Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã quyết định một nhiệm vụ quan trọng: Tiến hành cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Tại lễ kỷ niệm lần thứ 109 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã chính thức phát động cuộc vận động đó. Vào dịp 19-5-2000, Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã báo cáo với Người và đồng chí, đồng bào cả nước những kết quả bước đầu sau một năm tiến hành cuộc vận động và bày tỏ quyết tâm “tạo ra một bước chuyển mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”.
Tháng 6 này mỗi người dân Việt Nam cùng hướng về Hồ Chí Minh và có những suy nghĩ, việc làm thiết thực để bày tỏ lòng biết ơn Người. Với ý nghĩ đó, bài viết này là lòng thành kính, sự biết ơn sâu sắc của tôi đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
1. Từ giữa những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ muốn làm cách mạng trước hết phải có đảng cách mạng.Theo Hồ Chí Minh, trong đấu tranh giành chính quyền cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, để cách mạng thắng lợi cần đến rất nhiều nhân tố, nhưng nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất là phải có đảng. Quan điểm cách mạng trước hết phải có đảng được Hồ Chí Minh khẳng định mạnh mẽ trong Di chúc. Trong mấy điều, mấy việc dặn lại trước lúc đi xa, điều đầu tiên, việc đầu tiên là: "Trước hết nói về Đảng".
Hồ Chí Minh chỉ rõ để Đảng hoàn thành sứ mệnh "trước hết" trong suốt quá trình cách mạng, cần phải đặc biệt quan tâm và coi trọng công tác chỉnh đốn Đảng. Do đó, viết về chỉnh đốn Đảng, Hồ ChíMinh thường sử dụng các cụm từ "trước tiên", "việc chính", "việc cần kíp", "việc đặc biệt", "việc phải làm ngay".
Tháng 1-1949, phát biểu tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng, chính quyền, đoàn thể Bắc-Trung- Nam, Hồ Chí Minh nói, hiện nay chúng ta cần tập trung vào mục tiêu kháng chiến thắng lợi, xây dựng dân chủ mới, tiến tới chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược ấy, Người yêu cầu phải chỉnh đốn chính quyền, đoàn thể từ dưới lên, từ trên xuống, trong đó "trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng". Báo cáo tại Hội nghị Trung ương 3 (khoá II) 4- 1952, ở phần "Nhiệm vụ và công tác trước mắt”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư tưởng phải thống nhất, hành động phải thống nhất. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Cho nên chỉnh Đảng là một việc chính, phải đặc biệt chú trọng". Đáng chú ý là trong báo cáo này, Hồ Chí Minh dành riêng một mục nói về "chỉnh Đảng". Theo Hồ Chí Minh, để cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên có tư tưởng, lập trường vững vàng thì "chỉnh Đảng là việc chính mà chúng ta phải làm ngay". Thật có ý nghĩa khi chúng ta biết rằng tháng 5-1968 khi xem lại những điều đã viết trong Di chúc từ tháng 5-1965, Hồ Chí Minh nhận thấy "cần phải viết thêm mấy điểm". Điểm đầu tiên, điểm quan trọng nhất trong mấy điểm viếtthêm ấy là "trước tiên phải chỉnh đốn lại Đảng".
Cần nói thêm là cụm từ "chỉnh đốn Đảng" hoặc "chỉnh Đảng" được Hồ Chí Minh sử dụng từ rất sớm; sử dụng nhiều lần vào những thời điểm khác nhau. Như vậy đối với Hồ Chí Minh chỉnh đốn Đảng là một việc làm cần thiết, cấp bách.
2. Hồ Chí Minh bàn về chỉnh đốn Đảng không phải là khi trong Đảng có gì đột biến, hay "có vấn đề" cần đến một giải pháp tình thế. Với Hồ Chí Minh, chỉnh đốn Đảng là một nhiệm vụ tất yếu để Đảng hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong trước giai cấp và dân tộc. Chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách khi cách mạng gặp khó khăn để cán bộ, đảng viên củng cố quan điểm, lập trường, bình tĩnh, sáng suốt, không bị quan, dao động. Ngay cả khi cách mạng trên đà thắng lợi cũng cần đến chỉnh đốn Đảng để xây dựng những quan điểm tư tưởng cách mạng khoa học, ngăn ngừachủ quan, tự mãn, lạc quan tếu và bệnh kiêu ngạo cộng sản theo cách nói của Lênin.
Đặc biệt việc chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh đặt ra và Người dành nhiều công sức, trí tuệ để lãnh đạo, chỉ đạo mỗi khi Đảng ta, dân tộc ta đứng trước tình hình và nhiệm vụ mới. Phần chỉnh đốn Đảng trong Di chúc được Hồ Chí Minh đặt ra chính là Người đòi hỏi cán bộ, đảng viên nâng cao hơn nữa phẩm chất và năng lực ngang tầm với thời kỳ mới: thời kỳ Tổ quốc sạch bóng quân thù, cả nước bước vào hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển kinh tế. Trong Di chúc viết tháng 5-1968, Hồ Chí Minh chỉ rõ ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của dân ta hoàn toàn thắng lợi, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đứng trước những công việc "rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng rất vẻ vang". Đó là hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại các thành phố, làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn, phát triển y tế, giáo dục, củng cố quốc phòng. Người gọi đây là "cuộc chiến đấu khổng lồ". Để hoàn thành nhiệm vụ đó, "việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng".
Trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chỉ tính từ tháng 6-1992 đến tháng 1-1999, Đảng ta đã có hai nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương tập trung bàn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tháng 6-1992, Hội nghị Trung ương 3 (Khoá VII) ra Nghị quyết "Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng". Nghị quyết Trung ương 3 viết: để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phù hợp với nhiệm vụ cách mạng nước ta trong tình hình mới đòi hỏi Đảng "phải khẩn trương tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đối với vận mệnh chế độ ta và Đảng ta".
Việc đổi mới và chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 3 đã góp phần nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Năng lực, sức chiến đấu của Đảng được nâng cao lại là nguyên nhân quan trọng nhất để Đại hội Đảng lần thứ VIII đi đến một nhận định rất quan trọng: "Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chúng ta chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".
Chính là để hoàn thành trọng trách trong thời kỳ mới mà Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã quyết định tiến hành cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam phát động cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng cách đây một năm là để thực hiện tốt hơn lời căn dặn của Hồ Chí Minh, phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng lần này, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu chỉ rõ còn là biện pháp khắc phục có hiệu quả tình trạng “hiện nay, Đảng ta có điểm chưa thật mạnh, có mặt chưa thật vững, trong đó đáng chú ý là tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên”. Trong khi cách mạng đòi hỏi sức phấn đấu bền bỉ để thực hiện mục tiêu lý tưởng thì một bộ phận cán bộ đảng viên giảm sút ý chí, phai nhạt lý tưởng, dao động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí có cả một số cán bộ, đảng viên cao cấp làm trái Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Như vậy chính thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thực trạng trong Đảng ta đã đòi hỏi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành nhiệm vụ vừa cơ bản, thường xuyên lại vừa cấp bách. Chủ trương đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh.
3. Theo Hồ Chí Minh sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy mục tiêu hàng đầu của chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh nêu lên từ năm 1952 là "nâng cao trình độ tư tưởng và chính trị của cán bộ và đảng viên, tẩy bỏ tư tưởng phi vô sản và tiểu tư sản, thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, đoàn kết toàn Đảng, để Đảng làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang của mình". Đến Di chúc, mục tiêu của chỉnh đốn Đảng được Người khái quát ở tầm cao mới và chiều sâu mới, “chỉnh đốn lại Đảng làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”. Theo Hồ Chí Minh, chỉnh đốn phải gắn Đảng với việc học tập, tu dưỡng, nâng cao nhận thức, lý luận, tư tưởng, củng cố, tăng cường các nguyên tắc của Đảng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2- 1951), Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức - là những việc cần kíp của Đảng".
Hồ Chí Minh cho rằng đối với một Đảng cầm quyền, việc chỉnh đốn liên quan chặt chẽ đến sự ổn định và phát triển không chỉ ở trong Đảng mà là trên phạm vi cả nước, do đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi: "Chỉnh Đảng phải làm từng bước, phải có trọng tâm". Nhất quán với quan điểm nêu trên, trong Di chúc trước khi viết về tính cấp bách phải chỉnh đốn lại Đảng, Hồ Chí Minh chỉ rõ "để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm", "phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo".
Hồ Chí Minh là một nhà chính trị thiên tài đồng thời cũng là nhà hoạt động thực tiễn sâu sát, tỉ mỉ. Trong chỉnh đốn Đảng, Hồ Chí Minh không chỉ nêu lên phương châm từng bước, có trọng tâm, kế hoạch phải rõ ràng, chu đáo mà phương châm đó còn được Người cụ thể hoá: “Chỉnh huấn cán bộ trước rồi mới chỉnh đốn chi bộ.Chỉnh đốn tư tưởng trước rồi mới chỉnh đốn tổ chức”.
Từ quan điểm muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém, cán bộ là gốc của mọi công việc, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng chỉnh huấn cán bộ cao cấp là mấu chốt việc chỉnh đốn toàn Đảng, do đó Trung ương phải trực tiếp lãnh đạo ?. Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh đã được Đảng ta quán triệt, vận dụng trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng lần này trước hết tiến hành trong cấp uỷ từ trên xuống dưới. Nhiều vấn đề của các cấp ủy, tổ chức Đảng trực thuộc Trung ương đã “được đặt lên bàn nghị sự”. Thường vụ Bộ chính trị chỉ đạo chặt chẽ quá trình này. Ngày 3-3-2000, Thường vụ Bộ chính trị đã có báo cáo đánh giá kết quả bước đầu việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các cấp uỷ, tổ chức Đảng trực thuộc Trung ương. Báo cáo chỉ rõ qua chuẩn bị, tiến hành kiểm điểm và sau kiểm điểm một số đơn vị đã có sự chuyển biến bước đầu thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, các quan điểm tư tưởng chính trị của tập thể và cá nhân Thường vụ cấp uỷ đã được làm rõ và khẳng định, một số vấn đề bức xúc, nổi cộm đã được xử lý.
Thứ hai, những tiêu cực trong đạo đức, lối sống của cán bộ đã được làm rõ để đấu tranh, phê phán, ngăn chặn, tình trạng ăn nhậu chơi bời, quan liêu, tham nhũng, lãng phí được răn đe, ngăn chặn bước đâu.
Thứ ba, công tác tổ chức được củng cố, các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ được tôn trọng và đề cao, đoàn kết nội bộ nhiều nơi được củng cố thêm, lề lối làm việc dần đi vào nền nếp ...
Những kết quả nêu trên đã tạo được niềm tin ban đầu của đảng viên, cán bộ và nhân dân đối với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với Đảng, với Ban Chấp hành Trung ương. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đánh giá: "Ta đã đạt được những kết quả bước đầu, nhưng kết quả đó chưa cao. Nếu chúng ta làm không tốt, không kiền quyết, không đưa vào nền nếp thường xuyên thì cuộc vận động không đạt được như mong muốn và chúng ta để mất lòng tin đối với nhân dân. Chúng ta không làm tốt cuộc vận động, không làm trong sạch Đảng thì chúng ta đi vào Đại hội toàn quốc lần thứ IX cũng khó khăn".
Có thể nói, tư tưởng, quan điểm về chỉnh đốn Đảng được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ ràng cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Những dòng cuối cùng Người viết về chỉnh đốn Đảng cách đây tròn ba mươi mốt năm. Quãng thời gian đó đủ cho mỗi chúng ta suy nghĩ, chiêm nghiệm về tầm nhìn xa trông rộng, về kế sách cơ bản, lâu dài trong quá trình dựng nước và giữ nước của Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất, một vĩ nhân của thế kỷ XX. Thực tế đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về chỉnh đốn Đảng, vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay./.
ST
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét