Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

Dân chủ là động lực thúc đẩy sự phát triển của hệ thống chính trị

 


  Việc mở rộng dân chủ XHCN nhằm phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong việc xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HTCT.

 Dân chủ là điều kiện để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực trong HTCT, chống quan liêu cửa quyền, độc đoán, tham nhũng trong HTCT. (Khi phát huy được dân chủ của nhân dân; đội ngũ cán bộ sẽ được nhân dân lựa chọn, tin tưởng, sẽ có đội ngũ cán bộ, công chức tốt. Ví dụ hiện nay chúng ta đang thử nghiệm mô hình: Dân tin, Đảng cử ở một số địa phương, đã đạt được kết quả rất tốt, đã tìm ra được nhiều cán bộ tốt, gương mẫu, tốt về phẩm chất và năng lực. Dân tin, Đảng cử là như thế nào. Đó là nhân dân phát hiện cán bộ. Căn cứ vào sự phát hiện cán bộ của Đảng, cùng với sự tín nhiệm của nhân dân, lúc đó cấp ủy mới đưa vào danh sách nguồn cán bộ)

Như vậy, muốn xây dựng, phát huy dân chủ, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính trị

Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu: Nỗ lực vì mục tiêu chung của cộng đồng quốc tế.

 - Hiện nay, biến đổi khí hậu được xem là thách thức nghiêm trọng đối với nhân loại trong thế kỷ XXI với những tác động tiêu cực, đe dọa sự tồn vong của các hệ sinh thái và cuộc sống của con người. Đây là vấn đề toàn cầu đòi hỏi nỗ lực ứng phó của từng quốc gia cũng như sự hợp tác chặt chẽ của cộng đồng quốc tế. Trong những năm qua, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu và đã có nhiều nỗ lực ứng phó tích cực.

Biến đổi khí hậu - thách thức lớn đối với sự tồn vong của nhân loại

Biến đổi khí hậu có tác động lớn đến môi trường sống cũng như sinh kế của con người, do đó trở thành thách thức nghiêm trọng đối với sự tồn vong của nhân loại. Các lĩnh vực, khu vực chính bị tác động của biến đổi khí hậu bao gồm: tài nguyên nước ngọt, hệ sinh thái, sản xuất lương thực và lâm nghiệp, vùng ven biển và vùng đất thấp, công nghiệp và khu cư dân, sức khỏe con người…

Cháy rừng ở California năm 2020_Ảnh: AP

Những thay đổi trong điều kiện khí hậu và lượng khí carbon - dioxide tăng nhanh làm suy giảm nguồn tài nguyên nước ngọt, các khu vực bị ảnh hưởng bởi hạn hán kéo dài. Nhiều hệ sinh thái lớn được dự báo sẽ không thể chống chịu được các biến động khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên quá 3°C. Sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và suy giảm do thiếu nước ngọt và các điều kiện khí hậu thay đổi tác động đến cây trồng. Nhiều khu vực ven biển và vùng đất thấp trên thế giới bị chìm dần khi nước biển dâng và sẽ biến mất trong tương lai không xa. Nhiều ngành công nghiệp, kết cấu hạ tầng, các khu dân cư sẽ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, nhất là ở vùng ven biển, ven sông, những vùng dễ bị tác động bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan, các khu vực có nền kinh tế phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, chẳng hạn như các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản, ngành sử dụng nhiều nước ngọt, ngành du lịch... Sức khỏe con người cũng sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do các hiện tượng nắng nóng, lũ lụt và các dịch bệnh phát sinh. Tất cả các yếu tố trên sẽ dẫn đến thiệt hại trực tiếp về kinh tế, như mùa màng thất bát, giá cả thực phẩm và nhiên liệu tăng, lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể. Chiến tranh, xung đột cũng có thể sẽ bắt nguồn từ các khó khăn này.

Đối với Việt Nam, theo Báo cáo “Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Tác động và thích ứng”, với kịch bản nhiệt độ tăng lên và nước biển dâng thêm 1m, Việt Nam sẽ có thể bị mất 5% diện tích đất liền tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Cũng theo nghiên cứu này, khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên 1,5ºC và 2ºC thì thiệt hại trực tiếp đối với GDP của Việt Nam sẽ tương ứng là 4,5% và 6,7%. Mực nước biển dâng cũng dẫn tới sự sụt giảm diện tích trồng lúa gạo, như mực nước biển dâng là 60cm có thể dẫn đến sự sụt giảm diện tích trồng lúa lên tới hơn 50% tại một số địa phương của Việt Nam, đe dọa an ninh lương thực của đất nước. Biến đổi khí hậu thực sự là một thách thức to lớn, nghiêm trọng đối với cộng đồng quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng.

Nỗ lực của cộng đồng quốc tế

Những thách thức trên chính là lý do trong những thập niên gần đây, cộng đồng quốc tế ngày càng nhận thức rõ hơn và đã có nhiều nỗ lực để ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngay từ thập niên 70 của thế kỷ XX, các nghiên cứu của Bộ Năng lượng Mỹ đã đưa ra những cảnh báo ban đầu về sự nóng lên toàn cầu. Năm 1979, Hội nghị khí hậu thế giới lần đầu tiên đã xem biến đổi khí hậu là vấn đề nghiêm trọng và kêu gọi các chính phủ nhận rõ và ngăn chặn biến đổi khí hậu do con người gây ra. Các sự kiện trong những năm tiếp theo, như: Năm 1987 được ghi nhận là năm nóng nhất; năm 1991, núi lửa phun trào ở Philippines… khiến cộng đồng quốc tế ngày càng chú ý hơn đến vấn đề biến đổi khí hậu. Năm 1992, tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio de Janeiro, 154 quốc gia đã ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, cam kết ngăn ngừa sự nóng lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính và đặt ra mục tiêu trước năm 2000 phải giảm khí thải của các nước công nghiệp phát triển trở về mức năm 1990. Tiếp đó, kể từ năm 1995, Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP) lần lượt được tổ chức hằng năm, đến nay đã diễn ra 26 hội nghị, trong đó đáng chú ý có những hội nghị quan trọng như COP3 (Kyoto, Nhật Bản năm 1997) đã thông qua Nghị định thư Kyoto, đưa ra các cam kết cao hơn về giảm khí thải nhà kính; COP21 (Paris, Pháp năm 2015) thông qua Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu thay thế Nghị định thư Kyoto, tiếp tục đưa ra các cam kết và hành động cao hơn nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.

Sau một năm bị trì hoãn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, tại Hội nghị mới nhất COP26 (tháng 11-2021 tại Glasgow, Anh), 197 quốc gia tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đã thông qua Hiệp ước khí hậu Glasgow, khẳng định quyết tâm theo đuổi các nỗ lực để đạt mục tiêu kiềm chế nhiệt độ toàn cầu tăng ở mức 1,5 độ C; đồng thời, lần đầu tiên kêu gọi thế giới giảm dần điện, than, không sử dụng công nghệ thu giữ carbon và trợ cấp nhiên liệu hóa thạch không hiệu quả. Tại COP26, thế giới cũng chứng kiến nhiều cam kết mạnh mẽ: 137 quốc gia nhất trí hành động để ngăn chặn việc phá rừng cũng như xói mòn đất vào năm 2030; gần 90 quốc gia cam kết cắt giảm 30% lượng phát thải khí methane gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030 so với mức năm 2020; hơn 20 quốc gia cam kết đến năm 2035 toàn bộ các ô tô và xe tải được sử dụng sẽ là xe không khí thải; hơn 40 quốc gia cam kết dần loại bỏ điện than; một loạt quốc gia sẽ đặt ra thời hạn chấm dứt sử dụng dầu mỏ và khí đốt, đồng thời ngừng cấp giấy phép thăm dò mới; Mỹ và Trung Quốc - hai quốc gia phát thải lớn nhất thế giới - cũng ra tuyên bố chung cam kết sẽ xây dựng các chiến lược dài hạn nhằm đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0. COP26 cũng chứng kiến cam kết của 450 tổ chức tài chính, quản lý tổng số tài sản trị giá 130 nghìn tỷ USD, tương đương 40% tài sản tư nhân toàn cầu trong việc sử dụng vốn đầu tư hỗ trợ công nghệ sạch như năng lượng tái tạo và ngừng tài trợ cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) bên lề Hội nghị COP26 tại Scotland, Vương quốc Anh_Ảnh: TTXVN

Kết quả của Hội nghị COP26 là tích cực, song vẫn còn nhiều khó khăn và nhiều việc phải làm. Trước hết, việc đạt được Hiệp ước khí hậu Glasgow là kết quả của một sự thỏa hiệp khó khăn giữa các nước khi hội nghị phải kéo dài thêm một ngày mới có thể đạt được thỏa thuận. Hơn nữa, mặc dù nhiều quốc gia đã nhất trí với các cam kết toàn cầu nhằm tránh những tác động của biến đổi khí hậu, song trên thực tế, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vẫn tiếp tục tăng. Việc thực hiện các cam kết hiện cũng hoàn toàn phụ thuộc vào hành động thực tế của các nước, song chưa có một cơ chế nào để giám sát, kiểm tra việc này. Cuối cùng, biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, một khi các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn còn chưa đạt được nhận thức chung trong vấn đề này thì cộng đồng quốc tế sẽ khó có thể đi tới hành động chung. Mới đây nhất, một dự thảo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề biến đổi khí hậu đã bị phủ quyết là minh chứng rõ nhất cho thấy sự khác biệt về quan điểm của các nước trong vấn đề biến đổi khí hậu.  

Sự tham gia tích cực, cam kết mạnh mẽ và trách nhiệm cao của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Nhận thức được mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã sớm tham gia các cơ chế, thỏa thuận liên quan, như Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto, Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, đã ban hành nhiều nghị quyết, chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch… liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3-6-2013, Hội nghị Trung ương khóa XI, “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” đã nêu một số quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu, đó là:

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển khoa học - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội.

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất, liên ngành, liên vùng. Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản. Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm, trọng điểm; có bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh nghiệm quốc tế.

Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại trong thế kỷ XXI. Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững. Phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm.

Tài nguyên là tài sản quốc gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước. Tài nguyên phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ; khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh tài nguyên. Chú trọng phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế.

Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.

Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển bền vững, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên đề cập tới nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu trong Hiến pháp. Quốc hội các khóa gần đây cũng đã thông qua nhiều luật liên quan, như Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013… Kể từ năm 2007 đến năm 2017, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 109 văn bản, trong đó có 2 nghị quyết, 23 nghị định, 82 quyết định và 2 chỉ thị về lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó có Quyết định 2053/QĐ-TTg, ngày 28-10-2016, “Về việc ban hành kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về khí hậu”; Nghị quyết số 120/NQ-CP, ngày 17-11-2017, “Về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu”… Các bộ, ban, ngành, địa phương cũng đã cụ thể hóa, triển khai nhiều chương trình hành động nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách và thực hiện công tác ứng phó với biến đổi khí hậu theo chức năng, nhiệm vụ, địa bàn quản lý. Như vậy, nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, của mỗi cơ quan, ban, ngành, địa phương về ứng phó với biến đổi khí hậu đang ngày càng được nâng cao.

Tại Hội nghị COP26, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu đã tham gia hội nghị, đạt kết quả thành công tốt đẹp. Việt Nam đưa ra cam kết xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính để đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Sự tham gia tích cực của Việt Nam tại Hội nghị COP26 và cam kết mạnh mẽ ứng phó với biến đổi khí hậu đã nhận được sự hoan nghênh của cộng đồng quốc tế, thể hiện tầm nhìn của Chính phủ Việt Nam về định hướng phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn mới gắn với các cam kết ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm cao của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, cùng đóng góp vào các mục tiêu chung của nhân loại, phù hợp xu thế phát triển chung của thế giới.

Tuy nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là đối với các nước đang phát triển, có nguồn lực hạn chế là vấn đề khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nỗ lực của quốc gia cũng như sự trợ giúp hiệu quả của cộng đồng quốc tế. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay là việc huy động và duy trì sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, với quyết tâm kiên định thực hiện lộ trình, các cam kết đã đề ra. Bên cạnh đó, là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng gặp những khó khăn nhất định về tài chính khi nguồn lực trong nước còn phải dành để đầu tư cho các lĩnh vực cấp thiết khác; khó khăn trong việc tìm kiếm, tiếp cận các nguồn lực tài chính bên ngoài. Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của Việt Nam còn nhiều hạn chế; nguồn nhân lực trong nước phần lớn còn gặp khó khăn trong việc nghiên cứu cũng như vận hành các công nghệ, quy trình sản xuất tiên tiến phục vụ ứng phó với biến đổi khí hậu. Do đó, trong thời gian tới, để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, thực hiện đúng các cam kết đã đưa ra, cần tập trung vào làm tốt một số nhóm giải pháp:  

Một làvề công tác tuyên truyền, cần tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vấn đề biến đổi khí hậu, hình thành quyết tâm và hành động mạnh mẽ trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Mỗi cấp, mỗi ngành, địa phương cần có sự quan tâm chỉ đạo, tích cực lồng ghép vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình, kế hoạch cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ, địa bàn quản lý để thực hiện tốt, vừa góp phần phát triển kinh tế - xã hội, vừa hướng tới các mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu. Chẳng hạn, cần tăng cường hơn nữa các nội dung về biến đổi khí hậu trong chương trình học ở các cấp, thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu ở các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, qua đó tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hành động, nhất là của giới trẻ đối với vấn đề này.

Đoàn viên, thanh niên tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu_Nguồn: baochinhphu.vn

Hai làvề công tác hoạch định và thực thi chính sách, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ cần rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến ứng phó biến đổi khí hậu, ưu tiên sớm ban hành nghị định về giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ozone; ban hành danh mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê phát thải khí nhà kính; xây dựng và triển khai đề án phát triển thị trường carbon. Việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu cần theo hướng đồng bộ với chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, tái cấu trúc nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Ngoài ra, ứng phó với biến đổi khí hậu vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, phức tạp và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, địa phương, vì thế các cấp, các ngành, địa phương, nhất là các ngành như năng lượng, giao thông, công nghiệp, nông lâm nghiệp, thủy sản, du lịch, tài nguyên và môi trường, các địa phương có địa hình thấp, vùng đồng bằng ven biển… cần tích cực tham vấn, trao đổi, phối hợp trong hoạch định và thực thi chính sách, từ đó đề ra chính sách đúng đắn và thực thi chính sách hiệu quả nhất. 

Ba làvề công tác hợp tác quốc tế, Việt Nam cần tích cực, chủ động tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường hợp tác, học tập kinh nghiệm của các nước trong các vấn đề cụ thể, như ứng phó với nước biển dâng; vấn đề quy hoạch, tái cấu trúc nền kinh tế và các ngành sản xuất hướng tới giảm phát khí thải; vấn đề phát triển thị trường mua bán khí thải carbon mà một số nước đã thực hiện. Tăng cường hợp tác chia sẻ, sử dụng các dữ liệu quan trắc môi trường, tài nguyên nước sông Hồng, sông Mekong với các quốc gia liên quan. Đặc biệt, cần tích cực tham gia các diễn đàn, hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu, tăng cường hợp tác trong các khuôn khổ song phương và đa phương, qua đó tranh thủ các nguồn lực quốc tế để phục vụ công tác ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, thực hiện đúng các cam kết quốc tế không chỉ bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước, mà còn là đóng góp của Việt Nam đối với sự phát triển chung của nhân loại, vì cuộc sống tốt đẹp của chúng ta và các thế hệ mai sau./.

Hệ thống chính trị là phương tiện để xây dựng, hoàn thiện chế độ dân chủxã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

 


HTCT không có mục đích tự thân mà mục đích sâu xa, quan trọng nhất của nó là hướng vào xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ và vai trò làm chủ thực sự của người dân. Mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị đều hướng vào mục tiêu bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Điều đó thực thể hiện cụ thể:

 HTCT xây dựng, ban hành quan điểm, đường lối, pháp luật về dân chủ; HTCT lãnh đạo, tổ chức thực hiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; HTCT là người đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân; Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua 2 hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ đại diện là hình thức Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hệ thống chính trị, tức là thông qua vai trò quản lý xã hội của Nhà nước, thông qua sự lãnh đạo của Đảng và thông qua các tổ chức chính trị - xã hội.

Như vậy, HTCT nước ta chính là công cụ, phương tiện để thực thi dân chủ. Đổi mới HTCT thực chất là nhằm mục đích hoàn thiện nền dân chủ, làm cho quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện đầy đủ trên mọi mặt của đời sống xã hội.

Bản chất hệ thống chính trị nước ta hiện nay

 


Hệ thống chính trị nước ta hiện nay mang bản chất GCCN; các tổ chức trong hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động theo lập trường, quan điểm, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của GCCN. Điều đó quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. (Bản chất giai cấp công nhân: nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; văn hóa truyền thống và tinh hoa văn hóa thế giới; đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước…; Mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều nhằm bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Cụ thể là, Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột. Các tổ chức chính trị - xã hội đều có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên; Hệ thống chính trị ở nước ta là hệ thống chính trị nhất nguyên, không có đối kháng. Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.

 

Hệ thống chính trị chính là cơ chế thực thi thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội.

 


   Là thiết chế (công cụ) cơ bản để nhân dân ta thực hiện quyền dân chủ, quyền làm chủ của mình, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị là một hệ thống các thiết chế và thể chế để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do nhân dân giao phó và uỷ quyền. Do đó, toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Nhân dân ta thực hiện quyền lực của mình chủ yếu thông qua phương thức lãnh đạo của Đảng và chuyên chế xã hội của Nhà nước. Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, dư­ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài Nhà nước, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị thông qua tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và thông qua tư cách cá nhân công dân, cử tri tham gia vào việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước. Hệ thống chính trị nước ta hoạt động theo cơ chế: Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân lao động làm chủ.

Nắm vững khái niệm hệ thống chính trị để nhà nước ta thực hiện tốt hơn về dân chủ XHCN

 


Hệ thống chính trị của một quốc gia là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, có mối quan hệ với nhau, vận hành theo một cơ chế nhất định, bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền trong quan hệ với các giai cấp và các nhóm xã hội khác. Cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội XII” định nghĩa: Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm hệ thống các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện và tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị.Hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức, các thiết chế với tư cách là chủ thể của các quyết định chính trị (Cấu trúc của hệ thống chính trị nói chung bao gồm: nhà nước, các đảng phái chính trị hợp pháp và các tổ chức chính trị - xã hội). Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Đoàn TNCS Hồ Chí Mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam). Trong hệ thống chính trị nước ta Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội, là hạt nhân của hệ thống chính trị. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là trụ cột của hệ thống chính trị - bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp (Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân) và chính quyền các địa phương. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.

Tính ưu việt trong bản chất của chế độ dân chủ ở nước ta

 


Lịch sử nhân loại có dân chủ chủ nô với nhà nước chiếm hữu nô lệ, dân chủ tư sản với nhà nước tư sản và dân chủ XHCN. Chế độ dân chủ ở nước ta hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân. Biểu hiện: Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị. Đại hội XIII: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ. Trong chế độ dân chủ XHCN ở nước ta, quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, quyền hạn và trách nhiệm của mọi công dân gắn bó chặt chẽ với nhau, bảo đảm cho công bằng xã hội và bình đẳng của công dân trước pháp luật. Vị trí, vai trò của nhân dân được pháp luật thừa nhận và đảm bảo trên thực tế. Cụ thể là: Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Điều 3: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Phương thức thực hiện dân chủ của nhà nước ta: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.

Quyền dân chủ của nhân dân được thể hiện trong những vấn đề cốt lõi

 


 Nhân dân có quyền tham chính và hưởng quyền lợi công bằng khi xã hội tạo ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như:Quyền được tham gia xây dựng và thực hiện chế độ chính trị tiến bộ (chế độ xã hội chủ nghĩa.Quyền được sở hữu tư liệu sản xuất của chung và tự do thực hiện quyền phát triển kinh tế theo khuôn khổ của pháp luật.Quyền được sống tự do, mưu cầu hạnh phúc, được xây dựng và hưởng thụ giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp, tiến bộ (được bảo đảm tốt các quyền con người). Bất cứ chế độ dân chủ nào cũng được xác lập dựa trên 3 bộ phận: Thể chế dân chủ: hệ thống văn bản pháp luật quy định việc xây dựng và hoạt động của bộ máy nhà nước theo những nguyên tắc dân chủ;Thiết chế dân chủ: Bộ máy nhà nước và các tổ chức CT - XH được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc mang tính dân chủ để thực thi dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.Các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tạo thành những cơ sở cần thiết để thiết lập và thực thi dân chủ: trình độ dân trí, ý thức dân chủ của công dân, truyền thống dân chủ của quốc gia, dân tộc.

Trong chế độ dân chủ, nhà nước thừa nhận và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. (dân chủ XHCN)

 


Trong chế độ dân chủ, mọi quyền lực chính trị đều thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua nhà nước. Nhà nước ban hành pháp luật trong đó quy định quyền, nghĩa vụ của công dân; tổ chức ra các tổ chức thiết chế để bảo đảm quyền làm chủ của công dân.

V.I.Lênin quan niệm: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”. Do vậy, dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đót thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ, phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trình độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ.

Nắm vững khái niệm chế độ dân chủ để thực hiện dân chủ ở Việt nam tốt hơn

 


Dân chủ là một kiểu (hình thức) nhà nước để duy trì, bảo vệ quyền thống trị của giai cấp cầm quyền trên cơ sở thừa nhận, tôn trọng và thực hiện những quyền tự do, dân chủ nhất định.

Chế độ dân chủ là một hình thức tổ chức xã hội, chế độ chính trị - xã hội, một kiểu nhà nước; là khái niệm để phân biệt giữa chế độ dân chủ và chế độ quân chủ.

V.I.Lênin đã chỉ rõ không có “dân chủ nói chung”, “dân chủ phi giai cấp”. Tính chất giai cấp của phạm trù dân chủ là tiêu chí để phân biệt bản chất khác nhau của các nền dân chủ. Như chúng ta đã biết, đến nay, loài người đã trải qua các chế độ dân chủ như: Dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và dân chủ XHCN. Sự khác nhau của các chế độ dân chủ là ở chỗ: bảo vệ lợi ích của giai cấp nào? Dân là ai? thiểu số hay đa số? quyền làm chủ trên thực tế đến đâu? Theo thực tiễn trải qua, chế độ dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản đều bảo vệ cho giai cấp cầm quyền; còn dân chủ XHCN là chế độ bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Dân chủ được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, với những nghĩa khác nhau

 


Thứ nhất, dân chủ với tư cách là quyền con người, quyền công dân. Theo đó, dân chủ là quyền làm chủ, sự bình đẳng của con người, của công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. V.I.Lênin: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”. Hồ Chí Minh nói: “dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ” tức là nói đến địa vị, vai trò của nhân dân trong xã hội. Dân chủ đối lập với sự độc tài, chuyên chế trong xã hội.

Thứ hai, dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị hay tổ chức xã hội cụ thể, trong đó xác định và thực hiện quyền bình đẳng của mọi thành viên.

Thứ ba, dân chủ với tư cách là một chế độ chính trị - xã hội. Theo đó, chỉ khi xã hội xuất hiện nhà nước thì chế độ dân chủ mới ra đời.

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội.

 - Công tác tư tưởng là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, quyết định sinh mệnh của Đảng và sự thành bại của cách mạng. Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần thống nhất về tư tưởng và hành động cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, luôn là lực lượng trung thành, tin cậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương gặp mặt các đại biểu điển hình tiên tiến toàn quốc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh giai đoạn 2009 - 2019 tại trụ sở Trung ương Đảng_Ảnh: qdnd.vn

Công tác tư tưởng phải đi trước một bước

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của công tác tư tưởng nên thường xuyên yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác này. Người chỉ rõ: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(1). Ngược lại: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”; như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”(2). Vì vậy, “Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”(3).

Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm đó, Đảng ta luôn chú trọng công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng qua các giai đoạn cách mạng, nhằm khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần trong giải quyết các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Thông qua công tác tư tưởng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua từng thời kỳ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, làm cho họ giác ngộ về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, hình thành niềm tin, lý tưởng, lẽ sống, nguyên tắc đạo đức, tình cảm cách mạng. Đồng thời, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách; cổ vũ, động viên tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân, củng cố niềm tin, đề cao trách nhiệm cá nhân, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của mỗi người dân, tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy sự ổn định và phát triển đất nước.

Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận công tác tư tưởng của Đảng, một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, luôn giữ vai trò quan trọng nhằm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Thấm nhuần quan điểm của Đảng, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn xác định công tác tư tưởng phải đi trước một bước, thể hiện vai trò tiên phong, giáo dục, định hướng nhận thức và hành động cho cán bộ, chiến sĩ; được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng. Tư tưởng thông thì dù khó khăn, gian khổ đến đâu bộ đội cũng quyết tâm vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao. 

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội, các quy định của đơn vị và yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng; đấu tranh ngăn chặn tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, hình thành ý thức, văn hóa pháp luật, làm cho cán bộ, chiến sĩ tự giác ghép mình vào khuôn khổ, chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp, rèn luyện tư thế, tác phong quân nhân, không vi phạm các chế độ quy định; coi đó là vấn đề tất yếu trong quá trình phấn đấu, rèn luyện của bộ đội.

Lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng đạt kết quả khá toàn diện

Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam với các đại biểu tại Lễ Tuyên dương gương mặt trẻ tiêu biểu, gương mặt trẻ triển vọng toàn quân năm 2021_Ảnh: TTXVN

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm công tác tư tưởng phải đi trước một bước; ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng và đạt được kết quả khá toàn diện. Hầu hết cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp có nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng; có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác này, với những chủ trương, giải pháp thiết thực, khả thi, hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt, thời điểm dễ nảy sinh tư tưởng. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, chủ động, thường xuyên, thông qua nhiều tổ chức, lực lượng, kênh thông tin để nắm chắc tình hình đơn vị, diễn biến tư tưởng của bộ đội, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh ngay từ cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định trên các lĩnh vực công tác, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở; kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa giáo dục thuyết phục, cảm hóa với biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật nghiêm minh; mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, trao đổi, đáp ứng tâm tư, yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ.

Đội ngũ cán bộ các cấp sâu sát đơn vị, cơ sở, nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những trăn trở, suy tư của bộ đội để có biện pháp giáo dục, động viên, thuyết phục phù hợp; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, không để đột biến về tư tưởng xảy ra. Tích cực đưa bộ đội tham gia hoạt động thực tiễn, phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, gia đình và địa phương cùng làm công tác tư tưởng,... Thực tiễn chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào cấp ủy, chỉ huy quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ thì nơi đó nội bộ đơn vị ổn định, mọi người “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, yêu thương, chia sẻ trách nhiệm, trên dưới một lòng, yên tâm xây dựng Quân đội; tỷ lệ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội giảm, không có các vụ việc nghiêm trọng, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới rất cao và toàn diện. Quân đội vừa đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa tích cực tham gia trên tuyến đầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ nhân dân; đồng thời, tích cực thực hiện điều chỉnh, tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh. Trong khi đó, những yếu tố tiêu cực ngoài xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ tác động, chi phối đến tình hình tư tưởng trong Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chia rẽ tình đoàn kết quân - dân. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, bảo đảm trong bất kỳ tình huống nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn vững vàng về tư tưởng, chuẩn mực về hành động, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ _Ảnh: qdnd.vn

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới”; những quan điểm mới về công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; bám sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng quản lý, cấp ủy các cấp đưa nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng vào nghị quyết nhiệm kỳ, hằng năm, nghị quyết chuyên đề và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết khâu yếu, mặt yếu, không để xảy ra đột biến về tư tưởng. Đồng thời, phân công các cấp ủy viên phụ trách, sâu sát cơ sở, thường xuyên báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy về tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, trực tiếp là cơ quan tuyên huấn các cấp trong tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tiến hành công tác tư tưởng theo các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, cán bộ, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu cả trong lời nói và hành động. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên bám nắm cơ sở, sâu sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề bộ đội quan tâm, không để những bức xúc xảy ra, tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn; “xây” đi liền với “chống”, giáo dục đi liền với các biện pháp hành chính. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thoái thác nhiệm vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện công tác lãnh đạo tư tưởng trong các cơ quan, đơn vị.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Trước sự tác động mạnh mẽ của mặt trái nền kinh tế thị trường, truyền thông xã hội và sự tuyên truyền, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tình hình nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, thực trạng về công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, chú ý định hướng tư tưởng, dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực; phân tích, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính bản chất, quy luật, hệ thống để bộ đội hiểu rõ đúng sai; tích cực cổ vũ cái đúng, đấu tranh với cái sai, chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, làm cho hệ tư tưởng chủ đạo từng bước thẩm thấu, thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Thông qua giáo dục, định hướng tư tưởng hình thành cho cán bộ, chiến sĩ niềm tin, thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận định, đánh giá các vấn đề của cuộc sống xã hội, môi trường Quân đội. Từ đó, tự giác ghép mình vào khuôn khổ, tự xử lý những bức xúc cá nhân theo chiều hướng tích cực, hòa mình với tập thể, chấp hành nghiêm các chế độ quy định, không để những vụ việc đáng tiếc xảy ra. 

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Xuất phát từ đối tượng quản lý, giáo dục, lãnh đạo công tác tư tưởng phong phú, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực của môi trường Quân đội, nên đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý kỷ luật phải được tiến hành hết sức khoa học, bài bản, chặt chẽ, đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, theo đúng quy trình các bước, phù hợp với đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ của từng lực lượng. Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng phải toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới đối tượng đặc thù nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là cán bộ, chiến sĩ toàn quân thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, trên dưới một lòng, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, chia ngọt sẻ bùi, phát huy sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới tư duy, hình thức, biện pháp lãnh đạo tư tưởng, quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội theo hướng thiết thực, hiệu quả; bám sát phương châm “4 không”, “3 có”, “3 nên”(4) và 5 khâu tiến hành công tác tư tưởng: Dự báo, quản lý, định hướng, đấu tranh và xử lý tư tưởng nảy sinh. Thực hiện hiệu quả Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; thông báo kịp thời, có chọn lọc các vụ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội, trên cơ sở đó định hướng tư tưởng, rút kinh nghiệm cho bộ đội. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính, lấy giáo dục, thuyết phục phòng ngừa vi phạm là chính.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, nên muốn có một con người tốt phải tạo ra môi trường, hoàn cảnh tiêu biểu về lối sống có văn hóa, kỷ cương, thân thiện, cùng nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung. Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, các cuộc vận động trong toàn quân, trọng tâm là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, bằng nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến nhận thức, hành động của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội để bộ đội yên tâm công tác, gắn bó, tâm huyết với môi trường Quân đội.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

 Công tác tư tưởng là công tác của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trực tiếp là của bí thư cấp ủy. Thực tiễn chỉ ra rằng, đồng chí bí thư cấp ủy nào nắm chắc chức trách, nhiệm vụ, vai trò, có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng khoa học, phù hợp, biết phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác này thì hiệu quả sẽ cao hơn, tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị ổn định, không có đột biến xảy ra và ngược lại công tác tư tưởng sẽ không đạt như mong muốn. Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp thông qua việc xác định chủ trương, biện pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tính khả thi cao; “xây” đi liền với “chống”; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình, địa phương để làm công tác tư tưởng; thường xuyên bám sát cơ sở, bộ đội để điều chỉnh cách thức lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở tăng cường bám nắm bộ đội, sâu sát với quần chúng để nắm tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc trong cuộc sống để động viên, giải quyết kịp thời, không để đột biến xảy ra. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện công khai, công bằng trên mọi lĩnh vực hoạt động; đề cao trách nhiệm của các quân nhân, hội viên, đoàn viên trong xây dựng đơn vị, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nên công tác lãnh đạo tư tưởng trong quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho cán bộ, chiến sĩ cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đúc rút ra những kinh nghiệm hay, mô hình tiêu biểu tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ.  

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung hết sức quan trọng, quyết định kết quả xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, các cấp cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác này để quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống./.

------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8,  tr. 554 - 555
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 606, 590
(4) “4 không”: Không quát mắng, dọa nạt bộ đội; không áp đặt, rập khuôn, máy móc; không phân biệt đối xử giữa các chiến sĩ; không làm trái các quy định trong quản lý bộ đội; “3 có”: Có tinh thần trách nhiệm cao; có kỷ luật nghiêm; có tình, có lý trong quản lý, giáo dục bộ đội; “3 nên”: Nên gần gũi, quan tâm, động viên giúp đỡ bộ đội; nên tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu ý kiến; nên cụ thể, tỉ mỉ trong hướng dẫn bộ đội.

Nắm vững khái niệm dân chủ để thực hiện tốt hơn chế độ dân chủ ở Việt Nam

 


Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ CT-XH mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí, hành động, bầu cử tự do và công bằng…) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

CẢNH GIÁC TRÁNH “SẬP BẪY” NHỮNG TRANG MẠNG GIẢ MẠO!

         Tình hình tội phạm lừa đảo nói chung, lừa đảo trên không gian mạng nói riêng vẫn diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây bức xúc dư luận. Đặc biệt, trong thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch triệt để khai thác công nghệ thông tin, nhất là Internet, mạng xã hội để bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất các vấn đề, sự kiện nhằm chống phá Việt Nam. 
Các thế lực thù địch chống phá ta trên mọi phương diện, ở mọi lĩnh vực nhưng tư tưởng, văn hóa là lĩnh vực chúng đặc biệt quan tâm. Nhiều chiêu thức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm được họ áp dụng. Một trong những chiêu thức ấy là chúng lập ra nhiều website, Fanpage Facebook, Youtube… giả danh cơ quan chức năng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và cán bộ có chức vụ cao ở một số bộ, ngành… hoặc núp dưới danh nghĩa: “Tuổi trẻ yêu nước”; “Bảo vệ nhân quyền”; “Vì biển đảo Việt Nam”; “Chống tham nhũng, tiêu cực”; “Sáng kiến pháp lý Việt Nam”; “Kết nối yêu thương”… để qua đó móc nối, tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những sự kiện, vấn đề nhạy cảm. 
Để tạo dựng lòng tin, trên những website, Fanpage Facebook, Youtube… ấy thỉnh thoảng cũng có những bài viết, những thông tin đúng, nhưng đa phần là xuyên tạc sự thật, kích động chia rẽ nội bộ, gieo rắc sự hoài nghi… Nhưng cái khéo ở những bài viết trên các website này là họ không nói trực diện, hướng dư luận theo kiểu “phải trái phân minh” một cách rõ ràng mà thường lập lờ để dư luận tự phán xét, bày tỏ thái độ, quan điểm. Lối chống phá của chúng cũng rất công phu và kiên trì. Có khi cùng một bài viết, hầu hết thông tin là chính xác, họ chỉ cài vào trong đó một vài thông tin thiên lệch dễ khiến người đọc tin là thật và như vậy đã được chúng xem là thành công. Chúng thực hiện “mưa dầm thấm lâu”, nói một lần chưa tin thì nói nhiều lần ắt phải tin; bài trước lái một chút, bài sau lái một chút… nếu người đọc không tỉnh táo dễ dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. 
Bằng chiêu thức trên ít nhiều các thế lực thù địch đã gây cho chúng ta những khó khăn, phức tạp nhất định trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đáng chú ý đã có một số người, trong đó phần lớn là thanh niên bị kẻ xấu câu móc, mua chuộc thông qua các trang mạng giả mạo dẫn đến lầm đường, lạc lối vi phạm pháp luật. Một số đối tượng bị khởi tố, phạt tù về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” gần đây đã cho thấy rõ điều này.
Vẫn biết rằng, sự thật và lòng tin của nhân dân ta không dễ bị tác động, lung lạc. Chúng ta không phủ nhận công tác điều tra, xử lý số đối tượng phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bóc gỡ những trang website, Fanpage Facebook, Youtube và các trang mạng xã hội giả mạo, xấu, độc khác đã góp phần rất quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Nhưng để phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn như đã nêu trên nếu chúng ta chỉ tập trung vào việc điều tra, làm rõ, xử lý, bóc gỡ các trang website, Fanpage Facebook, Youtube… giả mạo và những người lợi dụng các trang mạng ấy để xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bằng các biện pháp hành chính hay kỹ thuật thì chưa đủ. 
Biện pháp căn cơ, lâu dài vẫn là phải thường xuyên đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, giáo dục giúp cho người dân nắm chắc các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng; nâng cao cảnh giác cho người dân trước những âm mưu, thủ đoạn, chiêu thức tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động. Người dân cần được trang bị những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết khi tham gia mạng xã hội và tiếp cận với các thông tin từ mạng xã hội, đặc biệt là kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá trên mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động. Mỗi chúng ta cần thận trọng tìm hiểu các website, Fanpage Facebook, Youtube và các trang mạng xã hội khác khi truy cập; kiểm chứng kỹ khi tiếp cận với các thông tin đăng tải trên Internet và mạng xã hội… Nhận thức chính trị đúng đắn, thị hiếu lành mạnh, cẩn trọng kỹ lưỡng, tỉnh táo, sáng suốt trên không gian mạng, đó là cơ sở để người dân, nhất là thanh niên sàng lọc, tiếp nhận, xử lý thông tin một cách chuẩn xác để không mắc mưu, “sập bẫy” kẻ xấu; không bị lôi kéo, kích động tự biến mình thành “con rối” trong tay các thế lực thù địch, phản động./.
Môi trường ST.

CHỐNG THAM NHŨNG PHẢI QUYẾT LIỆT HƠN NỮA

 


“Người dân mong Đảng làm mạnh hơn nữa, chống tham nhũng phải quyết tâm, không bỏ dở giữa chừng. Kỳ này, Đảng quyết tâm làm đến cùng chứ không bỏ lửng”, Tổng Bí

PHÁT BIỂU CỦA THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG


 - Tôi khẳng định, không một ai ở đất nước này có suy nghĩ rời bỏ hoặc nhân nhượng về chủ quyền, đặc biệt là những nhà lãnh đạo. Nếu để mất Biển Đông thì quân đội Việt

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo; trọng tâm là nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức sơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, hiệu lực quản lý của chính quyền cơ sở; năng lực tập hợp quần chúng của các tổ chức chính trị-xã hội.

Các cơ quan quân sự địa phương các cấp phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho già làng, trưởng thôn, bản, chức sắc, chức việc tôn giáo, người có uy tín; xây dựng và phát huy vai trò lực lượng nòng cốt trong các tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tích cực xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên vững mạnh, làm chỗ dựa trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xử lý có hiệu quả những vấn đề phức tạp nảy sinh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở cho cấp ủy, chính quyền cơ sở.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác tuyển quân, cử tuyển, đào tạo, bồi dưỡng con em đồng bào dân tộc thiểu số, tạo nguồn cho cán bộ địa phương. Tăng cường cán bộ của Bộ đội Biên phòng tham gia đảm nhiệm các chức danh cán bộ chủ chốt ở cơ sở vùng sâu, vùng xa.

Chỉ đạo các đoàn kinh tế - quốc phòng tăng cường đội ngũ trí thức tình nguyện đến các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nên nhiều cấp ủy, chi bộ đã được củng cố, lãnh đạo hiệu quả, bộ máy chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động có nền nếp, phát huy được chức năng, nhiệm vụ.

Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp vận động quần chúng, xây dựng và phát huy hiệu quả các mô hình bảo đảm an ninh trật tự vùng dân tộc, vùng biên giới, vùng tôn giáo, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đã có nhiều mô hình sáng tạo, cách làm hay, như phòng trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

 

NÂNG CAO TIẾN HÀNH CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN ĐỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

NÂNG CAO TIẾN HÀNH CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN ĐỘI

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Mục tiêu, yêu cầu công tác tư tưởng hiện nay là phải quán triệt sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về tình cảm, trách nhiệm đối với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tạo nên một phong trào cách mạng của toàn dân thực hiện mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh trên nền tảng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Trong xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần bảo vệ Tổ quốc, công tác tư tưởng phải quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng đến mọi người dân, chuyển hóa quan điểm, đường lối đó thành niềm tin, bản lĩnh chính trị và năng lực sáng tạo của nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Công tác tư tưởng phải được tiến hành thường xuyên, kịp thời, sáng tạo phù hợp với từng đối tượng, nhiệm vụ, tiến hành đồng bộ trên cả ba lĩnh vực: công tác tư tưởng-lý luận, công tác chính trị-tư tưởng, công tác tư tưởng-văn hóa. Kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, xây dựng, nuôi dưỡng, tôn vinh cái mới, cái đẹp, những người tốt, việc tốt, phê phán những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, những nhận thức, quan điểm lệch lạc, sai lầm; kết hợp chặt chẽ đấu tranh tư tưởng, lý luận chống các luận điệu phản động, thù địch kích động diễn biến hòa bình, biểu tình, bạo loạn lật đổ với kịp thời đánh bại những hoạt động chính trị phản cách mạng, phản dân tộc.

Để thực hiện có hiệu quả những nội dung trên, công tác nắm tình hình tư tưởng phải kịp thời, chính xác, phân tích rõ đúng sai, đưa ra được nhận định và dự báo đúng về xu thế diễn biến tư tưởng. Đồng thời, huy động toàn dân, toàn quân trực tiếp tham gia vào công tác tư tưởng, tự giải quyết những vấn đề tư tưởng cho chính mình và cho những người xung quanh.

VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

 


"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi".

Việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn đất nước hiện nay đang là vấn đề được Đảng ta hết sức quan tâm, coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi liền với bổ sung và phát triển dựa trên những vấn đề thực tiễn đặt ra. Sự nghiệp đổi mới đang đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề mới như kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế... cần được nghiên cứu, giải đáp về lý luận và thực tiễn. Đại hội X của Đảng xác định: tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Muốn vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải nắm vững hệ thống các quan điểm tư tưởng của Người, nắm chắc mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn, gắn chặt với tổng kết thực tiễn. Phải hiểu sâu sắc quá trình hình thành hệ thống quan điểm tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam. Chỉ thông qua quá trình đó, chúng ta mới có thể phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đúng đắn và khoa học.