Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC KỆCH CỠM!

         Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC).
     Đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế đã cho thấy rõ những luận điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm.

Xuyên tạc trắng trợn, bất chấp thực tế
     Bất chấp hiệu quả của công tác đấu tranh PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chủ trương của Đảng thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC. Đặc biệt, các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông nước ngoài và các chương trình có phát sóng bằng tiếng Việt như RFA, VOA, RFI, BBC... tán phát nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, công kích, đả phá kịch liệt chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC của Đảng, Nhà nước ta.
     Đài Á Châu Tự Do (RFA), Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA)... đưa ra luận điệu: “Vì sao “lò” chống tham nhũng đang cháy mà hàng loạt cán bộ cao cấp vẫn không sợ?”. Những kẻ thiếu tử tế vu khống rằng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam thực chất là việc các phe phái tranh quyền để triệt hạ nhau dưới vở kịch chống tham nhũng. Họ hồ đồ cho rằng, "trên thế giới này, không có quốc gia nào mà người dân lại phải còng lưng đóng thuế để nuôi nhiều cơ quan chống tham nhũng đến vậy"... Hoặc "hơn 10 năm chống tham nhũng, càng chống thì càng tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước cả về số tiền của và quan chức với chức vụ cao hơn, diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp...".
    Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC thì chỉ để làm khổ người dân mà thôi; không cần thiết và tốn tiền, tốn của. Từ đó chúng hô hào, kêu gọi: Muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải “đa nguyên, đa đảng”, phải thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập”...

Hiệu quả rõ ràng
của cuộc đấu tranh PCTN, TC
     Đầu tiên có thể thấy rõ ràng rằng, công tác PCTN, TC ở Việt Nam thời gian qua có nhiều bước đột phá mạnh mẽ, mang lại hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận.
     Theo thông tin được công bố sau Phiên họp thứ 22 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC, thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng và PCTN, TC được ban hành tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được đẩy mạnh. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm, cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu bị xử lý nghiêm minh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã thi hành kỷ luật cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, trong đó có 56 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.
     Thời gian qua, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã chỉ đạo triển khai khá toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế về PCTN, TC cả trong Đảng và Nhà nước. Từ nghiên cứu, ban hành mới đến rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật còn bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, để kịp thời bổ sung, điều chỉnh; từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để cán bộ không thể tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã từng bước gắn kết đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực. Nếu như ở các nước chỉ có quy định, chế tài xử lý các hành vi tham nhũng, thì tại Việt Nam hiện nay đã có cả quy định, chế tài xử lý các hành vi tiêu cực. Đó là một bước tiến vượt trội!
     Từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTN, TC. Đặc biệt, việc ban hành Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW, ngày 1-8-2022 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực đã hình thành cơ chế đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngày càng đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ.
     Trong 6 tháng đầu năm 2022, Quốc hội đã thông qua 6 dự án luật; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 44 nghị định, 15 quyết định; các bộ, ngành ban hành 216 thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế-xã hội, kịp thời thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ cũng đang chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến việc đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài sản công, tài chính công, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp,... theo đề xuất của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC.
     Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Tại sao với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam vẫn đang thực hiện hiệu quả công tác PCTN, TC? Có thể thấy, thực tế kết quả công tác PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua đã khiến những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trở nên kệch cỡm.

Bảo đảm công tác đấu tranh PCTN, TC chặt chẽ, thông suốt 
     Việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC là thực sự cần thiết, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Việc làm này thể hiện rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh PCTN, TC ở mọi cấp, mọi ngành, thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC được thành lập sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác PCTN, TC, thể hiện tinh thần "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt", khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Ban chỉ đạo cấp tỉnh là cánh tay nối dài của Ban chỉ đạo Trung ương nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho công tác đấu tranh PCTN, TC được liền mạch, chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; kịp thời giải quyết những vướng mắc, bức xúc của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực và đưa công tác này tiến lên một bước mới.
     Vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về những thành tựu đạt được trong PCTN, TC ở Việt Nam; về sự cần thiết phải thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC, từ đó củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Cùng với đó, cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam.
     PCTN, TC là cuộc đấu tranh lâu dài, gian nan, vất vả để chống “giặc nội xâm”. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, không được chủ quan, không nóng vội, không được thỏa mãn và né tránh, cầm chừng mà phải thật kiên trì, đấu tranh không ngừng, không nghỉ; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh PCTN, TC để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta./.
Yêu nước ST.

ĐẤU TRANH CHỐNG SỰ PHÁ HOẠI, XUYÊN TẠC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện từ mùa xuân năm 1930 và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhờ đó đất nước Việt Nam “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Hiện thực lịch sử vẻ vang đó được toàn dân tộc thừa nhận, tự hào và bạn bè quốc tế khâm phục, quý trọng. Đó là sự thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng vẫn có những thế lực thù địch, phản động ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc lịch sử Đảng hòng hạ thấp và chống phá sự lãnh đạo của Đảng.

     1. Có một số thế lực cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và tầm vóc, giá trị lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Họ coi đó chỉ là sự “ăn may” của cộng sản, Việt Minh. Thực tế lịch sử đã khẳng định Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng diễn ra liên tục suốt 15 năm với sự lãnh đạo của Đảng từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào dân chủ 1936-1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945.
     Trong phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát triển, hoàn thiện đường lối, đặt mục tiêu giành độc lập dân tộc lên hàng đầu; xây dựng lực lượng chính trị rộng lớn, đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh; xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng rộng khắp trên cả nước; xác định phương pháp đấu tranh đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành độc lập và chính quyền; dự báo và nắm bắt thời cơ cách mạng. Đó là những điều căn bản và quyết định thắng lợi của cách mạng.
     Điểm nổi bật có giá trị lý luận và thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý đúng đắn vấn đề tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ. Thời cơ bảo đảm cho cách mạng nổ ra và giành thắng lợi là: Cao trào cách mạng của nhân dân cả nước phát triển mạnh mẽ (Đảng đã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945); kẻ địch lâm vào khủng hoảng, hoang mang, mất sức chiến đấu (Pháp chạy, Nhật hàng Đồng minh); các tổ chức đảng và Việt Minh đủ mạnh trên cả nước, quyết tâm lãnh đạo đưa quần chúng vào hành động cách mạng. Cùng với nắm bắt thời cơ, Đảng đã chỉ rõ nguy cơ: Quân Đồng minh (Anh và Trung Hoa dân quốc) kéo vào giải giáp quân Nhật và lợi dụng danh nghĩa đó để xâm chiếm Việt Nam; lợi dụng sự thất bại của Nhật, quân Pháp quay lại áp đặt sự cai trị như trước ngày 9-3-1945. Đảng đã lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước khi quân Đồng minh vào và trước khi quân Pháp quay lại.
     Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang từ ngày 14 đến 15-8-1945 quyết định tổng khởi nghĩa với nguyên tắc chỉ đạo: Tập trung, thống nhất, kịp thời và nhanh chóng giành thắng lợi trong nửa cuối tháng 8-1945. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã xóa bỏ chế độ thuộc địa gần một thế kỷ và chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do với bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
     2. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1945-1954) do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là cuộc kháng chiến thần thánh với những chiến công vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Bạn bè quốc tế nhắc đến Điện Biên Phủ gắn liền với Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp. Vậy mà đến nay vẫn có thế lực cố tình xuyên tạc. Họ cho rằng có thể tránh được cuộc chiến tranh "nếu phía Việt Nam không hiếu chiến".
     Sự thật đã bác bỏ quan điểm sai trái đó. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”.
     Lập trường hòa bình và sự nhân nhượng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa rất rõ ràng. Khi kháng chiến diễn ra ở Nam Bộ, ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh đã ký với J.Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp định Sơ bộ cho phép 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc; Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng trong liên bang Đông Dương và thuộc khối liên hiệp Pháp. Đó là sự nhân nhượng rất lớn nhưng cần thiết mặc dù Pháp chưa công nhận Việt Nam độc lập và còn phải ở trong khối liên hiệp Pháp. Nhân nhượng đó thể hiện mong muốn hòa bình và quan hệ thân thiện với nước Pháp. Để thúc đẩy quá trình đó, ngày 25-4-1946, đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm nước Pháp. Ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội thăm chính thức nước Pháp với mong muốn hòa bình và hợp tác giữa hai nước. Ngày 6-7-1946, cuộc đàm phán Việt-Pháp bắt đầu ở Fontainebleau (Pháp). Do phía Pháp không thành thật muốn đàm phán nên giải pháp hòa bình không thành. Trước khi trở về nước ngày 14-9-1946, Hồ Chí Minh ký bản Tạm ước với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet nhân nhượng một số quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Ngày 18-10-1946, về đến cảng Cam Ranh, Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp D’Argenlieu trao đổi về thực hiện Tạm ước 14-9.
     Sau khi ra miền Bắc, quân đội Pháp liên tiếp gây hấn, vi phạm Hiệp định Sơ bộ 6-3. Ngày 20-11-1946, Valluy, Quyền Cao ủy Pháp, ra lệnh cho quân Pháp tấn công Hải Phòng. Ở Hà Nội, quân Pháp trắng trợn dùng vũ lực và đòi kiểm soát thành phố. Trước hành động chiến tranh của Pháp, dân tộc Việt Nam buộc phải chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội Pháp mong muốn chấm dứt chiến sự, nối lại đàm phán nhưng phía Pháp không đáp lại. Bàn tay hòa bình của Việt Nam đưa ra nhưng phía Pháp đã không đáp lại bằng thái độ hòa bình. Chính phủ Pháp đã lao sâu vào cuộc chiến tranh mà chính người Pháp gọi là chiến tranh phi nghĩa, “chiến tranh bẩn thỉu” để cuối cùng nhận lấy thất bại đau đớn.
     3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) phải vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh mới đi đến Ngày toàn thắng 30-4-1975, thực hiện khát vọng hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc. Chính giới Hoa Kỳ và các tướng lĩnh Mỹ thừa nhận hành vi chiến tranh của họ ở Việt Nam, những bài học và nguyên nhân thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam có lời sám hối về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Chính phủ Mỹ và những tội ác do họ gây ra, mong muốn được góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, nhất là sự tàn phá của chất độc da cam/dioxin. Vậy mà vẫn có những tiếng nói lạc lõng, trắng trợn, coi chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc “nội chiến” giữa phe cộng sản và phe quốc gia. Đó là sự xuyên tạc lố bịch nhất.
     Năm 1950 mở đầu sự can thiệp của Mỹ khi tàu chiến Mỹ đến cảng Sài Gòn và ngày 19-3-1950, 30 vạn nhân dân Sài Gòn biểu tình chống Mỹ can thiệp. Sau thảm bại của Pháp ở Điện Biên Phủ (7-5-1954), tháng 6-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng trong Chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên từ ngày 13-6-1949. Đó là sự chuẩn bị để Mỹ thay thế Pháp ở Việt Nam. Sau Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7-1954), Việt Nam tạm chia làm hai miền với Vĩ tuyến 17. Ở miền Nam, Mỹ chính thức thay chân Pháp khi quân Pháp rút hết về nước (28-4-1956). Mỹ dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, từ chối hiệp thương với miền Bắc để tổng tuyển cử thống nhất đất nước như quy định của Hiệp định Geneva, mưu toan chia cắt lâu dài nước Việt Nam.
     Chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên là bất hợp pháp, giả hiệu; là phản dân, hại nước. Ngụy là giả. Vì vậy, chính quyền và quân đội do Mỹ xây dựng được gọi là ngụy quyền, ngụy quân. Họ không đại diện cho quốc gia, dân tộc dù họ tự gọi mình là "chính phủ quốc gia", “chính nghĩa quốc gia”. Ngày 13-5-1957, tại Mỹ, Ngô Đình Diệm trắng trợn tuyên bố: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến Vĩ tuyến 17”(2). Lời tuyên bố đó và cả hành động thực tế đã cho thấy bản chất của một chính quyền tay sai, bán nước, công cụ chiến tranh của Mỹ, hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ suốt đến sau này. Khi chính quyền đó không đáp ứng được lợi ích của Mỹ thì Mỹ sẵn sàng gạt bỏ, “thay ngựa giữa dòng”. Cái chết bi thảm của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 đã chứng tỏ điều đó.
     Mỹ đã lần lượt thất bại trong mô hình thực dân mới ở miền Nam Việt Nam; trong “Chiến tranh đặc biệt” 1961-1964, “Chiến tranh cục bộ” 1965-1968 và “Việt Nam hóa chiến tranh” 1969-1975. Có những hành động chiến tranh vô cùng tàn bạo của Mỹ như rải chất độc hóa học hủy diệt sự sống ở miền Nam (10-8-1961); ném bom miền Bắc từ ngày 5-8-1964; ồ ạt đưa quân Mỹ tham chiến ở miền Nam (8-3-1965); sử dụng lượng vũ khí lớn ở Thành cổ Quảng Trị; ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972. Cuối cùng, quân Mỹ đã thất bại, chấp nhận ký Hiệp định Paris (27-1-1973), rút hết quân Mỹ về nước. Cách mạng Việt Nam phát triển, đánh sập ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
     4. Vào những năm 1988-1991, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Do chủ nghĩa xét lại, cơ hội, sự suy thoái trong các Đảng Cộng sản cầm quyền và sự phản bội đã dẫn tới sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động ở Việt Nam cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội đã thất bại. Họ coi việc truyền bá lý luận Mác-Lênin vào Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm. Họ đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ sự lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng và đa nguyên chính trị, xóa bỏ con đường xã hội chủ nghĩa.
     Đảng đã tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo đổi mới kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ dứt khoát lựa chọn từ năm 1930; trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bác bỏ đa nguyên, đa đảng. Đảng đề ra "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (1991) và bổ sung, phát triển năm 2011. Nhờ vậy, công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, hội nhập quốc tế và đối ngoại ngày càng mở rộng, đời sống về mọi mặt của nhân dân không ngừng được nâng cao.
     Việt Nam vẫn vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đó là công trình tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới, làm sáng tỏ mục tiêu, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các giải pháp và quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với lý luận khoa học và thực tiễn Việt Nam, đóng góp vào kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Bản chất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là vì nhân dân, vì con người. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”.
     Đất nước và dân tộc Việt Nam do Đảng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, vững chắc trên con đường đúng đắn dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực. Mọi sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng và sự lãnh đạo của Đảng không cản trở được khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST.

Chủ động đập tan âm mưu của các thế lực thù địch

 


Hiện nay trước tình hình thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp và mau lẹ; cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc đặc biệt là đấu tranh lợi dụng tôn giáo ngày càng quyết liệt với những sắc thái và tính chất mới. Ở Việt Nam hiện nay thực hiện tốt công tác tôn giáo của Đảng là một trong những vấn đề chiến lược, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nhằm tăng cường đoàn kết quần chúng có tín ngưỡng các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời chủ động đập tan âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. “Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức lợi dụng tính phức tạp và nhạy cảm của vấn đề tôn giáo, khai thác mọi sai lầm, khuyết điểm, sơ hở của chúng ta để kích động, lôi kéo chia rẽ, gây rối tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”

 

 

Cần nhận thức đúng về Tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 


Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, là vấn đề chính trị - xã hội nhạy cảm hiện nay, nó luôn được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, các Đảng Cộng sản quan tâm và đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Sự tồn tại của tôn giáo đã chi phối mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của một bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân. Hai thập niên trở lại đây, sự mâu thuẫn, chia rẽ sắc tộc, đảng phái, giáo phái và chiến tranh tôn giáo trên thế giới ngày càng gia tăng. Tính từ năm 1991 đến nay đã xảy ra hơn 100 cuộc xung đột về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố liên tiếp xảy ra. Điều đó cho thấy những tác động ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống xã hội là không hề nhỏ.

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo khác nhau cùng tồn tại và có ảnh hưởng trên phạm vi cả nước. Số người có tín ngưỡng tôn giáo chiếm tỷ lệ khá đông. Vì vậy, việc nhận thức đánh giá đúng sự tồn tại và ảnh hưởng của nó có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Cán bộ Quân đội luôn được coi trọng

 

            Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân; là lực lượng nòng cốt, chỗ dựa vững chắc cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định đất nước để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới. Trong giai đoạn cách mạng mới, để quân đội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, cần xây dựng quân đội theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, chú trọng xây dựng quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong bất kỳ tình huống nào. Do đó, phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Điều đó đặt ra yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải có phẩm chất và năng lực toàn diện, phải được trang bị bản lĩnh, lập trường giai cấp công nhân. Trong các giai đoạn cách mạng, công tác đào tạo cán bộ trong quân đội luôn được Đảng, Nhà nước, quân đội đặc biệt coi trọng.

ÔNG ẤY NÓI ĐÚNG HAY SAI?

     Ở tuổi 97 cựu Thủ tướng Malaysia vẫn được cho là rất minh mẫn và chuẩn mực, có lẽ đây là vị thủ tướng được người dân Malayxia kính nể nhất vì những đóng góp của ông cho đất nước cũng như cho hoà bình thế giới.
Viết trên trang Twetter của mình ngài Mohamad cho rằng: "Lỗi thuộc về Hoa kỳ và NATO đã cố tình kích động và bày trận để Nga tấn công UKR, và mục đích của khối này là làm suy yếu và tiêu diệt nước Nga. Ông cũng chỉ trích những hành động làm căng thẳng khu vực của Hoa kỳ khi cố tình đến thăm đài loan trong lúc tình hình rất nhạy cảm. về cuộc xung đột ở UKR ông viết "Không có bất cứ một binh sĩ Nato nào thiệt mạng, không có một quốc gia trong khối nào bị tổn hại,đó là chiến lược tốt nhất mà châu âu đang lựa chọn, và người UKR đang hàng ngày phải chết trong cuộc chiến uỷ nhiệm này".
Ông ấy nói đúng nếu như Nato tham chiến như những gì họ đã làm tại Xyri, Irac, Lybi, yamen ... và nhiều quốc gia khác thì số lượng tổn thất lính 2 bên sẽ là rất lớn và nó là gánh nặng lên bất cứ quốc gia NATO nào, chắc chắn dưới áp lực dư luận thì việc các chính phủ sụp đổ vì mất người ở một chiến trường được cho là chả liên quan gì đến họ là chắc chắn xảy ra. lúc đó châu âu sẽ hỗn loạn đến mức không thể kiểm soát nổi.
Nước Nga là một cường quốc họ sẽ chẳng chịu thua trước bất cứ một thế lực nào, 7-8 tháng của chiến dịch đã minh chứng điều đó,một mình nước Nga đối đầu với hơn 30 quốc gia do Hoa kỳ cầm đầu, tuy nhiên đến giờ phút này Nga vẫn đang ở thế thượng phong. Những gì được cho là sức mạnh của Nato đã dồn cho UKR nhưng cục diện chiến trường chẳng hề thay đổi,lý do chính chỉ có thể nói rằng họ là người Nga , họ có tinh thần tự tôn, họ là quốc gia hùng cường không dễ bị thôn tính như các quốc gia khác ,nếu như Nước Nga và ngài PUTIN chỉ là quốc gia nhược tiểu thì chắc không quá 2 tuần liên quân sẽ ngấu nghiến làm thịt như đã từng tiến hành ở nhiều quốc gia khác. UKR muốn hoà bình chỉ còn cách duy nhất là ngồi vào bàn đàm phán ngoài ra không còn phương án nào hơn thế , và phải chính người UKR mới quyết định được vận mệnh của mình, còn Mỹ và NATO họ chỉ là người dật dây cho con rối, an nguy của UKR họ sống chết mặc bay và chẳng hề quan tâm"./.
Yêu nước ST.

Khuyến khích cán bộ bị kỷ luật mà uy tín giảm sút tự nguyện từ chức Ngày 8/9, thay mặt Bộ Chính trị, ông Võ Văn Thưởng - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ký ban hành Thông báo số 20 Kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật. Theo đó, xem xét đề nghị của Ban Tổ chức Trung ương về chủ trương phân công, bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật (Tờ trình số 02-TTr/BTCTW, ngày 10/8/2022), Bộ Chính trị kết luận, việc bố trí công tác đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật nhằm thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và Quy định của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, thực hiện phương châm "có vào, có ra, có lên, có xuống" trong công tác cán bộ, đồng thời tạo điều kiện cho cán bộ bị kỷ luật có cơ hội sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện; góp phần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ. (Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa) Khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Nếu không tự nguyện xin từ chức thì cấp có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm theo quy định. Thông báo cũng nêu rõ, việc bố trí cán bộ sau khi từ chức, miễn nhiệm thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và theo định hướng: Cụ thể, cán bộ tự nguyện xin nghỉ hưu trước tuổi hoặc xin nghỉ công tác thì cấp có thẩm quyền xem xét theo nguyện vọng. Trong trường hợp cán bộ có nguyện vọng tiếp tục công tác thì cấp có thẩm quyền xem xét bố trí như sau: Trường hợp thời gian công tác còn dưới 5 năm, với cán bộ là Ủy viên Trung ương Đảng thì Bộ Chính trị xem xét, bố trí công tác phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Còn cán bộ ở cơ quan Trung ương và địa phương thì cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí làm công tác chuyên môn (không làm công tác lãnh đạo, quản lý), được giữ nguyên ngạch công chức đã được bổ nhiệm. Trường hợp thời gian công tác còn từ 5 năm trở lên thì cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí công tác theo nguyên tắc như trên. Cán bộ sau khi bị kỷ luật tự nguyện xin từ chức thì được cấp có thẩm quyền căn cứ tình hình thực tế tại cơ quan, đơn vị, địa phương xem xét từng trường hợp cụ thể để bố trí công tác theo hướng giảm một cấp so với chức vụ khi bị kỷ luật. Sau 24 tháng công tác ở vị trí mới, nếu khắc phục tốt những sai phạm, khuyết điểm, được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện thì được cấp có thẩm quyền xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử lại chức danh đã đảm nhiệm hoặc tương đương. Bộ Chính trị giao Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn, chủ trì phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện Thông báo kết luận này bảo đảm đồng bộ, thống nhất; tham mưu, trình cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương căn cứ Thông báo kết luận này cụ thể hóa và tổ chức thực hiện phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị./.

 

MỤC TIÊU VÀ LỢI ÍCH CỦA CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ

 


Gần đây chúng ta được nghe, được tiếp cận thuật ngữ “Chính phủ Điện tử”. Vậy Chính phủ Điện tử là gỉ?. Mục tiêu và lợi ích đó mang lại cái gì?. Đó là những câu hỏi đặt ra cho mọi người tìm hiểu. Qua nghiên cứu một số tài liệu, có thể rút ra một số vấn đề cơ bản sau:
Về khái niệm: "Chính phủ điện tử là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thúc đẩy chính phủ hoạt động một cách hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ truy cập tới các dịch vụ của chính phủ, cho phép truy cập nhiều hơn vào thông tin và làm cho chính phủ có trách nhiệm với công dân. Chính phủ điện tử có thể bao gồm việc cung cấp các dịch vụ qua Internet, điện thoại, các trung tâm cộng đồng, các thiết bị không dây hoặc các hệ thống liên lạc khác".
Việc xây dựng một Chính phủ điện tử sẽ có những mục tiêu và lợi ích như sau:
Mục tiêu của chính phủ điện tử
Mục tiêu chung là tăng cường năng lực, nâng cao hiệu quả điều hành nhà nước của chính phủ, mang lại thuận lợi cho dân chúng, tăng cường sự công khai minh bạch, giảm chi tiêu chính phủ.
Mục tiêu cụ thể là:
• Nâng cao năng lực quản lý điều hành của Chính phủ và các cơ quan chính quyền các cấp.
• Cung cấp cho người dân và doanh nghiệp các dịch vụ công; tạo điều kiện cho người dân dễ dàng truy nhập ở khắp mọi nơi
• Người dân có thể tham gia xây dựng chính sách, đóng góp vào quá trình xây dựng luật pháp, quá trình điều hành của chính phủ một cách tích cực.
• Giảm được chi phí cho bộ máy chính phủ
• Thực hiện một chính phủ hiện đại, hiệu quả và minh bạch
Một Chính phủ điện tử sẽ tạo ra phong cách lãnh đạo mới, phương thức mới, cung cấp dịch vụ cho người dân và nâng cao được năng lực quản lý điều hành đất nước.
Do vậy mà trong thời gian qua, các nước đều cố gắng đầu tư xây dựng Chính phủ điện tử. Xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết; nó là một phần quan trọng trong tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia.
Lợi ích của chính phủ điện tử
Chính phủ điện tử mang lại lợi ích rất lớn cho Nhà nước cũng như người dân, cụ thể:
• Chính phủ điện tử đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho công dân; đặc biệt các quyết định của Chính phủ luôn được ban hành đúng lúc.
• Chính phủ điện tử sử dụng công nghệ thông tin để tự động hóa các thủ tục hành chính; do vậy tốc độ xử lý các thủ tục hành chính nhanh hơn rất nhiều lần.
• Chính phủ điện tử cho phép công dân có thể truy cập tới các thủ tục hành chính nà thông qua phương tiện điện tử như: Internet, điện thoại di động, truyền hình tương tác.
• Chính phủ điện tử giúp cho các doanh nghiệp làm việc với chính phủ một cách dễ dàng hơn. Mọi thông tin kinh tế mà chính phủ có đều được cung cấp đầy đủ cho các doanh nghiệp để hoạt động hiệu quả hơn.
• Đối với công chức, công nghệ thông tin dùng trong Chính phủ điện tử là một công cụ giúp họ hoạt động hiệu quả hơn; có khả năng dáp ứng nhu cầu của công dân trong hoạt động thi hành công vụ.
Chính phủ điện tử lý tưởng sẽ đem đến rất nhiều lợi ích cho đa dạng các đối tượng.
• Tốc độ xử lý thủ tục hành chính được tăng lên gấp nhiều lần, giải quyết được khối lượng lớn trong công việc với độ chính xác gần như tuyệt đối trong thời gian ngắn. Từ đây, chính phủ điện tử có thể tiết kiệm được cả nguồn lực về con người lẫn chi phí.
• Công dân sử dụng chính phủ điện tử có thể truy cập và thực hiện các thủ tục hành chính một cách dễ dàng, không còn trở ngại về thời gian, chi phí; chỉ cần sử dụng các phương tiện điện tử thông dụng như PC, điện thoại di động, truyền hình có kết nối Internet.
• Đối với các doanh nghiệp, việc làm việc với chính phủ cũng trở nên dễ dàng hơn nhờ chính phủ điện tử. Đây sẽ là nền tảng tốt nhất để chính phủ tạo ra môi trường phát triển và cạnh tranh lý tưởng khi có sự có mặt của chính phủ điện tử. Mọi thông tin cần thiết đều được truy vấn nhanh chóng, chính phủ vì thế cũng có thể ra quyết định đúng lúc.
• Đối với chính phủ, đây là cơ hội để giảm tiêu cực cũng như bất cập trong xử lý hành chính, tinh gọn bộ máy tạo điều kiện hoàn thiện và đem đến chất lượng tốt nhất cho người dân.
Cuối cùng, có thể kết luận rằng, lợi ích mà chính phủ điện tử đem lại có thể được nhìn nhận từ 3 góc độ của 3 đối tượng khác nhau bao gồm chính phủ, người dân và doanh nghiệp. Ba chủ thể này có mối liên hệ chặt chẽ dưới sự tác động của chính phủ điện tử sẽ tạo ra những bước phát triển mới vượt bậc cho kinh tế, xã hội của đất nước, điều mà Việt Nam ta đã, đang và không ngừng hướng đến.
Do đó mà việc sử dụng chính phủ điện tử là cần thiết và tất yếu. Sẽ còn rất nhiều việc phải làm để có thể hiện thực hóa được mục tiêu này, nhưng với tiềm lực và quyết tâm của chính phủ và người dân, mục tiêu này sẽ ngày càng gần hơn.
( Quê Hương)

MỘT SỐ CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG

 


 Chức năng định hướng phát triển. Thông qua việc đặt ra quy định chung để hướng dẫn hành vi, hoạt động của các chủ thể trong xã hội theo những mục tiêu, phương hướng phát triển được nhà nước xác định, bao gồm cả mục tiêu dài hạn và ngắn hạn. Sự định hướng thường được thể hiện bằng các quy định về những hành vi được phép hoặc không được phép làm, những hành vi được khuyến khích hoặc không được khuyến khích đối với các chủ thể trong xã hội. Ngoài ra, sự đinh hướng còn được thực hiện thông qua việc nhà nước hướng dẫn phân bổ và sử dụng ngân sách cùng các nguồn lực công sẵn có khác trong thẩm quyền quản lý của nhà nước. Chức năng kích thích phát triển. Khi giải quyết các vấn đề của thực tiễn đời sống xã hội, chính sách công xóa bỏ rào cản, đưa đến bước tiến triển mới và tạo thuận lợi cho quá trình phát triển về sau. Quá trình này, đồng thời làm nảy sinh những thách thức, nhu cầu và động lực mới thúc đẩy quá trình phát triển. Chính sách đất đai là vì dụ. Cùng với việc thừa nhận quyền sử dụng đat là một hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường và đảm bảo các quyền của chủ sử dụng đất, chính sách đất đai đi vào thực tiễn và đã có những tác động xã hội tích cực. Đất đai được giải phóng và trở thành tư liệu sản xuất quan trọng, tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự lớn mạnh của các thành phần kinh tế, nhờ đó, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết vấn đề lao động, việc làm và thu nhập cho người lao động. Chức năng điều tiết. Do những khiếm khuyết, bất cập của thị trường và những hạn chế nằm ngay trong bộ máy nhà nước mà luôn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình phát triển. Điều này dẫn đến tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả, thiếu công bằng và bất bình đẳng, tiềm ẩn các nguy cơ về xung đột lợi ích và bất ổn xã hội, và dung dưỡng những nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Điều tiết là chức năng cơ bản có vai trò hết sức quan trọng, cho phép nhà nước chủ động giải quyết các thách thức nói trên, kiên trì theo đuổi mục tiêu phát triển của minh. Nhờ độc quyền sử dụng quyền lực chính trị và pháp lý, nên sự điều tiết bằng chính sách khá hiệu quả và thực tế, nó được sử dụng rất phổ biến. Chính sách chống ùn tắc giao thông ở Singapore là sự điều tiết rất thành công. Nhờ áp dụng chặt chẽ các quy định nghiêm ngặt về sở hữu và sử dụng ô tô cá nhân bên cạnh các giải pháp phát triển hệ thống giao thông công cộng và thực hiện hỗ trợ giá trong sử dụng phương tiện giao thông công cộng, Singapore đã hạn chế việc sử dụng phương tiện ô tô cá nhân và thúc đẩy việc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng một cách hiệu quả.

Các dân tộc ở Việt Nam có dân số không đồng đều

 


Hiện Việt Nam có 54 thành phần dân tộc. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số cả nước; 53 dân tộc thiều s chiếm 14,7% dân số. Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cùng không đồng đều, có dân tộc số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me, Hmông), nhưng có dân tộc số dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, ơ đu). Dân số không đều giữa các dân tộc đang là vấn đề đặt ra trước yêu cầu giải quyết hợp lý số dân cho từng dân tộc. Thực tế ở Việt Nam, nếu một dân tộc mà s dân chỉ có hàng trăm thì rất khó cho việc tổ chức cuộc sng, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi. Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc có số dân quá ít phải trở thành quốc sách, một nhiệm vụ có tính thời sự của quốc gia.

Quan hệ tộc người xuyên/liên biên giới ở Việt Nam hiện nay

 


Các quan hệ tộc người xuyên biên giới hiện nay chủ yếu là quan hệ nội tộc người, nhưng có điểm khác biệt so với các mối quan hệ nội tộc người ở trong nước là tính chất xuyên/liên quốc gia. Những mối quan hệ đồng tộc, thân tộc này có nhiều mặt tích cực song cũng ẩn chứa nhiều yếu tố tiềm ẩn, dễ bị các thể lực thù địch lợi dụng, đánh tráo những khái niệm giữa vấn đề lãnh thổ tộc người, vùng cư trú của tộc người và biên giới quốc gia. Về Quan hệ về nguồn gốc lịch sử: Trong số các dân tộc ở Việt Nam, đặc biệt là các tộc người cư trú ở vùng biên giới thường có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng, di cư đến Việt Nam vào những thời điểm và bởi các nguyên nhân khác nhau, trong đó có một bộ phận các dân tộc sau khi đến nước ta lại tiếp tục di cư sang quốc gia khác hoặc ngược lại di cư đến quốc gia khác rồi mới đến Việt Nam. Do đó, có tình trạng một số tộc người tuy hiện cư trú ở những quốc gia khác nhau, nhưng ngoài các mối tương đồng về đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng bào vẫn giữ được ý thức về nguồn gốc tộc người, tập tục thờ cúng tổ tiên chung và quan hệ dòng tộc của mình thông qua các câu chuyện huyền thoại, biểu tượng vật tổ hay tô tem và nghi lễ thờ cúng. Quan hệ kinh tế: Nhờ có mối quan hệ đồng tộc, thân tộc nên các cá nhân thường qua lại hai bên biên gii buôn bán, tìm cơ hội việc làm ăn, nhưng thường không thông qua kiểm soát của Nhà nước như tiếp nhận tiền và quà biếu tặng, hỗ trợ đầu tư sản xuất của các cá nhân, hoặc các tổ chức ở nước ngoài. Trong các hoạt động sản xuất, những người đồng tộc, thân tộc cũng thường xuyên giúp đỡ, trao đổi hoặc mua bán các giống cây trồng, vật nuôi, công cụ sản xuất, nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày và hỗ trợ nhân lực khi cần thiết. Việc trao đổi, mua bán giúp đỡ nhau này diễn ra hết sức linh hoạt ở các tộc người và tùy theo từng mối quan hệ, có thể tiến hành ở các chợ cửa khẩu, các chợ địa phương ở vùng biên hai nước, tại các quầy hàng của gia đình hay đem đến tận các thôn bản. Quan hệ xã hội: Có thể nói, mối quan hệ này ngày càng phát triển, nhất là trong hôn nhân, gia đình và dòng họ. Trong quan hệ hôn nhân, các tộc người ở hai bên biên giới thường kết hôn với người cùng tộc, đa phần là nông dân và không cách trở nhiều về địa lý môi trường nên cũng ít gặp phải các trở ngại về ngôn ngữ, tập quán xã hội, sinh hoạt văn hóa, hoạt động sản xuất tại nơi ở mới.Không chỉ trong hôn nhân, hầu hết các tộc người sinh sống ở vùng biên giới với Trung Quốc, Lào và Cămpuchia đều ngày càng tăng cường các mối quan hệ với những người đồng tộc, thân tộc ở bên kia biên giới. Quan hệ văn hóa: về cơ bản, mối quan hệ đồng tộc, thân tộc xuyên/liên biên giới của các tộc người trên lĩnh vực văn hóa không diễn ra thường xuyên, chỉ có một số người có quan hệ máu mủ, thông gia, bạn bè thân thiết... sinh sống liền kề nhau dọc biên giới thi thoảng sang tham dự các lễ hội hay nghi lễ chung của dòng họ hay cộng đồng, mục đích chính vẫn là thăm viếng, thực hiện nghĩa vụ tâm linh truyền thống.

Vai trò của nhà nước và chức năng của chính sách công

 


Nhà nước là bộ máy chính trị có lịch sử phát triển lâu dài. Thực tiễn cho thấy, tại những thời điểm và không gian khác nhau thì phạm vi và vai trò của nhà nước là rất khác nhau. Cho đến nay, nhà nước hiện đại thường được ghi nhận có một số chức năng chính[1] như: Bảo vệ trật tự xã hội và tạo lập môi trường phát triển. Đây là một trong những chức năng cơ bản nhất, xuất hiện cùng với sự ra đời cùa nhà nước. Ngay khi nảy sinh nhu cầu có bên thứ ba để xét xử và giải quyết các tranh chấp trong xã hội thì các quy ước về hành động tập thể được đặt ra và quyền lực chính trị được trao cho nhà nước để thực hiện những dàn xếp mang tính hiến định vì lợi ích cộng đồng. Tại những thời điểm và trong những bối cảnh khác nhau thi vai trò này có thể có nội dung và ưu tiên khác nhau, song một nhà nước cần đảm bảo: Cung cấp các dịch vụ và hàng hóa công cơ bản thuần túy như an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền sở hữu tài sản, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục; tạo lập môi trường ổn định và công bằng - ở đó các chủ thể đều có cơ hội phát triển và được đối xử bình đẳng với nhau; đảm bảo để mọi người dân có được các cơ hội phát triển, nhất là những người nghèo, nhóm yếu thế ừong xã hội. Theo đuổi sự hiệu quả. Lịch sử phát triển của nhà nước cho thấy, vai trò điều tiết của nhà nước có nhiều sự thay đổi và đến nay, vai trò của nhà nước được mở rộng, càng trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Sự can thiệp của nhà nước có thể diễn ra ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Trên cơ sở sừ dụng quyền lực công và nguồn lực công, Nhà nước là chủ thể có khả năng can thiệp để theo đuổi sự hiệu quả. Trong mối quan hệ vói thị trường, nhà nước không chỉ kiểm soát mà còn nuôi dưỡng thị trường. Nhà nước không chi điều tiết mà còn phối hợp với khu vực tư nhân. Bản thân nhà nước cũng luôn thay đổi để thực hiện tốt chức năng của mình. Ngày nay, bộ máy nhà nước được củng cố theo hướng ngày càng công khai, minh bạch và có trách nhiệm giải trình hơn. Giảm thiểu những thất bại của thị trường. Thị trường vai trò quan trọng thúc đẩy sự vận hành có hiệu quả của nền kinh tế. Song, thị trường có những hạn chế nhất định như: không khuyến khích việc cung ứng hàng hóa công cộng, làm nảy sinh sự độc quyền; tồn tại tình trạng thông tin không hoàn hảo; không ngăn chặn tác động ngoại lai và làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội. Không ai khác ngoài nhà nước có trách nhiệm giảm thiểu hay khắc phục những thất bại của thị trường.



[1]     World Bank: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đồi, Nxb.Chính trị yàc gia, H.1997.

NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH CÔNG HIỆN NAY

 


Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều cách hiểu, nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách. Tuy cách diễn giải khác nhau nhưng các định nghĩa nhìn chung đều thống nhất cho rằng chính sách là toàn bộ các phương thức được sử dụng để giải quyết vấn đề và đạt được các mục tiêu mong đợi. Tương tự khái niệm chính sách, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công. Mặc dù chưa có định nghĩa hoàn toàn thống nhất về chính sách công, nhưng các định nghĩa đều có một số điểm chung đáng chú ý sau: Chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là Nhà nước. Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm những người được “đa số các thành viên trong xã hội bầu và thừa nhận là có trách nhiệm”, “hàng ngày đảm nhận các công việc của hệ thống chính trị” và hành động ca họ được “đa số mọi người chấp nhận là hợp pháp đến chừng nào mà họ còn hành động trong giới hạn vai trò của họ”. Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan đến nhau về việc có hành động hay không hành động. Các quyết định ở đây có ý nghĩa rộng, bao gồm cả dự định và hành động thực tiễn được đưa ra trong một thời gian dài. Điều này giúp phân biệt một chính sách công với một quyết định - cái mà cơ bản là chi sự lựa chọn cụ thể giữa các phương án. Và quan trọng hơn, cách định nghĩa này xem chính sách công như là sản phẩm được phát triển qua thời gian. Ngoài ra, lựa chọn “hành động” hay “không hành động” đều có thể có những ảnh hưởng quan trọng đối với người dân và xã hội, do đó các quyết đinh đó cần được nhìn nhận là các quyết định chính sách công. Chính sách công là tập hợp hành động có ch đích được định hướng giải quyết vấn đề thuộc lợi ích công cộng. Điều này có nghĩa là chính sách gắn với hành động có mục đích không phải hành vi hay hoạt động xảy ra ngẫu nhiên, gắn với các hành động tương đối ổn định không phải hành động thay đổi liên tục. Chính sách công không chỉ được ban hành mà quan trọng hơn chúng được thiết kế để đạt được các mục đích cụ thể hoặc tạo ra những kết quả xác định theo mong muốn của nhà nước mặc dù trong thực tế các mục tiêu hay kết quả đó không phải lúc nào cũng đạt được.Từ những điểm chung nêu trên, có thể định nghĩa về chính sách công như sau: Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan đến nhau của nhà nước về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề thuộc lợi ích công cộng.

CHÍNH SÁCH CÔNG TRONG LÃNH ĐẠO Ở VIỆT NAM

 


Chính sách công là công cụ và phương thức cơ bản để nhà nước định hướng phát triển và thực hiện lợi ích chung của xã hội. Đây là một trong những công cụ quản trị xã hội hết sức phức tạp. Chính sách công vừa phải đảm bảo tính khoa học để thực sự hiệu quả vừa có tính chính trị. Dù dưới bất kỳ thể chế chính trị nào, chính sách công là sự phản ánh quan điểm của đảng cầm quyền, bản chất của nhà nước trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân. Ở Việt Nam, chủ trương, đường li của Đảng Cộng sản Việt Nam là căn cứ quan trọng trong quá trình hình thành chính sách. Chính sách công chính là sự cụ thể hóa và hiện thực hóa đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng đối với đất nước. Bên cạnh đó, với tư cách là người đại diện cho nhân dân theo nghĩa Nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi chính sách mà Nhà nước ban hanh và thực hiện đều cần phản ánh và đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của các tng lớp nhân dân trong xã hội.

Vai trò của người lãnh đạo, quản lý trong khu vực công về thực cht được thể hiện thông qua việc ra quyết định và lãnh đạo quá trình thực hiện chính sách. Chính vì vậy, người lãnh đạo quản lý cn tự giác học hỏi làm giàu tri thức về chính sách công và chủ động đóng vai trò tích cực của mình, vào trong quá trình thực hiện chính sách công đó.

Quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số

 


Quan hệ kinh tế:Mối quan hệ giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số mang tính cơ bản, liên thông với các quan hệ khác và ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngoài yếu tố giao lưu, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong sản xuất, tạo ra được các quan hệ tích cực trong hoạt động kinh tế giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số, trong đó người Việt giữ vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong việc truyền bá khoa học kỹ thuật và đẩy manh hệ thống thương mại, dịch vụ ở vùng các tộc người thiểu số.Về Quan hệ chính trị xã hội:  Hoà hợp giữa các tộc người, nhất là giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số được thể hiện ở sự gia tăng về mức độ cư trú xen kẽ, sự tăng cường các mối quan hệ thuê mướn lao động, việc sử dụng song ngữ, hôn nhân hỗn hp giữa các tộc người, về cơ bản, quan hệ giữa các tộc người thiểu số và tộc người đa số ở nước ta vẫn đảm bảo bình đẳng, tôn trọng, hoà hợp và giúp đỡ lẫn nhau. Người Kinh vẫn đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và đảm bảo đoàn kết dân tộc, thể hiện rõ nét trên các lĩnh vực một đội ngũ cán bộ công chức đông đảo và trình độ chuyên môn cao của người Kinh đang phục vụ ở các vùng đồng bào dân tộc, đại đa số giáo viên, nhân viên y tế, khoa học kỹ thuật ở vùng miền là người Kinh; tỷ lệ kết hôn hỗn hợp giữa người Kinh với các tộc người thiểu số ở khắp mọi vùng miền ngày càng trở nên phổ biến. Quan hệ văn hóa: Có thể nói ngày càng phổ biến xu hướng giao lưu, hợp tác về mọi mặt, trong đó có yếu tố văn hóa là xu hướng chủ đạo trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Chẳng hạn như tiếng Việt ngày càng đóng vai trò to lớn và là một trong những tiêu chí cơ bản nói lên xu hướng giao lưu hòa hợp này. Đến nay, hầu hết các tộc người thiểu số đều biết sử dụng tiếng và chữ viết của người Kinh ở những mức độ khác nhau để giao tiếp, học tập, làm ăn kinh tế.. Ngược lại ở rất nhiều nơi vùng cao biên giới, một bộ phận người Kinh đã tích cực học tiếng của các tộc người thiểu số trong vùng để giao tiếp và làm ăn, sống trong các ngôi nhà sàn, uống rượu cần, làm nương rẫy... như các tộc người thiểu số trong vùng.  

Quan hệ giữa các tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện nay

 


Về cơ bản các tộc người ở Việt Nam đều đề cao tính cộng đồng tộc người, dòng họ và thân tộc. Quan hệ với các tộc người khác chỉ diễn ra một số lĩnh vực như sinh hoạt kinh tế và xã hội chung. Với đặc điểm cư trú xen cài và nông nghiệp nặng tính tự cung tự cấp nên mối quan hệ kinh tế được thể hiện giữa các gia đình mang tính chất láng giềng, giữa bản làng này với cộng đồng cư trú liền kề khác. Quan hệ kinh tế giữa các tộc người hiện nay có phần được đẩy mạnh hơn trước do điều kiện cư trú xen kẽ ngày càng gia tăng, nhất là việc một bộ phận người Kinh di cư lên miền núi và vùng dân tộc thiểu số khác đã có tác động đẩy mạnh khai hoang phục hóa đất đai và thâm canh tăng vụ, đa dạng hóa các hình thức sản xuất nông nghiệp và trao truyền các kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất cho đồng bào các dân tộc; đồng thời, người Kinh cũng phải học tập kinh nghiệm lâu đời của người dân tộc để sản xuất hiệu quả ở vùng đất mới... Quan hệ kinh tế giữa các tộc người cho đến nay chủ yếu diễn ra các hoạt động nông nghiệp và trao đổi mua bán truyền thống, phần lớn mang tính tự phát giữa người dân với nhau, nhất là ở khu vực đa dân tộc sống xen cư xen canh, những gia đình có quan hệ hôn nhân, kết nghĩa anh em. Do đó, cn đẩy mạnh hơn nữa các mối quan hệ kinh tế khác, nhất là phải tăng cường sự định hướng, tổ chức của Nhà nước, chính quyền và đoàn thể địa phương. Về Quan hệ văn hóa: Mối quan hệ này phát triển tương đối toàn diện, các tộc người không chỉ học hỏi nhau cách thức ăn, mặc, ở và đi lại mà còn giao lưu, tiếp thu các yếu tố phù hợp trong đời sống tâm linh, thông qua việc tổ chức lễ hội và các thực hành tín ngưỡng, tạo nên những đặc trưng văn hóa mang đậm dấu ấn tộc người thể hiện nét văn hóa liên tộc người hay văn hóa vùng. Trong đó, đáng chú ý là việc một số tộc người sử dụng ngôn ngữ của các tộc người có dân số đông trong vùng đóng vai trò quan trọng, thể hiện nhu cầu phát triển các mối quan hệ giữa các tộc người. Chẳng hạn, ngoài tiếng Kinh thì đa số các dân tộc vùng Tây Bắc có thể sử dụng được tiếng Thái, ở vùng Đông Bắc là tiếng Tày, không chỉ để giao tiếp với người Thái, ngưòi Tày mà còn giao tiếp với nhau thông qua ngôn ngữ thứ ba. Như vậy, để có thể phát triển mối quan hệ giữa các tộc người thông qua văn hóa, các dân tộc cần hiểu biết, tôn trọng tập quán, lối sống, hệ giá trị của các tộc người láng giềng, không ngừng nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống, tổ chức các sinh hoạt văn hóa chung bổ ích để tạo điều kiện cho các dân tộc có thêm nhiều cơ hội giao lưu, hòa hợp, xích lại gần nhau.

Quan hệ trong nội bộ từng tộc người ở Việt Nam hiện nay

 


Quan hệ này được thể hiện chủ yếu thông qua các mối quan hệ trong gia đình, giữa các gia đình trong dòng họ và cộng đồng (láng giềng), giữa các dòng họ, giữa các làng bản đồng tộc. Trong đó, các yếu tố nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng, quan hệ họ tộc, sinh kế vừa là các thành tố văn hoá tộc người, vừa là những nhân tố cố kết các thành viên và bảo vệ bản sắc văn hoá của tộc người. Về Quan hệ về nguồn gc lịch sử tộc người: Các thành viên trong một tộc người đều có chung nguồn gốc, có thể sinh sống lâu đời hay mới di cư đến, cư trú cùng nhau hoặc phải phân ly do quá trình tộc người và biến đổi lịch sử, có thể cùng kết hôn hay kết nghĩa và nhận con nuôi... nhưng hầu hết các thành viên đều có ý thức về cội nguồn dân tộc, từ đó lưu giữ mối quan hệ đồng tộc. Có thể nói, tất cả các tộc người đều có ý thức về cội nguồn của mình, tâm lý gắn kết các thành viên cùng tộc, nhất là cùng dòng họ rất cao. Chẳng hạn như người Hmông, dù ở đâu cũng luôn coi người cùng họ (không nhất thiết phải cùng huyết thống) là anh em ruột thịt có thể sống, chết trong nhà của nhau; quan hệ giữa các thành viên cùng tộc người, mặc dù không được chặt chẽ như cùng họ, nhưng cũng luôn bền chặt bởi tâm lý chung của người Hmông là hướng nội, ưu tiên các quan hệ trong nội bộ tộc người. Về Quan hệ kinh tế: Từ trước đến nay, các gia đình thành viên nội tộc người, nhất là xóm giềng thân thiết, họ hàng thân thích gặp khó khăn luôn hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong các hoạt động sinh kế, về nhân lực thì đổi công, giúp công; về vật lực thì giúp giống cây con, đất đai, công cụ sản xuất, lương thực, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và các sản vật khai thác từ tự nhiên. Những quan hệ kinh tế này thường được thực hiện một cách vô tư, nhất là trước đây khi một gia đình gặp phải khó khăn như neo đơn, ốm yếu, đói kém.. sẽ nhận được sự giúp đỡ mà không cần phải hoàn trả, cho vay tiền không phải trả lãi, đất đai có thể cho mượn sử dụng hoặc cho luôn... Về Quan hệ xã hội: Sự đổi mới cơ chế kinh tế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng các mối quan hệ xã hội giữa các đồng tộc sinh sống trên các địa bàn khác nhau. Về Quan hệ văn hóa. Các tộc người thiểu số ở Việt Nam tuy có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, nhất là trong đời sng tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán, lễ hội của cộng đồng, dòng họ và gia đình. Tuy nhiên, ở mỗi một tộc người lại có những sắc thái văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo riêng, như quan niệm và nghi lễ thờ cúng tổ tiên, dòng họ của người Hmông khác với thờ cúng Bàn vương của người Dao và cũng khác với nghi lễ thờ cúng ‘Phi’ của người Thái…Đây là các yếu tố quan trọng tạo ra và giữ vững bản sắc văn hóa tộc người, tăng cường tính cố kết cộng dồng, dòng họ và gia đình.

Quan hệ giữa các tộc người với quốc gia - Tổ quốc Việt Nam

 


Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng, Nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác xây dựng hệ thống chính trị, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Nhờ có chính sách đúng đắn này, đến nay nhiều địa phương các tỉnh miền núi đã xây dựng được đội ngũ cán bộ dân tộc đông đảo, chất lượng ngày càng được nâng cao, họ là nhân tố quan trọng và là cầu nối giữa người dân với Đảng và Nhà nước. Trong các cơ quan Trung ương, nhiều vị trí chủ chốt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành là người dân tộc thiểu số. Đại biểu Quốc hội là người dân tộc cũng chiếm tỷ lệ khá cao và liên tục tăng theo các khóa. Nhiều cơ quan xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc ở Trung ương và hệ thống chính trị các cấp đều do người dân tộc nắm giữ những trọng trách quan trọng. Tuy nhiên, do trình độ giáo dục có sự khác biệt giữa các tộc người, nên ở một số nơi tỷ lệ cán bộ cấp xã của từng dân tộc không tương xứng với số lượng dân số của dân tộc đó.

Như vậy, có thể thấy mức độ tham gia, đóng góp của các dân tộc trong toàn hệ thống chính trị ngày càng lớn, thể hiện tầm quan trọng và sự bình đẳng trong quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với hệ thống chính trị cả nước nói chung và với dân tộc đa số - người Kinh nói riêng ngày càng được đề cao. Rõ ràng, đây là cơ sở để xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tin tưởng giữa các dân tộc và của người dân với hệ thống chính trị các cấp. Được thể hiện ở quan hệ giữa người dân với Đảng và Nhà nước thông qua việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách dân tộc. Chỉ tính từ khi thực hiện đổi mới đến nay, Chính phủ đã triển khai thực hiện khá nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá, nhất là đối với các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới đặc biệt khó khăn như các chương trình, dự án 327, dự án 661, chương trình 135, chương trình 134 và nhiều chương trình, dự án kinh tế - xã hội khác. Các chính sách, chương trình, dự án này đã và đang tạo cơ sở thực tế cho việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng phát triển của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, chăm lo sức khỏe đối với đồng bào cả nước nói chung và đối với đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng. Các chính sách đó khá toàn diện, từ miễn, giảm học phí, mở rộng hệ thống trường dân tộc nội trú; cử tuyển vào các trường chuyên nghiệp; xây dựng hệ thống y tế địa phương, miễm giảm bảo hiểm y tế. Có thể nói, các chính sách đó rất phù hợp với nguyện vọng và điều kiện thực tiễn của các dân tộc, thực sự đi vào đời sống, góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao ở vùng miền núi và vùng dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.