Cán bộ Bộ Tư lệnh chiến dịch Đồng Xoài vượt sông vào vị trí tập kết chiến dịch. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Trận Đồng
Xoài là một trận đánh do Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam, mà phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa
cũng gọi là Việt Cộng, trong thời kỳ chiến dịch Đông-Xuân năm 1965. Đây là trận
lớn nhất trong giai đoạn này của Chiến tranh Việt Nam. Trận
đánh này thực chất là một phần trong giai đoạn 2 của Chiến dịch Đồng
Xoài do quân Giải phóng tiến hành (10/5-22/7/1965).
Tiếp theo
sau chiến thắng tại Bình Giã chỉ huy của
quân Giải phóng miền Nam đã quyết định thực hiện các cuộc tấn công tiếp theo
đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong
một nỗ lực hủy diệt nhiều đơn vị của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong những
tháng trước khi dẫn đến trận đánh này tại Đồng Xoài, Quân giải phóng đã xuất kích
qua Phước Bình và Sông Bé. Các cuộc tấn công này dù có quy
mô nhỏ nhưng đã thúc giục phe Mặt trận mở cuộc tấn công tại huyện Đồng Xoài.
Quận Đồng
Xoài đã được bố trí Lực lượng đặc biệt và
quân địa phương của Việt Nam Cộng Hòa được
cố vấn Mỹ huấn luyện và chỉ huy. Với hệ thống phòng thủ mạnh, cố vấn Mỹ và quân
đội Việt Nam Cộng Hòa tự tin rằng căn cứ của họ có thể chống cự lại được tấn
công của đối phương. Tuy nhiên, dù các lực lượng Việt Nam Cộng Hòa được Mỹ yểm
trợ, Quân giải phóng đã có thể áp dụng chiến thuật của mình và đã đánh bại
(routed) được nhiều tiểu đoàn quân Việt Nam Cộng Hòa. Kết quả là một thất bại
nữa và sự mất mặt của các lực lượng quân chính quy của Quân lực Việt Nam Cộng
Hòa.
Bối cảnh
Doanh
trại của Lực lượng đặc
biệt Đồng Xoài nằm ở tỉnh Tây Ninh, cách Sài Gòn khoảng
88 km về phía tây bắc. Ngày 25 tháng 5 năm 1965,
quân của biệt đội A-342 đã được chuyển vào khi doanh trại được xây xong.
Kể từ
ngày Lực lượng đặc biệt đến, doanh trại này liên tục chịu các cuộc tấn công
bằng súng cối của quân đối phương mà không biết ý định của đối phương là gì và
Lực lượng đặc biệt trong trại tin rằng đó là quấy nhiễu như thông thường. Quan
điểm đó được củng cố thêm bởi các cuộc tấn công của quân Mặt trận vào các mục
tiêu liên quan ở Phước Bình, nơi Tiểu đoàn
5 của Trung đoàn Q762 phòng thủ khu vực và phải gánh chịu thương vong nặng nề
bởi lực lượng phòng thủ của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Việc phá
hủy tiêu khu Phước Bình và các cuộc tấn công lớn vào Sông Bé đã khiến cho lực
lượng tăng viện gồm 2 trung đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa được chuyển
tới. Với việc bổ sung quân này, việc tuần tra được tăng cường. Trong vòng hơn 2
tuần, tần suất các cuộc tấn công tăng lên. Mặc dù vậy, quân trong doanh trại này
có ít thời gian để chuẩn bị ứng phó với cuộc tấn công cuối cùng của Quân giải
phóng với lực lượng gồm Q762 và một số bộ phận của Trung đoàn Q763 mới được
thành lập.
Trận đánh
Trận đánh
bắt đầu vào rạng ngày 10 tháng 6 sau nửa đêm, khi Q762 của Mặt trận với một số
đơn vị từ Q763, một phần của Sư đoàn 9 đã tiến hành các cuộc tấn công với các
loạt súng cối không ngớt và các hỏa lực
nhỏ, bắn vào các boong ke và các vị trí súng máy. Vòng
phòng thủ ngoài của tiêu khu bị phá hủy và Quân giải phóng chiếm được các hệ
thống boong ke chủ chốt.
Do bất
ngờ bởi bị tấn công vào sáng sớm, những người lính bên trong doanh trại có ít
thời gian để phản ứng. Thiếu úy Charles W. Williams, chỉ huy của biệt đội đã ra
lệnh cho quân mình nắm giữ vị trí phòng thủ bên trong sở chỉ huy quận sau khi
ông đã nhận ra rằng doanh trại đã gần như bị địch phá tan.
Lúc sáng
sớm, quân lực Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện không kích vào các vị
trí của quân Mặt trận bằng bom napalm,
nhưng QGP đã bám chặt các vị trí bên trong các đồn điền cao su. Trong khi Quân giải phóng tiếp bắn phá doanh trại, một
trực thăng Huey UH-1 của Đại đội 118
Không lực Hoa Kỳ đã rời sân bay Tân Sơn Nhất chở
theo một số binh lính Sư đoàn Bộ binh 5 Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Nhiệm vụ chính
của họ là tăng viện cho quân phòng thủ của họ đang bị vây hãm trong doanh trại.
Hỏa lực phòng không của Quân giải phóng đã ngăn trở việc hạ cánh của máy bay
chở quân cứu viện tới, và quân Việt Nam Cộng Hòa trên mặt đất chịu thương vong
nặng nề.
Sau đó
một ngày, các lực lượng viện binh từ Tiểu đoàn 42 của Quân lực Việt Nam Cộng
Hòa đã bị buộc phải hạ cánh xuống Thuận Lợi, nơi họ lập tức giao chiến và tiếp
tục cho đến đêm. Một tiểu đoàn Mỹ đã hạ cánh tại đường băng Đồng Xoài nhưng đã
không được tướng William Westmoreland cho
tham chiến. Trung đoàn Q762 quân Giải phóng đã bao vây, tiêu diệt phần lớn lực
lượng tăng viện của đối phương.
Sáng
11/6, Hoa Kỳ tăng cường Tiểu đoàn Dù 7 và Tiểu đoàn Biệt động quân 46 cùng 1
đại đội pháo 105mm tiếp ứng cho Đồng Xoài. Ngày 12/6, khi Tiểu đoàn Dù 7 tiến
vào khu vực đồn điền Thuận Lợi để thu thập tàn binh, bị Trung đoàn Q762 vận
động phục kích tiêu diệt gần hết. Đây là tiểu đoàn dù đầu tiên thuộc lực lượng
cơ động chiến lược và là thần tượng về sức mạnh của quân đội Sài Gòn bị quân
Giải phóng tiêu diệt, khiến cho quân Việt Nam Cộng hòa đóng ở Củ Chi, Cây
Trắc... dọc quốc lộ 1 hoang mang.
Các điều
kiện bên trong quận Đồng Xoài tiếp tục xấu đi với việc thực phẩm, nước, thuốc
men và đạn dược còn ít. Sau một đêm kinh sợ bên trong trại, các cố vấn Hoa Kỳ
đã quyết định rút quân.
Trước
sáng sớm ngày 12 tháng 7, Quân giải phóng đã rút lui và biến mất trong rừng để
lại Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị đánh tan tác. Lực lượng còn lại này hoảng
loạn và mất tinh thần đã chịu tổn thất là 800 quân thương vong còn Mỹ thì chịu
35 trường hợp thương vong. Hàng chục trực thăng và xe cơ giới cũng bị quân Giải
phóng phá hủy.
Kết quả
Chiến
thắng tại Đồng Xoài đã vượt quá mong đợi của Bộ Tư lệnh Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam. Dù Quân giải phóng không giữ trận địa, họ vẫn giữ được
vị trí, thế và lực ở chiến trường, ngoài ra còn đạt được mục tiêu gây tổn thất
cho những đơn vị tốt nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Quân giải phóng rút lui và mang theo một chiến thắng chiến thuật cũng như các
cơ hội tuyên truyền. Theo Mặt trận, chiến thắng Đồng Xoài đã "thêm
một trang vẻ vang vào lịch sử đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam Việt Nam chống cuộc chiến tranh của Đế quốc Mỹ xâm lược".
Sau chiến
thắng ở Đồng Xoài, quân giải phóng tiếp tục thực hiện đợt 3 chiến dịch, từ ngày
24-6 đến ngày 22 tháng 7 năm 1965. Trên hướng Đường 13, Trung đoàn Q762 tập
kích một chiến đoàn hỗn hợp địch ở khu vực Bàu Bàng, loại khỏi vòng chiến đấu
hơn 400 lính. Trên hướng Bù Đốp, Trung đoàn 273 tiến công trại huấn luyện biệt
kích và chi khu Bù Đốp, diệt 2 đại đội, buộc địch phải rút bỏ cứ điểm Bù Gia
Mập, tạo điều kiện hỗ trợ nhân dân địa phương nổi dậy phá ấp chiến lược, mở
rộng vùng giải phóng, phát triển chiến tranh du kích ở hướng bắc Sài Gòn. Ngày
ngày 22 tháng 7 năm 1965, quân Giải phóng chủ động kết thúc chiến dịch.
Sau hơn 2
tháng (10/5-22/7/1965) tiến công, chiến dịch Đồng Xoài kết thúc với thắng lợi
của quân Giải phóng. Quân Giải phóng tuyên bố đã tiêu diệt 4 tiểu đoàn chủ lực,
24 đại đội bảo an và biệt kích, 6 chi đội cơ giới, 4 phân đội kĩ thuật, loại
khỏi chiến đấu gần 4.500 quân địch, bắn rơi 34 máy bay, phá hủy 60 xe quân sự,
6 đầu máy và 12 toa xe lửa, thu và phá hủy hơn 2.000 súng các loại, giải phóng
hơn 5 vạn dân hai tỉnh Bình Long và Phước Long, khai thông cửa khẩu biên giới
sang Campuchia, nối liền hành lang chiến lược từ miền Bắc qua đường Trường Sơn
vào miền Đông Nam bộ. Cùng với các trận Bình Giã, trận Ba Gia, thắng lợi của chiến dịch Đồng Xoài góp phần làm
thất bại hoàn toàn chiến lược "chiến tranh đặc biệt"
của Mỹ ở miền Nam; đánh dấu bước trưởng thành mới về trình độ tổ chức chuẩn bị
và tác chiến tập trung của quân Giải phóng[2]
Trung
đoàn Q762 của Mặt trận đã được Mặt trận gọi tên "Trung đoàn Đồng
Xoài" sau cuộc chiến thắng quân sự này.
NGĂN CHẶN SUY THOÁI TỪ SỚM, TỪ XA
Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam các ông Nguyễn Thanh Long (cựu Bộ trưởng Bộ Y tế); Chu Ngọc Anh (cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội), Phạm Công Tạc (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) ngay sau khi các ông này bị xử lý kỷ luật Đảng và chính quyền, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
Vụ việc này thêm một lần nữa cho thấy, suy thoái là một loại “virus” vô cùng nguy hiểm, không trừ một ai. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả, cách tốt nhất là ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...
Suy thoái không trừ một ai
Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...
Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.
Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.
Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.
Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.
Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.
Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.
Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.
Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan
Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.
Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.
Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...
Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.
Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa
Báo cáo chính trị Đại hội XII, trong phần phương hướng nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định: “Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta bổ sung, nhấn mạnh: “Phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”.
Như vậy, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ giữ trọng trách trong Đảng và hệ thống chính trị của đất nước, chính là một trong những yếu tố bất lợi, yếu tố gây nguy cơ đột biến ngay từ bên trong. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong các bài viết, bài phát biểu liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập, nhấn mạnh việc chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Tổng Bí thư cho rằng, bên cạnh “pháp trị” phải coi trọng “đức trị”; bên cạnh “pháp lý” phải đề cao “đạo lý”... “Đức trị”, “đạo lý” là cái gốc, là nền tảng để thực hiện hiệu quả “pháp lý”, “pháp trị”... Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, công tác kiểm tra phải chủ động đi trước một bước. Phải kiểm tra thường xuyên kết hợp với kiểm tra khi đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm.
Để “vũ trang” cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... trên cơ sở Điều lệ Đảng, gắn với đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động. Đó là cơ sở, nền tảng để chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Muốn phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị từ sớm, từ xa, cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải lấy yếu tố văn hóa Đảng làm trọng, đặt đạo đức của Đảng lên hàng đầu.
Sinh thời, Bác Hồ dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là vì thế. Khi cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ trì các cấp có đầy đủ văn hóa, đạo đức của Đảng, sẽ có nguồn lực nội sinh đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...
Các giải pháp đẩy mạnh đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động Đoàn
Tập hợp thanh niên đến với tổ chức Đoàn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động Đoàn. Bên cạnh việc tích cực tuyên truyền, vận động thanh niên đến với tổ chức Đoàn, các cơ sở Đoàn cũng đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch tập hợp thanh niên phù hợp với tình hình thực tế của từng đơn vị. Tuy nhiên, công tác này vẫn đang gặp nhiều khó khăn hạn chế.
1. Vai trò của việc đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động Đoàn
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, các thế hệ thanh niên Việt Nam luôn nêu cao tinh thần yêu nước, không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng dấn thân vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Được Đảng và Bác Hồ kính yêu sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung và Đoàn TNCS Bộ Tư pháp nói riêng đã và đang không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, làm tốt công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, phát huy tinh thần đoàn kết, tình nguyện tham gia các phong trào hành động cách mạng, xứng đáng là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam.
Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước là điều kiện, cơ hội tốt để tuổi trẻ phát huy truyền thống anh hùng cách mạng của các thế hệ cha anh, vươn lên khẳng định mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, cũng có không ít khó khăn, thách thức đang đặt ra đối với thanh niên Việt Nam. Đó là những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường; những âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch đang tìm mọi cách lôi kéo, chia rẽ, làm lung lạc niềm tin của thế hệ trẻ, nhằm phá hoại lực lượng kế cận của cách mạng, rường cột của nước nhà. Chính vì vậy, tập hợp thanh niên, phát huy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của thanh niên, khơi dậy tinh thần cống hiến của tuổi trẻ, hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp... là những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung và Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp nói riêng.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò, công tác thanh niên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để thanh niên hoạt động, vươn lên khẳng định mình. Xác định được tầm quan trọng của việc đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động Đoàn; Một phong trào thanh niên lớn mạnh hay không tất cả phụ thuộc vào mỗi cá nhân và khối đoàn kết của tập thể, vì vậy, từ Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 25-7-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã khẳng định: “Mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên là nội dung quan trọng của công tác Đoàn để giáo dục, bồi dưỡng, động viên và phát huy vai trò thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
2. Thực trạng việc đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động Đoàn
2.1. Đánh giá chung
Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp là tổ chức Đoàn tương đương cấp huyện trực thuộc Đoàn Khối các cơ quan Trung ương. Tính đến hết ngày 31/12/2017, Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp có 36 Chi đoàn, Đoàn cơ sở trực thuộc, trong đó có 7 Chi đoàn, 20 Chi đoàn cơ sở, 04 Đoàn cơ sở và 05 Đoàn trường Trung cấp với tổng số đoàn viên là 1.572 đồng chí (trong đó có 569 đoàn viên là công chức, viên chức cơ quan Bộ, 1.003 đoàn viên là học sinh các trường Trung cấp Luật). Với đặc trưng là cơ quan quản lý nhà nước cấp Bộ, phần lớn đoàn viên, thanh niên là công chức, viên chức, là lực lượng thanh niên có trình độ, chuyên môn cao, đang trực tiếp tham mưu, triển khai thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, do đó, trong những năm qua, Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp luôn thực hiện tốt và không ngừng mở rộng việc đoàn kết, tập hợp thanh niên, phát huy mạnh mẽ vai trò xung kích, tình nguyện của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Với phương châm đoàn kết, tập hợp thanh niên thông qua xây dựng tổ chức, triển khai các phong trào thanh niên và các cá nhân tiêu biểu, Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp đã không ngừng nâng cao việc đoàn kết, tập hợp thanh niên trên những nguyên tắc chủ yếu sau:
Thứ nhất, coi trọng việc củng cố tổ chức và phát triển phong trào trong toàn thể đoàn viên, thanh niên; đa dạng hóa, cụ thể hóa các phong trào hành động lớn của Đoàn: “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” thành các phong trào nhánh phù hợp với hoạt động của từng Chi đoàn, đoàn cơ sở. Qua đó, phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng cơ sở Đoàn trong sự nghiệp phát triển ngành, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nội dung hoạt động của Đoàn, Hội ngày càng phong phú, thiết thực, hiệu quả, chủ động gắn kết các vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh ở cơ sở. Nhờ sự lan tỏa rộng đến mọi đối tượng, lĩnh vực, địa bàn khác nhau đã tạo nên sức thu hút, tính dẫn dắt, tính định hướng và khả năng kết nối của các phong trào thanh niên. Bên cạnh đó, không ngừng củng cố, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động trên cơ sở phát huy vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn, qua đó, quá trình đoàn kết, tập hợp thanh niên đã biến thành quá trình tự tập hợp.
Thứ hai, mở rộng hoạt động và xây dựng tổ chức đối với các đối tượng thanh niên tiêu biểu; thông qua các phong trào, từng bước xây dựng các nòng cốt thanh niên, tiến tới thành lập tổ chức. Từ đó, xây dựng phương thức sinh hoạt, hoạt động của Ban, Hội theo hướng sát hơn với tâm tư, nguyện vọng và kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc trong thanh niên để họ là chủ thể trong các hoạt động do Đoàn thanh niên tổ chức.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong đoàn kết, tập hợp thanh niên. Trước xu hướng việc sử dụng mạng xã hội của thanh niên có chiều hướng tăng nhanh, Đoàn Thanh niên Bộ đã thực hiện sử dụng mạng xã hội để lắng nghe ý kiến, chủ động tiếp cận và định hướng cho thanh niên; tổ chức các nhóm nòng cốt của Đoàn tham gia các diễn đàn mạng để nắm bắt, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng và gửi các nội dung thông điệp tuyên truyền của Đoàn đến thanh thiếu niên; tăng cường kết nối, đoàn kết, tập hợp thanh niên ở nước ngoài, thông qua mạng xã hội, các diễn đàn, các chương trình giao lưu trực tuyến.
Sự đổi mới về nguyên tắc nói trên đã tạo điều kiện để việc đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động Đoàn không ngừng được mở rộng cả về đối tượng, khu vực.
2.2. Thuận lợi
Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ và Ban Thường vụ Đoàn Khối các cơ quan Trung ương, công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Đoàn Bộ trong những năm qua được triển khai khá đa dạng, là một cơ quan đầu ngành về pháp luật nên Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp luôn xác định trọng tâm các hoạt động của Đoàn là gắn liền với công tác chuyên môn của cơ quan, đơn vị, nhằm tạo điều kiện cho đoàn viên thanh niên vừa đảm bảo tham gia sinh hoạt Đoàn vừa phục vụ tốt nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị.
Nhiều phong trào thanh niên được tổ chức thành công, ý nghĩa đã góp phần nâng cao chất lượng và nhận thức của đoàn viên, thanh niên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động Đoàn.
2.3. Khó khăn
- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được triển khai thường xuyên, hoạt động chưa thực sự hấp dẫn; công tác tuyên truyền nhân rộng các điển hình tiên tiến chưa kịp thời và liên tục; việc nắm bắt, định hướng tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên có lúc còn chưa kịp thời.
- Lực lượng đoàn viên, thanh niên của Bộ Tư pháp còn mỏng, số lượng đoàn viên có tuổi đời trẻ không nhiều, do vậy các hoạt động của Đoàn Bộ đôi khi thiếu nguồn nhân lực để thực hiện. Bên cạnh đó, một bộ phận nhỏ thanh niên do hạn chế về nhận thức, ít quan tâm tới hoạt động Đoàn, chưa thực sự nhiệt tình, trách nhiệm tham gia hoạt động đoàn.
- Đoàn viên, thanh niên đều là công chức, viên chức, phải thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nên đôi khi tỷ lệ tập hợp thanh niên vào các hoạt động của Đoàn còn thấp và gặp nhiều khó khăn; bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động Đoàn ở cơ sở còn nhiều khó khăn.
3. Các giải pháp nhằm đẩy mạnh đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động Đoàn
Để tiếp tục nâng cao chất lượng trong công tác đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên tham gia hoạt động đoàn trong thời gian tới, trong đó chú trọng thu hút đoàn viên, thanh niên, làm cho đoàn viên, thanh niên và người trẻ đến với Đoàn một cách tự nhiên, tự nguyện, Chi đoàn Thanh tra Bộ đề xuất một số giải pháp sau:
Một là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; phát động và duy trì các chương trình hành động, cuộc vận động theo hướng tập trung, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới, phù hợp khả năng, nguyện vọng chính đáng của thanh niên. Xây dựng cơ chế phối hợp để thể hiện rõ hơn nữa vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tăng tính đoàn kết, tính liên hiệp của các tổ chức thành viên của Đoàn Bộ; tăng cường sự kết hợp với cấp ủy Đảng, lãnh đạo các đơn vị nhằm đẩy mạnh các hoạt động giáo dục truyền thống, giáo dục pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh cho đoàn viên, thanh niên.
Hai là, chú trọng thực hiện những phương thức mới trong đoàn kết, tập hợp đoàn viên, thanh niên. Phát huy hiệu quả các thiết chế của Đoàn trong tổ chức hoạt động, phát triển phong trào và xây dựng tổ chức tại các đơn vị. Triển khai phương thức tập hợp thanh niên trên mạng Internet và các mạng viễn thông khác theo hướng xây dựng, hoàn thiện và kết nối các nhóm của các chi ddaonf, đoàn cơ sở. Từ đó, tạo môi trường thông tin lành mạnh, các sân chơi hấp dẫn trên mạng, từng bước khai thác các ứng dụng, tiện ích của các mạng xã hội đang có số lượng thành viên đông để truyền tải thông tin, nắm bắt dư luận, kịp thời định hướng, giáo dục cho thanh niên. Thiết kế, lựa chọn các phong trào thanh niên trên cơ sở nguyện vọng của đoàn viên, thanh niên và yêu cầu của đất nước, đảm bảo tính rộng khắp và bền vững.
Ba là, làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác Đoàn. Chú trọng phát hiện, vun trồng, tuyên dương các điển hình tiên tiến từ thực tiễn phong trào, tạo tác động lan tỏa đến các đối tượng thanh niên. Tham mưu cơ chế, chính sách tài năng trẻ, phát triển và đào tạo cán bộ Đoàn có óc tổ chức, nhiều ý tưởng, sáng kiến, khả năng ăn nói hấp dẫn, thuyết phục, xem đây là một giải pháp tích cực cho quan điểm tập hợp thanh niên thông qua điển hình xuất sắc.
Bốn là, phát động các phong trào thanh niên thiết thực, ý nghĩa nhằm khích lệ, bồi dưỡng và phát huy ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, khát vọng chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu trong thanh niên Việt Nam. Xây dựng các phong trào dựa trên truyền thống quý báu của dân tộc ta, được thanh niên đón nhận đầy tự hào như một đặc trưng của giới trẻ: đó chính là lòng yêu nước, tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách... Đây chính là động lực, là sợi chỉ đỏ kết nối tất cả các lực lượng thanh niên Việt Nam, không ngừng rèn luyện, phấn đấu và cống hiến cho quê hương, đất nước.
Năm là, tăng cường nghiên cứu, xây dựng, tổ chức hướng dẫn, tập huấn về kỹ năng sinh hoạt Đoàn cho đội ngũ cán bộ cơ sở Đoàn thay cho những hình thức sinh hoạt đã trở nên quá quen thuộc, cũ kỹ và nhàm chán không thu hút được đoàn viên, thanh niên.
Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, tiếp tục triển khai tổ chức nhiều hoạt động hội thao, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao... để thu hút đông đảo đoàn viên thanh niên tham gia, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của đoàn viên, thanh niên trong Bộ, tạo sự gắn kết tập thể giữa các chi đoàn, đoàn cơ sở trực thuộc.
Tự hào truyền thống hơn 86 năm xây dựng, cống hiến và trưởng thành, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Bộ Tư pháp sẽ phát huy tinh thần tiên phong, bản lĩnh, đoàn kết, sáng tạo, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thành công mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Bình đẳng giới là gì và tại sao chúng ta cần bình đẳng giới
Theo Liên hợp quốc, bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và đàn ông được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người và có cơ hội đóng góp, thụ hưởng những thành quả phát triển của xã hội nói chung.
Tại Mỹ, các tổ chức xã hội phải mất hơn 70 năm (từ năm 1848 cho đến năm 1920) để đấu tranh và tạo cho phụ nữ một vài quyền cơ bản như: Quyền được bảo hộ; quyền bình đẳng cho phụ nữ da màu nói riêng và phụ nữ nói chung; cải thiện điều kiện sống, mức lương làm việc và quyền bầu cử tại Mỹ. Một số nhà hoạt động nhân quyền còn hy sinh tính mạng của mình để đấu tranh cho các quyền này. Thế nhưng, ở nhiều nước khác, những bất bình đẳng giới vẫn còn tiếp diễn.
Theo thống kê, có 77% đàn ông trong giữ vai trò là lực lượng lao động chính. Trong khi đó phụ nữ chỉ chiếm khoảng 50% hoặc chưa tới số đó (ở một số nước, số lượng phụ nữ có mặt trong lực lượng lao động chính còn ít hơn rất nhiều). Thu nhập mà phụ nữ nhận được trung bình chỉ bằng khoảng 77% nam giới; tức là vẫn thấp hơn 23%. Với mỗi 1 đô-la một người đàn ông kiếm ra, phụ nữ tại Mỹ La-tin chỉ kiếm được 56 cents và phụ nữ Mỹ-Phi kiếm được khoảng 64 cents (tức là chỉ hơn một nửa). 62 triệu bé gái bị từ chối quyền học hành trên toàn thế giới (số liệu của Liên hợp quốc). Hàng năm, có tới 15 triệu trẻ em gái dưới 18 tuổi bị ép tảo hôn và hôn nhân sắp đặt sẵn của gia đình. Cứ 5 nạn nhân của nạn buôn người thì có tới 4 là nữ (Số liệu của quỹ Malala). Có tới 125 triệu phụ nữ và trẻ em gái là nạn nhân của tục cắt âm vật (Female genital mutilation) trên toàn thế giới. Có ít nhất 1000 vụ giết phụ nữ và bé gái vì danh dự gia đình xảy ra hằng năm ở Ấn Độ và Pakistan. Cứ 5 sinh viên nữ thì có 1 người là nạn nhân của tấn công tình dục tại trường học hay giảng đường. Tại Mỹ, cứ mỗi 15 giây trôi qua sẽ có một người phụ nữ bị chồng hoặc bạn trai đánh đập (domestic violence)
Còn tại việt Nam, phụ nữ và trẻ em gái vẫn thiệt thòi hơn nam giới và trẻ em trai trong một số lĩnh vực. Tỷ lệ phụ nữ làm công ăn lương chỉ bằng khoảng hơn một nửa so với nam giới. Mức lương của phụ nữ thấp hơn nam giới. Ví dụ: mức lương bình quân thực tế theo giờ công lao động của phụ nữ chỉ bằng khoảng 80% so với nam giới. Thời gian phụ nữ dành cho công việc nhà không được thù lao gấp đôi nam giới. Số giờ công lao động hưởng lương của nam giới và phụ nữ là tương đương nhau. Tuy nhiên thời gian phụ nữ dành cho việc nhà lại gấp đôi nam giới, đây là những công việc không được thù lao. Do đó, họ không có thời gian để tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí, văn hoá, xã hội và tiếp tục nâng cao trình độ học vấn. Chưa kể, điều kiện dinh dưỡng của phụ nữ kém hơn so với nam giới. Phụ nữ trưởng thành, đặc biệt là phụ nữ ở các vùng nông thôn, các gia đình nghèo và các dân tộc thiểu số, vẫn có nhiều khả năng bị suy yếu sức khỏe hơn nam giới. Ngoài ra, họ vẫn còn gặp nhiều trở ngại hơn đàn ông trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng, đặc biệt vì phụ nữ thường không có tài sản thế chấp như đất đai. Mặc dù luật đất đai ở Việt Nam không phân biệt đối xử với phụ nữ, song những tập quán phổ biến làm cho họ bị yếu thế hơn, bởi quyền sử dụng đất thường chỉ đứng tên người chồng. Ngoài những những thông tin trong báo cáo trên, rõ ràng trên thực tế người phụ nữ vẫn gặp nhiều trở ngại hơn so với nam giới trong việc tham gia vào các công việc cũng như các hoạt động xã hội. Đặc biệt tình trạng bạo lực gia đình, bạo lực giới vẫn đang tồn tại ở nhiều nơi (theo báo cáo của UNFP).
Bình đẳng giới không chỉ là để giải phóng phụ nữ, mà còn là giải phóng đàn ông. Khi quá đề cao nam giới và hạ thấp nữ giới thì không chỉ có nữ giới bị ảnh hưởng mà nam giới cũng bị ảnh hưởng theo. Chẳng hạn, quan niệm nam giới phải mạnh mẽ, không được khóc, không được thể hiện cảm xúc là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tỉ lệ tự tử ở nam cao gấp 3 lần nữ giới, tuổi thọ cũng ngắn hơn. Rất nhiều nam giới bị rối loạn tâm lý nhưng không dám đi khám hay chữa hoặc tìm đến sự giúp đỡ vì họ sợ bị dị nghị là “yếu ớt” hay “thiếu nam tính”. Chưa kể, nếu họ có theo đuổi các ngành nghệ thuật thì sẽ bị miệt thị và nói là “yếu đuối”, “đàn bà”, “gay”…
Hiện tại, trên thế giới có rất nhiều phụ nữ là những nhà nghiên cứu khoa học hàng đầu, có nhiều người thậm chí đã được giải Nobel về Sinh học, Vật lý, Hóa học. Tại các nước phát triển ở Bắc Âu, hay Canada, Singapore… rất nhiều người đứng đầu các phòng nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học chính trị là nữ giới. Trong các ngành STEM (Science, Technology, Engineering and Mathematics), những nhà khoa học nữ có hiệu suất làm việc ngang bằng với các nhà khoa học nam. Một số nghiên cứu còn cho rằng, bình đẳng giới giúp thúc đẩy phát triển kinh tế, vì khi cho phụ nữ cơ hội như nam giới, họ sẽ có khả năng giúp đỡ và san sẻ công việc cho nhau nhiều hơn.
Do đó, đấu tranh cho quyền phụ nữ (women’s rights) và bình đẳng giới là cần thiết và ý nghĩa trong mọi thời điểm.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa hiện nay
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân tố con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát tiển kinh tế - xã hội, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Bởi vì, suy cho cùng mục tiêu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước là phải hướng tới phục vụ con người, giải phóng con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người, tạo cơ hội và điều kiện để con người tham gia làm chủ vào quá trình sáng tạo xã hội. Có thể khẳng định, đổi mới không thể thành công, nếu chúng ta không tạo ra được môi trường xã hội thuận lợi để khơi dậy hoạt động sáng tạo của con người. Tính chất và hiệu quả của sự nghiệp đổi mới phụ thuộc vào tính chất và hiệu quả của việc giải quyết vấn đề con người.
bac ho va quyen con nguoi
Bác Hồ chia quà Tết cho các cháu nhỏ ở Hợp tác xã Khe Cát, huyện Yên Hưng,
tỉnh Quảng Ninh ngày 2/2/1965 (Ảnh: Internet)
Chính vì lẽ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn đặt công cuộc đổi mới trong mối quan hệ với việc giải quyết vấn đề con người nói chung, trong xây dựng con người nói riêng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH thông qua tại Đại hội lần thứ VII (tháng 6-1991) đã xác định vấn đề con người là một trong sáu đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Đó là “con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”.
Trong văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.... chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính”.
Với những tư tưởng, quan điểm, biện pháp xây dựng con người trong công cuộc đổi mới, tư tưởng, đạo đức và lối sống của con người Việt Nam hiện nay đã có những chuyển biến tích cực, quan trọng. Các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc được đề cao, kế thừa, phát triển; đồng thời nhiều giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức mới từng bước được hình thành. Tính năng động và tích cực của mỗi người được phát huy, sở trường và năng lực sáng tạo cá nhân được khuyến khích. Không khí dân chủ trong xã hội ngày càng được mở rộng và phát triển.
Bên cạnh những mặt đã đạt được thì sự tha hóa, lối sống xa hoa, phù phiếm, giả dối, cá nhân, vị kỷ, vô cảm ... có xu hướng ngày càng phát triển, bệnh thành tích và hình thức ngày càng lan rộng; đạo đức, lối sống, nhân cách của người Việt Nam nhiều nơi, nhiều lúc đang ở mức báo động.
Từ thực trạng đó, trong thời gian tới, Đảng ta xác định cần phải xây dựng, phát triển con người Việt Nam để đáp ứng sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế. Trong xây dựng, phát triển con người C.Mác đã đưa ra luận điểm: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội.” Quan điểm của C.Mác chỉ ra rằng: Không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Bản chất con người hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực. Đó là những con người cụ thể, sống trong những điều kiện lịch sử cụ thể, một thời đại cụ thể. Trong điều kiện cụ thể đó, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Mặt khác, tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành nên bản chất của con người. Các quan hệ này tổng hoà với nhau có nghĩa là chúng có vai trò, vị trí khác nhau nhưng không tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập vào nhau. Qua đó, Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã khẳng định: Con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của lịch sử.
Từ quan điểm trên của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chúng ta hoàn toàn có thể suy luận: Muốn thay đổi bản chất con người phải thay đổi các quan hệ hiện thực của nó mà cơ bản là các quan hệ xã hội con người đang sống. Muốn xây dựng một xã hội tiến bộ vì con người thì phải xoá bỏ tất cả các quan hệ làm tha hoá con người, phải giải phóng con người khỏi mọi sự tha hoá, trả lại vị trí làm chủ và sáng tạo cho con người.
Vì vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng con người phải đi sâu phân tích những quan hệ kinh tế, xã hội đã làm nên con người. Mỗi con người luôn luôn bị chi phối, quyết định bởi các quan hệ kinh tế - xã hội, đó là quan hệ kinh tế hiện thực, là quan hệ chính trị, quan hệ đạo đức, quan hệ pháp quyền .... Và việc xây dựng con người, điều có ý nghĩa quyết định là biến đổi những quan hệ kinh tế - xã hội.
Tiếp thu những tư tưởng, quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít người Việt Nam đã tiếp cận sớm nhất và sâu rộng nhất vấn đề quyền con người, và chính bản thân Người đã phấn đấu hy sinh suốt đời cho việc thực hiện quyền con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự kế thừa và kết tinh những giá trị tư tưởng nhân văn truyền thống của dân tộc ta và tư tưởng nhân quyền tiến bộ của nhân loại. Người cho rằng, chúng ta đã hy sinh làm cách mạng thì nên làm cho đến nơi, để khỏi hy sinh nhiều lần, để giao quyền cho dân chúng số nhiều, để bảo đảm cho dân chúng được hạnh phúc. Cách mạng "làm cho đến nơi" chính là cách mạng vô sản, cách mạng XHCN - con đường duy nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, bảo đảm thực hiện quyền con người.
Từ quan điểm trên, trong những năm tới, để xây dựng, phát triển con người Việt Nam, cần phải giải quyết tốt các vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân. Hiện nay, chúng ta đang từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đó là nhà nước được tổ chức, hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và các luật trong đời sống xã hội; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Trong đó, pháp luật là ý chí của nhân dân, nó định hướng mọi công dân và tổ chức xã hội vươn tới cái chân, thiện, mỹ, vươn tới tự do đích thực của con người. Chỉ khi có một Nhà nước như vậy mới có thể phát huy được quyền dân chủ của nhân dân, đảm bảo quyền sống, quyền được làm việc, được lao động, được học hành, được đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội. Nó ảnh hưởng tới sự lành mạnh của nền dân chủ, tới cuộc sống và số phận của từng người dân, tới chiều hướng phát triển của xã hội.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu tất yếu. Chính tính hợp quy luật đó đã tạo ra địa bàn thuận lợi cho việc phát huy tính chủ động sáng tạo của con người, phát huy nhân tố con người trong giai đoạn đổi mới vừa qua. Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, với cơ chế thị trường Nhà nước phải sử dụng chính sách, pháp luật; phải có thể chế phù hợp để điều tiết có định hướng và hạn chế những hiện tượng tiêu cực, tự phát. Đây là yêu cầu cần thiết phải làm.
Thứ ba, từng bước hoàn thiện và mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực. Đảng Cộng sản Việt Nam một mặt khẳng định vai trò chủ thể của con người, mặt khác, chỉ rõ để con người có điều kiện phát triển toàn diện và thực sự là chủ thể, cần phải có cơ chế thích hợp. Cơ chế đó là mở rộng dân chủ, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho nhân dân phát huy tối đa quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực. Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", không phải chỉ là hoạt động của những công dân, mà chính là hoạt động của người chủ xã hội. "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" phải được thể chế hóa một cách cụ thể trong từng việc, từng hoạt động, cho từng đơn vị, từng cộng đồng dân cư.
Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.Giáo dục, đào tạo nói chung, nhà trường nói riêng là nơi cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về cuộc sống cho mỗi người, góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển con người. Vì vậy, Đảng ta đã coi giáo dục - đào tạo là “quốc sách hàng đầu" và đã đưa ra các phương hướng chủ yếu để phát triển trí tuệ con người Việt Nam trên các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo cần đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, trường lớp cho giáo dục; xây dựng chiến lược đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và lòng yêu nghề; có chính sách hỗ trợ cho học sinh nghèo ...
Thứ năm, xây dựng môi trường văn hóa.Muốn xây dựng con người có văn hóa thì phải xây dựng được môi trường văn hóa. Xây dựng con người có văn hóa phải bắt đầu từ mỗi gia đình, đơn vị sản xuất, công tác, học tập và cộng đồng dân cư. Con người Việt Nam chỉ có thể có được những phẩm chất tốt đẹp nếu được sống trong một môi trường xã hội tốt. Môi trường đó trước hết là từ mỗi gia đình. Gia đình chính là mạch nguồn, là chiếc nôi ban đầu nuôi dưỡng và hình thành nhân cách con người Việt Nam, theo những chuẩn mực truyền thống của giống nòi. Mỗi gia đình có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con cái, cung cấp cho xã hội những công dân hữu ích. Gia đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn, gia đình phải trở thành môi trường tốt, môi trường đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách cho con người. Như vậy, việc xây dựng gia đình ấm no, thuận hoà, hạnh phúc là điều kiện, môi trường quan trọng, trực tiếp tạo nên các thế hệ sau có chất lượng cả về thể chất lẫn tinh thần nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc, đồng thời góp phần vào việc xây dựng, phát triển con người mới.
Xây dựng cộng đồng dân cư (thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố) văn hóa góp phần tăng cường "tình làng, nghĩa xóm", tương trợ giúp nhau cùng tiến bộ; tạo điều kiện cho nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo văn hóa, thực hiện tốt nếp sống văn minh, ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội; giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo, đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển. Đây là yếu tố quan trọng, là môi trường hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người.
Tóm lại, việc thực hiện tốt các vấn đề trên sẽ góp phần vào việc xây dựng, phát triển con người Việt Nam, trong đó, mỗi người kế thừa tinh hoa trong nhân cách văn hóa Việt Nam từ ngàn đời để xây dựng nhân cách con người Việt Nam với các giá trị văn minh mới của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế./.
Thời gian qua, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Ban chỉ đạo 35 các cấp được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã hoạt động hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Tuy nhiên, trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Một là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của các đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay cần có những nội dung, phương thức phù hợp với từng thời điểm, giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; xây dựng đội ngũ thông tin viên rộng rãi, nhất là hội viên các đoàn thể nhân dân…
Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp, giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu rõ và nắm vững bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch…
Ba là, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(6). Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, được hiện thực hóa, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.
- Trong gần ba thập niên qua, Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Mặc dù vậy, kim ngạch xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm cuối, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, phụ tùng và vật liệu nhập khẩu. Trong thời gian tới, cần có cách tiếp cận mới đối với khu vực này để hướng tới mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững.
Hiện trạng công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam thời gian qua
Trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam hiện nay, các mặt hàng nguyên liệu và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ chiếm tỷ trọng cao và ít thay đổi trong suốt giai đoạn vừa qua. Việc phụ thuộc lớn vào linh kiện và phụ tùng nhập khẩu đã làm cho giá trị gia tăng tạo ra trong nước của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực. Công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam chỉ đóng góp khoảng 16% GDP so với mức 26% của Thái Lan, 36% của Trung Quốc. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển dịch cơ cấu, tăng tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP, nâng cao giá trị gia tăng trong nước và sức cạnh tranh của ngành công nghiệp.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm dây truyền sản xuất tại nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy của Tập đoàn Thaco ở Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam _Ảnh: Tư liệu
Công nghiệp hỗ trợ không phải là một ngành cụ thể được phân loại trong hệ thống ngành kinh tế. Do vậy, phạm vi của công nghiệp hỗ trợ được xác định rất khác nhau, tùy thuộc vào khái niệm và mục đích sử dụng của các nhà hoạch định chính sách. Phạm vi được xác định càng cụ thể thì việc hoạch định chính sách càng trở nên dễ dàng hơn và các chính sách đó cũng minh bạch và có tính khả thi cao hơn. Khái niệm và phạm vi của công nghiệp hỗ trợ được hiểu khác nhau ở các nước khác nhau. Trong khi Nhật Bản, Thái Lan xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ chỉ là các doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện cho các ngành ô-tô, xe máy, điện tử(1) thì ở Việt Nam, công nghiệp hỗ trợ lần đầu tiên được định nghĩa cụ thể tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg, ngày 24-2-2011, của Thủ tướng Chính phủ, “Về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ”, là “các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. Sau đó, Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, ngày 3-11-2015, của Chính phủ, “Về phát triển công nghiệp hỗ trợ”, định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là “các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh”. Với định nghĩa này, xét trong tổng thể ngành công nghiệp từ thượng nguồn đến hạ nguồn, công nghiệp hỗ trợ chính là các ngành thượng nguồn và trung nguồn, cung cấp đầu vào để sản xuất sản phẩm cuối cùng ở khu vực hạ nguồn. Như vậy, công nghiệp hỗ trợ chính là một phần quan trọng trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị. Nước nào có công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển mới có thể tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và chuyển dịch nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, gia tăng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP.
Tuy nhiên, nếu chỉ xét đến các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, công nghiệp hỗ trợ bao gồm một số nguyên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện - là đầu vào cho các sản phẩm hạ nguồn thuộc các ngành dệt may, da giầy, điện tử, ô-tô, cơ khí và công nghiệp công nghệ cao. Đây là căn cứ để xác định các mã ngành kinh tế tương ứng với phạm vi công nghiệp hỗ trợ trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg, ngày 6-7-2018.
Với cách xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ như vậy, số liệu khảo sát của Tổng cục Thống kê (năm 2018) cho thấy, cả nước có gần 5.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, cung cấp nguyên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng trong các ngành ô-tô, điện tử, cơ khí, dệt may, da giầy. Về vị trí địa lý, các doanh nghiệp tập trung phần lớn tại đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Về lĩnh vực hoạt động, ngành cơ khí và dệt may, da giày có số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhiều hơn so với các ngành khác. Xét về quy mô, 88% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa (có 300 lao động trở xuống). Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phân theo ngành, vùng, thành phần kinh tế và quy mô lao động được tổng hợp trong các bảng 1, 2, 3.
Cũng theo khảo sát của Tổng cục Thống kê, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chưa áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, hay những công cụ quản lý sản xuất thông dụng. Chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp có chứng nhận ISO 9000 (quản lý chất lượng), 9% doanh nghiệp có chứng nhận ISO 14000 (quản lý môi trường), cũng khoảng hơn 20% doanh nghiệp cho biết có thực hiện 5S tại doanh nghiệp. Trong khi các công cụ khác, như Lean, 6 sigma, hay TQM, TPM, số doanh nghiệp áp dụng chỉ khoảng từ 1% - 2%. Về trình độ công nghệ, khoảng trên 30% doanh nghiệp cho biết hiện vẫn đang sử dụng hoàn toàn thiết bị điều khiển thủ công, trên 50% có sử dụng thiết bị bán tự động, chỉ hơn 10% doanh nghiệp có sử dụng thiết bị tự động hóa và chưa đến 10% doanh nghiệp có sử dụng rô-bốt trong dây chuyền sản xuất. Điều này cho thấy, năng lực của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn khá thấp cả về năng lực quản lý sản xuất và trình độ công nghệ.
Kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa (88%), thiếu thông tin thị trường và cơ hội tiếp cận khách hàng. Xét theo chuỗi giá trị, tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động ở các phân khúc mang lại giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị khá thấp, chỉ có khoảng 19% doanh nghiệp dệt may, da giầy và 33% doanh nghiệp điện tử có thực hiện công đoạn thiết kế trong quá trình sản xuất. Tỷ lệ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tiếp cận được các ưu đãi, hỗ trợ từ các chương trình của Nhà nước vẫn còn khá thấp (17%), điều này cho thấy độ bao phủ của các chính sách, chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước còn hạn chế. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có thể là do các chương trình, chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ mới được triển khai vài năm trở lại đây, hoạt động tuyên truyền về chính sách, chương trình này còn hạn chế khiến nhiều doanh nghiệp chưa biết đến những chương trình, chính sách này.
Điểm đáng chú ý từ khảo sát đó là mặc dù các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đều thừa nhận không có thế mạnh về khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường, khả năng nghiên cứu phát triển sản phẩm, tầm nhìn chiến lược sản xuất và hệ thống quản lý doanh nghiệp...; các doanh nghiệp cũng xác định khó khăn đối với sự phát triển là tiếp cận khách hàng, thông tin thị trường và nguồn nhân lực,... nhưng khi được hỏi mong muốn của doanh nghiệp về các giải pháp hỗ trợ, phần lớn doanh nghiệp muốn được hỗ trợ về thuế, thủ tục hành chính, vốn, mà không phải là những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, điểm yếu mà doanh nghiệp đã xác định trước đó. Đây chính là thách thức không nhỏ trong quá trình thiết kế và triển khai các chính sách phát triển công nghiệp bởi sự khác biệt này.
Chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và cơ cấu công nghiệp của Việt Nam
Khái niệm chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị
Chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị thường được sử dụng thay thế cho nhau, nhưng thực tế hai khái niệm này không tương đương nhau. Trong khi chuỗi cung ứng chỉ bao gồm các liên kết đầu vào - đầu ra của các hoạt động sản xuất tạo ra chuỗi các sản phẩm thì chuỗi giá trị có phạm vi lớn hơn, bao gồm các hoạt động làm gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng và các dịch vụ bổ sung, bao gồm nghiên cứu và phát triển, thiết kế, marketing, logistics, hỗ trợ khách hàng...
Hình 1 chỉ ra sự khác biệt giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng dựa trên thực tế là chuỗi cung ứng tập trung vào chuyển đổi vật lý và vận chuyển nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng, trong khi chuỗi giá trị tập trung vào các hoạt động làm tăng giá trị kinh tế cho sản phẩm ở từng giai đoạn nhưng không nhất thiết phải liên quan đến sản xuất hoặc logistics.
Đối chiếu định nghĩa, phạm vi công nghiệp hỗ trợ đã nêu ở trên với khái niệm chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị có thể thấy, định nghĩa và phạm vi công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam đang được giới hạn trong khái niệm chuỗi cung ứng, do đó, các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ cũng chỉ giới hạn đối với các hoạt động sản xuất trong chuỗi cung ứng. Trong khi đó, để tăng giá trị gia tăng trong nước, ngoài các hoạt động trong chuỗi cung ứng, còn có thể mở rộng ra nhiều hoạt động khác trong chuỗi giá trị, như các hoạt động thiết kế, nghiên cứu phát triển... nhưng hiện nay, những hoạt động này nằm ngoài phạm vi hỗ trợ của các chương trình, chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho công nghiệp hỗ trợ.
Tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị
Sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ là phụ tùng, linh kiện, nguyên liệu, vật liệu, là hàng hóa trung gian, đầu vào cho hoạt động sản xuất sản phẩm cuối cùng. Do vậy, bất kỳ sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nào cũng đều được lắp ráp vào một sản phẩm cuối cùng, bất kỳ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nào cũng đều phải tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của một hay một vài doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng thông qua những hình thức khác nhau, có thể trở thành nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong nước, hoặc xuất khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ở nước ngoài. Việc trở thành nhà cung cấp cho doanh nghiệp nào (nội địa, có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI, hay xuất khẩu) phụ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Khảo sát của Tổng cục Thống kê cho thấy, 75% doanh nghiệp cung cấp hoàn toàn cho thị trường trong nước (trong đó cung cấp cho FDI chiếm khoảng 5%) và khoảng 8% doanh nghiệp cung cấp hoàn toàn cho thị trường xuất khẩu, 17% doanh nghiệp còn lại vừa cung cấp cho thị trường trong nước, vừa xuất khẩu. Như vậy, có thể nói khoảng 30% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Trong ngành dệt may, da giầy, 64% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 3% cung cấp cho doanh nghiệp FDI), 9% xuất khẩu và 27% cung cấp cho cả hai thị trường; trong ngành cao-su, nhựa, hóa chất, số doanh nghiệp cung cấp cho trường trong nước chiếm 52% và hoàn toàn cho xuất khẩu là 4%, 44% còn lại cung cấp cho cả hai thị trường; điện tử có 44% doanh nghiệp cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 22% cung cấp hoàn toàn cho FDI), 16% cung cấp cho thị trường xuất khẩu và 40% số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của ngành cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Ngành cơ khí, ô-tô, 83% doanh nghiệp hoàn toàn cung cấp cho thị trường nội địa, chỉ có 3% doanh nghiệp có doanh thu hoàn toàn từ xuất khẩu và 14% doanh nghiệp có doanh thu từ cả hai thị trường.
Một gian hàng tại Triển lãm Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 8 và Triển lãm quốc tế công nghệ chế tạo phụ tùng công nghiệp tại Việt Nam năm 2019_Ảnh: TTXVN
Thị trường thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ gồm: Hàn Quốc (25%), Nhật Bản (18,5%), Trung Quốc (14,5%) và Đài Loan (Trung Quốc) (8,9%). Xét theo từng ngành, với dệt may, da giày, thị trường xuất khẩu có nhiều doanh nghiệp tham gia là Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản; với cao-su, nhựa, hóa chất, số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu khá thấp (chưa đến 50%), thị trường xuất khẩu chính là Hàn Quốc và Nhật Bản; với ngành điện tử, Hàn Quốc và Nhật Bản là 2 thị trường chủ yếu, có đến 141 doanh nghiệp xuất khẩu sang Hàn Quốc và 53 doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản; thị trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí, ô-tô cũng chính là những thị trường truyền thống nêu trên, với thứ tự lần lượt là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc.
Để tính toán giá trị một nước tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã xây dựng phương pháp đo lường giá trị gia tăng trong thương mại xác định mức độ tham gia liên kết ngược (đo bằng giá trị gia tăng của nước ngoài trong xuất khẩu) và liên kết xuôi (đo bằng giá trị gia tăng trong nước trong xuất khẩu) trong chuỗi giá trị toàn cầu của một ngành/một quốc gia. Số liệu cập nhật đến năm 2016 cho thấy, giá trị gia tăng trong nước (liên kết xuôi) mặc dù tăng về giá trị tuyệt đối, nhưng ngày càng giảm về tỷ trọng; trong khi giá trị gia tăng nước ngoài (liên kết ngược), ngày càng tăng. Điều này cho thấy, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có hàm lượng nhập khẩu từ nước ngoài mỗi năm một tăng, có nghĩa là xuất khẩu của Việt Nam đang phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào nhập khẩu đầu vào từ nước ngoài, hay nói cách khác, tỷ trọng giá trị gia tăng của Việt Nam đóng góp vào chuỗi giá trị toàn cầu có xu hướng giảm dần trong thời gian vừa qua (Hình 2)(2).
Chỉ khi công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển, các doanh nghiệp trong nước mới có thể tăng tỷ trọng thu mua phụ tùng, linh kiện và nguyên liệu trong nước, khi đó Việt Nam mới có thể cải thiện được giá trị đóng góp và nâng cao vị thế của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Chuyển đổi cơ cấu công nghiệp Việt Nam
Số liệu thống kê trong giai đoạn vừa qua cho thấy, công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với mức đóng góp trong GDP đã tăng từ 12,9% năm 2010 lên 16,7% năm 2020. Nội ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng đang có sự dịch chuyển cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghệ cao cả về giá trị gia tăng và về kim ngạch xuất khẩu. Nếu năm 2010, giá trị gia tăng ngành chế biến, chế tạo chủ yếu cấu thành từ các ngành khai thác tài nguyên, thâm dụng lao động, như chế biến thực phẩm, dầu khí, dệt may, da giầy thì đến năm 2017, ngành điện tử đã vươn lên đứng đầu, với tỷ trọng đóng góp trong giá trị gia tăng ngành chế biến, chế tạo (MVA) là 25%. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam cũng có sự chuyển biến tích cực, với mức đóng góp của các mặt hàng chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ dưới 80% năm 2010 lên 87% năm 2020, trong đó, nội ngành chế biến, chế tạo chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành điện tử, với tỷ trọng tăng từ 12% năm 2010 lên 43% năm 2020. Kết quả này gắn liền với sự bùng nổ về đầu tư trong lĩnh vực điện tử sau khi Việt Nam gia nhập WTO và tham gia đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do.
Xét về mức độ ảnh hưởng của các ngành công nghiệp Việt Nam đến thị trường toàn cầu cũng có thể cho biết vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị và cơ cấu của ngành xét trên tổng thể thị trường toàn cầu. Số liệu thống kê về xuất, nhập khẩu cho thấy, Việt Nam có vị thế khá lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành da giầy, với thị phần gia tăng mạnh mẽ từ 4,1% năm 2010 lên 10,4% năm 2020. Vì có vị thế quan trọng như vậy, nên khi dịch bệnh xảy ra, các doanh nghiệp da giày tại Việt Nam phải tạm thời đóng cửa, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chuỗi giá trị toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam đã định vị được vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành nội thất, may mặc, điện tử, với thị phần toàn cầu của Việt Nam trong các ngành này đang ngày càng được cải thiện.
Dây chuyền may áo sơ mi xuất khẩu tại nhà máy của Tổng Công ty cổ phần May Nhà Bè _Ảnh: TTXVN
Phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm thúc đẩy tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và cơ cấu lại công nghiệp
Những phân tích trên đây cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ để có thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu và thúc đẩy quá trình cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cũng gợi ý một số giải pháp cần thực hiện để giải quyết một số bất cập hiện nay.
Thứ nhất, cần có cách tiếp cận công nghiệp hỗ trợ theo chuỗi giá trị, mở rộng phạm vi của công nghiệp hỗ trợ bao gồm các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng như hiện nay dẫn đến các chương trình ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước không đến được với các hoạt động mang lại giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp.
Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác truyền thông để các doanh nghiệp có thông tin và tiếp cận dễ dàng hơn với các chương trình ưu đãi, hỗ trợ của Chính phủ, từ đó, dần dần thay đổi nhận thức và đồng hành cùng các mục tiêu chung của đất nước. Bên cạnh đó, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả các dịch vụ công cũng là một trong những giải pháp cần thiết đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
Thứ ba, để có thể nâng cao năng lực doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững, cần hoàn thiện hệ thống pháp lý và thể chế hóa các biện pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp công nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp mang tính cốt lõi về kết nối kinh doanh, thông tin thị trường, hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý, phát triển thị trường, phát triển nguồn nhân lực... Những giải pháp này cần được triển khai đồng bộ với công tác truyền thông, thay đổi và nâng cao nhận thức của các bên liên quan và cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhằm hướng đến các mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững, qua đó, giúp doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thực sự chuyển mình, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể phát triển, vươn ra thế giới./.
------------------------
(1) Kenichi Ohno (Chủ biên): Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, Diễn đàn Phát triển Việt Nam, Hà Nội, 2007 (2) Cụ thể, tỷ trọng giá trị gia tăng trong nước của Việt Nam đã giảm từ 58,2% năm 2005 xuống 52,5% năm 2016, trong khi Thái Lan tăng từ 55,7% lên 61,3% trong cùng giai đoạn
Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với âm mưu hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, bằng các thủ đoạn, như: (i) Xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; (ii) Tập trung công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (iii) Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng...
Về kinh tế, chúng xuyên tạc, chống phá đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Các thế lực thù địch âm mưu làm cho nền kinh tế nước ta phát triển chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng bóp méo các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế thị trường…, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hôi dân sự” kiểu tư bản chủ nghĩa.
Về văn hóa, chúng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây; o bế các cây viết, khuynh hướng, xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; phát tán những tác phẩm cổ vũ sự chống đối, xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống, đòi “giải thiêng thần tượng”, “hạ bệ thần tượng”. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng của đảng viên và nhân dân ta.
Về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam…./.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp, khai sinh ra Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 35 năm đổi mới, nước ta luôn giữ vững ổn định chính trị, xã hội; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay… Từ điều kiện thực tiễn của cách mạng, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đưa cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là minh chứng sống động và thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn của cách mạng Việt Nam trong việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên hiện nay, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”./.