Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022
NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC KỆCH CỠM!
ĐẤU TRANH CHỐNG SỰ PHÁ HOẠI, XUYÊN TẠC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện từ mùa xuân năm 1930 và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhờ đó đất nước Việt Nam “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Hiện thực lịch sử vẻ vang đó được toàn dân tộc thừa nhận, tự hào và bạn bè quốc tế khâm phục, quý trọng. Đó là sự thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng vẫn có những thế lực thù địch, phản động ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc lịch sử Đảng hòng hạ thấp và chống phá sự lãnh đạo của Đảng.
Chủ động đập tan âm mưu của các thế lực thù địch
Hiện nay trước tình hình thế giới đang có nhiều diễn biến
phức tạp và mau lẹ; cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc đặc biệt là đấu tranh lợi
dụng tôn giáo ngày càng quyết liệt với những sắc thái và tính chất mới. Ở Việt
Nam hiện nay thực hiện tốt công tác tôn giáo của Đảng là một trong những vấn đề
chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện
nay. Nhằm tăng cường đoàn kết quần chúng có tín ngưỡng các tôn giáo trong khối
đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời
chủ động đập tan âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. “Chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức lợi dụng tính phức tạp và nhạy cảm
của vấn đề tôn giáo, khai thác mọi sai lầm, khuyết điểm, sơ hở của chúng ta để
kích động, lôi kéo chia rẽ, gây rối tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của
nước ta, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp cách mạng của nhân dân
ta”
Cần nhận thức đúng về Tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, là vấn đề chính trị -
xã hội nhạy cảm hiện nay, nó luôn được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -
Lênin, các Đảng Cộng sản quan tâm và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Sự tồn
tại của tôn giáo đã chi phối mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của một bộ phận
đông đảo quần chúng nhân dân. Hai thập niên trở lại đây, sự mâu thuẫn, chia rẽ
sắc tộc, đảng phái, giáo phái và chiến tranh tôn giáo trên thế giới ngày càng
gia tăng. Tính từ năm 1991 đến nay đã xảy ra hơn 100 cuộc xung đột về dân tộc,
sắc tộc, tôn giáo, khủng bố liên tiếp xảy ra. Điều đó cho thấy những tác động ảnh
hưởng của tôn giáo đến đời sống xã hội là không hề nhỏ.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo khác nhau cùng
tồn tại và có ảnh hưởng trên phạm vi cả nước. Số người có tín ngưỡng tôn giáo
chiếm tỷ lệ khá đông. Vì vậy, việc nhận thức đánh giá đúng sự tồn tại và ảnh hưởng
của nó có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Cán bộ Quân đội luôn được coi trọng
ÔNG ẤY NÓI ĐÚNG HAY SAI?
Khuyến khích cán bộ bị kỷ luật mà uy tín giảm sút tự nguyện từ chức Ngày 8/9, thay mặt Bộ Chính trị, ông Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ký ban hành Thông báo số 20 Kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật. Theo đó, xem xét đề nghị của Ban Tổ chức Trung ương về chủ trương phân công, bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật (Tờ trình số 02-TTr/BTCTW, ngày 10/8/2022), Bộ Chính trị kết luận, việc bố trí công tác đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật nhằm thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và Quy định của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, thực hiện phương châm "có vào, có ra, có lên, có xuống" trong công tác cán bộ, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ bị kỷ luật có cơ hội sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện; góp phần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ. (Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa) Khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Nếu không tự nguyện xin từ chức thì cấp có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm theo quy định. Thông báo cũng nêu rõ, việc bố trí cán bộ sau khi từ chức, miễn nhiệm thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và theo định hướng: Cụ thể, cán bộ tự nguyện xin nghỉ hưu trước tuổi hoặc xin nghỉ công tác thì cấp có thẩm quyền xem xét theo nguyện vọng. Trong trường hợp cán bộ có nguyện vọng tiếp tục công tác thì cấp có thẩm quyền xem xét bố trí như sau: Trường hợp thời gian công tác còn dưới 5 năm, với cán bộ là Ủy viên Trung ương Đảng thì Bộ Chính trị xem xét, bố trí công tác phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Còn cán bộ ở cơ quan Trung ương và địa phương thì cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí làm công tác chuyên môn (không làm công tác lãnh đạo, quản lý), được giữ nguyên ngạch công chức đã được bổ nhiệm. Trường hợp thời gian công tác còn từ 5 năm trở lên thì cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí công tác theo nguyên tắc như trên. Cán bộ sau khi bị kỷ luật tự nguyện xin từ chức thì được cấp có thẩm quyền căn cứ tình hình thực tế tại cơ quan, đơn vị, địa phương xem xét từng trường hợp cụ thể để bố trí công tác theo hướng giảm một cấp so với chức vụ khi bị kỷ luật. Sau 24 tháng công tác ở vị trí mới, nếu khắc phục tốt những sai phạm, khuyết điểm, được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện thì được cấp có thẩm quyền xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử lại chức danh đã đảm nhiệm hoặc tương đương. Bộ Chính trị giao Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn, chủ trì phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện Thông báo kết luận này bảo đảm đồng bộ, thống nhất; tham mưu, trình cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương căn cứ Thông báo kết luận này cụ thể hóa và tổ chức thực hiện phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị./.
MỤC TIÊU VÀ LỢI ÍCH CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
MỘT SỐ CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG
Chức năng định hướng phát triển. Thông qua việc đặt ra quy định chung để hướng dẫn hành
vi, hoạt động của các chủ thể trong xã hội theo những mục tiêu, phương hướng
phát triển được nhà nước xác định,
bao gồm cả mục tiêu dài hạn và ngắn hạn. Sự định hướng thường được thể hiện bằng các quy định về những hành vi được phép hoặc
không được phép làm, những hành vi được khuyến khích hoặc không được khuyến
khích đối với các chủ thể trong xã hội. Ngoài ra, sự đinh hướng còn được thực
hiện thông qua việc nhà nước hướng dẫn phân bổ và sử dụng ngân sách cùng các
nguồn lực công sẵn có khác trong thẩm quyền quản lý của nhà nước. Chức năng kích
thích phát
triển. Khi giải quyết các vấn đề
của thực tiễn đời sống xã hội, chính sách công xóa bỏ rào cản, đưa đến bước
tiến triển mới và tạo thuận lợi cho quá trình phát triển về sau. Quá trình này,
đồng thời làm nảy sinh những thách thức, nhu cầu và động lực mới thúc đẩy quá
trình phát triển. Chính sách đất đai là vì dụ. Cùng với việc
thừa nhận quyền sử dụng đat là một hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường và
đảm bảo các quyền của chủ sử dụng đất, chính sách đất đai đi vào thực tiễn và đã có
những tác động xã hội tích cực. Đất đai
được giải phóng và trở thành tư liệu sản
xuất quan trọng, tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự
lớn mạnh của các thành phần kinh tế, nhờ đó, góp phần tích cực vào tăng trưởng
kinh tế, giải quyết vấn đề lao động, việc làm và thu nhập cho người lao động. Chức năng điều tiết. Do những khiếm
khuyết, bất cập của thị trường và những hạn chế nằm ngay trong bộ máy nhà nước
mà luôn tồn tại nhiều thách thức
trong quá trình phát triển. Điều này dẫn đến tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả, thiếu công bằng và bất bình
đẳng, tiềm ẩn các nguy cơ về xung đột lợi ích và bất ổn xã hội, và dung dưỡng
những nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Điều tiết là chức năng cơ bản có vai
trò hết sức quan trọng, cho phép nhà nước chủ động giải quyết các thách thức
nói trên, kiên trì theo đuổi mục tiêu phát triển của minh. Nhờ độc quyền sử
dụng quyền lực chính trị và pháp lý, nên sự điều tiết bằng chính sách khá hiệu
quả và thực tế, nó được sử dụng rất phổ biến. Chính
sách chống ùn tắc giao thông ở Singapore là sự điều tiết rất thành công. Nhờ áp
dụng chặt chẽ các quy định nghiêm ngặt về sở hữu và sử dụng ô tô cá nhân bên
cạnh các giải pháp phát triển hệ thống giao thông công cộng và thực hiện hỗ trợ
giá trong sử dụng phương tiện giao thông công cộng, Singapore đã hạn chế việc
sử dụng phương tiện ô tô cá nhân và thúc đẩy việc sử dụng các phương tiện giao
thông công cộng một cách hiệu quả.
Các dân tộc ở Việt Nam có dân số không đồng đều
Hiện Việt Nam có
54 thành phần dân tộc. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số cả nước; 53
dân tộc thiều số chiếm 14,7% dân số. Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cùng
không đồng đều, có dân tộc số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ
me, Hmông), nhưng có dân tộc số dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, ơ đu). Dân số không đều giữa các
dân tộc đang là vấn đề đặt ra trước yêu cầu giải quyết hợp lý số dân cho từng
dân tộc. Thực tế ở Việt Nam, nếu một dân tộc mà số dân chỉ có hàng trăm thì rất khó cho việc tổ chức
cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và
phát triển giống nòi. Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc
thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc có số dân quá ít phải trở thành quốc
sách, một nhiệm vụ có tính thời sự của quốc gia.
Quan hệ tộc người xuyên/liên biên giới ở Việt Nam hiện nay
Các quan hệ tộc
người xuyên biên giới hiện nay chủ yếu là quan hệ nội tộc người, nhưng có điểm
khác biệt so với các mối quan hệ nội tộc người ở trong nước là tính chất
xuyên/liên quốc gia. Những mối quan hệ đồng tộc, thân tộc này có nhiều mặt tích
cực song cũng ẩn chứa nhiều yếu tố tiềm ẩn, dễ bị các thể lực thù địch lợi
dụng, đánh tráo những khái niệm giữa vấn đề lãnh thổ tộc người, vùng cư trú của
tộc người và biên giới quốc gia. Về Quan hệ
về nguồn gốc lịch sử: Trong số các
dân tộc ở Việt Nam, đặc biệt là các tộc người cư trú ở vùng biên giới thường có
nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng, di cư đến Việt Nam vào những thời điểm và
bởi các nguyên nhân khác nhau, trong đó có một bộ phận các dân tộc sau khi đến
nước ta lại tiếp tục di cư sang quốc gia khác hoặc ngược lại di cư đến quốc gia
khác rồi mới đến Việt Nam. Do đó, có tình trạng một số tộc người tuy hiện cư
trú ở những quốc gia khác nhau, nhưng ngoài các mối tương đồng về đặc điểm kinh
tế, xã hội và văn hóa, đồng bào vẫn giữ được ý thức về nguồn gốc tộc
người, tập tục thờ cúng tổ tiên chung và quan hệ dòng tộc của mình thông qua
các câu chuyện huyền thoại, biểu
tượng vật tổ hay tô tem và nghi lễ thờ cúng. Quan
hệ kinh tế: Nhờ có mối quan hệ đồng tộc,
thân tộc nên các cá nhân thường qua lại hai bên biên giới buôn bán, tìm cơ hội việc làm ăn, nhưng thường không
thông qua kiểm soát của Nhà nước như tiếp nhận
tiền và quà biếu tặng, hỗ trợ đầu tư sản xuất của các cá nhân, hoặc các tổ chức
ở nước ngoài. Trong các hoạt động sản xuất, những người đồng tộc, thân tộc cũng
thường xuyên giúp đỡ, trao đổi hoặc mua bán các giống cây trồng, vật nuôi, công
cụ sản xuất, nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày và hỗ trợ nhân lực khi
cần thiết. Việc trao đổi, mua bán giúp đỡ nhau này diễn ra hết sức linh hoạt ở
các tộc người và tùy theo từng mối quan hệ, có thể tiến hành ở các chợ cửa
khẩu, các chợ địa phương ở vùng biên hai nước, tại các quầy hàng của gia đình
hay đem đến tận các thôn bản. Quan hệ xã hội: Có thể nói, mối quan hệ này ngày càng phát triển,
nhất là trong hôn nhân, gia đình và dòng họ. Trong quan hệ hôn nhân, các tộc
người ở hai bên biên giới thường kết hôn với người cùng tộc, đa phần là nông
dân và không cách trở nhiều về địa lý môi trường nên cũng ít gặp phải các trở
ngại về ngôn ngữ, tập quán xã hội, sinh hoạt văn hóa, hoạt động sản xuất tại
nơi ở mới.Không chỉ trong hôn nhân, hầu hết các tộc người sinh sống ở vùng biên
giới với Trung Quốc, Lào và Cămpuchia đều ngày càng tăng cường các mối quan hệ
với những người đồng tộc, thân tộc ở bên kia biên giới. Quan hệ văn hóa: về cơ bản, mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên
biên giới của các tộc người trên lĩnh vực văn hóa không diễn ra thường xuyên,
chỉ có một số người có quan hệ máu mủ, thông gia, bạn bè thân thiết... sinh sống liền kề nhau dọc biên giới thi thoảng sang
tham dự các lễ hội hay nghi lễ chung của
dòng họ hay cộng đồng, mục đích chính vẫn là thăm viếng, thực hiện nghĩa vụ tâm
linh truyền thống.
Vai trò của nhà nước và chức năng của chính sách công
Nhà nước là bộ máy chính trị có lịch sử phát triển lâu
dài. Thực tiễn cho thấy, tại những thời điểm và không gian khác nhau thì phạm
vi và vai trò của nhà nước là rất khác nhau. Cho đến nay, nhà nước
hiện đại thường được ghi nhận có một số chức năng chính[1]
như: Bảo vệ trật tự xã hội và tạo lập môi trường phát triển. Đây là một trong những chức năng cơ bản nhất, xuất
hiện cùng với sự ra đời cùa nhà nước. Ngay khi nảy sinh nhu cầu có bên thứ ba
để xét xử và giải quyết các tranh chấp trong xã hội thì các quy ước về hành
động tập thể được đặt ra và quyền lực chính trị được trao cho nhà nước để thực
hiện những dàn xếp mang tính hiến định vì lợi ích cộng đồng. Tại những thời
điểm và trong những bối cảnh khác nhau thi vai trò này có thể có nội dung và ưu
tiên khác nhau, song một nhà nước cần đảm bảo: Cung cấp các dịch vụ và hàng hóa
công cơ bản thuần túy như an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền sở hữu tài
sản, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục; tạo lập môi
trường ổn định và công bằng - ở đó các chủ thể đều có cơ hội phát triển và được
đối xử bình đẳng với nhau; đảm bảo để mọi người dân có được các cơ hội phát
triển, nhất là những người nghèo, nhóm yếu thế ừong xã hội. Theo đuổi sự hiệu quả. Lịch sử phát triển của nhà nước cho thấy, vai trò điều tiết của nhà
nước có nhiều sự thay đổi và đến nay, vai trò của nhà nước được mở rộng, càng
trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Sự can thiệp của nhà nước có thể diễn ra ở
mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Trên cơ sở sừ dụng quyền lực công và
nguồn lực công, Nhà nước là chủ thể có khả năng can thiệp để theo đuổi sự hiệu
quả. Trong mối quan hệ vói thị trường, nhà nước không chỉ kiểm soát mà còn nuôi
dưỡng thị trường. Nhà nước không chi điều tiết mà còn phối hợp với khu vực tư nhân. Bản thân nhà nước cũng luôn thay đổi để thực hiện tốt
chức năng của mình. Ngày nay, bộ máy nhà nước được củng cố theo hướng ngày càng công khai, minh
bạch và có trách nhiệm giải trình hơn. Giảm thiểu những thất bại của thị trường. Thị trường
có vai trò quan trọng thúc đẩy sự vận hành có hiệu quả
của nền kinh tế. Song, thị trường có những hạn chế nhất định như: không khuyến
khích việc cung ứng hàng hóa công cộng, làm nảy sinh sự độc quyền; tồn tại tình
trạng thông tin không hoàn hảo; không ngăn chặn tác động ngoại lai và làm gia
tăng sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội. Không ai khác ngoài nhà nước
có trách nhiệm giảm thiểu hay khắc phục những thất bại của thị trường.
NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH CÔNG HIỆN NAY
Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến
trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy
nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều cách hiểu, nhiều cách định nghĩa khác nhau về
chính sách. Tuy cách diễn giải khác nhau nhưng các định nghĩa nhìn chung đều thống nhất cho rằng chính sách là toàn
bộ các phương thức được sử dụng để giải quyết vấn đề và đạt được các mục tiêu mong đợi. Tương tự khái niệm
chính sách, có nhiều cách định nghĩa khác
nhau về chính sách công. Mặc
dù chưa có định nghĩa hoàn toàn thống nhất về chính sách công, nhưng các định nghĩa đều có một số điểm
chung đáng chú ý sau: Chủ thể ban
hành và thực thi chính sách công là Nhà nước. Nhà nước ở đây được hiểu là cơ
quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm những người được “đa số các
thành viên trong xã hội bầu và thừa nhận là có trách nhiệm”, “hàng ngày đảm nhận các công việc của hệ
thống chính trị” và hành động của họ được “đa số mọi người chấp nhận là hợp pháp đến
chừng nào mà họ còn hành động trong giới hạn vai trò của họ”. Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan đến
nhau về việc có hành động hay không hành động. Các quyết định ở đây có ý nghĩa
rộng, bao gồm cả dự định và hành động thực tiễn được đưa
ra trong một thời gian dài. Điều này giúp phân biệt một chính sách công với một quyết định - cái mà cơ bản
là chi sự lựa chọn cụ thể giữa các
phương án. Và quan trọng hơn, cách định nghĩa này xem chính sách công như là
sản phẩm được phát triển qua thời gian. Ngoài ra, lựa chọn “hành động” hay
“không hành động” đều có thể có những
ảnh hưởng quan trọng đối với người dân và xã hội, do đó các quyết đinh đó cần
được nhìn nhận là các quyết định chính sách công. Chính sách công
là tập hợp hành động có chủ
đích được định
hướng giải quyết vấn đề thuộc lợi ích công cộng. Điều này có nghĩa là chính sách gắn với hành động có mục đích không
phải hành vi hay hoạt động xảy ra ngẫu nhiên, gắn với các hành động tương đối
ổn định không phải hành động thay đổi liên tục. Chính sách công không chỉ được
ban hành mà quan trọng hơn chúng được thiết kế để đạt được các mục đích cụ thể
hoặc tạo ra những kết quả xác định theo mong muốn của nhà nước mặc dù trong
thực tế các mục tiêu hay kết quả đó không phải lúc nào cũng đạt được.Từ
những điểm chung nêu trên, có thể định
nghĩa về chính sách
công như sau: Chính
sách công là tập hợp các quyết định liên quan đến nhau của
nhà nước về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp
nhằm giải quyết vấn đề thuộc lợi ích công cộng.
CHÍNH SÁCH CÔNG TRONG LÃNH ĐẠO Ở VIỆT NAM
Chính sách công là công cụ và phương thức cơ bản để
nhà nước định hướng phát triển và thực hiện lợi ích chung của xã hội. Đây là một trong những công
cụ quản trị xã hội hết sức phức tạp. Chính sách công vừa phải đảm bảo tính khoa học để thực sự hiệu quả vừa có tính chính
trị. Dù dưới bất kỳ thể chế chính trị nào,
chính sách công là sự phản ánh quan điểm của đảng cầm quyền, bản chất của nhà nước trong mối quan hệ
giữa nhà nước với công dân. Ở Việt Nam, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam là căn cứ quan trọng trong quá trình hình thành chính sách. Chính
sách công chính là sự cụ thể hóa và hiện thực
hóa đường lối, chủ trương lãnh đạo
của Đảng đối với đất nước. Bên cạnh đó, với tư cách là người đại diện cho nhân
dân theo nghĩa Nhà nước của dân, do dân và vì
dân, mọi chính sách mà Nhà nước ban hanh và
thực hiện đều cần phản ánh và đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Vai trò của người lãnh đạo, quản lý trong khu vực công
về thực chất được thể hiện thông qua việc ra
quyết định và lãnh đạo quá trình thực hiện chính sách. Chính vì vậy, người lãnh đạo quản lý cần tự giác học
hỏi làm giàu tri thức về chính sách công và chủ động đóng vai trò tích cực
của mình, vào trong quá trình thực hiện chính sách công đó.
Quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số
Quan hệ kinh tế:Mối quan
hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số mang tính cơ bản, liên thông
với các quan hệ khác và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Ngoài yếu tố giao lưu, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong sản
xuất, tạo ra được các quan hệ tích cực trong hoạt động kinh tế giữa người Kinh và các dân tộc
thiểu số, trong đó người Việt giữ vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là
trong việc truyền bá khoa học kỹ thuật và đẩy manh hệ thống thương mại, dịch vụ ở vùng các tộc người thiểu số.Về Quan hệ chính trị xã hội: Hoà hợp giữa
các tộc người, nhất là giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số được thể hiện
ở sự gia tăng về mức độ cư trú xen kẽ, sự tăng cường các mối quan hệ thuê mướn
lao động, việc sử dụng song ngữ, hôn nhân hỗn hợp giữa các tộc người, về cơ
bản, quan hệ giữa các tộc người thiểu số và tộc người đa số ở nước ta vẫn đảm
bảo bình đẳng, tôn trọng, hoà hợp và giúp đỡ lẫn nhau. Người Kinh vẫn đóng vai
trò quan trọng trong xây dựng và đảm bảo đoàn kết dân tộc, thể hiện rõ nét trên
các lĩnh vực một đội ngũ cán bộ công chức đông đảo và trình độ chuyên môn cao của người Kinh đang phục vụ ở
các vùng đồng bào dân tộc, đại đa số giáo viên, nhân viên y tế, khoa học kỹ thuật
ở vùng miền là người Kinh; tỷ lệ kết hôn hỗn hợp giữa người Kinh với các tộc
người thiểu số ở khắp mọi vùng miền ngày càng trở nên phổ biến. Quan hệ văn hóa: Có thể nói ngày càng phổ biến xu hướng giao lưu, hợp tác về mọi mặt,
trong đó có yếu tố văn hóa là xu hướng chủ đạo trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Chẳng
hạn như tiếng Việt ngày càng đóng vai trò to lớn và là một trong những tiêu chí
cơ bản nói lên xu hướng giao lưu hòa hợp này. Đến nay, hầu hết các tộc người thiểu
số đều biết sử dụng tiếng và chữ viết của người Kinh ở những mức độ khác nhau
để giao tiếp, học tập, làm ăn kinh tế.. Ngược lại ở rất nhiều nơi vùng cao biên
giới, một bộ phận người Kinh đã tích cực học tiếng của các tộc người thiểu số
trong vùng để giao tiếp và làm ăn, sống trong các ngôi nhà sàn, uống rượu cần,
làm nương rẫy... như các tộc người thiểu số trong vùng.
Quan hệ giữa các tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện nay
Về cơ bản các tộc người
ở Việt Nam đều đề cao tính cộng đồng tộc người, dòng họ và thân tộc. Quan hệ
với các tộc người khác chỉ diễn
ra một số lĩnh vực
như sinh hoạt kinh tế và xã hội chung. Với đặc
điểm cư trú xen cài và nông nghiệp nặng tính tự cung tự cấp nên mối quan hệ
kinh tế được thể hiện giữa các gia đình mang tính chất láng giềng, giữa bản
làng này với cộng đồng cư trú liền kề khác. Quan hệ kinh tế giữa các tộc người
hiện nay có phần được đẩy mạnh hơn trước do điều kiện cư trú xen kẽ ngày càng gia tăng, nhất là việc
một bộ phận người Kinh di cư
lên miền núi và vùng dân tộc thiểu số khác đã có tác động đẩy mạnh khai hoang
phục hóa đất đai và thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa các hình thức sản xuất nông
nghiệp và trao truyền các kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất cho đồng bào các dân
tộc; đồng thời, người Kinh cũng phải học tập kinh nghiệm lâu đời của người dân
tộc để sản xuất hiệu quả ở vùng đất mới... Quan hệ kinh tế giữa các tộc người
cho đến nay chủ yếu diễn ra các hoạt động nông nghiệp và trao đổi mua bán truyền
thống, phần lớn mang tính tự phát giữa người dân
với nhau, nhất là ở khu vực đa dân tộc sống xen cư xen canh, những
gia đình có quan hệ hôn nhân, kết nghĩa anh em. Do đó, cần đẩy mạnh hơn nữa
các mối quan hệ kinh tế khác, nhất là phải tăng cường sự định hướng, tổ chức
của Nhà nước, chính quyền và đoàn thể địa phương. Về Quan hệ văn hóa: Mối
quan hệ này phát triển tương đối toàn diện, các tộc người không chỉ học hỏi
nhau cách thức ăn, mặc, ở và đi lại mà còn giao lưu, tiếp thu các yếu tố phù
hợp trong đời sống tâm linh, thông qua việc tổ chức lễ hội và các thực hành tín
ngưỡng, tạo nên những đặc trưng văn hóa mang đậm dấu ấn tộc người thể hiện nét
văn hóa liên tộc người hay văn hóa vùng. Trong đó, đáng chú ý là việc một số
tộc người sử dụng ngôn ngữ của các tộc người có dân số đông trong vùng đóng vai
trò quan trọng, thể hiện nhu cầu phát triển các mối quan hệ giữa các tộc người.
Chẳng hạn, ngoài tiếng Kinh thì đa số các dân tộc vùng Tây Bắc có thể sử dụng
được tiếng Thái, ở vùng Đông Bắc là tiếng Tày, không chỉ để giao tiếp với người
Thái, ngưòi Tày mà còn giao tiếp với nhau thông qua ngôn ngữ thứ ba. Như vậy,
để có thể phát triển mối quan hệ giữa các tộc người thông qua văn hóa, các dân
tộc cần hiểu biết, tôn trọng tập quán, lối sống, hệ giá
trị của các tộc người láng giềng, không
ngừng nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống, tổ
chức các sinh hoạt văn hóa chung bổ ích để tạo điều kiện cho các dân tộc có
thêm nhiều cơ hội giao lưu, hòa
hợp, xích lại gần nhau.
Quan hệ trong nội bộ từng tộc người ở Việt Nam hiện nay
Quan hệ này được thể hiện chủ yếu
thông qua các mối quan hệ trong gia đình, giữa các gia đình trong dòng họ và
cộng đồng (láng giềng), giữa các dòng họ, giữa các làng bản đồng tộc. Trong đó,
các yếu tố nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng, quan hệ họ tộc,
sinh kế vừa là các thành tố văn hoá tộc người, vừa là những nhân tố cố kết các
thành viên và bảo vệ bản sắc văn hoá của tộc người. Về Quan hệ về nguồn gốc lịch sử tộc người: Các
thành viên trong một tộc người đều có chung nguồn gốc, có thể sinh sống lâu đời
hay mới di cư đến, cư trú cùng nhau hoặc phải phân ly do quá trình tộc người và
biến đổi lịch sử, có thể cùng kết hôn hay kết nghĩa và nhận con nuôi... nhưng
hầu hết các thành viên đều có ý thức về cội nguồn dân tộc, từ đó lưu giữ mối
quan hệ đồng tộc. Có thể nói, tất cả các tộc người đều có ý thức về cội nguồn
của mình, tâm lý gắn kết các thành viên cùng tộc, nhất là cùng dòng họ rất cao.
Chẳng hạn như người Hmông, dù ở đâu cũng luôn coi người cùng họ (không nhất
thiết phải cùng huyết thống) là anh em ruột thịt có thể sống, chết trong nhà
của nhau; quan hệ giữa các thành viên cùng tộc người, mặc dù không được chặt
chẽ như cùng họ, nhưng cũng luôn bền chặt bởi tâm lý chung của người Hmông là
hướng nội, ưu tiên các quan hệ trong nội bộ tộc người. Về Quan hệ kinh tế: Từ trước đến nay, các gia đình thành viên
nội tộc người, nhất là xóm giềng thân thiết, họ hàng thân thích gặp khó khăn
luôn hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong các hoạt động sinh kế, về nhân lực thì đổi
công, giúp công; về vật lực thì
giúp giống cây con, đất đai, công cụ sản xuất, lương thực, chia sẻ kinh nghiệm
sản xuất và các sản vật khai thác từ tự nhiên. Những quan hệ kinh tế này thường
được thực hiện một cách vô tư, nhất là trước đây khi một gia đình gặp phải khó
khăn như neo đơn, ốm yếu, đói kém.. sẽ nhận được sự giúp đỡ mà không cần phải
hoàn trả, cho vay tiền không phải trả lãi, đất đai có thể cho mượn sử dụng hoặc cho luôn... Về Quan hệ xã hội: Sự đổi
mới cơ chế kinh tế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng các mối quan hệ xã
hội giữa các đồng tộc sinh sống trên các địa bàn khác nhau. Về Quan hệ văn hóa. Các tộc
người thiểu số ở Việt Nam tuy có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, nhất
là trong đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo, tập quán, lễ hội của cộng đồng, dòng họ và gia đình. Tuy
nhiên, ở mỗi một tộc người lại có những sắc thái văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo
riêng, như quan niệm và nghi lễ thờ cúng tổ tiên, dòng họ của người Hmông khác với
thờ cúng Bàn vương của người Dao và cũng khác với nghi lễ thờ cúng ‘Phi’ của
người Thái…Đây là các
yếu tố quan trọng tạo ra và
giữ vững bản sắc văn hóa tộc người, tăng cường tính cố kết cộng dồng, dòng họ
và gia đình.
Quan hệ giữa các tộc người với quốc gia - Tổ quốc Việt Nam
Được
thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng, Nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống
chính trị. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác xây dựng hệ thống chính trị, trong đó có công
tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ
là người dân tộc thiểu số. Nhờ có chính sách đúng đắn này, đến nay nhiều địa
phương các tỉnh miền núi đã xây dựng được
đội ngũ cán bộ dân tộc đông đảo, chất lượng ngày càng được nâng cao, họ là nhân
tố quan trọng và là cầu nối giữa người dân với Đảng và Nhà nước. Trong các cơ
quan Trung ương, nhiều vị trí chủ chốt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành là người dân tộc thiểu số. Đại biểu
Quốc hội là người dân tộc cũng chiếm tỷ lệ khá cao và liên tục tăng theo các
khóa. Nhiều cơ quan xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc ở Trung ương và hệ
thống chính trị các cấp đều do người dân tộc nắm giữ những trọng trách quan
trọng. Tuy nhiên, do trình độ giáo dục có sự khác biệt giữa các tộc người, nên
ở một số nơi tỷ lệ cán bộ cấp xã của từng dân tộc không tương xứng với số lượng dân số của dân tộc đó.
Như vậy, có thể thấy mức độ tham
gia, đóng góp của các dân tộc trong toàn hệ thống chính trị ngày càng lớn, thể hiện
tầm quan trọng và sự bình đẳng trong quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với hệ
thống chính trị cả nước nói chung và với dân tộc đa số - người Kinh nói riêng
ngày càng được đề cao. Rõ ràng, đây là cơ sở để xây dựng mối quan hệ đoàn kết,
tin tưởng giữa các dân tộc và của người dân với hệ thống chính trị các cấp. Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng và Nhà nước thông
qua việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách dân
tộc. Chỉ tính từ khi thực hiện
đổi mới đến nay, Chính phủ đã triển khai thực hiện khá nhiều chính sách, chương
trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá, nhất là đối với các vùng
sâu, vùng xa, vùng biên giới đặc biệt khó khăn như các chương trình, dự án 327,
dự án 661, chương trình 135, chương trình 134 và nhiều chương trình, dự án kinh
tế - xã hội khác. Các chính sách, chương
trình, dự án này đã và đang tạo cơ sở thực tế cho việc thực hiện nguyên tắc
bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng phát triển của chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta.
Trong lĩnh vực giáo dục,
y tế, Đảng, Nhà nước đã ban
hành nhiều chính sách thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, chăm lo sức khỏe đối với đồng bào cả nước nói chung và đối với đồng bào các dân
tộc thiểu số nói riêng. Các chính
sách đó khá toàn diện, từ miễn, giảm học phí, mở rộng hệ thống trường dân tộc
nội trú; cử tuyển vào các trường chuyên nghiệp; xây dựng hệ thống y tế địa
phương, miễm giảm bảo hiểm y tế. Có thể nói, các chính sách đó rất phù hợp với nguyện vọng và điều kiện thực
tiễn của các dân tộc, thực sự đi vào đời sống, góp phần quan trọng vào việc đào
tạo nguồn nhân lực có trình độ cao ở vùng miền núi và vùng dân tộc thiểu số,
góp phần quan trọng vào việc phát
triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng và củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.



