Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

ÂM MƯU THÀNH LẬP NHÀ NƯỚC MÔNG Ở ĐIỆN BIÊN


Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển. Trong ảnh là chợ trung tâm huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển. Trong ảnh là chợ trung tâm huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Điện Biên là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh phía Tây Bắc của Tổ quốc, biên giới dài hơn 455km, tiếp giáp với Lào và Trung Quốc. Đặc biệt, ở địa phương này, người Mông chiếm số đông với hơn 38%, tiếp sau là người Thái chiếm hơn 35%. Người Kinh chỉ chiếm 17,3%. 

Với vị trí chiến lược, những năm qua, tỉnh Điện Biên luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư bằng nhiều nguồn, nhiều dự án để giúp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống một bộ phận nhân dân còn rất nhiều khó khăn, cùng với đặc điểm tự nhiên của tỉnh nên những năm qua, các thế lực thù địch, phần tử xấu triệt để lợi dụng để kích động, tuyên truyền, lôi kéo nhân dân tham gia hoạt động ly khai, tự trị, tuyên truyền đạo trái pháp luật…

Sau khi cơ quan chức năng giải tán vụ tụ tập đông người, phá rối an ninh ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé (tháng 5/2011) và đập tan âm mưu phối hợp trong ngoài tiếp tục gây rối, gây bạo loạn lần 2 tại khu vực biên giới Việt-Trung (tháng 10/2012), tình hình hoạt động tuyên truyền, tập hợp lực lượng lập “Nhà nước Mông” tại địa bàn tỉnh Điện Biên tiếp tục có những diễn biến mới phức tạp, manh động. 

Người Mông chiếm số đông ở Điện Biên với hơn 38% dân số.
Người Mông chiếm số đông ở Điện Biên với hơn 38% dân số.

Lôi kéo những người theo tà đạo “Giê sùa” để thành lập Nhà nước riêng

Trong bài viết trước, VOV đã đề cập 2 nhóm tà đạo xuất hiện ở Điện Biên từ năm 2015 với tên gọi “Giê sùa” và “Bà cô Dợ”, lôi kéo hơn 1500 người tham gia ở các huyện Mường Nhé, Nậm Pồ, Điện Biên Đông… Bản chất là xuyên tạc Kinh thánh, lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người tin theo “Nhà nước Mông” và nhiều lần gửi tiền tài trợ cho số đối tượng cầm đầu tại địa bàn với tổng số hơn 300 triệu đồng.

Đáng chú ý, một số điểm nhóm theo “Giê sùa” đã công khai cầu nguyện, mong muốn chúa “Giê sùa” về phù hộ, dẫn dắt để có được “Nhà nước Mông”. Một số đối tượng đã công khai tuyên bố “Ở Mường Nhé hoạt động Nhà nước Mông không thành thì người Mông ở huyện Tuần Giáo sẽ làm, mọi người phải tin theo Giê sùa để lập Nhà nước Mông, ai làm lộ thông tin sẽ giết người đó”. Một số đối tượng cầm đầu hoạt động lập “Nhà nước Mông” đã chỉ đạo các đối tượng theo đạo “Giê sùa” thu thập các thông tin vu cáo chính quyền đàn áp, tiêu diệt người Mông với âm mưu gửi các tổ chức phản động ở bên ngoài nhờ can thiệp, giúp đỡ… làm cho tình hình an ninh trật tự trong vùng đồng bào Mông diễn biến rất phức tạp.

Các đối tượng triệt để sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông, lỗ hổng trong quản lý sim trả trước, mạng internet, điều kiện địa hình, địa vật, vùng giáp biên, mối quan hệ dòng tộc, đồng tộc, niềm tin tôn giáo mù quáng và các tà đạo “Giê sùa”, “Bà cô Dợ” để tuyên truyền, tập hợp lực lượng tiếp tục gây bạo loạn tại địa bàn. Số đối tượng cầm đầu ở nước ngoài ráo riết xuyên tạc kinh thánh, triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội facebook… để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia hoạt động lập “Nhà nước Mông”; tài trợ tiền cho số cầm đầu trên địa bàn.

Âm mưu lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” bất thành

Đầu năm 2018, các cơ quan chức năng ở tỉnh Điện Biên phát hiện một số đối tượng trên địa bàn móc nối với một số đối tượng phản động ở Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái… và số đối tượng đã trốn ra nước ngoài nhen nhóm hoạt động trở lại. Số đối tượng này từng tham gia nhóm “7 cánh” do Tráng A Chớ ở xã Mường Toong, huyện Mường Nhé cầm đầu, hiện đang chấp hành án phạt tù về tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Mục đích của tổ chức này là cướp đất, cướp chính quyền, thay thế chính quyền tại huyện Mường Nhé bằng một chính quyền riêng của người Mông, do người Mông làm chủ, có bộ máy, tổ chức riêng, có chữ viết, có con dấu, cờ, đồng tiền, lực lượng công an quân đội riêng của người Mông, có cương lĩnh riêng. 

Chúng đã nhiều lần họp bàn thống nhất cách thức hoạt động, xây dựng “cương lĩnh”, “điều lệ”, vẽ mẫu “cờ”, đúc “sao”, “dấu”, “trang phục”, vũ khí, phương tiện phục vụ hoạt động lập “Nhà nước Mông”… với âm mưu gây bạo loạn vũ trang, lật đổ chính quyền nhân dân huyện Mường Nhé, lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” và gửi đơn đề nghị Liên Hiệp Quốc, các tổ chức quốc tế công nhận.

Âm mưu của chúng là gây bạo loạn vũ trang, đánh chiếm huyện Mường Nhé, lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” từ đó mở rộng ra các địa bàn khác trong và ngoài tỉnh. “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” gồm 4 cấp : Trung ương- cấp tỉnh- cấp huyện- cấp bản, sau đó mở rộng ra các tỉnh Tây Bắc.

Đầu tháng 3/2019, các đối tượng tụ tập về huyện Mường Nhé để thực hiện chủ trương bắt cóc, thủ tiêu cán bộ nhằm gây tiếng vang, đưa yêu sách với chính quyền.

Tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng, kiên quyết đấu tranh, trấn áp những phần tử phản động… một chuyên án đã được thành lập, phối kết hợp từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã, vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu, sự phức tạp của địa hình tại khu vực biên giới Việt- Lào, sự manh động, liều lĩnh của các đối tượng… Cuối cùng, âm mưu lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” đã bị vô hiệu hóa.

Thu giữ trang phục “công an Mông”, “bộ đội Mông”và nhiều tài liệu khác

Kết quả đã bắt giữ được 15/20 đối tượng cầm đầu, cốt cán; vận động 8 đối tượng ra đầu thú, xác minh làm rõ, triệu tập đấu tranh vô hiệu hóa 28 đối tượng liên quan, thu giữ 400 triệu đồng, 1 tập tài liệu (49 trang) chữ Mông Latinh có hình quân hàm, quốc huy, sao, cương lĩnh, điều lệ, 3 súng tự chế, 155 viên đạn, 17 sao “7 cánh” bằng kim loại, 22 chiếc áo, 14 chiếc quần trang phục “công an Mông”, “bộ đội Mông”và nhiều tài liệu khác. 

Tang vật thu giữ trong vụ án âm mưu thành lập "Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông"
Tang vật thu giữ trong vụ án âm mưu thành lập "Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông"

Căn cứ kết quả đấu tranh, cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, khởi tố, bắt tạm giam 15 bị can và khởi tố, ra quyết định truy nã đối với 5 bị can đang lẩn trốn.

Với 5 đối tượng lẩn trốn, tổ công tác đã khắc phục khó khăn, không quản ngại nắng mưa, đêm tối liên tục luồn rừng, trèo đèo, lội suối để lần theo dấu vết, truy bắt các đối tượng tại biên giới Việt-Lào thuộc các huyện Mường Nhé, Nậm Pồ của Điện Biên và tại các huyện Mường Tè, Nậm Nhùn, Sìn Hồ của tỉnh Lai Châu; huyện Phong Sa Ly, tỉnh Phong Sa Ly của Lào khiến các đối tượng liên tục phải tìm cách thay đổi nơi lẩn trốn.

Cuối tháng 12/2019, ngay khi phát hiện 5 đối tượng này đang lần trốn, móc nối với số đối tượng phản động ở tỉnh Lai Châu tổ chức tuyên truyền, lôi kéo người tụ tập về bản Giàng Ly Cha, xã Tà Tổng, huyện Mường Tè để gây bạo loạn, lập “Nhà nước Mông”, các đơn vị chức năng đã phối hợp giải tán vụ tụ tập, đồng thời triển khai các tổ công tác trên các tuyến đường dọc tuyến gianh giới giữa tỉnh Điện Biên với tỉnh Lai Châu để nắm tình hình, ngăn chặn không để người ở địa bàn kéo sang tỉnh Lai Châu tụ tập.

Đến ngày 3/1/2020, các lực lượng chức năng đã giải quyết xong vụ tụ tập, bắt giữ các đối tượng chủ mưu, cầm đầu cốt cán, trong đó có 4/5 đối tượng truy nã, thu giữ được 5 con dấu phục vụ hoạt động lập “Nhà nước Mông” mà nhóm này đang cất giấu tại xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé.

TAND tỉnh Điện Biên xét xử công khai 14 bị cáo vì có các hoạt động tuyên truyền, chống phá Nhà nước xảy ra tại huyện Mường Nhé. Ảnh: Vũ Lợi/VOV- Tây Bắc
TAND tỉnh Điện Biên xét xử công khai 14 bị cáo vì có các hoạt động tuyên truyền, chống phá Nhà nước xảy ra tại huyện Mường Nhé. Ảnh: Vũ Lợi/VOV- Tây Bắc

Tháng 3 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã đưa ra xét xử công khai 14 bị cáo vì có các hoạt động tuyên truyền, chống phá Nhà nước xảy ra tại huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên).

Theo nhận định của Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Điện Biên, Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Nam, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hiến pháp quy định và đủ các yếu tố cấu thành tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại các Điều 109, Điều 88, Điều 389 Bộ Luật hình sự.

Kết thúc phiên tòa, Sùng A Sính, Lầu A Lềnh với vai trò chủ mưu cầm đầu, là người khởi xướng việc lập nhà nước Mông và trực tiếp soạn thảo điều lệ, cương lĩnh, mô hình tổ chức, đúc sao hàm… chịu mức án chung thân. 12 bị cáo còn lại chịu mức án từ 24 tháng đến 20 năm tù giam./. 

PHAO

Chúng ta phải bảo vệ cái đúng, phải đấu tranh với cái xấu

 


Sáng đến trường, Bình giọng bực tức kể cho đồng nghiệp chuyện gặp lại người bạn thân sau nhiều năm mà cậu ta cứ luôn miệng nói xấu ngành giáo dục, nói xấu chế độ, ca tụng những bài viết có thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội.

Vì không muốn tranh luận với bạn nên Bình "nuốt cục tức" ra về...

Nghe xong câu chuyện, anh An, Tổ trưởng Tổ Văn "sôi sùng sục":

- Cậu như vậy là không được. Một giáo viên trẻ, lại là đảng viên mà thấy xấu không đấu tranh, thấy sai không phản biện, thờ ơ trước việc làm sai trái, không dám bảo vệ lẽ phải. Im lặng như thế không khác gì đồng ý với cái sai, cái xấu.

- Nhưng anh ơi, lúc ấy trong quán cà phê, bạn nói to tiếng, em không muốn tranh luận. Hơn nữa bạn bè lâu ngày mới gặp, lời đi tiếng lại ảnh hưởng đến tình cảm bạn bè, Bình bối rối thanh minh.

Thấy đúng phải bảo vệ, biết xấu phải đấu tranh

- Cậu suy nghĩ như thế là chưa thấu đáo. Biết cậu là giáo viên mà lại đi nói xấu ngành giáo dục, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước thì bạn cậu không những không tôn trọng cậu mà còn vi phạm pháp luật. Cậu phải xem lại mối quan hệ với anh ta.

Đứng ngoài cửa phòng, Phó hiệu trưởng Tú nghe được câu chuyện. Bước vào phòng, anh nghiêm giọng:

- Bình ạ, An đang nói những lời gan ruột với cháu đấy. Tình bạn là tài sản quý, chúng ta phải xây dựng, giữ gìn. Nếu bạn nhận thức lệch lạc, nói hay làm điều gì sai trái thì cháu phải biết khuyên giải, can ngăn, chỉ cho bạn tỉnh táo trước thông tin xấu độc, tìm “đường sáng” cho bạn mình đi chứ. Đằng này, cháu lại im lặng một cách vô tâm là mình cũng sai như bạn đấy. Nếu không thay đổi, một ngày không xa, cháu có thể mất đi tình bạn, hoặc bạn cháu cũng biến cháu thành người xấu như thế. Làm ngơ trước thông tin xấu độc cũng là một biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đấy cháu ạ! Chú tin, cháu không phải là người như vậy!

Nghe thầy Phó hiệu trưởng phân tích, Bình hiểu ra vấn đề và tỏ ra ăn năn:

- Dạ, cháu xin lỗi chú và anh. Cháu đã hiểu và biết cái sai của mình rồi. Lần tới, gặp lại cháu sẽ nói cho bạn hiểu, không nghe theo, không chia sẻ những thông tin xấu độc, trái chiều nữa!

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ: VŨ KHÍ TIÊN PHONG CỦA QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Sức mạnh của quân đội là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó nhân tố chính trị tinh thần có vai trò quyết định. Để có sức mạnh chính trị tinh thần vững chắc, cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần phải tiến hành đồng bộ nhiều hình thức, biện pháp, trong đó nâng cao chất lượng học tập chính trị cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.


Thực tiễn từ sự chống phá của các thế lực thù địch 


Bước vào kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, internet và các trang mạng xã hội (MXH) ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị, đời sống văn hóa xã hội. Các trang MXH, như: Facebook, Zalo, Tik Tok… với đặc điểm dễ sử dụng thông qua điện thoại thông minh để đăng tải các video, clip ngắn với các hiệu ứng âm thanh, hình ảnh “bắt mắt” đã thu hút đông đảo người dùng. Hiện nay, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ quân đội đã và đang tiếp cận, sử dụng MXH  với nhiều mục đích khác nhau như tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập, trao đổi thông tin hữu ích, chia sẻ, kết nối bạn bè. 


Bên cạnh những lợi ích tích cực của MXH mang lại thì không tránh khỏi những tác động tiêu cực, đặc biệt là sự chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng, đã tác động ảnh hưởng đến bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống, mục tiêu, lý tưởng cách mạng của quân nhân, ảnh hưởng trực tiếp tới việc chấp hành kỷ luật và chấp hành các chế độ, nền nếp trong ngày, trong tuần, nếu như không có sự quản lý chặt chẽ của cán bộ đơn vị. Cụ thể là thủ đoạn “lật sử, moi móc quá khứ” để làm mới những vụ việc đã được xử lý, giải quyết từ lâu, bằng việc sưu tầm, cắt ghép những đoạn video, clip hoặc hình ảnh có liên quan đến mối quan hệ cán bộ với chiến sĩ, như “quân phiệt với chiến sĩ”, hay “chiến sĩ cũ đánh chiến sĩ mới”, đưa tin sai sự thật về diễn tập khu vực phòng thủ, hoạt động quân sự, quốc phòng, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc những hạn chế, sơ hở trong quản lý của các đơn vị để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của quân đội, phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, gieo rắc hoài nghi, làm mất niềm tin của nhân dân đối với quân đội. Cùng với đó, là bịa đặt thực trạng, moi móc những khó khăn, hạn chế về vật chất, tinh thần trong sinh hoạt hàng ngày, xuyên tạc sự vất vả, gian nan, sự hi sinh mồ hôi, xương máu, tính mạng của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong công tác. Nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, thui chột động lực phấn đấu, làm giảm sức mạnh chiến đấu, giảm hiệu quả công tác, từ đó thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội. Thủ đoạn này tuy không mới, nhưng nó dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về đúng sai, thật giả, gây nên sự dao động trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.


Những “khoảng trống” cần loại bỏ


Không thể phủ nhận, việc học tập chính trị sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ trong quân đội nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, trang bị phương pháp luận, thế giới quan khoa học; tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao giác ngộ chính trị, lòng nhiệt tình cách mạng, tính tích cực trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Đó cũng là cơ sở trực tiếp hình thành và phát triển nhân cách quân nhân cách mạng, hình thành ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành điều lệnh, điều lệ, các quy định của đơn vị. Bên cạnh đó, học tập chính trị không những góp phần nâng cao hiểu biết khoa học, bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng đạo đức cách mạng mà còn góp phần khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ.


Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, như: Vẫn còn cán bộ, đảng viên chiến sĩ có biểu hiện ngại học tập, nghiên cứu lý luận chính trị. Trong những buổi học tập chính trị, học nghị quyết hay học tập chuyên đề, thường lấy lý do bận công việc chuyên môn để trốn tránh hoặc học tập qua loa, đại khái. Hay cá biệt có đơn vị quá coi trọng công tác huấn luyện, diễn tập, SSCĐ, mà không quan tâm đến nội dung học tập chính trị, thậm chí còn lồng ghép, cắt xén thời gian; không thường xuyên quan tâm đến công tác tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên, báo cáo viên, nên phương pháp giảng dạy, chất lượng soạn thảo giáo án, bài giảng sơ sài, đánh giá chất lượng học tập còn nhiều hạn chế. Do đó, cán bộ, chiến sĩ sẽ không thể “thấm, ngấm sâu”, am hiểu tường tận đường lối, chủ trương của Đảng. Nên khi triển khai vào hoạt động thực tiễn dễ dẫn đến giảm sút niềm tin vào mục tiêu, lí tưởng của Đảng, đề cao chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, sống thực dụng, vi phạm kỷ luật. Hệ lụy là, vẫn có trường hợp quân nhân đào bỏ ngũ vi phạm kỷ luật quân đội, vi phạm kỷ luật dân vận. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần phải quan tâm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng những giá trị đạo đức quân nhân tốt đẹp cho cán bộ, chiến sĩ, coi đó là một trong những nhiệm vụ, nội dung giáo dục cần được quan tâm đặc biệt, nhằm góp phần giữ vững và phát huy truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, đạo đức, nhân cách của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kì mới.

 

Cá nhân nghiêm túc, quyết tâm-tổ chức nghiêm khắc, quyết liệt


Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên phải coi trọng việc học tập và xác định đó là một nhiệm vụ quan trọng. Người chỉ rõ: “Học tập là công việc suốt cuộc đời và phải học toàn diện; trong đó, học tập lý luận chính trị một cách hăng say, bền bỉ, để nắm vững chính sách của Đảng và Chính phủ, để đi đúng đường lối nhân dân, để làm người, làm việc, làm cán bộ”.  


Vì vậy, để học tập lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ đạt hiệu quả, cấp ủy, lãnh đạo chỉ huy các đơn vị cần quan tâm bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, báo cáo viên về kỹ năng, phương pháp sư phạm trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hành giáo dục. Trong đó, kết cấu bài giảng phải lựa chọn được những nội dung cốt lõi, những điểm mới, nếu giáo dục các chuyên đề, nghị quyết, thì phải nêu bật được khâu đột phá để giải quyết nhiệm vụ then chốt, khâu yếu, mặt yếu, tạo bước phát triển, nhưng vẫn bảo đảm ngắn gọn, súc tích, cô đọng, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ tổ chức thực hiện. Kiên quyết khắc phục tình trạng chuẩn bị sơ sài, đơn giản, dẫn đến khi giáo dục không nắm chắc nội dung, mắc vào “căn bệnh” chung chung, dàn trải, nói gì cũng đúng, xa rời thực tiễn. Cùng với đó, là tích cực đầu tư phương tiện, vật chất, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, đổi mới, đa dạng hóa hình thức, phương pháp truyền đạt, sao cho vừa bảo đảm tính hấp dẫn, tính khoa học, vừa bảo đảm tính thực tiễn. Sau khi học tập, tiến hành kiểm tra, đánh giá chặt chẽ kết quả học tập, gắn với tiêu chí đánh giá, nhận xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ hàng năm.  


Thực tiễn cho thấy, hiệu quả, chất lượng đấu tranh chống các quan điểm, luận điểm phản động, xuyên tạc của các thế lực thù địch phụ thuộc rất nhiều vào việc trang bị lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Cho nên, đối với đội ngũ giảng viên, báo cáo viên phải không ngừng đổi mới tư duy, phương pháp giảng dạy sao cho giờ học chính trị, nghị quyết trở nên sinh động, hấp dẫn. Để tránh truyền dạy lý luận chính trị một chiều, thì ngoài việc tự học tập, nghiên cứu, đội ngũ giảng viên, báo cáo viên phải biết vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn; biết khai thác những tư liệu từ kinh nghiệm thực tiễn của cả người dạy lẫn người học để làm giàu tri thức. Còn đối với mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải thấy được học lý luận chính trị là quá trình được truyền thụ, được tiếp thu hệ thống tri thức, củng cố thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, góp phần nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, còn là “bức tường thành” ngăn ngừa một cách hiệu quả quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội. Do đó, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu, tính tích cực, tự giác trong học tập thì mới bảo đảm hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao./. 

Nguồn: Báo Quốc phòng Thủ đô

Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm giữa nói và làm về nhân quyền

 


Cũng tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao ngày 22-9 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: "Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan".

Quyền con người ở Việt Nam đã được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong hiến pháp-đạo luật nền tảng của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã dành riêng một chương gồm 36 điều chế định và hiến định rõ ràng các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Đây là bản hiến pháp được quốc tế đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Đơn cử như Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Cùng với hiến pháp và các bộ luật, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật...

Dù là quốc gia phải chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh tàn phá, nhưng đến nay, chúng ta có quyền tự hào, tự tin khi Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá toàn diện, trong đó lấy con người làm trung tâm.

Việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là phù hợp với thực tiễn. Việt Nam không những đã có nhiều đóng góp tích cực mà còn có kinh nghiệm khi phấn đấu cho quyền con người.

Trước đó, năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới. Khi đó, những sáng kiến của Việt Nam trong nhiệm kỳ 2014-2016 được quốc tế đánh giá cao, tiêu biểu như việc Việt Nam phối hợp cùng các quốc gia khác đưa ra: Vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái...

Việc Việt Nam tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là hoàn toàn xứng đáng. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Đó là minh chứng xác đáng cho những thành tựu và nỗ lực không ngừng của Việt Nam cho một cuộc sống tươi đẹp trên hành tinh xanh.

Kẻ phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.

Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn

Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB./.

Kẻ đánh tráo khái niệm về nhân quyền ở Việt Nam

 


Cái gọi là “thư ngỏ” của một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 thật thiếu cơ sở.

Ngoài việc thường xuyên “đâm bị thóc, chọc bị gạo” vấn đề nhân quyền của các quốc gia mà họ thù địch, thì vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền này đã làm được gì để quyền con người trên thế giới tốt đẹp hơn? Thật lố bịch khi họ lại tự cho mình có quyền phán xét, mặc cả, ra điều kiện về nhân quyền đối với các quốc gia có chủ quyền như Việt Nam.

Một bản kiến nghị “tổ ong”

Tổ ong có hình thức thủng lỗ chỗ. Thư ngỏ của một số tổ chức này giống như một tổ ong. Nó chỉ có phần lõm mà không có phần lồi. Thôi thì vẫn còn một chút niềm tin vớt vát rằng, nhiều khả năng nguồn thông tin mà các tổ chức nhân danh nhân quyền này tiếp nhận được về Việt Nam thông qua một lăng kính méo mó.

Vì họ không được mắt thấy, tai nghe, tiếp nhận thông tin sai lệch nên họ mới đưa ra kiến nghị rằng “Việt Nam là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và triền miên, không tuân thủ các cam kết, có thành tích hợp tác kém với Hội đồng Nhân quyền (HRC)”.

Họ tiếp tục chụp mũ: Tình hình nhân quyền đang xấu đi ở Việt Nam như đàn áp các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các nhóm tôn giáo, những người bảo vệ môi trường và đất đai, những người ủng hộ nhân quyền...

Trong khi đó, báo cáo của họ lại phớt lờ, không đề cập đến những thành tựu với sự nỗ lực không mệt mỏi mà Việt Nam đã đạt được khi phấn đấu cho quyền con người. Những thành tựu ấy không chỉ được “tai nghe, mắt thấy” ở Việt Nam, mà còn được chính các tổ chức lớn của LHQ báo cáo, đánh giá định kỳ, như Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP); Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hay chính Hội đồng Nhân quyền (HRC)...

Đến đây thì "thư ngỏ" đã “lòi đuôi cáo” khi nó rất không công bằng, cố tình chỉ thấy cây mà không chịu thấy rừng. Không chỉ dịp này, năm nào cũng vậy, họ luôn cùng nhau “tiền hô hậu ủng” để cho ra đời những bản báo cáo về nhân quyền đầy màu sắc chính trị, sai sự thật để chống phá Việt Nam và một số quốc gia mà họ cho là đối lập về hệ tư tưởng.

Ai đang đánh tráo khái niệm về nhân quyền?

Điều đầu tiên cần nói rõ, những tổ chức nhân danh nhân quyền trên không có tư cách để đánh giá, chấm điểm, xếp loại về nhân quyền ở Việt Nam, chứ chưa nói đến việc làm sai trái khi cố tình gửi yêu sách đến LHQ.

Chính lịch sử hàng trăm năm đấu tranh cho sự tiến bộ của loài người, vì quyền con người, các quốc gia trong mái nhà chung LHQ đã thống nhất một quan điểm: “Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền cho một quốc gia là vô lý”. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau, thể chế chính trị khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn về dân chủ, nhân quyền của nước này áp đặt cho nước khác. Các văn kiện pháp lý về quyền con người được LHQ quy định rất rõ ràng.

Không quốc gia nào, kể cả LHQ, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia, chứ đừng nói gì đến các tổ chức nhân danh. Mục 7, Điều 2, Chương I, Hiến chương LHQ khẳng định: “Hiến chương này hoàn toàn không cho phép LHQ được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào...”.

Trong môi trường hội nhập, sự trao đổi, hợp tác, đối thoại trên lĩnh vực quốc tế về nhân quyền là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm cơ chế, kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người, tuy nhiên, theo các quy định pháp lý, nó chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế về bảo đảm quyền con người đang vận hành tại các quốc gia.

Vậy thì mấy tổ chức nhân danh nhân quyền kia lấy tư cách gì để đòi tước tư cách một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam? Họ chẳng có tư cách gì!

Sự thật không như họ nói

Cùng với việc bác bỏ nội dung sai sự thật, không khách quan với định kiến xấu mà một số tổ chức nhân danh nhân quyền quốc tế đã đưa ra về tình hình Việt Nam, ngày 22-9, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, về việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh, những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người trong thời gian vừa qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Chúng ta hãy kiểm chứng lời của người phát ngôn:

Trước tiên, xin được dẫn đánh giá của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam qua Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”.

Từ nhiều năm nay, LHQ luôn lấy Việt Nam là một điểm sáng về phát triển con người, nhất là trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Việt Nam nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới.

Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành "Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa nghèo", về đích trước gần 10 năm so với thời hạn. Cũng theo bà Caitlin Wiesen, quốc tế nhìn nhận rất tích cực những thành quả Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong vài thập kỷ vừa qua.

Đảng, Nhà nước ta luôn xác định chính sách nhất quán của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”(1).

Chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam là công bằng, hướng tới mọi đối tượng, không chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị, mà luôn dành nguồn lực lớn, sự quan tâm sâu sắc tới xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Qua từng năm, hầu hết các chỉ tiêu về phát triển văn hóa, xã hội đều thay đổi nhanh chóng.

Một điểm đặc biệt của Việt Nam được quốc tế đánh giá rất cao, đó là đất nước rất chú trọng đến Chỉ số phát triển con người (HDI), dù kinh tế chưa đạt được như các nước tiên tiến. Báo cáo hằng năm của UNDP cho thấy, Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất thế giới. Nếu năm 1990, HDI của Việt Nam chỉ đạt mức thấp là 0,48 thì đến năm 2021, HDI của Việt Nam được UNDP công bố là 0,703, xếp thứ 115 trong số 191 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cùng với quan tâm phát triển con người, quyền của các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật... có những bước tiến rõ rệt.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua; được LHQ đánh giá là điểm sáng về thực hiện bình đẳng giới trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ.

Phát biểu tại phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 22-2-2021, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh (nay là Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ) khẳng định: "Là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới".

Hãy bảo vệ không gian mạng

 


Thời gian qua, tình hình an toàn, an ninh mạng diễn biến phức tạp, khó kiểm soát đối với các nước.

Ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng triệt để không gian mạng để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, nhân dân. Vì vậy, nâng cao nhận thức trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng là hết sức quan trọng và cấp thiết...

Không gian mạng đã và đang mang lại nhiều giá trị tích cực cho sự phát triển của xã hội, tổ chức và cá nhân. Cùng với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ internet, các công nghệ mạng 4G, 5G, các trang mạng xã hội, các thiết bị IoT, dịch vụ điện toán đám mây... không gian mạng đang làm cho con người tương tác đa chiều hơn, phản ánh sinh động, tức thời hơn với mọi mặt đời sống và các mối quan hệ xã hội. Chính điều này đã biến không gian mạng trở thành không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội của mình, như giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi địa lý, ngôn ngữ, không gian và thời gian.

Lợi ích của không gian mạng còn được biết đến là nền tảng số trong chương trình chuyển đổi số quốc gia, các Chiến lược phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, không gian mạng là nơi diễn ra các hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân trên môi trường số; các giao tiếp giữa chính quyền và người dân, doanh nghiệp cơ bản diễn ra trên không gian mạng. Khi đó, không gian mạng thật sự trở thành không gian với nguồn tài nguyên số vô tận, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là con người.

Cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật Nhà nước sẽ bị lộ lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy; hệ thống tài chính, ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác bị đình trệ hoặc rối loạn hoạt động.

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng môi trường mạng xã hội để xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; tán phát tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, không gian mạng còn bị lợi dụng gây nên những thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người. Không ít vụ lừa đảo qua mạng, những người đăng tải lời nhận xét, bình luận, chia sẻ, thậm chí tự dựng lên những câu chuyện, clip sai sự thật gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân.

Không những thế, không gian mạng đang trở thành và là môi trường trong một hình thái tác chiến mới, đó là tác chiến không gian mạng. Nó đang tạo ra các nguy cơ về chiến tranh không khói súng, không chiến tuyến, không biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia với sự tham gia của mọi đối tượng trên môi trường mạng bao gồm: Các nhóm tin tặc được nhà nước tài trợ; các nhóm tin tặc chuyên nghiệp, phi chính phủ; các nhóm Script Kiddies (hacker nghiệp dư)...

Theo lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông (trong tham luận tại hội thảo và triển lãm quốc tế về an toàn không gian mạng Việt Nam-Vietnam Security Summit 2022 diễn ra ngày 23-6-2022): Tội phạm mạng có xu hướng sử dụng các công nghệ mới, hiện đại, nhiều tính năng phức tạp khiến cho việc phát hiện và xử lý hậu quả của những cuộc tấn công trở nên phức tạp hơn, mất nhiều thời gian hơn. Những cuộc tấn công mã độc kết hợp với công nghệ trí tuệ nhân tạo hoặc sử dụng công nghệ giả lập hành vi của người dùng, để tấn công vào các hạ tầng trọng yếu, các chuỗi cung ứng, nhà máy... đang đặt ra nhiều thách thức trong quá trình xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số./.

Đẩy mạnh tuyên truyền công tác bảo vệ không gian mạng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Bảo đảm an toàn, an ninh mạng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, công dân số trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật, như: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 18-10-2019 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị... Xây dựng và bảo vệ môi trường không gian mạng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra một xã hội ảo trên internet lành mạnh, an toàn, bền vững, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc. Để nâng cao hiểu biết trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng, các cấp, các ngành cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Bộ luật Hình sự (năm 2015) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015); Luật An ninh mạng (năm 2018)... Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Lên án các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. Đấu tranh với các biểu hiện, hành động tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi... Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học. Hoạt động tấn công mạng rất đa dạng và tinh vi, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần cảnh giác trước thủ đoạn của các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng đang có âm mưu tấn công đánh sập các website của Chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo, đánh cắp dữ liệu cá nhân; tấn công bằng mã độc; tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại;... Các thế lực thù địch sẽ lợi dụng blog cá nhân để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng... Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ không gian mạng. Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Mỗi cá nhân cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng với các dữ liệu quan trọng;... Người dùng cần cảnh giác với những trang web lạ, những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm. Cùng với đó, các cơ quan chuyên trách an ninh mạng cung cấp đầy đủ thông tin về xu hướng phát triển, những nguy cơ từ không gian mạng; các biện pháp phòng, chống tấn công trên không gian mạng. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tăng cường cảnh báo khả năng mất an ninh mạng do đơn vị mình cung cấp và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng các phương án xử lý với sự cố an ninh mạng; phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách trong hoạt động bảo vệ an ninh mạng./.NVS

 

Đẩy mạnh tuyên truyền công tác bảo vệ không gian mạng

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Bảo đảm an toàn, an ninh mạng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, công dân số trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật, như: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 18-10-2019 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị...

Xây dựng và bảo vệ môi trường không gian mạng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra một xã hội ảo trên internet lành mạnh, an toàn, bền vững, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc. Để nâng cao hiểu biết trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng, các cấp, các ngành cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Bộ luật Hình sự (năm 2015) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015); Luật An ninh mạng (năm 2018)... Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.

Lên án các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. Đấu tranh với các biểu hiện, hành động tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi... Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học.

Hoạt động tấn công mạng rất đa dạng và tinh vi, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần cảnh giác trước thủ đoạn của các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng đang có âm mưu tấn công đánh sập các website của Chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo, đánh cắp dữ liệu cá nhân; tấn công bằng mã độc; tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại;... Các thế lực thù địch sẽ lợi dụng blog cá nhân để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng...

Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ không gian mạng. Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Mỗi cá nhân cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng với các dữ liệu quan trọng;... Người dùng cần cảnh giác với những trang web lạ, những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm.

Cùng với đó, các cơ quan chuyên trách an ninh mạng cung cấp đầy đủ thông tin về xu hướng phát triển, những nguy cơ từ không gian mạng; các biện pháp phòng, chống tấn công trên không gian mạng. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tăng cường cảnh báo khả năng mất an ninh mạng do đơn vị mình cung cấp và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng các phương án xử lý với sự cố an ninh mạng; phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách trong hoạt động bảo vệ an ninh mạng./.NVS

Đẩy lùi những chiêu trò “bất tuân dân sự” ở Việt Nam

 


Ở Việt Nam, hoạt động "bất tuân dân sự" đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành "phong trào" nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời...

Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng "bất tuân dân sự", như: "Bất tuân cưỡng chế" của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai...; "bất tuân" quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như "Hội anh em dân chủ", "Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam", "Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam", "Hội văn đoàn độc lập Việt Nam", "Hội nhà báo độc lập Việt Nam", "Mạng lưới Blogger Việt Nam"...; “bất tuân” để phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2014), Luật An ninh mạng (năm 2018)… Các hình thức như kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông; từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội; tẩy chay hàng hóa nước ngoài... cũng có nhiều vụ việc bị lợi dụng, biến tướng.

“Bất tuân dân sự" được tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa "bất tuân dân sự" với "xã hội dân sự", sử dụng các tổ chức "xã hội dân sự" để chỉ đạo, điều hành "bất tuân dân sự". Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền"; triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng "ngọn cờ"; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn...

Để đấu tranh làm thất bại "bất tuân dân sự", cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa "thượng tôn pháp luật" cho mọi công dân. Trong đó, cần chú trọng nâng cao trình độ giác ngộ, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành. Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động "bất tuân dân sự". Tăng cường đấu tranh vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn sử dụng "bất tuân dân sự" để chống phá Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan hành chính các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường... Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm của cán bộ các cấp, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, tăng cường đối thoại, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng về tranh chấp, khiếu kiện, không để âm ỉ, kéo dài…

Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thực trạng "bất tuân dân sự" trên địa bàn quản lý; xây dựng kế hoạch phòng, chống chặt chẽ; bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng xử lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công an, quân đội, các lực lượng chức năng và cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện "bất tuân dân sự".

Khi xảy ra các vụ việc "bất tuân dân sự", cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo.../.

Đấu tranh với luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.

Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn

Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB./.NVS

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hợp quy luật

 


Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.

Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.

Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.

Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.

Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(1).

Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN”(2) là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. 

Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam./.NVS

Bất tuân dân sự - một thủ đoạn nguy hiểm

 


Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng một thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự". "Bất tuân dân sự" thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", đang được lợi dụng gắn với cái gọi là xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

"Bất tuân dân sự" - lịch sử và sự biến tướng

Thuật ngữ "bất tuân dân sự" lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Henry David Thoreau-nhà văn, nhà tư tưởng người Mỹ-với nhan đề "Dân sự bất hợp tác", vào tháng 5-1849. Nội dung cơ bản của tập tiểu luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân (hoặc thiểu số công dân) với nhà nước. Theo đó, cá nhân (hoặc thiểu số công dân) có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể thực hành chống lại luật pháp của nhà nước nếu cảm thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số, bằng phương pháp "cách mạng hòa bình". 

Thực chất đây là quan điểm cực đoan, "vô chính phủ" của một kẻ vốn là phạm nhân (H.D. Thoreau viết tập tiểu luận này nhằm biện minh cho việc ông ta phải ngồi tù ở bang Massachusetts vì tội không đóng thuế). Mặc dù ở thời điểm ra đời, tác phẩm của H.D. Thoreau không gây được sự ảnh hưởng nào, nhưng sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc "cách mạng hòa bình" của ông được một số nhà hoạt động chính trị lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào "Satyagraha" của Mahatma Gandhi đấu tranh giành quyền lợi cho người Ấn Độ ở Nam Phi (năm 1914) và giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh dân quyền ở Mỹ của Martin Luther King (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa Apartheid) ở Nam Phi của Nelson Mandela...

Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, "bất tuân dân sự" từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược "diễn biến hòa bình". Trong các cuộc "cách mạng ca hát", "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21; "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010... đều có dấu ấn của phong trào "bất tuân dân sự". Gần đây nhất là phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bolivar ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên Hồng Công (năm 2014 và 2019) đều thể hiện rất rõ thủ đoạn "bất tuân dân sự".

Như vậy, “bất tuân dân sự” khi được sử dụng trong tay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đã trở thành một thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở những nước tiến bộ, không cùng "quỹ đạo" với chúng.

Nhận diện bản chất

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về "bất tuân dân sự" nhưng thực chất “bất tuân dân sự” là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số  đạo luật  nhất định nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức phản kháng bất bạo động, gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền; bản chất là hành vi vi phạm pháp luật.

“Bất tuân dân sự" là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số quy định pháp luật nhất định của nhà nước. Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là: Tiểu số phục tùng đa số; lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung; lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, "bất tuân dân sự" về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).

"Bất tuân dân sự" hình thức phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Tuy nhiên, không phải tất cả hình thức đều là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, theo những người chủ trương "bất tuân dân sự", hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường cho đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã tích lũy đủ điều kiện hay "châm ngòi" thành công.

Hành vi phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng những điều luật đã được ban hành; được thực hiện thông qua hình thức bất bạo động thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh. Hơn nữa, khi hướng tới mục tiêu chính trị, "bất tuân dân sự" là bước khởi đầu của một cuộc "cách mạng mềm" nhằm thay đổi chế độ chính trị đang tồn tại hoặc lực lượng chính trị đang nắm quyền. Vì vậy, trong hầu hết các vụ việc, về bản chất, đây là hành vi vi phạm pháp luật.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng. Đối với các hiện tượng cụ thể, có thể ở mức độ thấp, không ảnh hưởng xấu nhiều tới cộng đồng, nhưng ở mức độ cao, khi hướng tới mục tiêu chính trị bằng các hình thức đấu tranh trực tiếp gây tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự của đất nước, của địa bàn thì cần phải có giải pháp phù hợp./.NVS

 

Sục sôi nhiệt huyết, cống hiến sức trẻ

 

Tuổi trẻ quân đội tự tin, sục sôi nhiệt huyết, tự hào cống hiến, dấn thân trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

 KỲ TÍCH VIỆT NAM TRONG 60 NGÀY QUYẾT TỬ BẢO VỆ THỦ ĐÔ

Ở Hà Nội cuối 1946, Việt Minh có 2.561 tay súng trong số 10.500 người có vũ trang (gần 4 người mới có một khẩu súng, một quả lựu đạn; còn lại là dao kiếm, gậy gộc). Pháp có 5.600 tay súng trong số 13.500 người có vũ trang (5.000 súng trường, 600 súng liên thanh, số súng ngắn không thể thống kê, 42 đại bác, 22 xe tăng, 40 xe bọc thép, 30 máy bay, các tàu chiến chạy trên sông).* Chênh lệch lực lượng chính quy khoảng 2 - 3 lần, vũ khí hàng chục lần.
Phát xít Đức mất 4 ngày để chiếm Hà Lan, 18 ngày để chiếm Bỉ, 30 ngày để chiếm nước Pháp trong thế quân lực, vũ khí tương đương Pháp. Nhật mất 1 ngày để chiếm Bangkok, 7 ngày để chiếm Singapore, 53 ngày để chiếm Mã Lai trong thế binh lực tương đương liên quân Anh - Ấn - Mã và người Thái.
Với ý chí "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", quân dân Việt Nam giữ được được thủ đô Hà Nội trong 60 ngày đêm, chỉ chịu rút lui sau khi nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và nhân dân tản cư về tuyến sau, lên căn cứ địa Việt Bắc hoàn thành, bảo toàn được lực lượng chính cho cuộc kháng chiến lâu dài về sau.
* Theo cuốn "Chiến đấu trong vòng vây" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Ảnh: Quyết tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe tăng Pháp trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh", năm 1946.
Sưu tầm
Có thể là hình ảnh về 1 người

 TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC LAN TOẢ THÔNG TIN TÍCH CỰC

Hầu hết chúng ta nghe và nói rất nhiều về việc lan tỏa thông tin tích cực, nhưng thế nào là thông tin tích cực hay trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong vấn đề này như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ. Trên thực tế, trước khi đặt ra vấn đề trách nhiệm của mình thì các cán bộ, đảng viên trong vai trò của một công dân cũng luôn quan tâm đến việc lan tỏa thông tin để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
📌 Thế nào là thông tin tích cực
Hiểu một cách phổ biến, thông tin tích cực là thông tin đúng đắn, chính xác về một sự việc, một nhân vật, một mô hình, một giải pháp hay, có ý nghĩa, có giá trị. Thông tin đó có thể gieo cho người đọc những nhận thức, tình cảm tốt đẹp; có thể thúc đẩy người tiếp nhận có suy nghĩ tích cực, từ đó có hành vi tích cực; cung cấp cho người đọc những kiến thức, nhận thức đúng đắn, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực… Thí dụ, hồi tháng 6/2021, báo chí đăng về việc anh Lại Văn Cường (32 tuổi) và vợ là chị Bùi Thị Hương (29 tuổi), tạm trú tại khu phố 1, phường Long Bình Tân, TP Biên Hòa (Đồng Nai), khi nhặt được điện thoại Iphone 11 đã chủ động đăng facebook, dán tờ rơi… tìm chủ nhân để trả lại. Anh Cường là người khuyết tật, đang mưu sinh bằng nghề bán vé số…. Câu chuyện này hẳn sẽ thúc đẩy suy nghĩ tốt đẹp, lương thiện trong hầu hết người tiếp nhận.
Có khi, đó là thông tin xác định rõ một vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau hoặc bác bỏ một thông tin sai trái đang được lưu truyền; hoặc là thông tin giải đáp được thắc mắc, nghi vấn của nhiều người về một vấn đề nào đó.
Do đó, nhìn rộng ra, thông tin tích cực chính là các thông tin giúp củng cố lòng tin đối với tổ chức, cá nhân, dư luận xã hội…
📌 Chọn thông tin tích cực để lan tỏa
Mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin tích cực, cả ở khía cạnh phải chọn thông tin phù hợp và thường xuyên thực hiện việc lan tỏa các thông tin đó. Mỗi người trước khi chia sẻ phải tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin. Không phải thông tin nào được lan truyền rộng rãi, được nhiều người đọc và chia sẻ cũng là thông tin chính xác, đúng đắn. Do đó, cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin. Tuyệt đối không nên xác tín theo cách “thông tin do mạng A nói”, “do ông X trên mạng B nói”… mà phải căn cứ trên những nguồn thông tin chính thức, chính thống. Như trong đợt dịch năm 2021, rất nhiều người dùng mạng xã hội chia sẻ các chỉ dẫn được cho là của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhưng trên thực tế lại không phải như vậy.
Đồng thời, phải chú ý chọn thông tin nào mà mình tin là đúng, cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bản thân được truyền cảm hứng. Mỗi người phải luôn ý thức rằng thông tin của mình sẽ có người đọc và ít nhiều chịu tác động, nên chọn thông tin tốt nhất, hay nhất, có ích nhất, ý nghĩa nhất.
Không chỉ vậy, là cán bộ, đảng viên còn phải luôn nghĩ đến liệu thông tin có gây hiểu lầm hoặc thúc đẩy ai đó nhận thức sai lệch không; nếu cảm thấy có thì không chia sẻ.
📌 Gợi ý cách lan tỏa thông tin tích cực
Mỗi cán bộ, đảng viên có thể sử dụng tài khoản mạng xã hội hoặc trang mạng internet cá nhân của mình để chia sẻ, đăng tải, cung cấp, định hướng thông tin có ích cho người khác, cho xã hội và đất nước. Điều này hiện có thể được thực hiện dễ dàng bởi hầu hết chúng ta đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội; một số người còn có nhiều tài khoản đồng thời ở facebook, instagram, zalo, twitter…
Chúng ta cũng có thể đăng trên các trang diễn đàn (trên mạng internet hoặc các nền tảng mạng xã hội), trang cộng đồng (fanpage), nhóm (group)… những thông tin mà mình có căn cứ xác thực cho là đúng đắn, chính xác để có độ lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn. Chẳng hạn, khi có căn cứ bác bỏ một thông tin chưa đúng, chúng ta có thể đưa thông tin đó vào các trang, nhóm có đông người theo dõi để tạo sự lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn.
Trong điều kiện của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tuyên truyền, động viên để nhiều người khác hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng internet và mạng xã hội. Với các cơ quan có quy chuẩn thì nên khuyến khích mọi người thực hiện theo quy chuẩn đó; hoặc gợi ý mọi người những cách thức sử dụng đúng pháp luật, văn minh, tiến bộ, hợp lý bằng các hình thức dễ hiểu, dễ thực hiện.
Trên trang mạng xã hội của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau… Đồng thời, tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị...; làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, các câu chuyện có giá trị nhân văn… Việc góp phần lan tỏa những thông tin tốt, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay đó không chỉ giúp người khác thưởng lãm mà còn có thể tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, từ đó có thêm những hành động tích cực khác.
Sau cùng, chúng ta nên luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng internet và mạng xã hội. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên nên luôn ý thức rằng mỗi thông tin, mỗi status mình đưa lên “có ích gì cho ai không”, chứ không phải nghĩ đến câu hỏi “có hại gì cho ai không”. Bởi trách nhiệm của chúng ta là đồng thời phải làm lan tỏa thông tin tích cực và tìm cách hạn chế, đẩy lùi các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc.
Nguồn VĐ(tt)