta, dân tộc ta đứng trước tình hình và nhiệm vụ mới. Phần chỉnh đốn Đảng trong Di chúc được Hồ Chí Minh đặt ra chính là Người đòi hỏi cán bộ, đảng viên nâng cao hơn nữa phẩm chất và năng lực ngang tầm với thời kỳ mới: thời kỳ Tổ quốc sạch bóng quân thù, cả nước bước vào hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển kinh tế. Trong Di chúc viết tháng 5-1968, Hồ Chí Minh chỉ rõ ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của dân ta hoàn toàn thắng lợi, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đứng trước những công việc "rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang". Đó là hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại các thành phố, làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn, phát triển y tế, giáo dục, củng cố quốc phòng. Người gọi đây là "cuộc chiến đấu khổng lồ". Để hoàn thành nhiệm vụ đó, "việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng".
Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chỉ tính từ tháng 6-1992 đến tháng 1-1999, Đảng ta đã có hai nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương tập trung bàn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tháng 6-1992, Hội nghị Trung ương 3 (Khoá VII) ra Nghị quyết "Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng". Nghị quyết Trung ương 3 viết: để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phù hợp với nhiệm vụ cách mạng nước ta trong tình hình mới đòi hỏi Đảng "phải khẩn trương tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đối với vận mệnh chế độ ta và Đảng ta".
Việc đổi mới và chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 3 đã góp phần nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Năng lực, sức chiến đấu của Đảng được nâng cao lại là nguyên nhân quan trọng nhất để Đại hội Đảng lần thứ VIII đi đến một nhận định rất quan trọng: "Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chúng ta chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".
Chính là để hoàn thành trọng trách trong thời kỳ mới mà Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã quyết định tiến hành cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam phát động cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng cách đây một năm là để thực hiện tốt hơn lời căn dặn của Hồ Chí Minh, phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng lần này, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu chỉ rõ còn là biện pháp khắc phục có hiệu quả tình trạng “hiện nay, Đảng ta có điểm chưa thật mạnh, có mặt chưa thật vững, trong đó đáng chú ý là tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên”. Trong khi cách mạng đòi hỏi sức phấn đấu bền bỉ để thực hiện mục tiêu lý tưởng thì một bộ phận cán bộ đảng viên giảm sút ý chí, phai nhạt lý tưởng, dao động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí có cả một số cán bộ, đảng viên cao cấp làm trái Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Như vậy chính thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thực trạng trong Đảng ta đã đòi hỏi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành nhiệm vụ vừa cơ bản, thường xuyên lại vừa cấp bách. Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh.
3. Theo Hồ Chí Minh sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy mục tiêu hàng đầu của chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh nêu lên từ năm 1952 là "nâng cao trình độ tư tưởng và chính trị của cán bộ và đảng viên, tẩy bỏ tư tưởng phi vô sản và tiểu tư sản, thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, đoàn kết toàn Đảng, để Đảng làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang của mình". Đến Di chúc, mục tiêu của chỉnh đốn Đảng được Người khái quát ở tầm cao mới và chiều sâu mới, “chỉnh đốn lại Đảng làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”. Theo Hồ Chí Minh, chỉnh đốn phải gắn Đảng với việc học tập, tu dưỡng, nâng cao nhận thức, lý luận, tư tưởng, củng cố, tăng cường các nguyên tắc của Đảng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2- 1951), Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức - là những việc cần kíp của Đảng".
Hồ Chí Minh cho rằng đối với một Đảng cầm quyền, việc chỉnh đốn liên quan chặt chẽ đến sự ổn định và phát triển không chỉ ở trong Đảng mà là trên phạm vi cả nước, do đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi: "Chỉnh Đảng phải làm từng bước, phải có trọng tâm". Nhất quán với quan điểm nêu trên, trong Di chúc trước khi viết về tính cấp bách phải chỉnh đốn lại Đảng, Hồ Chí Minh chỉ rõ "để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm", "phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo".
Hồ Chí Minh là một nhà chính trị thiên tài đồng thời cũng là nhà hoạt động thực tiễn sâu sát, tỉ mỉ. Trong chỉnh đốn Đảng, Hồ Chí Minh không chỉ nêu lên phương châm từng bước, có trọng tâm, kế hoạch phải rõ ràng, chu đáo mà phương châm đó còn được Người cụ thể hoá: “Chỉnh huấn cán bộ trước rồi mới chỉnh đốn chi bộ.Chỉnh đốn tư tưởng trước rồi mới chỉnh đốn tổ chức”.
Từ quan điểm muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém, cán bộ là gốc của mọi công việc, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng chỉnh huấn cán bộ cao cấp là mấu chốt việc chỉnh đốn toàn Đảng, do đó Trung ương phải trực tiếp lãnh đạo ?. Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh đã được Đảng ta quán triệt, vận dụng trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng lần này trước hết tiến hành trong cấp uỷ từ trên xuống dưới. Nhiều vấn đề của các cấp ủy, tổ chức Đảng trực thuộc Trung ương đã “được đặt lên bàn nghị sự”. Thường vụ Bộ chính trị chỉ đạo chặt chẽ quá trình này. Ngày 3-3-2000, Thường vụ Bộ chính trị đã có báo cáo đánh giá kết quả bước đầu việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các cấp uỷ, tổ chức Đảng trực thuộc Trung ương. Báo cáo chỉ rõ qua chuẩn bị, tiến hành kiểm điểm và sau kiểm điểm một số đơn vị đã có sự chuyển biến bước đầu thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, các quan điểm tư tưởng chính trị của tập thể và cá nhân Thường vụ cấp uỷ đã được làm rõ và khẳng định, một số vấn đề bức xúc, nổi cộm đã được xử lý.
Thứ hai, những tiêu cực trong đạo đức, lối sống của cán bộ đã được làm rõ để đấu tranh, phê phán, ngăn chặn, tình trạng ăn nhậu chơi bời, quan liêu, tham nhũng, lãng phí được răn đe, ngăn chặn bước đâu.
Thứ ba, công tác tổ chức được củng cố, các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ được tôn trọng và đề cao, đoàn kết nội bộ nhiều nơi được củng cố thêm, lề lối làm việc dần đi vào nền nếp ...
Những kết quả nêu trên đã tạo được niềm tin ban đầu của đảng viên, cán bộ và nhân dân đối với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với Đảng, với Ban Chấp hành Trung ương. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá: "Ta đã đạt được những kết quả bước đầu, nhưng kết quả đó chưa cao. Nếu chúng ta làm không tốt, không kiền quyết, không đưa vào nền nếp thường xuyên thì cuộc vận động không đạt được như mong muốn và chúng ta để mất lòng tin đối với nhân dân. Chúng ta không làm tốt cuộc vận động, không làm trong sạch Đảng thì chúng ta đi vào Đại hội toàn quốc lần thứ IX cũng khó khăn".
Có thể nói, tư tưởng, quan điểm về chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ ràng cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Những dòng cuối cùng Người viết về chỉnh đốn Đảng cách đây tròn ba mươi mốt năm. Quãng thời gian đó đủ cho mỗi chúng ta suy nghĩ, chiêm nghiệm về tầm nhìn xa trông rộng, về kế sách cơ bản, lâu dài trong quá trình dựng nước và giữ nước của Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, một vĩ nhân của thế kỷ XX. Thực tế đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về chỉnh đốn Đảng, vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay./.
ST
Ngày 04 tháng 6
“Lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng”
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Bài viết: “Đạo đức lao động”; đăng trên Báo Cứu quốc, số 2092, ngày 04 tháng 6 năm 1952: “Trước kia người ta cho lao động là việc nặng nề, xấu hổ. Nay lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng”. Trong những năm kháng chiến, kiến quốc vô cùng khó khăn và gian khổ để đảm bảo cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân thi đua lao động thì kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công.
Lời kêu gọi: “Lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng” có ý nghĩa to lớn, không chỉ động viên, cổ vũ tinh thần hăng say lao động của đồng bào cả nước mà còn khẳng định giá trị của lao động là vốn quý, lao động là thiêng liêng; lao động vừa tạo ra của cải vật chất, vừa phát triển con người toàn diện. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân lao động cả nước đã nêu cao truyền thống cần cù, siêng năng ra sức ngày đêm lao động sản xuất nâng cao đời sống, bảo đảm lương thực cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp giành thắng lợi, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Nhờ có đức tính siêng năng, cần cù lao động mà dân tộc ta, mỗi chúng ta không sợ khó, sợ khổ, biết bền bỉ, nhẫn nại trong học tập, lao động sản xuất…
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, động viên, cổ vũ để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Hơn 70 năm qua, cùng với thực hiện tốt chức năng của “đội quân chiến đấu, đội quân công tác”, quân đội ta luôn tích cực, chủ động thực hiện chức năng “đội quân lao động sản xuất” và thu được những kết quả quan trọng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thấm nhuần lời dạy của Bác đẩy mạnh tăng gia sản xuất để tự túc phần nào, nhằm giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng và nắm vững chủ trương, quan điểm của Đảng, toàn quân tiếp tục phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, thực sự là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” giỏi trong thời kỳ mới. Xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
ST
Ngày 4-6, tại Trụ sở Chính phủ, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chính phủ đã họp phiên thường kỳ tháng 5 năm 2022.
Dự phiên họp có các Phó thủ tướng Chính phủ: Phạm Bình Minh, Vũ Đức Đam, Lê Văn Thành; Bộ trưởng, Thủ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân cùng dự phiên họp.
Tại phiên họp, Chính phủ thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022; tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ; tình hình triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; tình hình phân bổ, giải ngân vốn ngân sách nhà nước năm 2022.
Kinh tế - xã hội phục hồi mạnh mẽ
Báo cáo tại phiên họp cho thấy, trong tháng 5, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, xung đột Nga – Ukraine chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; lạm phát, giá cả hàng hóa, lương thực thực phẩm, dầu thô, nguyên vật liệu đầu vào tăng cao; nguy cơ khủng hoảng an ninh năng lượng, lương thực toàn cầu… tác động không nhỏ đến nước ta.
Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, sự ủng hộ, giám sát của Quốc hội, công tác chỉ đạo, điều hành quyết liệt, thường xuyên, kịp thời, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đạt được nhiều kết quả tích cực.
Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. CPI tháng 5 tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 5 tháng tăng 2,25%, tương đương cùng kỳ các năm 2018-2021; các cân đối lớn được đảm bảo. Thu ngân sách nhà nước 5 tháng ước đạt 57,1% dự toán, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2021. Kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 5 tăng 14,5% so với cùng kỳ; tính chung 5 tháng tăng 15,6%; tính chung 5 tháng đầu năm xuất siêu 516 triệu USD. FDI thực hiện 5 tháng tăng 7,8% so với cùng kỳ (5 tháng năm 2021 tăng 6,7%), cho thấy nhu cầu tiếp tục mở rộng sản xuất của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục khởi sắc, trong đó sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi tích cực. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 5 ước tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,1%. Tính chung 5 tháng, chỉ số IIP toàn ngành ước tăng 8,3% so với cùng kỳ, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,2%. Nhiều địa bàn công nghiệp trọng điểm như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, Thái Nguyên… phục hồi tốt. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tháng 5 tăng 12,6% so với cùng kỳ, gấp 1,8 lần doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Tính chung 5 tháng, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt 98,6 nghìn doanh nghiệp, mức cao nhất từ trước tới nay, gấp 1,4 lần doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được chú trọng. Công tác an sinh xã hội được thực hiện rộng rãi. Quốc phòng an ninh được bảo đảm. Hoạt động đối ngoại được đẩy mạnh, với nhiều hoạt động đối ngoại đa phương và song phương cấp cao. Tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; điều tra, xử lý nghiêm nhiều vụ, việc lớn, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước.
Tại phiên họp, các thành viên Chính phủ đã thảo luận, phân tích về kết quả, nguyên nhân; đặc biệt là chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và giải pháp để thúc đẩy kinh tế - xã hội phục hồi nhanh, phát triển bền vững. Trong đó có giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn; chủ động kiểm soát lạm phát vào các tháng cuối năm; thu hút FDI, thúc đẩy du lịch; lành mạnh hóa thị trường chứng khoán, bất động sản; có giải pháp phù hợp, điều hành giá xăng dầu trong nước; thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và các gói phục hồi kinh tế; xử lý các vấn đề nảy sinh như tội phạm trên không gian mạng, dạy - học môn lịch sử, vấn đề sách giáo khoa... Đặc biệt là phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả để có điều kiện phát triển kinh tế-xã hội.
Kết luận Phiên họp, đồng ý với báo cáo và ý kiến thảo luận của các thành viên Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, cùng với kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19, trong tháng 5-2022, các sự kiện và hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực đều sôi động, khởi sắc hơn. Nhiều sự kiện lớn, quan trọng của đất nước như: Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII kết thúc tốt đẹp; Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV khai mạc và đang diễn ra sôi nổi, chất lượng; SEA Games 31 thành công rất tốt đẹp. Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đạt được nhiều kết quả tích cực. Các hoạt động đối ngoại được triển khai sôi động, nhịp nhàng, hiệu quả.
Theo đánh giá của Nikkei (Nhật Bản), chỉ số phục hồi sau đại dịch Covid-19, Việt Nam tăng 48 bậc lên vị trí thứ 14 thế giới; Việt Nam là 1 trong 2 nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương được tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P nâng hạng tín nhiệm dài hạn lên mức BB+, triển vọng “ổn định”.
“Có được kết quả này là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sáng suốt của Đảng, của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự đồng tình, ủng hộ và tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Kết quả này cũng góp phần tăng cường, củng cố niền tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ; tăng cường niềm tin của bạn bè, nhà đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển của Việt Nam”, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định.
Lắng nghe, điều chỉnh phù hợp các vấn đề nảy sinh
Thủ tướng Chính phủ cũng đưa ra, nhận định, phân tích 8 khó khăn, tồn tại, thách thức; đồng thời nêu những nguyên nhân, các nhiệm vụ, giải pháp mà Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện trong tháng 6 và thời gian tới. “Trước hết phải nắm chắc tình hình dịch Covid-19; nắm bắt tình hình cạnh tranh chiến lược; diễn biến giá cả đầu vào, năng lượng, rủi ro lạm phát; nắm chắc diễn biến tình hình kinh tế của khu vực và quốc tế... để có giải pháp ứng phó hiệu quả. Xác định khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ thuận lợi”, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục chú trọng phòng, chống dịch Covid-19, trong đó tập trung đẩy mạnh và thần tốc hơn nữa thực hiện chiến dịch tiêm chủng vaccine; hướng dẫn phòng, chống dịch, trong tình hình mới. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, nhất là tháo gỡ vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách liên quan đến công tác quy hoạch, đầu tư công, chương trình phục hồi kinh tế-xã hội và các chương trình mục tiêu quốc gia...
Theo Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương phải tập trung giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; triển khai hiệu quả chính sách hỗ trợ lãi suất đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; minh bạch thị trường cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản... Bảo đảm cung cầu, chuỗi cung ứng, lưu thông hàng hóa; theo dõi chặt chẽ thị trường, giá cả, điều hành, bình ổn giá phù hợp. Tập trung giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của các bộ, ngành, địa phương trong thời gian tới. Đẩy mạnh thực hiện 3 Chương trình mục tiêu quốc gia. Đẩy mạnh cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy phát triển xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số. Cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp hiệu quả, không làm thất thoát tài sản của Nhà nước; cơ cấu lại thị trường tiền tệ, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém…
Về văn hóa – xã hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành chuẩn bị thực hiện thật tốt các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ 27-7; làm tốt phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, hỗ trợ người lao động; tổ chức phòng, chống dịch bệnh hiện nay và các dịch bệnh theo mùa; tập trung phòng, chống lụt bão, giảm tác hại của thiên tai; tổ chức tốt các kỳ thi; đánh giá việc thực hiện tự chủ Đại học; cân nhắc, thận trọng xây dựng lộ trình điều chỉnh học phí phù hợp, căn cứ thực tiễn, phù hợp với lợi ích của Nhà nước, tổ chức và học sinh, sinh viên.
Người đứng đầu Chính phủ cũng lưu ý việc thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý sau thanh tra; giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; ổn định chính trị; bảo đảm trật tự an toàn xã hội; thực hiện hiệu quả các hoạt động đối ngoại; chủ động thông tin, truyền thông, phản bác lại những thông tin xấu độc, chống phá của các thế lực thù địch, đồng thời bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì lợi ích quốc gia dân tộc; chuẩn bị các nội dung, tiếp thu các góp ý và giải trình, trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV.
Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì rà soát lại các vấn đề liên quan sách giáo khoa mới theo hướng đảm bảo khoa học, khả thi, thuận lợi, tiết kiệm, giảm chi phí cho người dân, đem lại lợi ích cho xã hội. Về vấn đề dạy – học môn lịch sử ở bậc THPT, Thủ tướng yêu cầu lắng nghe ý kiến của học sinh, phụ huynh, nhân dân, các nhà khoa học; đồng thời tổng kết, đánh giá tác động để có giải pháp, điều chỉnh phù hợp, vừa đảm bảo thực hiện tốt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, vừa đảm bảo yêu cầu thực tiễn và mong muốn của người dân. “Truyền thống lịch sử, văn hoá cũng là nguồn lực và đầu tư cho lĩnh vực này cũng là đầu tư cho phát triển. Chúng ta cần cầu thị, lắng nghe để đạt hiệu quả xã hội cao”, Thủ tướng nhấn mạnh./.
ST
Để tiếp tục gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới, một mặt, chúng ta phải tích cực nhận diện, đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, chống phá; mặt khác, phải thường xuyên giáo dục tinh thần tự giác học tập và tổ chức rèn luyện để mỗi cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi trở thành hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Thực hiện mục tiêu, yêu cầu đó, trong nhiều năm qua, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ thị toàn quân tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, phấn đấu giữ vững danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ với 5 chuẩn mực: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; hai là, có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; ba là, có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; bốn là, đẩy mạnh thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; năm là, tích cực chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ tốt, tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ, gìn giữ, phát triển các giá trị Bộ đội Cụ Hồ được chỉ rõ hơn, sâu sắc hơn trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847). Theo đó, Quân ủy Trung ương xác định 5 đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà mỗi cán bộ, chiến sĩ phải phấn đấu xây dựng, hướng tới; đồng thời "điểm mặt" 10 biểu hiện chủ nghĩa cá nhân để mỗi tổ chức, cá nhân nhận diện, đấu tranh, đẩy lùi.
Những chủ trương trên thể hiện tinh thần hết sức nghiêm túc, trách nhiệm trong quán triệt, cụ thể hóa Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội; là cơ sở chính trị, động lực tinh thần, phương châm hành động để cán bộ, chiến sĩ phấn đấu, rèn luyện, cống hiến xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động và nghiên cứu, sớm đưa Nghị quyết 847 vào cuộc sống là giải pháp tốt nhất để danh xưng Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống của Quân đội ta được lưu danh mãi với thời gian, thấm sâu vào suy nghĩ, hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ, người dân. Đây cũng là phương cách hữu hiệu nhằm tạo đề kháng, sức miễn dịch cho bộ đội trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch.
Để cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, trước hết, các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong toàn quân về giá trị, ý nghĩa của Nghị quyết 847 đối với việc lưu giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ-giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng, phòng truyền thống, nhân chứng lịch sử; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn, xây dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, tinh thần lạc quan cách mạng, đạo đức, lối sống trong sáng, lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn, gắn bó mật thiết với nhân dân. Từ nhận thức đúng, đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy và cán bộ, đảng viên, quần chúng trong phấn đấu, rèn luyện, cống hiến tài năng cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc theo phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời chủ động phát hiện, khắc phục kịp thời mọi biểu hiện tư tưởng lệch lạc, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc, làm việc cầm chừng, vô cảm trước khó khăn, hoạn nạn của nhân dân, “dĩ hòa vi quý”, thấy đúng không bảo vệ, sai không đấu tranh, phê bình, vi phạm kỷ luật quân đội, làm ảnh hưởng đến quan hệ đoàn kết quân-dân...
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, bảo đảm cho tinh thần của Nghị quyết 847 đi đúng quỹ đạo đề ra; xác định rõ chỉ tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp cụ thể với từng cấp, từng đối tượng và loại hình đơn vị; duy trì thường xuyên, liên tục, có kiểm tra, rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả, tránh việc "trên nóng, dưới lạnh", “phát mà không động”, “đánh trống bỏ dùi”, làm cho sức sống và giá trị của nghị quyết bị suy giảm, bị "uốn cong" trong quá trình triển khai thực hiện. Đồng thời, phải gắn kết chặt chẽ giữa thực hiện Nghị quyết 847 với Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động cách mạng; tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn số 202/HD-CT, ngày 3-2-2015 của Tổng cục Chính trị về “Thực hiện nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới”, bảo đảm nghiêm túc, thiết thực, chặt chẽ, gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của mỗi cá nhân. Các tổ chức quần chúng đẩy mạnh hoạt động xung kích, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của cán bộ, hội viên, đoàn viên, bảo đảm cho nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ đi vào cuộc sống, hoạt động của các tổ chức, lực lượng, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, nhất là những việc mới, việc khó, đòi hỏi ý chí, nghị lực cao. Qua đó, tạo sức mạnh tổng hợp, không khí thi đua sôi nổi làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, vai trò, vị thế của Quân đội ta ngày càng tỏa sáng, có sức cảm hóa mãnh liệt trong toàn quân và toàn xã hội.
Tăng cường đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng, là giải pháp quan trọng để phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được phát huy trong điều kiện mới. Cần cụ thể hóa Nghị quyết 847 bằng các phong trào, mô hình cụ thể ở cơ sở, sát với đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực. Bởi lẽ, thực tiễn phong trào cách mạng càng phong phú, sinh động, thiết thực thì phẩm chất quân nhân cách mạng-Bộ đội Cụ Hồ càng được rèn giũa và thể hiện sâu sắc. Thông qua hoạt động thực tiễn, đề cao tinh thần tích cực, chủ động, tìm tòi, đổi mới, nâng cao hiệu quả công việc; cống hiến tài năng, sức sáng tạo, khả năng làm chủ vũ khí, trang bị, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao đối với từng cán bộ, chiến sĩ...
Quá trình tổ chức các hoạt động thực tiễn cho bộ đội phải phát huy vai trò nêu gương, mẫu mực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì các cấp trong phấn đấu, rèn luyện xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Sự mẫu mực, mô phạm, nói đi đôi với làm của cán bộ các cấp là mệnh lệnh không lời, có sức thuyết phục cao đối với bộ đội. Nêu gương và làm gương của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho đảng viên, quần chúng noi theo. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên luôn phấn đấu để hoàn thiện mình, từ nhận thức đến hành động, từ lời nói đến việc làm phải thật sự chuẩn mực, có sức cảm hóa, thu hút cấp dưới và chiến sĩ làm theo. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao, càng phải nêu gương cho cấp dưới, với tinh thần: “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; phải thật sự gắn mình với đơn vị, sâu sát, gần gũi với quần chúng, công tâm trong xử lý các công việc, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong hoạt động; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Quá trình thực hiện phải đề cao tính chiến đấu, tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa”; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Giải quyết tốt các mối quan hệ, tình đoàn kết giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, sự đồng thuận trong các cơ quan, đơn vị, tất cả hướng tới mục tiêu chung là xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu".
Đấu tranh làm thất bại mưu đồ bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục phát huy những giá trị cao quý, thiêng liêng của quân nhân cách mạng trong thời kỳ mới là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam. Nếu mỗi cá nhân biết tự tu rèn, đắp bồi nhân cách cho chính mình một cách tích cực sẽ góp phần giữ vững và tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, góp phần xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
ST
Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; chuẩn bị tốt các hoạt động tri ân ngày thương binh liệt sĩ 27/7.
Ngày 4/6, kết luận phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5, Thủ tướng Phạm Minh Chính cơ bản đồng tình với các báo cáo, ý kiến phát biểu tại phiên họp, đồng thời nhấn mạnh thêm một số nội dung.
Theo Thủ tướng, bên cạnh những kết quả đạt được chúng ta vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tình hình khu vực và thế giới diễn biến khó lường, giá cả nguyên vật liệu đầu vào, nhất là xăng, dầu tăng cao, tác động từ tình hình xung đột Ukraine, chính sách của các quốc gia sau dịch Covid-19. Thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản tiềm ẩn rủi ro.
Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh; mưa lũ diễn biến phức tạp gây hậu quả nặng nề; nguy cơ xuất hiện một số dịch bệnh mới như đậu mùa khỉ, viêm gan cấp tính ở trẻ em...
Với các khó khăn, thách thức nêu trên, Thủ tướng yêu cầu bám sát tình hình, thẳng thắn nhận diện kịp thời, có giải pháp phù hợp, kịp thời, hiệu quả. Thủ tướng giao Bộ Nội vụ xây dựng văn bản để thể chế hóa chủ trương của Đảng về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.
Về những nhiệm vụ trọng tâm trong tháng 6 và thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu làm tốt công tác phòng, chống dịch Covid-19. Tập trung đẩy mạnh thực hiện chiến dịch tiêm chủng vaccine bảo đảm an toàn, khoa học, kịp thời, hiệu quả, nhất là tiêm vaccine cho trẻ em. Bộ Y tế hướng dẫn về 5K phù hợp tình hình mới.
Căn cứ tình hình thực tế để sử dụng hiệu quả khoản kinh phí 46.000 tỷ đồng được bố trí dành cho nhập khẩu vaccine, thuốc điều trị, trang thiết bị y tế. Thủ tướng lưu ý tình hình dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, những dịch bệnh khác có thể nổi lên, do đó, phải tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, bảo đảm vaccine, thuốc chữa bệnh, trang thiết bị, vật tư y tế cho phòng chống dịch bệnh.
Các bộ, cơ quan, địa phương triển khai nhanh, có hiệu quả các quyết định của Thủ tướng Chính phủ để giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Trung ương giai đoạn 2021-2025 cho các địa phương và dự toán ngân sách Trung ương năm 2022 để thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia.
Thủ tướng yêu cầu thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; chuẩn bị tốt các hoạt động tri ân ngày thương binh liệt sĩ (27/7). Tập trung triển khai các chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động; đẩy nhanh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân; giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động gặp khó khăn do dịch bệnh.
Tổ chức tốt kỳ thi trung học phổ thông quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2022, bảo đảm an toàn, nghiêm túc, chất lượng. Tổ chức hội nghị sơ kết tự chủ đại học và việc thực hiện các quy định pháp luật về tự chủ đại học để làm căn cứ sửa đổi, bổ sung quy định liên quan. Cân nhắc, thận trọng xây dựng lộ trình điều chỉnh học phí phù hợp, căn cứ thực tiễn, phù hợp với lợi ích của Nhà nước, tổ chức và học sinh, sinh viên.
Thủ tướng giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, rà soát, nghiên cứu giải pháp phù hợp với các vấn đề liên quan sách giáo khoa theo hướng tạo thuận lợi, tiết kiệm, giảm chi phí, bảo đảm lợi ích chính đáng của học sinh, phụ huynh.
Về môn học lịch sử, ngay tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo và vừa qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã có các cuộc họp với các cơ quan liên quan. Thủ tướng yêu cầu tiếp tục nghiêm túc, cầu thị lắng nghe ý kiến của người dân, chuyên gia, có giải pháp kịp thời, vừa bảo đảm chủ trương, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, vừa phù hợp thực tiễn, đáp ứng mong muốn của người dân và các chuyên gia cũng như yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập môn lịch sử. Thủ tướng gợi ý, có thể quy định theo hướng lịch sử vừa có phần bắt buộc, vừa có phần tự chọn.
Người đứng đầu Chính phủ nhắc lại, truyền thống văn hóa lịch sử cũng là một nguồn lực, đầu tư cho giáo dục văn hóa - lịch sử là đầu tư cho sự phát triển. Thủ tướng lưu ý, với các chính sách tác động tới toàn dân, tới lợi ích chính đáng của người dân thì phải rất thận trọng, nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng.
ST
Có một địa danh lịch sử đã trở thành một địa chỉ văn hóa, một di tích truyền thống cách mạng, một điểm hẹn của lòng tự hào muôn người con đất Việt gửi gắm bao niềm tin yêu, đó là bến Nhà Rồng - nơi Bác Hồ kính yêu ra đi tìm đường cứu nước cách đây 111 năm. Đó cũng chính là “địa chỉ đỏ” đón chào hàng chục ngàn du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu về Bác và lịch sử dân tộc Việt Nam.
Tôi đã đến đây và bồi hồi nghe tiếng sóng vỗ vào vách đá, như dào dạt cuộn về bao kí ức với hình ảnh người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành vừa tròn 21 tuổi bắt đầu cuộc hành trình ra đi tìm đường cứu nước. Bất chợt ngân vọng trong tôi những lời ca da diết sâu nặng tình nghĩa mang âm hưởng ca dao Nam Bộ trong bài hát “Bến Nhà Rồng” của nhạc sĩ Trần Hoàn: “Bến Nhà Rồng xa xưa vẫn còn đây/ Với chiếc cầu tàu nhưng nay Bác ở đâu/ Bùi ngùi xót xa về những ngày qua/ Lúc cập thuyền ai đã tiễn Người đi/ Hay chỉ một mình Bác khăn gói biệt ly...”.
Đứng trước bến cảng Nhà Rồng, tôi xúc động khi nghĩ về Bác: Người đã chọn nghề thủy thủ trên tàu viễn dương lênh đênh khắp bốn phương trời mới có điều kiện đến nhiều nước. Tôi càng khâm phục và ngạc nhiên khi biết Bác ra đi tìm đường cứu nước bằng hai bàn tay trắng và một trái tim đầy nhiệt huyết lý tưởng cách mạng. Đó là hành trình khi Bác từ rất sớm đã nhận ra từ đầu thế kỷ XX dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, chứng kiến nền độc lập bị xâm phạm, cảnh nhân dân ta “một cổ hai tròng” chịu nhiều lầm than, cực khổ, bị chà đạp, áp bức bóc lột tàn bạo.
Đã có rất nhiều phong trào yêu nước của các văn nhân, sĩ phu nổ ra như phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Bội Châu... Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rất ngưỡng mộ và kính trọng lòng yêu nước dũng cảm, kiên cường của các bậc tiền bối. Nhưng với tấm lòng yêu nước sâu sắc, sự trăn trở vì vận mệnh dân tộc, Bác đã nhận ra con đường do những người đi trước sẽ không giải phóng được dân tộc mà cần thiết phải có con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
Người đã tìm đến châu Âu nơi đang có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị để tìm hiểu những truyền thống tự do, bình đẳng, bác ái và nền văn minh của chính quốc, tìm hiểu thấu đáo tận gốc nơi đã sinh ra mọi chế độ thực dân thối nát và cực kỳ tàn bạo mà Người đã chứng kiến trên đất nước mình.
Hành trình Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước có cội nguồn bắt đầu từ những tháng ngày còn nhỏ, Bác đã theo cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc gặp gỡ, trao đổi với các nhà chí sĩ đã gieo vào lòng cậu bé Nguyễn Sinh Cung những hạt giống ươm mầm lòng yêu nước. Cũng như trước đó, trên cánh võng đay bên khung cửi dệt vải, thân mẫu của Bác là bà Hoàng Thị Loan - một nghệ nhân hát phường vải xuất sắc, bằng những làn điệu dân ca từ mạch nguồn dân tộc đã ru Người lớn lên không chỉ là nhịp võng làng Sen, mà bằng cả đôi cánh của nhịp điệu dân ca bồi dưỡng tâm hồn thơ trẻ của Người lớn lên trong tình yêu quê hương, đất nước.
Và cũng chính tại ngôi trường Dục Thanh ở Phan Thiết, nơi Người dừng chân dạy học trước khi vào Sài Gòn lên tàu xuất ngoại, người thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã chú tâm giảng dạy cho học sinh và cũng hun đúc cho mình những điều nhân nghĩa của lịch sử đất nước. Ngôi trường này do các chí sĩ yêu nước sáng lập nên như: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh... Bác đã trang bị cho mình thêm những kiến thức mới và rèn luyện ý chí từ học hỏi qua những trang sách truyền thống yêu nước trước khi vào bến Nhà Rồng đi “tìm hình của nước” như tứ thơ nổi tiếng của nhà thơ Chế Lan Viên.
Tôi cứ hình dung Bác - người thủy thủ ngoan cường trên con tàu hàng vượt mọi phong ba, sóng gió biển khơi cũng giống như Người sau này là một thuyền trưởng tài ba, khéo léo lái con thuyền cách mạng qua bao chặng đường đấu tranh gian truân với một tinh thần lạc quan, quả cảm để cập bến thành công. Bác đã dám chấp nhận thử thách, bão táp và chính trong bão táp càng tôi luyện phẩm chất, lý tưởng, đạo đức cách mạng kiên định của Người mà cho đến hôm nay, lớp lớp cháu con học tập và làm theo Người.
30 năm sau ngày từ bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, mùa xuân 1941, Người đã về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Bác đã trở về Tổ quốc đến bên cột mốc 108 biên giới Cao Bằng, nơi có non sông nước biếc núi Các Mác, suối Lê Nin. Tổ quốc đón bước chân đầu tiên của Người với “Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt/ Biên giới còn xa nhưng Bác thấy đã đến rồi/ Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai” (Chế Lan Viên).
“Màu hồng của đất nước phôi thai” đã làm nên Cách mạng tháng 8 năm 1945 thần kỳ, chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử chấn động địa cầu, đại thắng mùa xuân 1975, bản hùng ca bất diệt thống nhất đất nước với hình ảnh “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Và mở ra con đường xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong muốn của Bác. Thưa Bác, từ bến Nhà Rồng, Bác ra đi cũng chính là để trở về Thăng Long Hà Nội - Thủ đô hòa bình, biểu tượng của rồng bay trong lòng người dân Việt Nam và của nhân loại thế giới.../.
ST
Ôi ba tiếng Hồ Chí Minh!
Đã thành vũ khí, đã thành niềm tin
Đã thành lời hứa thiêng liêng
Lửa thiêu chẳng cháy, đá nghiền chẳng tan
Cổ gông cổ vẫn thét vang
Tay còng tay vẫy vẫn ngàn cánh tay
Bác là non nước, trời mây
Việt Nam có Bác mỗi ngày đẹp hơn
Còn cao hơn đỉnh Thái Sơn
Nghìn năm chung đúc tâm hồn ông cha
Điệu lục bát, khúc dân ca
Việt Nam là Bác, Bác là Việt Nam.
ST
Khơi xa sóng nước điệp trùng
Bình yên xanh thẳm, bão bùng trào sôi
Cùng nhau canh giữ biển trời
Các anh đứng đó sáng ngời niềm tin.
Về đây từ khắp mọi miền
Trái tim chung nhịp, nối liền vòng tay
Cất lên khúc hát mê say
Tiếng đàn, tiếng sóng đêm ngày ngân vang.
Dù cho nắng đốt chói chang
Da ngời ánh thép tâm càng vững hơn
Dù cho bão tố dập dồn
Hiên ngang anh đứng không sờn lòng trai.
Canh khuya hay những sớm mai
Anh chắc tay súng, biển trời bình yên
Các anh - cột mốc chủ quyền
Cùng nhau cắm chốt, tạm quên riêng mình.
Trong tim ghi khắc bóng hình
Quê nhà em viết tâm tình gửi trao
Hướng về đảo nhỏ xuyến xao
Lời thơ mộc mạc gọi bao nỗi niềm...
ST
Sáng 4-6, đoàn công tác Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài TP Hồ Chí Minh phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam và Ban chấp hành Hội Người Việt Nam tại thủ đô Viên Chăn tổ chức buổi thăm, khám bệnh, phát thuốc, tặng quà kiều bào và người dân Lào có hoàn cảnh khó khăn.
Đây là hoạt động thường niên, mang ý nghĩa nhân đạo, tinh thần tương thân tương ái và cũng nằm trong chuỗi hoạt động hưởng ứng Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 2022; chào mừng kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào.
Thông qua chương trình, những kiều bào và người dân Lào có hoàn cảnh khó khăn tại thủ đô Viên Chăn có cơ hội được kiểm tra sức khỏe và được tư vấn một số bệnh phổ biến. Đoàn cũng đã phát thuốc, tặng quà 500 người Việt Nam và người dân Lào có hoàn cảnh khó khăn. Mỗi phần quà tương ứng 1 triệu đồng./.
ST