Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

Phản bác luận điệu đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin

 

MISTEN - Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của Người, cùng với Chủ  nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(2). Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

 


Ảnh minh họa / Tuyengiao.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

Luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc(3). Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (4).

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5). Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác-Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”(6), và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Mác-Lê nin

Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (7).

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”(8).

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

---------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Chính trị quốc gia-Sự  thật, Hà Nội, tr. 21

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.7-8

(3) C.Mác và Ph.Ănghen (2008), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.105.

(4) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.312

(5) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.289

(6) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.12, tr.11

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.88

(8) Lê Hữu Nghĩa, “Về một số quan điểm xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện nay”, trong sách Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.23

                                                                                                       Đặng Viết Đạt - qdnd.vn - 16.05.2022

Bài 3: Ứng vạn biến để giữ nền tảng bất biến (tiếp theo và hết)

 

Nhiều ý kiến cho rằng, cần tiếp tục có bước đột phá việc học tập lý luận chính trị (LLCT) trong điều kiện mới. Cùng với đó, phải có những giải pháp căn bản, quyết liệt để việc học LLCT trở thành nhu cầu thiết thân của mỗi người.

Trước thực trạng một bộ phận CB, ĐV lười học LLCT, cùng với việc tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của LLCT, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để khắc phục tình trạng này. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ hạn chế: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, ĐV về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra”.


Trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của CB, ĐV về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập LLCT, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghị quyết đã khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng. 

Để việc học tập LLCT trở thành tự giác, là nhu cầu tự thân thì mỗi CB, ĐV cần thay đổi nhận thức về nó, tiên quyết là phải xác định được động cơ, thái độ học tập đúng đắn. Việc học LLCT là trang bị cho chính mình thế giới quan, phương pháp luận khoa học, là cơ sở để mỗi người vận dụng nó trong giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhất là trong công việc hằng ngày. Đó là cái chất tiên phong của người đảng viên so với quần chúng. Mục tiêu cao hơn là góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lý luận giúp chúng ta xây dựng niềm tin, thái độ, trách nhiệm, sự nhân văn trong cuộc sống. Học tập, bồi dưỡng lý luận không phải chỉ có mục tiêu duy nhất là lấy bằng cấp để hợp thức, đối phó với tiêu chí đề bạt, bổ nhiệm mà quan trọng hơn là học để làm việc tốt. Ở một góc độ khác, CB, ĐV là những người đem đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ, đồng thời trực tiếp thực hiện và hướng dẫn nhân dân thực hiện. CB, ĐV cũng lại là người báo cáo tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của nhân dân với Đảng và Nhà nước, để đề ra chính sách cho đúng, do đó họ phải học LLCT. Để kiến thức lý luận thấm và ngấm, người học phải xây dựng cho mình phương pháp học phù hợp, tránh lối tầm chương trích cú, học thuộc lòng mà không vận dụng gì vào thực tế. Lối tầm chương trích cú, kinh viện càng khiến cho lý luận trở nên khô khan, thiếu thực tế và làm người học chán nản. Chính các nhà lý luận kinh điển cũng không tán thành cách học đó. Học lý luận, nghiên cứu lý luận là phải nắm được tinh thần của lý luận, bản chất của lý luận để vận dụng nó vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tính lịch sử-cụ thể luôn là điểm then chốt trong phương pháp tiếp cận của LLCT. Bởi theo Các Mác, lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy bắt đầu từ đó; lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, được tổng kết, khái quát từ thực tiễn. Bản thân các nhà lý luận Mác-xít chưa bao giờ coi học thuyết của mình là bất biến mà luôn coi đó là một học thuyết mở cần được bổ sung, phát triển bằng thực tiễn sinh động. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”.

Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt, học tập LLCT là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CB, ĐV, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu trong công tác cán bộ. Bởi thế, đào tạo LLCT phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ gắn với quy định của Đảng về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ... Tránh hiện tượng giao chỉ tiêu, cử cán bộ đi học LLCT theo kiểu “điền vào chỗ trống” khiến người học không có động lực, không thấy đó là nhu cầu thiết thân mà còn gây tốn kém, lãng phí ngân sách, thời gian, công sức. Trên thực tế, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức tới việc bồi dưỡng LLCT cho đảng viên, có hiện tượng khoán trắng cho cơ quan tham mưu mà thiếu kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Tình trạng bớt thời gian, cắt xén nội dung trong quán triệt, truyền tải nghị quyết của Đảng không hiếm. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra. Tuy vậy, những giải pháp để khắc phục ở cơ sở hiện nay là chưa triệt để. 

Một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng đó là người truyền lửa (người thầy dạy lý luận, người truyền đạt nghị quyết của Đảng). Thực tế hiện nay việc giảng dạy lý luận ở các nhà trường, việc truyền thụ nghị quyết của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng không phải ở đâu cũng chọn lọc được đội ngũ truyền thụ tinh hoa, dẫn đến nhiều nơi hiệu quả thấp. Không phải ai cũng có khả năng đứng trên bục giảng hay truyền tải nghị quyết của Đảng hiệu quả. Người truyền lửa lý luận phải thổi lên được ngọn lửa nhiệt huyết, sự say mê của cả mình và người học, người nghe. Do đó, người truyền lửa phải là người có kiến thức, hiểu biết, có phương pháp truyền thụ, có kỹ năng phân tích, đánh giá, định hướng, dự báo tình hình, biết giải quyết nhuần nhuyễn các vấn đề đang đặt ra giữa lý luận và thực tiễn giúp người học tiếp cận được sát nhất những kiến thức ấy. Điều tiên quyết là bài giảng LLCT phải góp phần giải quyết, lý giải những vấn đề mới, hóc búa từ thực tiễn đặt ra, nhất là việc vận dụng trong giải quyết những công việc cụ thể. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó tạo niềm tin cho người học. Bởi thế, các nhà trường, cơ sở đào tạo có thể nghiên cứu để tăng cường hơn nữa đội ngũ giảng viên kiêm chức, thỉnh giảng là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có phương pháp truyền thụ tốt tham gia giảng dạy LLCT. Đi liền với yêu cầu lựa chọn người giảng dạy, người truyền đạt LLCT, cũng cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ xứng đáng, tạo động lực tốt nhất để họ cống hiến. Chế độ, chính sách đối với người giảng dạy, truyền thụ lý luận hiện nay về cơ bản là chưa đủ sức hút để họ chuyên tâm với nghề.

Nhiều cán bộ qua đào tạo LLCT ở các bậc học đã nêu lên một thực trạng, đó là sự trùng lặp nội dung các bậc học, thiếu sự liên thông, tính kế thừa, tính thống nhất giữa các cấp học dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, kinh viện mà chưa có bổ sung thấu đáo về tính thực tiễn. Đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế”. Như vậy, phải có nghiên cứu thấu đáo việc đưa chương trình, nội dung vào giảng dạy ở các bậc học. Đây cũng là vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở đào tạo cần quan tâm, tìm ra phương thức hợp lý.

BÁO QDND

Bài 2: Hệ lụy khôn lường từ tình trạng lười học lý luận chính trị

 

Khi đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị sẽ dẫn đến hàng loạt hệ lụy đối với đảng cầm quyền. Bởi thế, việc học tập, trang bị lý luận chính trị (LLCT), trau dồi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm chắc nghị quyết của Đảng có vai trò rất quan trọng.

 Bài 1: Khi “kim chỉ nam” bị cất trong tủ kính

Nó giúp chính cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, biết dấn thân để tìm ra giải pháp tối ưu trong công việc; có bản lĩnh vững vàng để vượt qua khó khăn, những cám dỗ vật chất trong cuộc sống.

Không có lý luận như nhắm mắt mà đi

Đảng ta là đảng lãnh đạo, cầm quyền. Từ điển tiếng Việt giải thích: “Lãnh đạo là dẫn dắt tổ chức phong trào theo đường lối cụ thể”. Hay: Lãnh đạo là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội nhằm tối đa hóa nỗ lực của người khác để đạt được mục tiêu. Tựu trung, người lãnh đạo phải là người dẫn đường, người mở đường. Đảng ta cũng không có mục đích nào khác là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Mục đích đó cũng là bản chất, là đặc trưng của chế độ được xây dựng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng cũng được xây dựng trên nền tảng lý luận đó vận dụng vào thực tiễn của đất nước. Điều đương nhiên, nếu CB, ĐV không nắm được LLCT, không hiểu biết về nền tảng tư tưởng ấy thì họ không thể lãnh đạo được ai. Việc lười học LLCT có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng, đó là đảng viên mất phương hướng, rất dễ rơi vào tình trạng thực hiện sai đường lối của Đảng; nói và viết không đúng nghị quyết của Đảng, vi phạm nguyên tắc Đảng; dễ bị kẻ thù lôi kéo, mua chuộc. Một hậu quả nữa của tình trạng “mù lý luận” đó là làm bừa, làm ẩu, bất chấp quy luật khách quan dẫn đến thất bại.

Vì không học LLCT, không hiểu nền tảng tư tưởng của Đảng nên chính đảng viên cũng không có khả năng bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Trong một tập thể, nếu các đảng viên nắm chắc lý luận, hiểu nguyên lý, nguyên tắc của Đảng thì người đứng đầu rất khó có thể làm sai, khó có thể tự tung tự tác, hành động vô nguyên tắc. Hàng loạt CB, ĐV bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ủy ban kiểm tra các cấp xử lý kỷ luật thời gian qua đã chỉ ra nguyên nhân, đó là tình trạng thực hiện không đúng nghị quyết của tổ chức đảng, vi phạm nguyên tắc Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây thực sự là vấn đề lớn của Đảng.

Ở một khía cạnh khác, mục tiêu xuyên suốt mà các thế lực thù địch, phản động đang thực hiện là nhằm xóa bỏ chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để làm điều đó, chúng không loại trừ bất kỳ thủ đoạn nào nhằm tấn công, xuyên tạc, bịa đặt hòng làm sụp đổ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng muốn làm cho hệ tư tưởng ấy trở nên giáo điều, xa lạ, không còn sức sống. Trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng ấy, vũ khí của những người cộng sản chính là LLCT sắc bén. Nếu mỗi CB, ĐV, những người được xem là đầu tàu để bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng lại lười học LLCT thì làm sao có thể bảo vệ được? Không có kiến thức, không có bản lĩnh thì không thể giữ vững được trận địa tư tưởng, thành quả cách mạng, những giá trị cốt lõi của văn hóa Đảng. Dù có trung thành bao nhiêu nhưng không hiểu bản chất, không có lý luận soi đường thì cũng chỉ như một người đi trong đêm tối. Sự lầm đường lạc lối trong lãnh đạo không khác gì sự phá hoại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”; “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Cách mạng luôn vận động biến đổi không ngừng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc còn nhiều thử thách, cam go. Nếu không có lý luận, nếu lý luận không trở thành lực lượng vật chất thấm sâu trong mỗi CB, ĐV thì sự nghiệp ấy khó có thể thành công. PGS, TS Trần Đình Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, luận giải: Nền tảng tư tưởng chính là phương tiện, là ánh sáng, là trí tuệ soi đường cho Đảng lãnh đạo đưa đất nước đi lên.

Sức sống trường tồn của lý luận mác-xít

Lịch sử hơn 100 năm từ khi đất nước chìm trong bóng đêm nô lệ đến nay đã hoàn toàn đủ cơ sở cả về lý luận và thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn, tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn và sự trường tồn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dưới ách đô hộ của thực dân, đế quốc, dân tộc ta khi đó không thiếu những anh hùng, không thiếu những cuộc khởi nghĩa, phong trào cách mạng với mong muốn giải phóng dân tộc. Nhưng tựu trung, tất cả đều thất bại vì không có đường lối đúng, không có lý luận dẫn đường. Chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh tiếp cận, thấy được ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu, có được hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa vào cách mạng Việt Nam, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo dân tộc thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Nhưng đó là một hành trình tiếp thu lý luận, đưa lý luận vào thực tiễn không hề đơn giản, không hề có sẵn. Người chiến sĩ cách mạng vĩ đại Nguyễn Ái Quốc đã phải nếm mật nằm gai, tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tận mắt chứng kiến những đọa đầy đau khổ nhất của kiếp cần lao, tiếp cận được với ánh sáng chân trời từ Chủ nghĩa Mác-Lênin mới đưa lại sự thành công đó. Chính Mác, Ăngghen, Lênin, những chiến sĩ cộng sản của phong trào công nhân quốc tế đã phải lăn lộn, chịu biết bao khổ cực trong phong trào công nhân, trong thảm cảnh bị đàn áp, bóc lột đến tận xương, tận tủy mới đúc rút được hệ tư tưởng lý luận có ý nghĩa vạch thời đại ấy. Nó hoàn toàn không là lý thuyết sách vở, kinh viện mà thấm đẫm hiện thực. Và luận giải như Các Mác, lý luận ấy đã biến thành lực lượng vật chất chứ không chỉ là lý luận đơn thuần. Mác đã rút ra rằng: "Lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bởi lực lượng vật chất, nhưng một khi lý luận đã được thấm sâu vào quần chúng thì nó sẽ trở thành lực lượng vật chất vô địch".

Chỉ những người không hiểu biết thấu đáo mới tìm cách đổ lỗi, cho rằng hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là do Chủ nghĩa Mác-Lênin sai lầm, là không phù hợp, rồi vin vào đó để cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Thực tế không phải như vậy. Chính điều này đã chứng minh, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản, đảng viên ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã coi thường lý luận Mác-Lênin, tiếp thu giáo điều, nửa vời, xa rời những nguyên tắc căn bản của lý luận Mác-Lênin, nhất là những nguyên tắc lịch sử-cụ thể, nguyên tắc thực tiễn và sự thiếu thích ứng với những thay đổi thường xuyên của đời sống chính trị-xã hội đã dẫn đến sự sụp đổ đau đớn đó. Những lãnh đạo, đảng viên làm băng hoại một chế độ tốt đẹp ấy sẽ luôn bị lịch sử điểm tên. Một mô hình nhà nước cụ thể không toàn vẹn do áp dụng không đúng lý luận mác-xít về nhà nước, về xây dựng chế độ, về đảng cầm quyền chứ không phải là sự sai lầm của một học thuyết khoa học, không phải sai lầm của lý luận mác-xít. Cũng chính sự kiện đó đã là lời cảnh tỉnh xương máu cho tất cả chúng ta. Những CB, ĐV hôm nay trong sự nghiệp bảo vệ thành trì XHCN nếu coi thường, xa rời bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nếu vận dụng nó một cách máy móc, nếu không chịu tìm tòi, nghiên cứu, đúc rút, tổng kết và phát triển hệ lý luận ấy cho phù hợp với sự vận động không ngừng của thực tiễn thì rất dễ dẫn đến phải trả giá bằng sự thất bại. Cho đến hôm nay, các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân-yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Những CB, ĐV chân chính, những người dân đã được hưởng thành quả, điều tốt đẹp của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vẫn luôn tiếc nuối, hoài niệm về một xã hội tốt đẹp, thực sự vì con người. Họ đã cảm nhận rõ hơn ai hết những giá trị nhân văn về quyền con người, về sự đáp ứng các nhu cầu chính đáng cả vật chất, tinh thần mà chế độ XHCN mang lại. Sức sống của lý luận mác-xít vẫn đang chứng minh tính cách mạng và khoa học, tính thời đại và tương lai ở các nước XHCN đang theo hệ lý luận, tư tưởng ấy. Đó là các nước như: Trung Quốc, Việt Nam, Cuba... PGS, TS Trần Đình Huỳnh cho rằng, phải luôn luôn bảo vệ “đầu não” và “trái tim” của Đảng theo tư tưởng của Các Mác. “Đầu não” ở đây được hiểu chính là lý luận, là ánh sáng chỉ đường của Đảng; còn bảo vệ “trái tim” của Đảng chính là giữ cho mỗi đảng viên, mỗi người làm cách mạng luôn giữ được sự nhiệt tình, tâm huyết, giữ được động cơ vì cách mạng, nhân dân.

Nhân loại tiến bộ luôn ghi nhận đóng góp vĩ đại của Các Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh... những người đã đặt nền tảng và vận dụng nó vào trong thực tiễn cho sự ra đời của một chế độ nhà nước XHCN tiến bộ, thực sự vì con người. Ngày nay, các nhà lý luận Mác-xít vẫn được đánh giá là những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử loài người.

Năm 1999, Đại học Cambridge (Anh) công bố bình chọn nhà tư tưởng số một thiên niên kỷ, kết quả là Các Mác đứng đầu. Tháng 7-2005, với câu hỏi tương tự, trong một cuộc thăm dò ý kiến của chương trình In Our Time trên kênh Radio 4 của Đài BBC, thính giả vẫn chọn Mác đứng đầu danh sách là nhà tư tưởng ưa thích của họ. Nhiều cuộc khảo sát, đánh giá, các hội thảo lớn giai đoạn hiện nay ở chính các nước tư bản chủ nghĩa vẫn luôn dành cho Mác sự trân trọng bởi những ảnh hưởng to lớn của ông với nhân loại.

 (còn nữa)

NGUYỄN ANH TUẤN

Qdnd.vn

 

NHẬN DIỆN NƯỚC LỚN TRONG CỤC DIỆN THẾ GIỚI HIỆN NAY 

Nước lớn (cường quốc) là khái niệm dùng để chỉ những quốc gia có diện tích rộng, dân số đông và có nguồn lực phát triển vượt trội so với nhiều nước khác. Đó là nước có tiềm lực, sức mạnh và ảnh hưởng vượt trội về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và văn hóa, có khả năng tạo ảnh hưởng, chi phối và định hình chính sách và hành vi của các quốc gia khác trên thế giới cũng như chi phối sự vận động của hệ thống quan hệ quốc tế, của các xu thế quốc tế và việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Hiện nay, không có một nhận thức thống nhất hay một định nghĩa chung về nước lớn. Việc phân định nước lớn - nước nhỏ phụ thuộc vào góc nhìn từ mỗi quốc gia dựa trên sự so sánh tương quan sức mạnh, vị thế và sự ảnh hưởng của quốc gia đó với các quốc gia khác. Theo đó, một quốc gia có thể là nhỏ trong mối quan hệ này nhưng lại được xem là lớn trong mối quan hệ với những nước khác và ngược lại[1]. Thí dụ như: Canađa, Braxin và Ốtxtrâylia là nước lớn trên thế giới về mặt diện tích lãnh thổ và nguồn lực tài nguyên; Ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan là cường quốc dân số của thế giới. Tuy nhiên, sức mạnh tổng hợp của các quốc gia này chưa đạt tới vị thế của một cường quốc thế giới. Trên thực tế, trong việc phân định và đánh giá một nước là lớn hay nhỏ, yếu tố sức mạnh tổng hợp mà nổi bật là sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học - công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Hà Lan là một quốc gia nhỏ ở châu Âu, nhưng thế kỷ XV-XVI với sức mạnh vượt trội của mình. Vương quốc Anh với diện tích 243.610 kmnhưng trong thế kỷ XIX được mệnh danh là “Đất nước mặt trời không bao giờ lặn”. Hiện nay, Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản mặc dù về diện tích và dân số họ chỉ là những quốc gia trung bình của thế giới, nhưng với sức mạnh tổng hợp của mình đặc biệt là về kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự cũng như vị thế quốc tế, họ được xem là những nước lớn của thế giới. Cũng xét theo tiêu chí này, một số nước dù là nhỏ như: Quatar, Singapore, Aixơlen, Đan Mạch, Na Uy, Cộng hoà Ailen (Ireland), Thuỵ Sỹ, Lúcxămbua nhỏ về mặt diện tích và quy mô dân số như nhưng lại sở hữu sức mạnh kinh tế và thu nhập cao bình quân trên đầu người hàng năm làm cho các quốc gia khác phải ngưỡng mộ và học hỏi.

Tuy nhiên, dựa vào tổng hợp các tiêu chí nhận diện như đã nêu trên và theo cách hiểu phổ biến hiện nay thì năm nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc và cũng là năm quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, bao gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp được xem là các nước lớn hay cường quốc. Trong đó, Mỹ là siêu cường toàn cầu duy nhất sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc và Nga được xếp ở cấp độ thứ hai sau Mỹ. Hai cường quốc này được xem là hội tụ đầy đủ những tiêu chí và khả năng để có thể vươn lên thành những siêu cường thế giới, đối trọng và sánh ngang với Mỹ. Nước Mỹ trong nhiệm kỳ của Tổng thống D.Trump thực hiện phương châm “Nước Mỹ trên hết”, Mỹ là nước công nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới, có cơ cấu kinh tế hỗn hợp, các tập đoàn và công ty tư nhân giữ vai trò quan trọng trong khi chính phủ có xu hướng hạn chế tác động vào nền kinh tế. Theo đó, các chính sách được triển khai theo hướng thực dụng, coi trọng cơ chế hợp tác song phương hơn đa phương. Theo các dự báo[2], mặc dù có những suy giảm do đại dịch Covid-19 cùng những mâu thuẫn giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa về những vấn đề lớn trong đối nội và đối ngoại, nhưng đến năm 2030 vẫn ít có khả năng xuất hiện một cường quốc có thể thay thế vai trò của Mỹ. Đối với Trung Quốc, sau hơn 40 năm cải cách mở cửa thành công đã đưa Trung Quốc lên vị trí cường quốc hàng đầu thế giới. Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2017, xác định đã từ bỏ phương châm “giấu mình chờ thời” sang hướng “chủ động hơn, cứng rắn hơn”, quyết đoán theo đuổi lợi ích cốt lõi, kể cả ở Biển Đông. Cùng với việc ổn định tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã nỗ lực phát huy các nhân tố nội sinh, phát triển ngành nghề mới, đặc là nhóm ngành dịch vụ; đẩy nhanh quá trình chuyển biến từ “Trung chế tạo” sang “Trung Quốc sáng tạo”, thúc đẩy đô thị hoá kiểu mới, đẩy mạnh thí điểm các khu mậu dịch do ở Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu..., phối hợp chiến lược phát triển vùng miền. Họ đặt mục tiêu xây dựng một trật tự thế giới mới, trong đó sẽ thay Mỹ lãnh đạo khu vực châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2025 và lãnh đạo thế giới vào năm 2050. Hiện nay, Trung Quốc đang chủ động với vai trò nước lớn ở những sân chơi quốc tế vốn có, đồng thời nỗ lực lập ra các “sân chơi” mới mà Trung Quốc là trụ cột, như Ngân hàng Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) hay Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)…

Đối với Liên bang Nga là nước kế thừa gần như trọn vẹn tiềm lực của Liên Xô trước đây, trong đó có chiếc ghế Ủy viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Nước Nga đứng đầu thế giới về diện tích lãnh thổ với 17 triệu km2, dân số trên 146 triệu người, chưa kể 25 triệu công dân Nga đang sống ở một số nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây. Nga có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, một đội ngũ đông đảo các nhà bác học, khoa học và công nhân lành nghề, một cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối hoàn chỉnh và hiện đại. Mục tiêu chiến lược của Nga là phát triển đất nước thành cường quốc, được thế giới công nhận như một đối tác bình đẳng trong quan hệ với các nước, trước hết là Mỹ. Đặc biệt, tháng 7-2021, Tổng thống Nga V. Pu-tin đã ký sắc lệnh hành pháp mang tên " Về chiến lược an ninh quốc gia của Liên bang Nga" thay thế " Chiến lược an ninh quốc gia của Liên bang Nga" được ban hành vào ngày 31-12-2015; tăng cường tận dụng hợp tác quốc phòng - an ninh để nâng cao tiềm lực quốc gia và mở rộng ảnh hưởng ở bên ngoài. Chú trọng đầu tư nghiên cứu và ứng dụng các loại vũ khí mới - đây là thế mạnh vượt trội của Nga. Ngoài ra, Vương quốc Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản cũng được nhìn nhận như là những cường quốc bởi sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng quốc tế của họ.

Trong thập niên gần đây các nước lớn có nhiều điều chỉnh quan trọng theo hướng đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ. Lợi ích quốc gia - dân tộc là yếu tố cơ bản nhất quyết định thái độ và quan hệ giữa các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0. Do đó, trong chiến lược của mình, các nước nói chung, các nước lớn nói riêng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu. Trong mối quan hệ lợi ích, các nước lớn thường bỏ qua hoặc xem nhẹ lợi ích của các nước nhỏ. Khi mâu thuẫn, xung đột, tranh chấp xảy ra thì các nước lớn thường gây sức ép, buộc nước nhỏ phải thuận theo mình, bất chấp luật pháp quốc tế cũng như lợi ích chính đáng, hợp pháp của các nước nhỏ. Ở góc độ quyền lực, cạnh tranh giữa các nước lớn vẫn rất gay gắt khốc liệt nhưng không dẫn đến chiến tranh quy mô lớn chiến tranh thế giới. Khi độ gay gắt của mâu thuẫn giữa các nước lớn đến "đỉnh điểm”, thì họ chuyển sang thỏa hiệp với nhau để bảo vệ lợi ích của quốc gia, phe nhóm, tập đoàn, hoặc đẩy mâu thuẫn xung đột sang nước thứ ba hay khu vực khác, biến những nơi này thành địa bàn giao chiến, “thể hiện" về sức mạnh của vũ khí, công nghệ mới…(xung đột quân sự giữa Nga và Ucraine đang diễn ra từ ngày 24/02/ 2022 đến nay là một ví dụ). Một đặc điểm nổi bật của thế giới trong giai đoạn hiện nay là các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn trở thành nhân tố có vai trò quan trọng đến sự phát triển thế giới.



[1] Buzan, Barry, People, States, and Fear: An Agenda for International Security Studies in the Post-Cold War Era. New York: Harvester Wheatsheaf, 1991.

[2] Minh Trung: Trung Quốc đuổi kịp Mỹ trong cuộc đua ngân sách cho khoa học kỹ thuật, https://vnreview.vn/tin-tuc-khoa-hoc-cong-nghe/view content/content/1745759/trung-quoc-duoi-kip-my-trong-cuoc-dua-ngan-sạch-cho-khoa-hoc-ky-thuat.

Bài 1: Khi “kim chỉ nam” bị cất trong tủ kính

 

LTS: Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là:

“Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị (LLCT); lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Trước bối cảnh thời cuộc, nhiệm vụ thời kỳ mới, đòi hỏi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) cần xác định thái độ, động cơ đúng đắn để việc học tập LLCT trở thành nhu cầu thiết thân.

Tình trạng lười học LLCT diễn ra ở không ít CB, ĐV, trong chính một số tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Có những người coi thường lý luận, cho đó là lý thuyết suông, là giáo điều, rằng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, không còn sức sống. Họ đã hiểu được gì từ lý luận?

Cách giải thích ngụy biện

Chúng tôi đã làm một trắc nghiệm nhỏ dành cho một số đảng viên, đó là trả lời câu hỏi: “Nền tảng tư tưởng của Đảng ta là gì?”. Khá bất ngờ khi nhiều đảng viên không trả lời đúng câu hỏi này. Thậm chí, một số đảng viên "không có khái niệm" thế nào là nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đảng viên là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng... Một trong những nhiệm vụ quan trọng của đảng viên là: “Tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng...”. Với vai trò cốt yếu đã được xác định, vậy nhưng chính một số đảng viên lại không hiểu, không rõ về nền tảng tư tưởng của Đảng thì họ sẽ bảo vệ Đảng ra sao? Đảng viên lãnh đạo quần chúng thực hiện xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản bằng cách nào? Phải chăng họ chỉ lãnh đạo bằng mệnh lệnh mà thiếu hẳn sự thuyết phục; bằng chủ nghĩa kinh nghiệm mà không có đường lối, không có mục tiêu, lý tưởng? Thực trạng này có chung một nguyên nhân, đó là do CB, ĐV lười học LLCT, lười học Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết của Đảng, lười đọc sách lý luận, lười đọc báo Đảng...


Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Ảnh: TTXVN.

Nhiều người đổ lỗi cho khách quan, rằng nhiều việc chuyên môn, do các mối quan hệ chi phối khiến họ không có thời gian cho việc học LLCT. Sự giải thích đó không thuyết phục. Việc học LLCT nếu là nhu cầu tự thân thì có thể học, tìm hiểu mọi lúc, mọi nơi, tận dụng những khoảng thời gian trong chính công việc chuyên môn của mình. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, chính Các Mác, Lênin, Hồ Chí Minh, các nhà cách mạng Việt Nam đã tận dụng mọi cơ hội, dù trong tù ngục hay ở những thời khắc "ngàn cân treo sợi tóc", bị các thế lực truy lùng bắt bớ, những lúc công việc bộn bề, họ vẫn dành thời gian để học tập, nghiên cứu, phát triển và vận dụng lý luận vào thực tiễn đấu tranh cách mạng. Thậm chí trước họng súng kẻ thù, những chiến sĩ cách mạng kiên trung vẫn nhìn thấy "mặt trời chân lý", vẫn tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng chủ nghĩa xã hội, cách mạng sẽ thành công bởi hành trang lý luận họ được học, được trang bị. Và cuối cùng, họ đã đúng. Cách mạng đã thành công. Bởi thế, nếu ai đó giải thích vì công việc chuyên môn khiến họ không có thời gian học LLCT thì chỉ là một sự ngụy biện.

Tình trạng một số CB, ĐV nhận thức chưa đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của học tập LLCT đang là một thực tế. Trong khi lười học lý luận nhưng một số người lại rất cơ hội, quá khích khi tiếp cận các thông tin được coi là độc, lạ trên mạng xã hội. Và do không có thế giới quan, phương pháp luận khoa học nên một số người dễ nhìn nhận vấn đề sai lệch, dễ bị sa vào bẫy “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch chống phá chế độ cài vào. Có kẻ đã hùa theo việc "quay xe" công kích hệ tư tưởng Mác-Lênin, cho rằng đó là một viễn cảnh không có hồi kết. Cũng có người đã lợi dụng vị trí của mình trong công tác tuyên truyền, phổ biến LLCT để phê phán, tỏ thái độ bất mãn, chê bai lý luận, chê bai xã hội, chê bai chế độ trong khi mình là người đang ăn cơm, mặc áo của chế độ. Một số CB, ĐV phát ngôn văng mạng trên internet, không chỉ vi phạm những điều đảng viên không được làm mà còn vi phạm pháp luật. Hiện tượng mà Đảng đã cảnh báo, đó là chủ nghĩa cơ hội đang xuất hiện. Những người này bề ngoài thì nói theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng thực chất là lợi dụng để chui sâu, leo cao vào Đảng để thăng quan tiến chức, để trục lợi.

Chính do thiếu kiến thức lý luận mà một số CB, ĐV có biểu hiện coi thường LLCT. Bởi thế, ngay cả khi được cử đi đào tạo thì cũng có người chỉ học đối phó, miễn cưỡng, "đánh trống ghi tên" cho đủ tiêu chí để được đề bạt, bổ nhiệm. Hiện tượng CB, ĐV học không đi đôi với hành, học lý luận nhưng không áp dụng vào thực tiễn, không vận dụng kiến thức được học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo không hiếm.

Ngày 5-5 cũng là ngày sinh của Các Mác. Trong cuộc đời mình, ông đã để lại cho nhân loại một kho tàng tri thức lý luận đồ sộ và phong phú trên nhiều lĩnh vực. Dù ra đời từ thế kỷ 19, những tác phẩm lý luận của Mác đến nay vẫn là những cuốn sách gối đầu giường của các đảng viên các đảng cộng sản, các nước xã hội chủ nghĩa và vẫn luôn khẳng định ảnh hưởng to lớn trong lòng xã hội tư bản, điển hình là “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” và bộ "Tư bản” do Mác lao tâm khổ tứ để viết nên.

Gốc có vững, cây mới bền

Có nhiều lăng kính để lý giải về tình trạng lười học, ngại học LLCT của CB, ĐV. Nguyên nhân từ phía người học chưa có nhận thức, động cơ đúng dẫn đến ngại học, học đối phó; từ phía một bộ phận người truyền thụ (người dạy) chưa thực sự nhiệt huyết, phương pháp còn khô cứng, đơn điệu; chương trình học tập LLCT còn một số bất cập... Trong khi đó, tác động từ khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu; những khó khăn, thách thức của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế hiện nay; nhiều vấn đề mới, phức tạp phát sinh từ thực tiễn nhưng chưa được lý giải và xử lý kịp thời, hiệu quả cũng ảnh hưởng đến thái độ, động cơ của người học.

Nhìn nhận từ góc độ chủ quan của chính CB, ĐV cho thấy, sự mất gốc, hổng kiến thức LLCT ngay từ nền tảng ban đầu là một trong những nguyên nhân khiến CB, ĐV nhận thức chưa đúng về việc học tập LLCT. Theo một trình tự logic, đảng viên phải bắt đầu được bồi dưỡng LLCT từ khi là đoàn viên, là sinh viên chứ không chờ đến lúc là đảng viên mới bồi dưỡng. Đoàn Thanh niên là cánh tay đắc lực, là đội hậu bị của Đảng. Bởi thế, việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, nuôi hoài bão, khát vọng... phải được quan tâm từ sớm. Trong khi thực tế nhiều tổ chức đoàn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này. Qua khảo sát của nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân (Đức Tuấn-Huyền Trang) đầu năm 2022: Ở nhiều cơ sở đoàn, thanh niên cứ đến tuổi là được cho đi học lớp tìm hiểu về Đoàn Thanh niên ít buổi, sau đó được yêu cầu viết bài thu hoạch mang tính hình thức và tiến hành kết nạp. Trong khi đó, hình thức đào tạo khô khan, cứng nhắc, nội dung học tập chỉ dừng ở việc nêu định nghĩa tổ chức đoàn mà thiếu đi cơ sở thực tiễn nên không cuốn hút, không giúp thanh niên nắm được những vấn đề cơ bản như mục tiêu, lý tưởng, trách nhiệm khi tham gia tổ chức đoàn. Thậm chí khi được hỏi, một đoàn viên ở Bắc Ninh cho biết: “Tôi được kết nạp vào Đoàn Thanh niên đã 5 năm. Lúc đó, tôi học lớp 9 hay lớp 10 gì đó. Vì không còn ai nên tôi được huy động vào Đoàn”. Nhiều bạn trẻ khi được hỏi, họ không hiểu mục tiêu, lý tưởng vào Đoàn để làm gì. Cho nên khi trở thành đảng viên, họ đã bước đầu hổng kiến thức lý luận. 

Ở bậc đại học, độ tuổi được đánh giá là quan trọng nhất, ngấm, thấm nhất những kiến thức được trang bị của người học, những chương trình đào tạo trong nước đều đã đưa vào các môn LLCT nhằm đặt nền móng cho việc xây dựng lập trường, bản lĩnh chính trị, lý tưởng cách mạng cho sinh viên, đoàn viên, thanh niên. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, có cả việc chưa coi trọng các môn lý luận nên chương trình đào tạo dành cho các môn lý luận Mác-Lênin như: Triết học, Kinh tế-chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều sự thay đổi, cắt xén nội dung, chương trình, lý luận bị mất tính logic, trở nên khô cứng, khiến sinh viên không hứng thú và có tư tưởng coi nhẹ việc học các môn này. Hậu quả là họ hổng kiến thức, thậm chí mất gốc dẫn tới ngại học, lười học. Tháng 12-2021, nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân (Hoàng Hoàng-Thu Hà) đã tiến hành khảo sát với 3.020 sinh viên trên cả nước. Trả lời câu hỏi về lợi ích của các môn LLCT, hầu hết sinh viên sau khi học xong đều thể hiện nhận thức tích cực về lợi ích của các môn học đối với bản thân. Song, nghịch lý là khi được hỏi về mức độ yêu thích với từng môn học cụ thể, câu trả lời “Bình thường” chiếm tỷ lệ hơn 50%. Điều này cũng đặt ra vấn đề rất đáng suy nghĩ về thái độ, động cơ học tập LLCT của người học và phương pháp truyền thụ của người dạy.

Đất nước mở cửa, hội nhập mạnh mẽ. Tuy vậy, sự tác động của kinh tế thị trường, lối sống tư bản, quá đề cao lợi ích vật chất, hưởng thụ khiến nhiều CB, ĐV không còn quan tâm đến yếu tố chính trị tinh thần, lợi ích cộng đồng, giá trị tốt đẹp trong xã hội. Một số CB, ĐV xa lạ với mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, xóa nhòa vấn đề giai cấp, dân tộc. Có những đảng viên không quan tâm đến đời sống chính trị của đất nước, dẫn tới không quan tâm đến việc học tập, nâng cao trình độ LLCT. Họ chỉ coi đó là tiêu chí bổ sung, hợp thức để được thăng tiến. Nhận thức như vậy khiến CB, ĐV trở nên bàng quan, thờ ơ với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; không quan tâm đến phát triển, bổ sung, tổng kết lý luận, vận dụng lý luận vào thực tiễn như bản chất của lý luận đã chỉ ra.

Trong khảo sát tổng hợp những cuốn sách, tài liệu mà sinh viên Mỹ bắt buộc phải đọc trong hơn một triệu bài giảng năm 2016, "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" của Các Mác đã bỏ xa các cuốn sách phía sau để trở thành tài liệu được giáo viên Mỹ giảng dạy rộng rãi nhất, cả về số bài giảng lẫn tần suất được giảng dạy. "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" được sử dụng làm tài liệu giảng dạy về lý thuyết xã hội, trong khi về chuyên ngành kinh tế, bộ "Tư bản” của Mác phân tích về sự vận hành của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng luôn được đưa vào giảng dạy. 

(còn nữa)

NGUYỄN ANH TUẤN

Qdnd.vn

NHỮNG LỜI ĐANH THÉP CỦA THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG

 

          - Tôi khẳng định, không một ai ở đất nước này có suy nghĩ rời bỏ hoặc nhân nhượng về chủ quyền, đặc biệt là những nhà lãnh đạo. Nếu để mất Biển Đông thì quân đội Việt Nam, các nhà lãnh đạo sẽ có tội với đất nước và cũng sẽ không yên với dân được. Trong quân đội, từ trên xuống dưới, đều coi Biển Đông là sống còn. Chủ quyền lãnh thổ là điều chúng ta tuyệt đối không bao giờ buông tay.

          - Điều tôi thấy không bình thường là nhiều người không phân biệt được giữa làm thế nào để giữ chủ quyền với làm gì cho bõ ghét. Việc chúng ta phải làm là giữ nhà và quan hệ thuận hòa với láng giềng, chứ không phải thoá mạ làm mất mặt họ. Thoá mạ giúp chúng ta sướng miệng, chứ không giữ được nhà, cũng không có yên ổn mà làm ăn (câu này bà con nên gửi đến Department of Foreign Affairs, Republic of the Philippines và fan của chính quyền dũng cảm)

          - Có hai việc cơ bản, quan trọng nhất, để hình thành cách ứng xử trên Biển Đông. Một là, chúng ta phải khẳng định chủ quyền. Không bao giờ chúng ta được mơ hồ về điều đó, không bao giờ được quên điều đó, không bao giờ được buông điều đó. Hai là phải tin rằng chúng ta sẽ bảo vệ được chủ quyền đất nước. Trong đó quan trọng nhất là tự tin-tin vào lòng dân, tin vào đường lối, cách ứng xử của Đảng và nhà nước, trên cơ sở hội tụ ý chí của người dân.

          - Chúng ta phải pháp lý hóa những gì chúng ta tuyên bố, những đảo, đá nào chúng ta có chủ quyền, thềm lục địa của chúng ta đến đâu... Dựa trên cơ sở đó, chúng ta phải giữ cho bằng được 21 điểm đảo, 33 điểm đóng quân và các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam tại Trường Sa. Chúng ta cũng kiên trì đấu tranh cho chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, mặc dù đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, nhưng Việt Nam không bao giờ từ bỏ, và không được phép từ bỏ.

          - Thách thức là có thật, nhưng chúng ta sẽ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền trên Biển Đông. Và trên thực tế, hiện nay chúng ta vẫn đang giữ toàn vẹn chủ quyền trên biển đó chứ.

          - Sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông có thể ngày càng nhiều, nhưng bạn có thấy lá cờ đỏ sao vàng cũng đang hiện diện ngày càng dày đặc, thường xuyên, đa dạng trên Biển Đông không?

          - Hải quân Việt Nam cũng hiện diện rất chững chạc, tự tin, đàng hoàng và ngày càng nhiều hơn trên Biển Đông. Năm nay chúng ta diễn tập bắn đạn thật ở các đảo Trường Sa. Trong toàn bộ vùng biển Đông Nam Á, vùng biển Việt Nam là an toàn nhất, không có cướp biển, không có buôn người và đang được Cảnh sát biển bảo vệ rất tốt. Đó là những cái mình làm mà chưa nói, bây giờ tôi nói. Lẽ nào đó không phải là lời khẳng định hùng hồn về chủ quyền của chúng ta.

          - Năm 2011, sau vụ tàu Bình Minh bị cắt cáp, tôi sang gặp lãnh đạo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, khi hai bên đang tranh luận, ông ta nói: "Nếu tôi nói Trường Sa, Hoàng Sa không phải của Trung Quốc thì tôi không còn là người Trung Quốc. Nhưng tôi hiểu nếu đồng chí nói Trường Sa, Hoàng Sa là của Trung Quốc thì đồng chí cũng không phải là người Việt Nam nữa. Chúng ta khác nhau và đó là lý do phải ngồi lại với nhau". Rõ ràng họ cũng thấy vấn đề, có điều mình phải kiên trì đấu tranh, thẳng thắn nhưng rất chân thành.

                                                                                      St PQ

SỰ THẬT ÍT NGƯỜI BIẾT VỀ HÀNH TRÌNH CỦA CUỐN NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM

 

          Vào năm 2005, cuốn nhật ký của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm sau hơn 30 năm lưu lạc trên đất Mỹ, đã trở về Việt Nam và được in thành sách. Ngay lập tức, cuốn sách đã tạo nên một “cơn sốt” trong bạn đọc khi đã in với số lượng hàng trăm ngàn bản.

          Nhiều người nghĩ rằng Fredric Whitehurst là người giữ cuốn nhật ký thời gian sau đó, nhưng không phải. Có chi tiết mà còn rất ít người biết: Năm 1970, sau khi Fredric Whitehurst nhặt được cuốn sổ tay của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, ông đã trao nó cho Carl Greifzu, một lính Mỹ gốc Đức, có vợ là người Việt giữ hộ.

          Sau 20 năm, nhờ đọc bản dịch tiếng Anh tóm tắt nội dung cuốn nhật ký của vợ mình, nhận được giá trị của di vật đặc biệt ấy, năm 1996, Carl Greifzu quyết định trao lại nó cho Fredric Whitehurst. Nhờ đó, cuốn nhật ký đã có được hành trình để trở về Việt Nam…

          Dù có rất nhiều cựu binh Mỹ đã tới Việt Nam thăm lại chiến trường xưa và đến Hà Nội thăm gia đình Anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, nhưng Carl Greifzu – người đã giữ cuốn sổ tay nhật ký của chị Trâm hơn 20 năm, vẫn chưa có dịp trở lại Việt Nam, kể từ sau năm 1975. Cho đến ngày 23-3-2016, ông mới đến thăm Việt Nam trong khoảng 10 ngày, không chỉ là với tư cách một cựu c.hiến binh Mỹ thăm lại c.hiến trường xưa, mà còn là tư cách của một người con về thăm đất quê vợ: vợ của Carl Greifzu quê ở Bắc Ninh.

                                                                                                St PQ

Thế nào là dân chủ theo các con rận

 Trong chuyến công du sang Mỹ,thủ tướng Phạm Minh Chính đã nêu rõ quan điểm của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Ngay sau đó, các đối tượng phản động đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, bóp méo phát biểu của Thủ tướng.

Những luận điệu cũ rích của chúng đó là xuyên tạc Điều 4 Hiến pháp, chúng cho rằng “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” thì quyền lực sẽ nằm toàn bộ trong tay Đảng. Thế nhưng, chúng lại không để cập tới việc Đảng là đại diện của nhân dân lao động, giai cấp công nhân và toàn dân tộc. Chúng cho rằng nhân dân Việt Nam không có quyền bầu cử, không có quyền tự do bày tỏ quan điểm và giám sát xã hội. Chúng lấy ví dụ là ba đối tượng Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, ba đối tượng này thuộc Hội Nhà báo độc lập, một hội nhóm được tạo ra chuyên phục vụ xuyên tạc, định hưởng sai dư luận.

Chúng cho rằng ba đối tượng trên bị bắt là do Đảng ta độc tài, không cho người dân lên tiếng. Chúng đang cố tình áp đặt ý chí của nhân dân Việt Nam là ý chí thể hiện qua 3 con người trên. Những hành động chống phá cực đoan của 3 đối tượng trên là bằng chứng rõ nhất cho khái niệm “dân chủ” của các đối tượng.

Nhà nước ta khuyến khích người dân lên tiếng chống tiêu cực, tham nhũng. Những vấn đề nhức nhối ngoài xã hội được xử lý một phần là nhờ ý kiến của nhân dân.

Chẳng có người dân nào muốn kéo đất nước “đi lùi”, chỉ có những đối tượng lúc nào cũng mang danh vì dân chủ nhưng lại có mưu đồ chống phá đất nước mà thôi./.

SỐNG KHÔNG TỐT THÌ TRÁCH AI?

 

          Anh dân chủ Trương Văn Dũng, tức Dũng Trương- kẻ bị công an Hà Nội bế đi hôm 21.5. Vừa vào trại được vài ngày, gia đình anh đã kiếm chuyện, cho rằng Công an Hà Nội "gây khó dễ cho gia đình trong việc tiếp tế cho ông".

          Lý do xuất phát từ việc trại tạm giam không nhận đồ và thức ăn mà vợ Dũng đã chuẩn bị sẵn từ nhà mà buộc phải mua thức ăn từ căng-tin của trại giam với giá đắt gấp nhiều lần so với giá thị trường. Ngoài ra cán bộ trại cũng không cho gửi tiền lưu ký mà chỉ được mua quần áo lót và thức ăn từ căng-tin của trại để chuyển vào. Phía trại cũng từ chối cho gia đình gửi sách vào trong với lý do họ không thể kiểm soát được nội dung.

          Tôi nghĩ việc trại không cho gửi tiền, thức ăn, đồ dùng hay thậm chí là sách là nội quy của trại tạm giam. Thời điểm tạm giam là thời điểm nhạy cảm, quan trọng, là một biện pháp để ngăn cản đối tượng bỏ trốn cũng như cơ quan điều tra tiến hành khai thác thông tin từ đối tượng theo các quy định tố tụng. Thời điểm này từ chối là đúng, ai biết được gia đình có gửi nhắn nội dung gì không, có tuồn thông tin để đối tượng đối phó với cơ quan điều tra hay không.    Ai cũng biết Dũng Trương là đối tượng chống đối quyết liệt, chẳng dại gì mà người ta làm trái quy định để mấy ông luật sư hay người nhà bị can có cơ hội để chỉ trích.

          Có trách thì trách anh Dũng, ở ngoài sống hẳn hoi thì không sao, đến khi bị bắt thì lại đòi quyền lợi như người thường. Nhân quả cả thôi!

                                                                                                St PQ