Thứ Hai, 10 tháng 10, 2022

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng…”

 


Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng n của mạng Internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường; các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mi, cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đấu tranh bảo vệ nền tảng của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị, tổ chức và đạo đức, gắn liền với nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Chính vì vậy, chúng ta cần phải nhận diện rõ hơn, chi tiết hơn những âm mưu thủ đoạn, nội dung phá hoại của các thế lực thù địch để có những giải pháp thật sự đồng bộ, chủ động tiến công, thích ứng nhanh chóng với thực tiễn và đạt hiệu quả cao.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng…”

Đây là âm mưu, thủ đoạn, nội dung hàng đầu, cốt lõi, xuyên suốt trong mọi hoạt động chống phá của các thế lực thù địch (chúng). Chúng tung tin hỏa mù, với hàng nghìn bài viết, bài phỏng vấn, thư ngỏ bằng các luận điệu vu cáo bĩnh luận thâm độc, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận, bác bỏ những nội dung cốt lõi, then chốt trong đường lối chính trị, quan điểm cơ bản của Đảng, đòi từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; đề cao mô hình thể chế hóa nhà nước tư bản chủ nghĩa, tam quyền phân lập, tô hồng, ca ngợi sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học, công nghệ của chủ nghĩa tư bản; sử dụng thủ đoạn cung cấp các thông tin thật, giả lẫn lộn để bịa đặt, hư cấu. Đó là lợi dụng những hình ảnh, thông tin từ các hoạt động của Đảng, Nhà nước ta, sau đó cất xen không đầy đủ, để đưa lên mạng xã hội bình phẩm làm cho người đọc hiểu lầm; các bài viết đều có dung lượng mặt trái trên 80%, chỉ có rất ít dung lượng tích cực để dẫn dắt, hư cấu, lôi cuốn người đọc hiểu lầm, thậm chí cả những người có ừình độ, có lý luận cao cấp vẫn bị vấp ngã.. Các bài viết được “sản xuất” hằng ngày, hàng giờ, được tung lên trên các “mặt trận”, chủ yếu trên các nền tảng mạng xã hội.

THƯƠNG LẮM, MIỀN TRUNG ƠI...

 

Miền Trung ơi, xin mưa đừng mưa nữa!

Ngập hết cả rồi giờ sống dựa vào đâu?

Nước ngập phẳng làng: ch.ết gà, lợn, bò, trâu…

“Cha đất - mẹ trời” nỡ gieo sầu nhân thế!


Vô vàn nỗi đau biết bao nhiêu mà kể,

Đến cả con người còn “đem tế” xót xa

Miền Trung ơi, khúc ruột đất Việt ta,

Mưa triền miên bao nóc nhà ngụp lặn.


Thủy quái điên cuồng không gì có thể chặn,

Lệ bao người đổ chát mặn suối, sông

Lũ sẽ qua, cuộc sống bình yên không?

Khi nghèo đói lại chất chồng gian khổ.


Một mùa bình yên chẳng năm nào có chỗ,

Hết nắng hạn lại giông tố bủa vây

Lũ sẽ qua, cuộc sống sẽ sao đây?

Nhà vẹo - đổ, bùn thì đầy sân ngõ.


Lúa đương xanh, ngập thối - thu hay bỏ?

Muốn yên bình nào trời có cho đâu

Ngày vẫn thức, đêm lại trắng đêm thâu,

Miền đã nghèo, gánh nỗi sầu vô cớ.


Năm vài lần thiên nhiên như đòi nợ,

Triệu trái tim trăn trở miền Trung đau!

Mong gió mưa, bão lũ sẽ qua mau,

Để miền Trung lại tươi màu hi vọng.


Triệu người dân Việt Nam luôn mong ngóng,

Cầu miền Trung sẽ mau chóng bình yên!./.

ST

TÔN VINH TẦM VÓC VÀ GIÁ TRỊ ĐẶC BIỆT CỦA MỐI QUAN HỆ VIỆT - LÀO

 

Tối 1/10, tại thành phố Điện Biên Phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Điện Biên tổ chức khai mạc Ngày hội giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam - Lào lần thứ 3 năm 2022 với chủ đề "Thắm tình hữu nghị - Hướng tới tương lai".


Việt Nam - Lào là hai nước láng giềng gần gũi và thân thiết, nhân dân hai nước có quan hệ truyền thống, thủy chung son sắt, gắn bó lâu đời. Mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt - Lào đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong gây dựng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước nâng niu, dày công vun đắp, ngày càng được củng cố và phát triển, trở thành tấm gương mẫu mực, trong sáng, là tài sản vô giá, nguồn lực quý báu và là nhân tố quan trọng bảo đảm thành công của sự nghiệp cách mạng ở mỗi nước.


Ngày hội là dịp để tôn vinh, quảng bá, giới thiệu về lịch sử và những giá trị văn hóa truyền thống đầy tính nhân văn của 20 tỉnh có chung đường biên giới nói riêng, nhân dân hai nước Việt Nam - Lào nói chung. Đây cũng là hoạt động trong chuỗi các sự kiện kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 45 năm Ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào.


Ngày hội diễn ra từ ngày 1 - 3/10, với các hoạt động như: Triển lãm cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt Nam - Lào; Liên hoan văn nghệ quần chúng "Thắm tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào và trình diễn trang phục dân tộc; Triển lãm giới thiệu, quảng bá sản phẩm văn hóa và du lịch, đất nước, con người và những thành tựu kinh tế - xã hội của các địa phương có chung đường biên giới giữa hai nước; Hội thảo liên kết, hợp tác phát triển du lịch vùng biên giới Việt Nam - Lào. /.

ST

GỬI ANH NGƯỜI LÍNH BIỂN ĐẢO


Em gửi vào tiếng sóng biển chiều nay

Bao nỗi nhớ dâng đầy trong tim nhỏ

Nơi hải đảo người em yêu ở đó

Giữa mênh mông nắng gió suốt bốn mùa.


Gửi chút tình vào trong những cơn mưa

Cho dịu mát những trưa hè bỏng rát

Khúc tình ca sóng vỗ bờ dào dạt

Anh thấy không biển hát tặng riêng mình.


Em gửi vào trong buổi sớm bình minh

Lời nhắn nhủ tâm tình khi xa vắng

Chỉ mong ước ở nơi anh bình lặng

Đừng nhớ em mà thức trắng canh dài.


Gánh thăng trầm còn trĩu nặng hai vai

Anh vững bước dặm dài không mỏi mệt

Cha mẹ già đã có em lo hết

Đợi anh về mình dệt những niềm mơ./.

ST

Sự thật không thể chống phá

 


Thủ đoạn của các đối tượng chống phá không phải là vấn đề mới, vẫn là những câu chuyện “té nước theo mưa”, cóp nhặt, lắp ghép thông tin vô căn cứ, xuyên tạc sự thật nhằm bôi nhọ, xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hòng làm lung lay niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Có chăng mức độ nguy hiểm của thủ đoạn này đang gia tăng nhờ vào sự lan truyền nhanh chóng của thông tin trên các nền tảng mạng xã hội và các trang tin phản động - chuyên phát tán tin giả, tin sai sự thật, tin không được kiểm chứng, tin xấu độc.

Ngay như tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022, trong khi kết quả thu được đã làm nức lòng người dân cả nước, thể hiện nỗ lực và quyết tâm bền bỉ xây dựng, chỉnh đốn Đảng của cả hệ thống chính trị, thì các thế lực thù địch lại lái cuộc chiến chống “giặc nội xâm” này theo hướng “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe cánh”…

Hay như trong vụ án Việt Á, các trang mạng, các diễn đàn bất mãn suốt ngày tung tin đồn đoán vô căn cứ về “trùm cuối”. Hết lãnh đạo cấp cao này được nêu tên, lại đến lãnh đạo cấp cao khác, rồi người thân của lãnh đạo cấp cao cũng được điểm danh trong các “thông tin mật”, “nguồn tin riêng” của chúng, hòng trả lời cho một thứ bánh vẽ: Phải có một quyền lực đứng đằng sau chỉ đạo, điều khiển vụ việc này. Hình ảnh và thông tin liên quan đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta bị chúng bóp méo, xuyên tạc, thêm thắt cứ như là chuyện đúng rồi. Thậm chí, có những thông tin xấu độc còn nhân cơ hội này công kích, làm vấy bẩn chủ trương, chính sách nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta là “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19.

Cho dù thế nào, đây cũng cần được nhận diện là thủ đoạn tuyên truyền “mưa dầm thấm lâu” của các thế lực chống phá. Từ chuyện không có, chúng bịa đặt thành những “sự thật” ở Việt Nam, tất cả đều nhằm mục đích gây nhiễu loạn thông tin hòng thực hiện mưu đồ làm rối loạn lòng dân, gây bất ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất nước, từ đó rình rập cơ hội để phá hoại đất nước, phá hoại chế độ.

Thực tế công cuộc phòng, chống tham nhũng đã cho thấy quyết tâm xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, không ngoài mục đích: Việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm và làm cho bằng được; ngược lại, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Việc gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm. Có lẽ chưa bao giờ cuộc đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực lại đạt được những kết quả cụ thể và được toàn dân “tiền hô hậu ủng” như hiện nay. Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể là ai, nếu sai phạm đều bị xem xét xử lý nghiêm minh, nhưng cũng rất nhân văn, nhân ái, có lý, có tình. Không ai muốn hạ bệ đồng chí của mình cả, mà đây là việc phải “cắt bỏ một vài cành sâu mọt để cứu cả cái cây”, chứ không phải là chuyện “thanh trừng” như các thông tin xấu độc lan truyền.

Liên quan đến các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, những tập thể, cá nhân đã bị khởi tố, điều tra thì cần chờ kết quả từ các cơ quan chức năng. Đừng làm thay các cơ quan tư pháp và không ai có thể đứng trên Hiến pháp, pháp luật. Ai sai, ai đúng và sai đến đâu thì sẽ có pháp luật phán xét. Mọi quy kết, quy chụp hay suy diễn đều vi phạm pháp luật; “cào bàn phím” lan truyền thông tin sai sự thật cũng vậy. Chưa kể, nhiều thông tin bịa đặt thô thiển thì hiện nay đều bị người đọc, người xem “ném đá” ngay lập tức, thành ra định lèo lái dư luận mà cuối cùng lại chịu cảnh “gậy ông đập lưng ông”, càng ra rả đăng đàn thì càng lâm vào ngõ cụt.

Tất nhiên, trên thực tế vẫn còn một bộ phận người dân chưa nhận thức đầy đủ nên vẫn có kẽ hở để các đối tượng chống phá nhắm vào để tiếp tục mưu đồ công kích, bôi nhọ Đảng và Nhà nước. Mặt khác, qua hơn 35 năm đổi mới, dù những thành tựu đạt được là rất đáng ghi nhận và tự hào, nhưng Việt Nam vẫn là nước đang phát triển, là nước đi sau, nên mọi thành quả mới chỉ là bước đầu. Chúng ta vẫn đang từng ngày phải khắc phục hạn chế, tận dụng và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu phát triển văn minh của thế giới để bồi đắp nền tảng cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cũng vì thế, khó tránh khỏi sự chống phá luôn ăn bám, ký sinh vào chúng ta như một thứ ung nhọt cần loại bỏ.

 “Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi”. Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển của mỗi đất nước có thể có những cung bậc thăng trầm, có gian nan thử thách và có cả những kẻ “chọc gậy bánh xe”. Điều quan trọng là chúng ta đang đi đúng hướng và kiên định con đường đã chọn, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, đó là: “… con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”.

Việt Nam đang trên đà cất cánh hướng đến mục tiêu trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI này, đất nước đang trở thành điểm sáng thu hút đầu tư, cuộc sống của người dân đang từng bước được nâng lên trong mục tiêu phát triển bền vững…, tất cả đều dựa trên nền tảng là sự ổn định về chính trị - xã hội, dựa vào đường lối xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Không phải ngẫu nhiên khi mới đây Việt Nam duy trì vị trí trong Top 50 quốc gia hòa bình nhất thế giới năm 2022 (xếp thứ 44, tăng 6 bậc so với năm 2021), theo báo cáo của Viện Kinh tế và Hòa bình (IEP). Đó chính là sự đáp trả đanh thép nhất đối với những mưu đồ lăm le phá hoại đất nước ta. Sưu tầm (NTM)./.

Việt Nam tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân

 

 

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Như đã nhiều lần khẳng định, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều này thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng như được đảm bảo thực hiện trên thực tế.

Thời gian qua, Việt Nam không ngừng nỗ lực để hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, chính sách tín ngưỡng tôn giáo trong đó có việc thông qua Luật Tín ngưỡng tôn giáo và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng tôn giáo.

Hiện nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động với 55 ngàn chức sắc, 145 ngàn chức việc, 29 ngàn cơ sở thờ tự. 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng tôn giáo trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân.

Đặc biệt, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn đã được tổ chức thành công ở Việt Nam, trong đó có các sự kiện: Kỷ niệm 500 năm cải chánh Đạo Tin lành, Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak vừa được tổ chức vào tháng 5/2019, Tổng Hội dòng Đa minh thế giới. Những nỗ lực này của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Chúng tôi ghi nhận Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đề cập đến những thành tựu và tiến triển của Việt Nam trong việc đảm bảo và thúc đẩy đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam. Tuy nhiên, Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn có những thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng về tình hình Việt Nam. Việt Nam tiếp tục duy trì và sẵn sàng tăng cường hợp tác, trao đổi với phía Hoa Kỳ về các vấn đề cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau thông qua các khuôn khổ đối thoại song phương, trong đó có đối thoại nhân quyền thường niên; qua đó, đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước”. NTM./.

 

Không thể xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam

 

Theo Tiến sỹ Vũ Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật, vì đây là một trong những quyền cơ bản mọi người, được Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 khẳng định trên nguyên tắc hiến định. Thực tế đã chứng minh, đó là ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, dù còn bộn bề công việc, ngày 03/9/1945, tại phiên họp của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đồng bào theo đạo. Người nói “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương - giáo đoàn kết”.

Ngày 14/6/1955, Người đã ký sắc lệnh 234/SL xác định “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Các tôn giáo phải tuân theo pháp luật của nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn”. Người từng kêu gọi các tôn giáo hãy xóa bỏ hiềm khích, kỳ thị, đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà, và lịch sử đã chứng minh, dù trong điều kiện khó khăn của đất nước, nhưng chức sắc các tôn giáo đồng bào có đạo giáo khẳng định rõ sự gắn bó đồng hành với dân tộc.

Ở miền Bắc, sau ngày độc lập 02/9/1945 không lâu, các Giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Dù phải hy sinh xương máu để kiến thiết một nhà nước tự do hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi cũng sẵn sàng không ngần ngại”, điều này đã khẳng định sự gắn bó đồng hành của Công giáo với chính quyền trong giai đoạn cách mạng bộn bề khó khăn. Các nhà sư trong Phật giáo đã hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ “toàn dân kháng chiến”, đã phát động phong trào, cởi áo cà sa, khoác chiến bào để tham gia cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.

Kế thừa quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo cơ sở pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định, tăng cường củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và Giáo hội. Từ Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đến nay, Nhà nước ta đã ban trên 30 văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân. Cụ thể như: Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH 11 quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP,…

Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo mà số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được đảm bảo tốt hơn. Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông, cơ sở thờ tự ngày càng khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy định của pháp luật.

Các hoạt động tôn giáo lớn trở thành lễ hội của người dân như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 3 lần đăng cai Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc VESAK, với trên 1.000 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ, hàng vạn quần chúng nhân dân tham dự; hay Lễ hội của Công giáo, Tin lành như: Đại hội đồng Giám mục Á châu; Lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam. Ban Tôn giáo Chính phủ đã phối hợp với Liên minh châu Âu (EU) tổ chức Hội thảo “Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ”; tổ chức Đối thoại “Liên tín ngưỡng ASEM lần thứ VI”...

Bên cạnh đó, Ban Tôn giáo Chính phủ cũng đón và làm việc với nhiều tổ chức, chức sắc tôn giáo, kể cả các tổ chức nhân quyền tôn giáo quốc tế, đến trao đổi, tìm hiểu pháp luật, chính sách tôn giáo của Việt Nam như: Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE); tập đoàn truyền thông (WAZ) của Đức. Qua các cuộc làm việc, ta đã chủ động cung cấp thông tin về tình hình tôn giáo và chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, trao đổi tận cùng các vấn đề mà dư luận quốc tế quan tâm, để thấy rõ thực tiễn về đời sống tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, phong phú. Chính sách, pháp luật đã đảm bảo quyền tự do tôn giáo chính đáng của nhân dân.

Thực tế cũng cho thấy, gần 20 năm qua (2003 - 2022), số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự của các tôn giáo gia tăng. Năm 2003 cả nước có 06 tôn giáo với 15 tổ chức, 17 triệu tín đồ, khoảng 20 nghìn cơ sở thờ tự; 34 nghìn chức sắc, 78 nghìn chức việc. Năm 2022, chính quyền đã công nhận 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 26,7 triệu tín đồ, trên 55 nghìn chức sắc, khoảng 135 nghìn chức việc; trên 29 nghìn cơ sở thờ tự…

Ngoài ra, hàng năm có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo, với hàng vạn tín đồ tham gia và trong 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm hécta đất để xây dựng cơ sở thờ tự như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện Thánh kinh thần học; tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; tỉnh Quảng trị giao thêm 15 ha cho Giáo xứ La vang… Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2022, chính quyền các cấp đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo cho 152 cơ sở thờ tự tôn giáo; cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho 183 điểm nhóm; cấp quyết định xuất bản cho 140 xuất bản phẩm, với 684.250 bản in.

Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm... theo đúng quy định của pháp luật; chấp thuận cho 646 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; 3.238 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc; 424 chức việc các tôn giáo được thuyên chuyển…

So sánh pháp luật của một số nước trong khu vực và thế giới cho thấy, khi tôn giáo tổ chức các hoạt động đông người tại cơ sở thờ tự, phải tự thuê bảo vệ làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm. Nếu để xảy ra vi phạm, chính quyền sẽ căn cứ vào pháp luật và xử phạt tổ chức, cá nhân tôn giáo… Nhưng ở Việt Nam, các hoạt động tôn giáo có đông đảo nhân dân tham gia được chính quyền hỗ trợ với mục tiêu cao nhất, đảm bảo an toàn để nhân dân yên tâm thực hiện nghi lễ tôn giáo. Những kết quả nêu trên trong thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đã đáp ứng tâm tư, tình cảm và nguyện vọng chính đáng của chức sắc, chức việc tôn giáo và đồng bào có đạo.

Để tiếp tục phát huy nguồn lực của các tôn giáo, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”. Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật mà các tôn giáo hưởng ứng rất sớm các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt “việc đạo, việc đời”. Chính vì thế, trong những năm gần đây, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào tôn giáo đã trở thành điểm sáng về phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma túy và các tệ nạn xã hội khác, giữ gìn tốt an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, trong bối cảnh dịch COVID-19, các tôn giáo đã đồng hành với chính quyền, ủng hộ kinh phí hàng trăm tỷ đồng. Nhiều cơ sở thờ tự trở thành điểm cách ly tập trung chăm sóc bệnh nhân… Giá trị nhân văn, yêu thương, chia sẻ, vì cuộc sống tốt đẹp được lan tỏa trong đời sống xã hội, được chính quyền và nhân dân ghi nhận.

Tuy nhiên, thế lực thù địch và một số tổ chức thiếu thiện chí chưa từ bỏ âm mưu “ diễn biến hòa bình”, chúng tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điêu sai trái, cho rằng, Việt Nam không có tự do tôn giáo, xuyên tạc trắng trợn về tình hình, đời sống tôn giáo ở nước ta, nói mãi điều phi thực tế nhằm tạo sự hoài nghi, phá hoại khối đoàn kết tôn giáo.

Qua theo dõi, trong 5 năm qua (2017-2022), Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ vẫn định kỳ ra báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu. Họ cho mình quyền nhận xét, đánh giá, phê phán về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam và một số quốc gia khác. Họ sử dụng thông tin tài liệu cũ từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được nhà nước công nhận, số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để tiếp nhận thông tin không chính xác đưa vào báo cáo đánh giá; khuyến khích, cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Giáo hội và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân.

Với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền, họ kích động với luận điệu, đây là quyền con người, “quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo”; đồng thời lợi dụng mạng xã hội Facebook, Blog… hội luận xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo”, “không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”… Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC) và “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận và nhấn mạnh tiến bộ về tự do tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện quan hệ song phương”.

Phải khẳng định ngay rằng, những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc nêu trên là hết sức phi lý, với ý đồ mục đích xấu xa, nhằm tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, nhằm tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán của họ chỉ là sự lạc lõng, không được chức sắc tôn giáo ủng hộ.

Song, dù các thế lực thù địch có cố tình, xuyên tạc chống phá thế nào chăng nữa cũng không thể chia rẽ chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được chính quyền quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi, chức sắc, tín đồ và nhân dân được tự do hành lễ ở nhà riêng, hay cơ sở thờ tự. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch COVID -19, chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo vẫn sinh hoạt tôn giáo online bình thường, vẫn thể hiện được niềm tin tôn giáo ngay tại tư gia… Thực tiễn đời sống tôn giáo đã chứng minh, khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, khẳng định chính sách nhất quán, củng cố niềm tin tưởng  của chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Thời gian tới, thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống đối dưới chiêu bài “đòi tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền”; xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; khuyến khích các nhóm, phái tôn giáo mới, “tà đạo, đạo lạ”; gia tăng các hoạt động truyền đạo trên không gian mạng, xuyên biên giới… Khi chính quyền xử lý, họ vu cáo Việt Nam không có tự do tôn giáo, gây cản trở cho tiến trình hội nhập kinh tế của nước ta.

Để ngăn chặn, không để thế lực xấu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo, các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp năm 2013; thể chế quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Thực hiện tốt chức năng nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Chính quyền các cấp quan tâm, giải quyết nhu cầu tôn giáo chính đáng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo của nhân dân, phù hợp với công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo nâng cao cảnh giác, không tin, không nghe luận điệu xuyên tạc của thế lực xấu.

Cùng với đó, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về thành tựu thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước; không để thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đối với các vụ việc vi phạm pháp luật, phải chủ động công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong và ngoài nước, để chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo hiểu rõ bản chất, mưu đồ của các đối tượng cơ hội, bất mãn, thiếu thiện chí lợi dụng tôn giáo vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”.

Thông qua các hoạt động quốc tế của tôn giáo, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Hướng dẫn tổ chức, cá nhân chức sắc tôn giáo tham gia tại các cơ chế diễn đàn, hội nghị, hội thảo ở khu vực và thế giới, chủ động, trao đổi thống nhất giải quyết những vấn đề tôn giáo, nhân quyền, đặc biệt là những vấn đề có tính chất quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, lên tiếng phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của thế lực xấu, hạn chế sơ hở để thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng vu cáo, xuyên tạc Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo”, ảnh hưởng uy tín của Việt Nam.

Các cơ quan chức năng cần định kỳ sơ kết về kết quả đã triển khai thực hiện, khắc phục những hạn chế, bất cập; đặc biệt là công tác thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác, xây dựng lập luận chặt chẽ, xác thực để trao đổi với các quốc gia có quan tâm về nhân quyền và tự do tôn giáo, giảm thiểu nhìn nhận khác biệt; tiếp cận các thông tin chính thống của Việt Nam cung cấp, không sử dụng thông tin trái chiều, thiếu khách quan để lợi dụng xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam về tự do tôn giáo. NTM./.

 

Hãy chấm dứt những luận điệu 'đổi trắng thay đen'

 


Năm nay, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) và Bộ Ngoại giao Mỹ lại đưa ra những nhận định phiến diện, đậm màu chủ quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, phớt lờ thực tế đời sống tôn giáo sôi động tại Việt Nam cũng như các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo các quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân. Báo cáo của USCIRF chứa đựng những thông tin sai lệch, cho rằng Việt Nam tiếp tục thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo “trái ngược với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế”, đồng thời khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC). Bộ Ngoại giao Mỹ cũng cho rằng “Việt Nam tiếp tục sách nhiễu các cộng đồng tôn giáo chưa được công nhận”. 

Trong khi đó, một số tổ chức, cá nhân thù địch như Đài châu Á tự do (RFA), tổ chức khủng bố Việt Tân lại núp bóng “bảo vệ tự do tôn giáo” để thông tin sai sự thật, nói rằng chính quyền Việt Nam “ép buộc hàng trăm người bỏ đạo”; “phân biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo”.

Cần khẳng định rằng những đánh giá mang tính định kiến, thiếu thiện chí trong các báo cáo trên cho thấy một số tổ chức quốc tế cũng như các thế lực thù địch đã cố tình phớt lờ những kết quả đáng ghi nhận của Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như thực thi các chính sách bảo đảm, thúc đẩy tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Đảng và Nhà nước ta luôn thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực, nghiêm cấm phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia...

Thứ nhất, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam được đảm bảo thể hiện qua việc luật hóa quyền này. Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; nhà nước tôn trọng vào bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã tác động tích cực đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, tạo hành lang pháp lý vững chắc để bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta tiếp tục thể hiện chủ trương nhất quán đối với vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo khi nhấn mạnh bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người.

Thứ hai, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam được đảm bảo thể hiện qua số lượng tôn giáo và tổ chức tôn giáo được thừa nhận và cấp phép hoạt động. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự; hằng năm có hơn 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo, với hàng vạn tín đồ tham gia. Những con số biết nói này khẳng định rằng Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển, trái ngược với luận điệu vu khống về cái gọi là “đàn áp các cộng đồng tôn giáo” như trong báo cáo của USCIRF.

Việc sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của bà con cũng rất thuận lợi. Người có tín ngưỡng, tín đồ các tôn giáo được tự do bày tỏ đức tin tại gia đình, cơ sở thờ tự hoặc điểm nhóm đăng ký với chính quyền. Tổ chức tôn giáo được hoạt động theo Hiến chương, điều lệ; nâng cấp, xây mới cơ sở thờ tự; mở rộng quy mô và hình thức sinh hoạt… Các hoạt động lễ hội thường niên của nhiều tôn giáo như lễ Noel của Công giáo, lễ Phật đản của Phật giáo và hàng loạt lễ hội của các tôn giáo khác đều diễn ra long trọng với sự tham gia của hàng trăm nghìn tín đồ. Một số lễ hội tôn giáo lớn đã trở thành ngày hội chung của đông đảo nhân dân, thể hiện đạo-đời hòa hợp, thắt chặt khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Không những vậy, Việt Nam còn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng. Hằng năm, hàng trăm đoàn của các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong nước tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài; nhiều chức sắc nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công ở Việt Nam: Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới tại Đồng Nai; Tin lành kỷ niệm 100 năm đạo Tin lành truyền vào Việt Nam; Giáo hội Phật giáo tổ chức Đại lễ Phật đản VESAK Liên hợp quốc năm 2019 thu hút sự tham dự của khoảng 3.000 đại biểu (1.650 đại biểu khách quốc tế đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ)... Đây là những minh chứng sống động, thuyết phục, phản bác các luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam “o ép”, “sách nhiễu”, “đàn áp” hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Song song với đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam cũng kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng, núp bóng tôn giáo vì các mục đích đen tối. Bên cạnh đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo tuân thủ pháp luật, đồng hành cùng dân tộc, vẫn còn một bộ phận chức sắc, tín đồ có nhận thức lệch lạc, tiêu cực được sự cổ súy của các thế lực thù địch dẫn đến có cái nhìn sai lệch về chế độ, thậm chí hình thành tư tưởng thù địch, chống đối chính quyền. Không ít hoạt động mang màu sắc tôn giáo trái pháp luật như Hà Mòn, Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi... Nhằm bảo đảm tính thượng tôn pháp luật, an ninh và an toàn xã hội cũng như đời sống tôn giáo, tín ngưỡng lành mạnh, những đối tượng lợi dụng tự do tôn giáo để có các việc làm, hành vi gây rối, làm bất ổn xã hội, thì dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, cũng đều bị trừng phạt nghiêm khắc theo đúng pháp luật..

Rõ ràng, những thành tựu của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng là thực tế không thể phủ nhận. Đáng tiếc là USCIRF và các thế lực thù địch đã tiếp nhận những thông tin không đầy đủ, không chính xác và thiếu khách quan về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam để cố tình “đổi trắng thay đen”.

 

Hãy chấm dứt những định kiến xấu mà một số tổ chức nước ngoài đã đưa ra về tình hình Việt Nam.

 


Không khó để nhận diện những đối tượng có âm mưu gây chia rẽ khối đại đoàn kết, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đó là những tổ chức thù địch, thiếu thiện cảm với Việt Nam nhưng tự cho mình quyền bình phẩm, phán xét về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Đó là các thế lực cực đoan trong chính giới ở một số nước phương Tây, các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài… với những luận điệu thù địch, bất mãn hòng phủ nhận những thành quả thúc đẩy và bảo vệ quyền con người của Việt Nam. Công cụ mà các đối tượng này thường sử dụng là đưa những thông tin sai lệch, bóp méo sự thật, được phát tán trên các trang mạng xã hội nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, làm lung lay lòng tin của người dân về sự lãnh đạo của Đảng, công tác điều hành, quản lý của Nhà nước, từ đó gây bất ổn chính trị - kinh tế - xã hội trong nước, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Một số tổ chức như Theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AI), Phóng viên không biên giới, Freedom House, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF)... thường xuyên công bố các bản phúc trình hằng năm về nhân quyền Việt Nam với cái nhìn phiến diện, thiếu khách quan. Trước thềm Đại hội đồng Liên hợp quốc bỏ phiếu thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025, trong đó Việt Nam là một ứng cử viên, một số tổ chức quốc tế cùng với các lực lượng phản động người Việt ở trong và ngoài nước liên tục xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam và tìm cách tác động tới chính giới một số nước hòng cản trở việc Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ. Mới đây, ba tổ chức “Quan sát LHQ” (Thụy Sĩ), Quỹ Nhân quyền (Mỹ) và Trung tâm Raoul Wallenberg về Quyền con người (Canada) đã đưa ra báo cáo chung nói rằng “thành tích nhân quyền của Việt Nam còn yếu kém, thiếu hợp tác với Hội đồng Nhân quyền”.

Trong cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao cuối tháng 9 vừa qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước ta Lê Thị Thu Hằng đã “hoàn toàn bác bỏ những nội dung sai sự thật, không khách quan với định kiến xấu mà một số tổ chức nước ngoài đã đưa ra về tình hình Việt Nam".

Bằng việc hiện thực hóa thành công chủ trương “lấy con người làm trung tâm”, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật và đáng ghi nhận về đảm bảo quyền con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định chính sách nhất quán, xuyên suốt về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người của Đảng và Nhà nước ta, trong đó "người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể.  Điều này vừa được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan, vừa được thể hiện rõ qua việc đảm bảo và thúc đẩy những quyền cơ bản của con người về chính trị, kinh tế, văn hóa…;  đảm bảo bình đẳng giới, nỗ lực bảo vệ người yếu thế trong xã hội.  

Ông Philip Fernandez, thành viên Hiệp hội Hữu nghị Canada - Việt Nam nhận xét: "Dưới sự lãnh đạo đã kinh qua thử thách của Đảng Cộng sản Việt Nam, các cơ cấu đã cho phép người dân trở thành thành viên bình đẳng trong chính thể và các điều kiện kinh tế".

Quyền chính trị là một trong những quyền công dân đang được Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ và đạt kết quả tốt. Kể từ khi tham gia Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1982, Việt Nam không ngừng nỗ lực nội luật hóa các quy định trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hiến pháp năm 2013 cùng Luật Khiếu nại 2011, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tố cáo năm 2018... là những cơ sở pháp lý quan trọng để người dân thực hiện quyền chính trị của mình, tham gia xây dựng chính quyền, quản lý nhà nước và xã hội; tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện. Các phiên chất vấn đại biểu Quốc hội, các chương trình “Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời” hay “Dân hỏi - lãnh đạo trả lời" đã trở thành những kênh đối thoại thường kỳ được người dân hết sức quan tâm và ủng hộ, cho thấy người dân nhận thức và phát huy ngày càng tốt hơn các quyền chính trị của mình, đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước.

Đảm bảo bình đẳng giới cũng là thành tựu nổi bật của Việt Nam. Sự vươn lên mạnh mẽ của phụ nữ Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, được thể hiện qua việc Việt Nam nằm trong nhóm 1/3 số nước đứng đầu về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và tỷ lệ này liên tục gia tăng trong nhiệm kỳ gần đây. Đại sứ Colombia tại Việt Nam Miguel Ángel Rodríguez Melo nhấn mạnh Việt Nam đã đạt được những bước tiến dài trong việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững của LHQ về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Đại sứ Maroc Jamale Chouaibi cũng khẳng định Việt Nam là một trong những mô hình thành công nhất về thúc đẩy bình đẳng giới. Trong khi đó, đại diện ghi nhận Việt Nam đang nỗ lực trao quyền cho phụ nữ tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nỗ lực bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế cũng như bảo đảm điều kiện sống cho mọi đối tượng trong xã hội cũng là những trọng tâm trong các quyết sách của Nhà nước Việt Nam. Trong báo cáo “Từ chặng đường cuối đến chặng đường kế tiếp” đánh giá về thực trạng nghèo và bình đẳng của Việt Nam tháng 4/2022, Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm đầy ấn tượng trong thập kỷ qua với nhiều xu hướng tích cực đang nổi lên, trong đó tình hình của những nhóm nghèo nhất ở vùng sâu, vùng xa, các nhóm dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ rệt. Dựa theo chuẩn quốc gia thu nhập trung bình thấp của WB, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 16,8% xuống còn 5% trong giai đoạn từ 2010 - 2020, với trên 10 triệu người dân đã được hỗ trợ thoát nghèo.

Trải qua 4 đợt dịch COVID-19, kể cả trong giai đoạn dịch căng thẳng nhất do biến thể Delta vào giữa năm 2021, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực đảm bảo các quyền của người dân như chăm sóc y tế và tiêm vaccine miễn phí, cung cấp các gói hỗ trợ và an sinh xã hội cho người dân, đảm bảo “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Bà Rana Flowers, quyền Điều phối viên LHQ  tại Việt Nam, Trưởng đại diện Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) tại Việt Nam cho rằng, với những nỗ lực kiểm soát đại dịch trong hai năm qua, Việt Nam đã trở thành tiêu chuẩn trên thế giới, đạt tỷ lệ tiêm chủng thuộc nhóm cao nhất toàn cầu để bảo vệ người dân, bao gồm cả những người dân nghèo nhất, những người dễ bị tổn thương nhất.

Trong bối cảnh dịch COVID-19 đe dọa việc thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG), Việt Nam vẫn được đánh giá là đã thực hiện hiệu quả các mục tiêu này để thúc đẩy quyền con người. Việt Nam đứng thứ 51 trên tổng số 193 quốc gia thành viên LHQ về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững với điểm cao hơn mức trung bình của nhiều nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ông Terence D.Jones thuộc Văn phòng đại diện Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam khẳng định Việt Nam thuộc nhóm đầu trong 3 nhóm quốc gia có tiến độ thực hiện tốt nhất các tiêu chí mục tiêu toàn cầu ở châu Á về phát triển bền vững.

Cuối tháng 3 vừa qua, tại buổi công bố Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị mà Việt Nam đã chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người (UPR) chu kỳ III và thông tin việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023 - 2025, bà Rana Flowers đánh giá cao cam kết và nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người. Việc Việt Nam công bố báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị mà Việt Nam đã chấp nhận theo UPR chu kỳ III cũng thể hiện rõ trách nhiệm quốc gia thành viên, sự minh bạch và nghiêm túc của Việt Nam đối với cơ chế UPR nói riêng và trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền con người nói chung.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân”. Đó chính là nền tảng tạo nên những bước tiến đáng ghi nhận trong nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đó là những minh chứng hùng hồn khẳng định tính đúng đắn trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo quyền con người. Vì thế, những tiếng nói của các thế lực thù địch hòng lợi dụng vấn đề nhân quyền để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trở nên lạc lõng, thiếu tính thuyết phục, thậm chí phản tác dụng. (Sưu tầm NTM)./.

 

Hội nghị TW6 Khóa XIII tiếp tục làm trong sạch Đảng

 


Xem xét tờ trình của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã cho ý kiến về nhân sự để Bộ Chính trị quyết định giới thiệu Quốc hội bầu chức danh Tổng Kiểm toán Nhà nước và phê chuẩn các chức danh Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải tại Kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XV. Đồng thời, một điểm mới tại hội nghị lần này là: Lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương đã tiến hành xem xét, quyết định để cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII theo chủ trương của Bộ Chính trị tại Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ và Thông báo số 20-TB/TW, ngày 8-9-2022, về bố trí công tác đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật, đối với các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Thành Phong, Huỳnh Tấn Việt, Bùi Nhật Quang.

Ban Chấp hành Trung ương cũng đã xem xét tờ trình của Bộ Chính trị và quyết định thi hành kỷ luật đồng chí Phạm Xuân Thăng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng do các vi phạm nghiêm trọng về nguyên tắc tập trung dân chủ, về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn đến tài sản, ngân sách nhà nước, gây dư luận xấu, làm giảm uy tín của Đảng, chính quyền địa phương và cá nhân đồng chí.

Đây là sự việc rất đau xót, nhưng vì sự nghiêm minh của kỷ luật đảng, để giáo dục, ngăn ngừa, cảnh tỉnh, răn đe các trường hợp khác và vì sự lớn mạnh của Đảng buộc chúng ta phải làm. Và đây cũng là bài học đắt giá mà mỗi đồng chí chúng ta cần phải rút kinh nghiệm thật sự sâu sắc; từ đó càng phải gương mẫu, càng phải nêu gương hơn nữa trong việc tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, phải thực sự là những tấm gương tiêu biểu để cán bộ, đảng viên, nhân dân tin tưởng và noi theo. (Sưu tầm NTM)./.

 

Hội nghị TW6 Khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị

 


Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cao cho rằng: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tốt hơn vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước theo quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, có nhiều đóng góp tích cực vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Nổi bật là: Công tác tổng kết lý luận và thực tiễn được chú trọng, tăng cường, đã góp phần tích cực cho việc kế thừa, bổ sung, phát triển chủ trương, đường lối của Đảng và hoàn thiện luật pháp, chính sách của Nhà nước. Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ đại hội, ngày càng sát hợp, hiệu lực, hiệu quả hơn. Cơ chế họp lãnh đạo chủ chốt hằng tháng đã trở thành nền nếp, rất có hiệu quả, góp phần làm cho sự lãnh đạo của Đảng tập trung, thống nhất, thông suốt hơn. Việc lập lại Ban Kinh tế, Ban Nội chính, chuyển Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng về trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư trực tiếp làm Trưởng Ban; thành lập ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh; ban hành và sát sao chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và đổi mới xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện,... đã góp phần tích cực cho việc đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu quan trọng đã đạt được vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém; tình hình đất nước, khu vực và quốc tế đã, đang và sẽ có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới, cao và phức tạp hơn. Do vậy, trên cơ sở tổng kết 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X, hội nghị Trung ương lần này đã nhất trí cao ban hành nghị quyết mới về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới. Trong đó, Trung ương đặc biệt nhấn mạnh: Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phải bảo đảm giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nâng cao vai trò, trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới.

Thực tế vừa qua cho thấy, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng, gắn với thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ và các chủ trương, đường lối của Đảng, được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, bảo đảm thực hiện đúng cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Trong quá trình này, cần kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; đẩy mạnh phân công, phối hợp, phân cấp, phân quyền, gắn với nêu cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu; giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm, mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, cơ chế, chính sách, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng.

Để tiếp tục đổi mới thành công phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ động, tích cực, có quyết tâm chính trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm; vấn đề đã rõ thì kiên quyết đổi mới, vấn đề cần thiết nhưng chưa rõ, còn ý kiến khác nhau thì phải nghiên cứu, thí điểm, không nóng vội nhưng cũng không bỏ qua hoặc để quá chậm, ảnh hưởng đến sự phát triển; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; kế thừa, phát huy những thành tựu, kết quả, kinh nghiệm tốt trong phương thức lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn chứng minh là đúng. Ở mỗi cấp, mỗi lĩnh vực phải vừa quán triệt các nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo của từng cấp, từng lĩnh vực và của từng loại hình cơ quan nhà nước, từng tổ chức chính trị - xã hội.

Trên cơ sở thống nhất cao về nhận thức, cần phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn trong tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc nhận thức về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới, triển khai thực hiện đồng bộ cả 5 phương thức lãnh đạo của Đảng trên cơ sở đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, cán bộ; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động; phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đồng thời, đẩy mạnh cải cách hành chính; đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở. (Sưu tầm NTM)./.

 

Hội nghị TW6 Khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 


Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cao việc ban hành Nghị quyết về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” với mục tiêu tổng quát là: “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, phân cấp, phân quyền và kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính; quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045”.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu nêu trên đây, Trung ương yêu cầu, trong quá trình thực hiện nghị quyết, phải luôn luôn bám sát và nắm vững Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước ta theo các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo sau đây:

Một là, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hai là, thực hiện nhất quán nguyên tắc: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và sự giám sát của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ba là, bảo đảm yêu cầu: Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa; thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Bốn là, bám sát thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, kế thừa những thành tựu đã đạt được, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Năm là, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông giữa đổi mới lập pháp, cải cách hành chính, cải cách tư pháp; kết hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển; tiến hành khẩn trương, nhất quán, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình và bước đi vững chắc. Những vấn đề thực tiễn đòi hỏi, đã đủ rõ, chín muồi, được thực tiễn chứng minh là đúng, có sự thống nhất cao thì kiên quyết thực hiện; những vấn đề chưa đủ rõ, chưa chín, còn nhiều ý kiến khác nhau thì khẩn trương nghiên cứu, thực hiện thí điểm, tổng kết thực tiễn để làm rõ, từng bước hoàn thiện, mở rộng; những chủ trương đã thực hiện, nhưng thực tiễn khẳng định là không phù hợp thì nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi kịp thời. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả.

Ban Chấp hành Trung ương cho rằng, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước theo những phương hướng nói trên là một quá trình, với những bước đi tích cực, vững chắc, đặt trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị, gắn với đổi mới và xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trước mắt, cần tập trung sức thực hiện một số chủ trương và nhiệm vụ quan trọng: 1) Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội; nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác lập pháp; 2) Cải cách nền hành chính nhà nước; 3) Đổi mới tổ chức và hoạt động của toà án và các cơ quan tư pháp; 4) Phát huy vai trò và quyền làm chủ của nhân dân; 5) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Trong đó đặt trọng tâm vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm pháp luật; cải cách nền hành chính nhà nước, nhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước được hiện đại hoá để thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; sự quản lý có hiệu lực và hiệu quả cao công việc của Nhà nước; phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; thúc đẩy tiến trình đổi mới, phát triển, thực hiện bằng được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. (Sưu tầm NTM)./.

 

Hội nghị TW6 Khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

 


Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận sôi nổi và thống nhất cao với những nhận định, đánh giá về kết quả, thành tựu đã đạt được; những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân; những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thời gian qua; cũng như những quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trên cơ sở đó, đã quyết định ban hành Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Trung ương về vấn đề đặc biệt quan trọng này.

Trung ương nhất trí cao cho rằng, để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội XIII của Đảng đã đề ra trong bối cảnh tình hình trong nước và trên thế giới đã, đang và sẽ có nhiều thay đổi trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn Đảng, toàn dân ta cần phải tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, đúng đắn, đồng bộ hơn trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Cần phải nhận thức rõ: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế và đời sống xã hội ngày càng dựa nhiều hơn vào sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; là phương thức quan trọng để Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một yêu cầu tất yếu khách quan trong tình hình mới; là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước; là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị; lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể; bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với yêu cầu giữ gìn tiến bộ và công bằng xã hội, bồi đắp và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc, bảo vệ tài nguyên, môi trường; gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động.

Cần phải khai thác và phát huy tốt nhất tiềm năng, lợi thế của đất nước, của từng vùng, từng địa phương trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tận dụng và phát huy lợi thế của nước đi sau và đang trong thời kỳ “dân số vàng”; kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa phát triển tuần tự với đi tắt đón đầu, thúc đẩy chuyển dịch nhanh từ gia công, lắp ráp sang sáng tạo, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu; chú trọng “dịch vụ hóa” các ngành công nghiệp. Coi chuyển đổi số là phương thức mới có tính đột phá để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa.

Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải trên cơ sở nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có lộ trình và bước đi cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên nguồn lực và có các cơ chế, chính sách đột phá, đặc thù để phát triển các cực tăng trưởng, các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên gắn với công nghệ thông minh, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; tăng cường liên kết ngành và liên kết vùng để tạo không gian phát triển mới; coi nguồn lực trong nước là cơ bản, chiến lược, lâu dài và quyết định; nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá; doanh nghiệp trong nước (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân) là động lực chính, chủ đạo; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng.

Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải chú ý bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, hiệu quả; khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần khởi nghiệp quốc gia, đổi mới sáng tạo; phát huy giá trị văn hóa, bản lĩnh con người Việt Nam; vai trò xung kích, đi đầu của lực lượng doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân và đội ngũ trí thức, giai cấp công nhân hiện đại. (sưu tầm NTM)./.

 

 

Hội nghị Trung ương 6 Khóa XIII về định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2050

 


Ban Chấp hành Trung ương đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu, thảo luận, tạo sự thống nhất cao về sự cần thiết phải ban hành và tổ chức thực hiện thật tốt Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trung ương coi đây là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, lâu dài, nhưng cũng là vấn đề rất rộng lớn, rất mới, rất khó, rất nhạy cảm và chưa có tiền lệ. Để xây dựng được một quy hoạch tổng thể quốc gia có chất lượng và tính khả thi cao, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đề ra thì cần phải nhận thức thật sâu sắc và quán triệt thật đầy đủ những nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Kết luận của hội nghị lần này về Định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và thực tế phát triển, tổ chức không gian phát triển quốc gia thời gian qua, nhất là 10 năm gần đây, thấy rõ những kết quả, thành tựu đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm được tổng kết.

Việc xây dựng và từng bước hoàn thiện quy hoạch tổng thể quốc gia cho từng thời kỳ phải dựa trên nguyên tắc: Không gian phát triển quốc gia phải được tổ chức một cách hiệu quả, thống nhất trên phạm vi cả nước, bảo đảm liên kết nội vùng, liên vùng và khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào một số địa bàn có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và nhiều tiềm năng lợi thế cho phát triển, nhất là về nguồn nhân lực chất lượng cao, để hình thành vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển nhanh, bền vững và có hiệu quả cao. Sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng và các loại khoáng sản; bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và nâng cao chất lượng đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tổ chức không gian phát triển quốc gia, các vùng lãnh thổ, các hành lang kinh tế và hệ thống đô thị phải gắn với phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; gắn kết giữa hệ thống đô thị và nông thôn; khu vực đất liền với không gian biển; khai thác và sử dụng vùng trời; tham gia có hiệu quả vào các hành lang kinh tế quan trọng trong khu vực và quốc tế; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất và hiệu quả.

Nội dung chủ yếu của Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là phải xác định rõ và đúng những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo; những mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu cần phấn đấu để đạt được; và các định hướng lớn về phát triển và phân bố không gian phát triển các ngành, lĩnh vực chủ yếu; định hướng tổ chức không gian phát triển theo vùng, lãnh thổ; định hướng phát triển hệ thống đô thị, nông thôn; định hướng phát triển hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền quốc gia... Trong việc quy hoạch lần này, cần tập trung ưu tiên cho việc hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia; tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng bảo vệ môi trường, thuỷ lợi, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, ưu tiên phát triển một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn, gắn với không gian phát triển mới. Phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia quan trọng để hình thành các “đầu tàu” lôi cuốn sự phát triển của quốc gia. Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc - Nam và trục Đông - Tây; kết nối các cảng biển, cửa khẩu quốc tế, đầu mối giao thương lớn, các đô thị, trung tâm kinh tế, cực tăng trưởng. NTM./.