Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ CUỘC GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA


Dù không nằm trong kế hoạch chiến lược ban đầu của cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, nhưng khi thời cơ đến, nhận định đúng tình hình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Quân ủy trung ương đã kịp thời kiến nghị Bộ Chính trị cho phép tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa, trước sự lăm le nhòm ngó của nước ngoài.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên và chính ủy Đặng Tính thăm đường 20
“Điều đó cho thấy tầm nhìn chiến lược cao rộng của anh Văn - người mà lịch sử đã trao cho sứ mệnh làm tổng tư lệnh quân đội để bảo vệ vẹn toàn Tổ quốc với “tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” mà cha ông để lại” - thiếu tướng, anh hùng Mai Năng - nguyên tư lệnh Binh chủng đặc công, người chỉ huy cuộc tiến công giải phóng Trường Sa tháng 4-1975, nói.
“Nếu chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước”
Trong tác phẩm Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành riêng một chương “Giải phóng Trường Sa” để hồi tưởng sự kiện này.
Ông viết: “Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị Trung ương Đảng: Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25-3-1975”. Ông cho biết đây là “sự kiện đặc biệt đã diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu”.
Ông Mai Năng, khi ấy đeo quân hàm thượng tá, chỉ huy Đoàn 126 đặc công nước huyền thoại, đang ém quân ở Hải Phòng chờ lệnh tiến về Sài Gòn, kể lại: “Phải nói rằng khi ấy trong tâm tưởng mỗi người lính và chỉ huy chúng tôi thì mục tiêu là được tham gia đoàn quân tiến về Sài Gòn, thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng thống nhất đất nước.
Cuối tháng 3-1975, tôi bất ngờ nhận được mật lệnh: lập tức chuyển quân vào Đà Nẵng, chọn lực lượng tinh nhuệ, chuẩn bị giải phóng quần đảo Trường Sa. Tôi tuyển lựa khoảng 250 chiến sĩ tinh nhuệ, sẵn sàng cho trận tiến công lịch sử ngoài biển khơi bao la. Sau này tôi mới biết chính anh Văn là người thay mặt Quân ủy trung ương kiến nghị Bộ Chính trị cho phép giải phóng Trường Sa và trực tiếp dặn dò, chỉ thị cặn kẽ các tình huống tác chiến trên biển…”.
Ngày 9-4, khi Cục Quân báo phát hiện quân đội Sài Gòn bắt đầu rút quân khỏi các đảo, Quân ủy trung ương đã phát đi bức điện tối khẩn vào Quân khu 5, người nhận là Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Hoàng Hữu Thái: "Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm".
Ngày 13-4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện cho tướng Chu Huy Mân dặn dò rất cụ thể: “Thời cơ cụ thể đánh chiếm là: a) Nếu địch đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay. Nếu quân nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại; b) Nếu địch mới có triệu chứng rút hoặc bắt đầu rút thì theo dõi, kịp thời đánh chiếm khi địch rút đại bộ phận; c) Khi tình hình chung của địch nguy khốn, nhất là tình hình địch ở trọng điểm, thì đánh chiếm ngay. Hai thời cơ cụ thể trên do anh theo dõi và quyết định. Thời cơ cụ thể thứ ba tôi sẽ kịp thời báo anh khi xuất hiện".
Tướng Mai Năng, nay là một cựu binh đã 84 tuổi, người từng tham gia cả hai cuộc kháng chiến, nói về vai trò của tướng Giáp: “Nếu chúng ta đến Trường Sa chậm một vài ngày, thậm chí chỉ chậm một vài giờ khi quân đội Sài Gòn đã rệu rã, choáng váng vì các tin tức thất trận trong đất liền, thì nước ngoài có thể thừa cơ mà chiếm lấy quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của chúng ta. Trong giờ khắc lịch sử ấy, bộ óc thiên tài Võ Nguyên Giáp thật anh minh, sáng suốt nhận định tình hình và kịp thời đưa ra những chỉ đạo rất trúng”.
Ra khơi…
Tư tưởng mà những người tham gia cuộc tiến công giải phóng Trường Sa nhận được từ vị Đại tướng Tổng tư lệnh của họ là: Trên mặt trận biển Đông, hành động cũng phải "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng".
Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về cuộc tiến công này như sau: “Nhận các chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, anh Hoàng Hữu Thái ra lệnh cho các tàu hải quân ngụy trang giả dạng tàu đánh cá, xuất phát vào lúc trời chưa sáng.
Bằng phương tiện nhỏ và ít, đối mặt với tàu chiến lớn của địch và đại dương mênh mông, quân ta đánh theo kiểu của mình: bí mật tiếp cận, nhanh chóng đổ bộ, bất ngờ đánh chiếm mục tiêu.
Đúng 4g30 sáng 14-4, sau hơn 1 giờ tổ chức đổ bộ, ta nổ súng tiến công, nhanh chóng tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, giải phóng đảo Song Tử Tây, kéo lá cờ Tổ quốc lên đỉnh cột cờ trên đảo. Tiếp đó, ngày 25-4, quân ta tiến công đánh chiếm đảo Sơn Ca.
Ngày 27-4, ta giải phóng đảo Nam Yết và đảo Sinh Tồn. Ngày 28-4, quân ta giải phóng đảo Trường Sa, đảo An Bang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong vòng nửa tháng với những cố gắng lớn nhất”.
Lực lượng của ta tiến ra Trường Sa chỉ gồm ba chiếc tàu vận tải của Đoàn 125 - đoàn tàu không số huyền thoại và Đoàn 126 đặc công nước do thượng tá Mai Năng chỉ huy.
Trước giờ ra khơi, ông Hoàng Hữu Thái (phó đô đốc, nguyên tư lệnh Hải quân) khi ấy là chuẩn đô đốc, phó tư lệnh Hải quân, đã hỏi ông Mai Năng: “Trận này đánh có khó không?”.
Ông Mai Năng trả lời: “Cái khó trước hết đây là vấn đề mới của đặc công nước. Bởi đặc công nước chuyên đánh tàu, chưa quen đánh căn cứ, cứ điểm. Cái khó thứ hai là đặc công phải tiếp cận và đánh ngay, đây là điều không đơn giản. Lâu nay truyền thống của đặc công là đánh gần, mà đánh gần thì đảm bảo bí mật, bất ngờ, luồn sâu, ém sát, hay nói cách khác là mắt thấy, tai nghe, tay sờ, chân phải đến; nhưng Trường Sa thì địa bàn rất rộng lớn và quân ta chưa thông thuộc địa hình…”.
“Vậy không đánh được à?” - ông Thái hỏi. “Tôi trả lời là đánh được, nhưng phải có phương pháp mới, đánh theo phương pháp trinh sát vũ trang, có nghĩa là trinh sát đến đâu đánh đến đó, không chuẩn bị trước” - ông Mai Năng kể.
“Bằng mọi cách phải giải phóng bằng được các đảo, không được để bất cứ lực lượng nào chiếm” - ông Mai Năng nhớ như in mệnh lệnh của cấp trên trước lúc lên đường.
Rạng sáng 14-4-1975, khi mặt trời chưa mọc, quân của ông Mai Năng đã nổ phát súng đầu tiên ngoài Trường Sa, đổ bộ lên đảo Song Tử Tây. Binh lính của quân đội Sài Gòn nhanh chóng đầu hàng. Gặp người chỉ huy quân đội Sài Gòn tại đây, ông Mai Năng hỏi “Tại sao các cậu đã có lời thề giữ đảo đến chết mà lại đầu hàng?”, người chỉ huy phía bên kia đã đáp rằng: “Nếu là lực lượng khác đến chiếm thì chúng tôi sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng khi nghe các ông kêu hàng thì chúng tôi muốn bàn giao đảo cho quân giải phóng…”.
“Vĩnh biệt anh Văn. Nơi anh chọn để an giấc ngàn thu là cửa biển quê nhà, tựa vào dãy Trường Sơn và hướng ra biển Đông bao la - ở đó vẫn còn những con sóng dữ thử thách sức bền của dân tộc chúng ta…” - người tướng già Mai Năng xúc động
( sưu tầm)
Có thể là hình ảnh về 8 người, mọi người đang đứng và ngoài trời
32
3 bình luận
3 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

 

Ý nghĩa ngày thương binh liệt sỹ 27/7

Ý nghĩa chính trị

Ngày 27/2 hàng năm phản ánh sự đánh giá của Đảng, Nhà nước, nhân dân với những gia đình đã có người hy sinh vì Tổ Quốc.

Qua đó nhằm phát huy tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, lãnh đạo.


Ngày thương binh liệt sĩ với mong muốn tăng cường ý thức, trách nhiệm, lòng biết ơn.

Thông qua đó nhằm động viên và phát huy truyền thống cách mạng trong công cuộc đổi mới đất nước.

Công tác Thương binh liệt sĩ và chính sách đối với những người có công với cách mạng chính là thể hiện tính ưu việt và bản chất của Đảng và Nhà nước ta.

Tạo điều kiện củng cố niềm tin vào nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng cũng như sự quản lý của nhà nước.

Góp phần tăng thêm tiềm lực cách mạng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và cơ sở để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần chống lại thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, bôi nhọ quá khứ hào hùng của dân tộc.

Thông qua việc đề ra và thực hiện đầy đủ chính sách xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng tiếp tục đóng góp công sức vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực sự đã trở thành động lực vật chất, tinh thần giúp họ vươn lên, vượt qua khó khăn thử thách, làm chủ cuộc sống.

Làm tốt công tác đối với thương binh, liệt sỹ và Người có công với cách mạng thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, củng cố niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở cho giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ý nghĩa nhân văn

Tăng cường ý thức, trách nhiệm, lòng biết ơn, khơi dậy niềm tự hào dân tộc. Phát huy đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", đền ơn đáp nghĩa của dân tộc. Thể hiện truyền thống nhân văn sâu sắc của dân tộc.

Phát huy tinh thần "gia đình cách mạng gương mẫu" góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế.

Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ đối với liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng. Sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá, không chỉ cho ngày hôm qua, hôm nay mà cho muôn đời con, cháu mai sau. Việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công là nghĩa vụ, trách nhiệm và niềm vinh dự của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau.

 

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

BIẾN CHỦNG MỚI BA.5 XÂM NHẬP, THỦ TƯỚNG CHỈ ĐẠO QUYẾT LIỆT PHÒNG, CHỐNG DỊCH

Bộ Y tế, các Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, nhất là đẩy nhanh tiêm vaccine phòng COVID-19 cho các nhóm đối tượng, hoàn thành theo mục tiêu, yêu cầu của Chính phủ, Công văn truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ.
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành văn bản số 4114/VPCP-KGVX ngày 2/7/2022 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phòng, chống dịch COVID-19.
Trước diễn biến khó lường của dịch COVID-19, nhất là việc xuất hiện biến chủng mới BA.5 của virus SARS-CoV-2 và đã xâm nhập vào Việt Nam làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh trở lại. Để tăng cường kiểm soát dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo như sau:
Bộ Y tế, các Bộ, cơ quan liên quan và các địa phương quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm, quyết liệt, hiệu quả chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại các văn bản: Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 03/5/2022, Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 08/6/2022; các văn bản: số 2263/VPCP-KGVX ngày 12/4/2022, số 2323/VPCP-KGVX ngày 14/4/2022, số 2521/VPCP-KGVX ngày 21/4/2022, số 2570/VPCP-KGVX ngày 22/4/2022, số 26400/VPCP-KGVX ngày 27/4/2022, số 3182/VPCP-KGVX ngày 23/5/2022, số 3724/VPCP-KGVX ngày 15/6/2022, số 162/TB-VPCP ngày 02/6/2022, số 182/TB-VPCP ngày 23/6/2022 của Văn phòng Chính phủ và các văn bản khác có liên quan.
Giao Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tiếp tục chỉ đạo Bộ Y tế, các Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, nhất là đẩy nhanh tiêm vaccine phòng COVID-19 cho các nhóm đối tượng, hoàn thành theo mục tiêu, yêu cầu của Chính phủ.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế khẩn trương, quyết liệt hơn nữa việc đôn đốc, hỗ trợ địa phương đẩy nhanh tiêm vaccine phòng COVID-19, nhất là mũi 3, mũi 4 cho người từ 12 tuổi trở lên; tiêm đủ 2 mũi cho trẻ em từ 5 tuổi đến dưới 12 tuổi theo mục tiêu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra, bảo đảm an toàn, khoa học, hiệu quả.
Bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời thuốc chữa bệnh, sinh phẩm, vật tư, trang thiết bị phục vụ khám, chữa bệnh và cho công tác phòng, chống dịch trên cả nước.
Bảo đảm đầy đủ, kịp thời thuốc chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh tiêm vaccine phòng COVID-19 mũi 3, mũi 4 cho người từ 12 tuổi trở lên, tiêm đủ 2 mũi cho trẻ em từ 5 tuổi đến dưới 12 tuổi Bộ Y tế đã hướng dẫn, theo mục tiêu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra bảo đảm an toàn, khoa học, hiệu quả. Sử dụng kịp thời, hiệu quả số vaccine phòng COVID-19 do Bộ Y tế phân bổ, tránh lãng phí.
Bảo đảo đầy đủ, kịp thời thuốc chữa bệnh, sinh phẩm, vật tư, trang thiết bị cho công tác phòng, chống dịch và khám, chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn.
Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế chỉ đạo các cơ quan truyền thông làm tốt công tác truyền thông để nhân dân hiểu về diễn biến phức tạp khó lường của dịch bệnh, về biến chủng mới BA.5 của virus SARS-CoV-2 có thể làm dịch bùng phát trở lại để ủng hộ, tích cực tham gia tiêm vaccine phòng chống dịch COVID-19 và tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh./.#QN

 

Lịch sử ngày thương binh liệt sĩ 27/7

Ngày thương binh liệt sĩ (ngày 27 tháng 7) là một ngày lễ kỉ niệm được tổ chức hàng năm nhằm tưởng niệm về những người thương binh, liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến giành độc lập, bảo vệ tổ quốc.

Ngày lễ này được ghi nhận như là một biểu hiện của truyền thống uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, ăn quả nhớ kẻ trồng cây ở Việt Nam. Qua đó tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ về lòng biết ơn đối với những người có công với Cách mạng từ trước đến nay.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Tuy nhiên, do chính quyền cách mạng còn non trẻ nên thực dân Pháp đã âm mưu trở lại xâm lược nước ta. 

Thực dân Pháp đã vào thay thế Tưởng Giới Thạch ở Bắc Bộ và âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, giữ gìn nền độc lập cho đất nước, toàn quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng ở những nơi có thực dân Pháp chiếm đóng. Nhiều chiến sĩ, đồng bào ta đã bị thương và vĩnh viễn nằm lại chiến trường.

Nỗi đau bao trùm lên toàn dân tộc, nhiều gia đình mất đi cả chồng và các con. Nhiều người vợ trẻ chỉ hưởng hạnh phúc vỏn vẹn trong một ngày. Để góp phần xoa dịu nỗi đau mất mát của gia đình các chiến sĩ, đồng bào, Chính quyền Việt Nam đã xú tiến vận động thành lập một tổ chức, lấy tên gọi là Hội giúp binh sĩ tử nạn.

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ tử nạn (sau đổi tên là Hội giúp binh sĩ bị thương) được thành lập ở Thuận Hóa, Bình Trị Thiên, ở Hà Nội và nhiều nơi khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được mời làm hội trưởng danh dự của Hội giúp binh sĩ tử nạn.

Chiều ngày 28/5/1946, Hội “Giúp binh sĩ bị nạn” tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát thành phố Hà Nội và Hồ Chủ Tịch đã tới dự.

Chiều ngày 11/7/1946, tại Nhà hát này đã có một buổi quyên góp quần áo, giày mũ cho chiến sĩ ngoài mặt trận, mở đầu cuộc vận động “mùa đông chiến sĩ”. Tại đây, Bác Hồ đã cởi chiếc áo rét đang mặc để tặng binh sĩ.

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ vào ngày 19/12/1946, số người bị thương và hy sinh tăng lên. Đời sống của chiến sỹ và đồng bào ta gặp muôn vàn khó khăn.

Đảng và Nhà nước ta đã quyết định nhiều chính sách quan trọng liên quan đến công tác thương binh liệt sĩ nhằm đảm bảo đời sống vật chất cũng như tinh thần của các gia đình chính sách trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến.


Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc.

Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ- Thái Nguyên.

Nội dung cuộc họp là thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn ngày kỷ niệm Thương binh Liệt sĩ và bảo vệ công tác thương binh liệt sĩ.

Sau khi xem xét, Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc. Đây được coi là cuộc mít tinh quan trọng với 2000 người tham gia tại Thái Nguyên. Tại đây, BTC đã trịnh trọng đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

        Người đã gửi tặng một chiếc áo lụa, một tháng lương và một bữa ăn của nhân viên trong Phủ Chủ tịch.

Hàng năm vào dịp này, Người cũng đều có thư và quà để gửi đến các anh em thương binh và gia đình liệt sỹ.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 7//1954, Đảng và Nhà nước ta càng quan tâm và giải quyết những vấn đề chiến sỹ, gia đình liệt sỹ cũng như công tác thương binh.Từ năm 1955, ngày 27/7 ngày Thương binh được đổi thành ngày Thương binh - Liệt sỹ.

NHỮNG CÁNH BỒ CÂU BẤT TỬ NƠI TUYẾN LỬA TRƯỜNG SƠN


Cách đây tròn 50 năm, 13 cán bộ, chiến sỹ Trạm Thông tin A69 (Trung đoàn Thông tin 134, nay là Lữ đoàn thông tin 134) đã hy sinh tại núi Lèn Hà, xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Sự hy sinh của các chiến sỹ thông tin liên lạc, được ví như “bồ câu nơi tuyến lửa”, đã góp phần bảo vệ mạch máu thông tin thông suốt, góp phần đảm bảo thắng lợi trên các chiến trường, phục vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tuổi thanh xuân của các anh chị vẫn được nối dài trong nỗi nhớ của các đồng chí, đồng đội và trong lòng biết ơn của nhân dân.
13h05 phút, ngày 02/7/1972, 2 chiếc máy bay địch từ hướng biển vào, ném bom trúng nơi họp và lán nhà ở của chiến sĩ nữ. Nhà đổ sập, bốc cháy dữ dội, trạm máy trên hang rung lắc liên hồi. Khi vừa hết loạt bom thứ nhất, Trạm trưởng Đàm Văn Trình lao lên chỉ huy bảo vệ trạm máy nhưng chưa vượt hết đoạn giao thông hào, đã bị loạt bom thứ hai đánh trúng và hy sinh. Trên hang núi, 3 nữ chiến sĩ (trong đó có bà Nguyễn Thị Thanh và bà Phạm Thị Vang) đang trực máy, đã phải dồn hết sức giữ máy tải khỏi bị lật úp trước sức rung lắc của bom.
“Chúng tôi nghe tiếng kêu ở dưới, anh Lương trên hang chạy xuống, bế được chị Lung lên, tôi ra hỗ trợ anh Lương bế chị Lung lên gần cửa hang. Chị bảo: Thông tin thế nào? Tôi bảo: Chị ơi liên lạc mất hết rồi, chỉ nói một câu rồi chị ngất luôn” - Bà Nguyễn Thị Thanh nhớ lại.
Còn bà Phạm Thị Vang ngập ngừng: “Cái nhà sập xuống hầm cháy bốc lên mạnh lắm, hầm có 1 cửa, khi mới bắt đầu còn có sức các chị còn kêu cứu, đau lòng lắm.”
3 loạt bom quần thảo của địch đánh tan hoang Trạm Thông tin A69. Trạm thông tin với tổng số 19 cán bộ chiến sỹ, sau trận bom chỉ còn lại 6 người. Trạm máy bị hư hỏng, đường dây đứt nát, mất thông tin liên lạc... Trong số 13 người hy sinh có 10 nữ chiến sỹ mới chớm thanh xuân từ 16 đến 22 tuổi, chưa ai lập gia đình...
Ước mơ về ngày hòa bình được tiếp tục đi học, sẽ cùng mẹ lo cho đàn em, sẽ xây dựng hạnh phúc cho riêng mình, hay như liệt sỹ Nguyễn Thị Lan Anh chỉ đơn giản là được một lần gặp mặt người cha đã vào chiến trường khi chị mới phôi thai trong bụng mẹ... Những ước mơ ấy vĩnh viễn ở lại Lèn Hà, làm xanh thêm núi rừng Trường Sơn hùng vĩ.
Mẹ của liệt sỹ Nguyễn Thị Lan Anh, ở Thanh Ba, Phú Thọ nghẹn ngào: “ Khi bố Lan Anh đi bộ đội thì Lan Anh mới đẻ. Khi Lan Anh 17 tuổi, đủ tuổi đi bộ đội thì bố vẫn chưa về. Khi mà Lan Anh đi xuôi, báo cho bố là con đi bộ đội. Con thì đi xuôi, bố thì ngược, hai bên tàu tránh nhau không gặp nhau.”
3 cán bộ, chiến sỹ nam cùng hy sinh trong trận bom đó tuổi đời mới từ 26 đến 28, người vừa lập gia đình, người vừa nhận tin con mới sinh... Các anh chị mỗi người một quê hương, người nhập ngũ đã 7 năm, người mới 1-2 năm.
Với đồng đội còn sống như bà Thanh, những kỷ niệm về người đã hy sinh vẫn khắc ghi trong lòng: "Cô Mạnh hai má bánh đúc người lại trắng, tôi bảo thôi nhớ mẹ cho về "bú" mẹ xong đi. Nó cứ bảo mày vớ vẩn. Chị em cứ tìm mọi cách để mà khuây khỏa.”
Bà Vang tiếp lời: "Lúc bấy giờ làm gì có bồ kết mà gội đầu đâu, chính trị viên hay ra ngoài trung đoàn họp, ông ấy mua bồ kết xong ông ấy gọi chị em đến chia, còn mua những đồ lót, thủ trưởng bảo chúng mày mang về tất, đứa nào vừa cái nào lấy cái đấy. Tôi, Mạnh và Lan Anh, ba chị em gái và anh Cường, anh Khải, anh Thu và chính trị viên Quang đi trên đường, bom thì trên đầu nó rít, cứ đi chỗ này nó bỏ chỗ kia. Nhưng chúng tôi lúc bấy giờ vẫn hát, vẫn hò vẫn động viên nhau, mà chân tay thì phồng, chảy máu ra".
Thanh xuân của các anh, chị là những ngày tháng bên nhau chặt tre dựng trạm, ngày đêm bám máy chuyển tải thông tin hai chiều từ sở chỉ huy, Bộ Tư lệnh tới các đơn vị trên chiến trường. Sẵn sàng là cánh bồ câu đảm bảo mạch máu thông tin dưới mưa bom bão đạn, bất kể nắng mưa, thiếu thốn...Mỗi chiến sỹ vẫn luôn lạc quan, kiên cường, khắc phục sự cố trên các đường dây giữa núi rừng hiểm trở.
Như lời bà Thanh, bộ đội lúc đó đã làm việc bằng cả ý chí và anh linh những đồng đội đã ngã xuống: “Chỉ cần một phút mất liên lạc, ở chiến trường đổ không biết bao nhiêu là máu. Cho nên chúng tôi luôn sẵn sàng đến hơi thở cuối cùng. Sức mạnh như đồng đội đang ở cạnh, hỗ trợ cho mình. Liên tục 14 ngày bom đánh phá nhưng không quả bom nào rơi vào đường dây, những đường dây thông suốt, tôi ngẫm bảo như đồng đội phù hộ cho mình”.
Thành lập ngày 7/1/1967, giữa lúc chiến tranh ác liệt, A69 là trạm trung gian chuyển tiếp trên trục thông tin quân sự Bắc - Nam, vừa bảo đảm thông tin liên lạc cho các đơn vị toàn quân trên địa bàn. Đây cũng là kho dự trữ chiến lược trang bị khí tài thông tin của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc. Bộ đội Thông tin liên lạc của Trạm Thông tin A69 đã chuyển tiếp hàng triệu phiên liên lạc của Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng chỉ huy, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sự hy sinh của 13 cán bộ, chiến sĩ Trạm Thông tin A69 đã trở thành bất tử. Hang Lèn Hà đi vào lịch sử Bộ đội Thông tin liên lạc, đi vào lịch sử dân tộc như một khúc ca bi tráng. Khu Di tích lịch sử Quốc gia hang Lèn Hà (Quảng Bình) đã là điểm đến ý nghĩa, linh thiêng của đồng bào, chiến sĩ cả nước. Đây đó trên những lùm cây, vạt cỏ như vẫn in dấu chân của những chiến sỹ bộ đội thông tin liên lạc trẻ trung ngoài ca trực giúp dân san lấp hố bom, tu sửa đường đi, nhà ở... vẫn hăng say trồng rau, đào ao, thả cá, nuôi lợn để đảm bảo đời sống của Trạm trong điều kiện chiến tranh đầy gian khó./.
🇻🇳
THÔNG TIN VỀ 13 CHIẾN SĨ HY SINH TRONG SỰ KIỆN LÈN HÀ
🇻🇳
1. Liệt sĩ Đàm Văn Trình, sinh năm 1944, quê ở Kim Động, Hưng Yên
2. Liệt sĩ Lương Văn Chấn, sinh năm 1946, quê ở Trùng Khánh, Cao Bằng
3. Liệt sĩ Trần Văn Xây, sinh năm 1946, quê ở Thanh Ba, Phú Thọ
4. Liệt sĩ Vũ Thị Lan, sinh năm 1950, quê ở Vũ Thư, Thái Bình
5. Liệt sĩ Cao Thị Xuyến, sinh năm 1953, quê ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa
6. Liệt sĩ Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1953, quê ở Nho Quan, Ninh Bình
7. Liệt sĩ Bùi Thị Lung, sinh năm 1954, quê ở Kim Bôi, Hòa Bình
8. Liệt sĩ Trần Thị Loan, sinh năm 1954, quê ở Thị xã Nho Quan, Ninh Bình
9. Liệt sĩ Lê Thị Châm, sinh năm 1955, quê ở Đoan Hùng, Phú Thọ
10. Liệt sĩ Ngô Thị Luận, sinh năm 1955, quê ở Tân Lập, Phú Thọ
11. Liệt sĩ Nguyễn Thị Anh, sinh năm 1955, quê ở Thanh Ba, Phú Thọ
12. Liệt sĩ Chu Thị Mạnh, sinh năm 1956, quê ở Thị xã Phú Thọ, Phú Thọ
13. Liệt sĩ Hoàng Thị Liên, sinh năm 1956, quê ở Thị xã Phú Thọ, Phú Thọ
Nội dung: Nguyên Nhung/VOV1
Hình ảnh: Tư liệu
Thiết kế: RC Design
Concept: T.COB
Có thể là hình ảnh về 5 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'J Û A 69- Xuân 1972 CÁI GIÁ CỦA HOA BÌNH.. LÀ Vô GIÁ Bức ảnh đầy đủ cuối cùng của cán bộ chiến sỹ Trạm thông tin A69 (đóng quân ở núi Lèn Hà, xã Thanh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình) trước lúc 13 đồng đội hy sinh và trước khi lán hội trường và lán nhà ở (phía sau) bị bom đánh ập. f tuhaovietsu'
5

Tự lập – đức tính quý giá

 Muốn trở nên hoàn thiện và có cuộc sống ý nghĩa, mỗi con người cần biết nhìn nhận, đánh giá về khả năng, thái độ, hành vi, việc làm, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân. Trên cơ sở tự nhận thức bản thân, cá nhân hướng đến tự rèn luyện để bản thân, tự lập theo những chuẩn mực tốt đẹp của xã hội, đáp ứng yêu

Tinh thần đoàn kết

 Muốn đi nhanh, hãy đi một mình; muốn đi xa hãy đi cùng nhau. Chính tinh thần đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau giúp con người làm nên mọi thành công. Tinh thần đoàn kết là sự gắn kết, sự liên kết bền chặt giữa các cá nhân trong một tập thể để trải qua hoặc hoàn thành những giai đoạn khác nhau của cuộc sống.