Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

"CÁI TÔI" MỘT BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN PHƯƠNG TÂY!

     Đề cao cái tôi là tốt hay xấu? Tốt cũng có và xấu cũng có bạn ạ. Vì chúng ta là những người theo chủ nghĩa duy vật biện chứng nên luôn nhận ra, bất cứ cái gì cũng có hai mặt. Vậy tôi xin góp vài nhời để các bạn rộng đường dư luận. Tôi xin nói mặt tốt của “cái tôi” trước.
     Mặt tốt của “cái tôi” trong cuộc sống ở phương tây là phát huy cao độ khả năng của một con người, của một quốc gia. Nhờ có khai thác khả năng con người ở mức cao mà xã hội phát triển nhanh hơn. Tính tự lập của mỗi người phát triển hơn.
     Nhưng khi “cái tôi” đã phát triển tới mức nào đó thì đôi lúc con người và xã hội đó trở nên ích kỷ, giả dối và lừa lọc.
     Nếu bạn muốn tìm ví dụ về việc đề cao “cái tôi”, xin hãy nhìn sang phương tây. Ở đó “chủ nghĩa cá nhân” (nói nôm na là “cái tôi”) là dòng chủ đạo đã phát triển từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Bây giờ bạn bảo đa số những người dân sống ở các nước phương tây hãy dẹp bỏ chủ nghĩa cá nhân đi thì chẳng khác nào “hái sao trên trời”.
     Các bạn cứ quan sát một gia đình người dân phương tây mà coi. Con cái đến tuổi trưởng thành thì phải tự lập, cha mẹ coi như hết trách nhiệm. Cha mẹ già yếu thì xin mời vào nhà dưỡng lão, con cái hết trách nhiệm. Có lẽ vì thế mà người phương tây dễ dàng xa gia đình, xa nơi chôn nhau cắt rốn hơn người phương đông.
     Đó là nói về gia đình, một “xã hội thu nhỏ”, chứ nói rộng ra một quốc gia thì “cái tôi” cử nổi lên ngồn ngộn như đỉnh núi Everest hay đỉnh Alpe. Điển hình cho việc đề cao “cái tôi”, thứ “chủ nghĩa cá nhân”, đó là chính quyền Mỹ (tôi không dám nói cả nhân dân Mỹ), thực chất là thứ chủ nghĩa này đã kết thành hàng trăm năm rồi, dù chính quyền thuộc thế hệ nào cũng cùng chung những cách hành xử với thế giới.
     Sau chiến tranh thế giới lần thứ II (WW2), có quốc gia nào đi gây ra nhiều cuộc chiến tranh ra nước ngoài như những chính quyền Mỹ? Để làm gì? Để thỏa mãn nhu cầu làm giàu cho nước mình, cho những tập đoàn tư bản, nhất là tập đoàn sản xuất vũ khí. 
     Tạm thời chúng ta bỏ qua cuộc đối đầu giữa các quốc gia đại diện cho các hệ tư tưởng khác nhau, mà ta đi ngay vào cuộc chiến có tính thời sự cao hiện nay, giữa Nga và Ukriane mà thực chất là giữa Nga và NATO. Tại sao có cuộc xung đột đó? Vì NATO mà đứng đầu là Mỹ, không muốn thấy một nước Nga hùng cường. Đó là vì “cái tôi” của Mỹ quá lớn.
     Mỹ muốn kìm chế Nga song lại phải dùng đám tay sai Ukraine. Mỹ muốn những xác chết không phải là người Mỹ mà là người Ukraine. Viết đến đây chúng ta lại nhớ đến chiến lược “thay màu da cho xác chết” mà Mỹ đã áp dụng ở miền Nam Việt Nam, khi đó Mỹ đã thấy khả năng không thể giành chiến thắng, Mỹ phải dùng người Việt để chết thay, nhiều người vì thế mà cho rằng cuộc chiến tranh xâm lược là “nội chiến”. Ngày nay Mỹ cũng áp dụng chiến lược đó ở Ukraine. Chính quyền Mỹ sợ dân chúng Mỹ nổi loạn như khi Mỹ tiến hành cuộc chiến ở Việt Nam, còn vũ khí và tiền bạc thì Mỹ không thiếu. Chiến tranh càng kéo dài Mỹ càng giàu lên. Đó cũng là biểu hiện “cái tôi” của Mỹ.
     Biểu hiện đặc trưng “cái tôi” của chính quyền Mỹ là câu “Nước Mỹ trên hết” của ông cựu Tổng thống Donald Trump. Ngày nay ông đương kim Tổng thống Joe Biden muốn xóa bỏ cái “đặc trưng” đó để mong xóa bỏ ảnh hưởng của phe Cộng hòa, song cứ nhìn cái cách ông điều hành cuộc chiến tại Ukraine và cách đối xử với các đồng minh châu Âu thì bản chất của các chính sách ấy vẫn là “Nước Mỹ trên hết”.
     Bẩn thỉu nhất trong việc đề cao “cái tôi” của Mỹ chính là các hành động của Mỹ đối với các bạn bè đồng minh của mình, như các nước EU và G7. Mỹ không quan tâm đến đời sống của người dân của EU và G7, miễn là Mỹ bán được nhiều vũ khí, miễn là Mỹ bán được khí đốt giá cao, miễn là Mỹ kéo các nhà công nghiệp của châu Âu chạy sang Mỹ để các nước EU trở thành các quốc gia “phi công nghiệp”. Tất cả phải phụ thuộc vào Mỹ. Mỹ sẽ trở thành ông chủ của châu Âu. “Cái tôi” lần này của Mỹ mới lớn và mới vô nhân tính nhất.
     Trái ngược với lối sống phương tây là lối sống “mình vì mọi người, mọi người vì mình” của phương đông. Cuốn phim “Ba chàng ngự lâm” của Pháp khi được công chiếu, chắc hẳn là một ý tưởng mới lạ đối với người dân phương tây, còn đối với người dân phương đông chắc đã quen.
     Người dân phương đông rất coi trọng gia đình, rất kính trọng và biết cách chăm sóc người già, người phương đông ít coi trọng sinh nhật mà lại rất coi trọng ngày giỗ của người quá cố. Vì sao lại thế? Vì chúng ta luôn đặt câu hỏi cho mình, như “công sinh thành thuộc về ai?”, “tại sao ta phải biết ơn những người thân đã qua đời?”. Chính vì thế mà chỉ có Việt Nam ta mới có gần một trăm bốn mươi ngàn “Mẹ Việt Nam anh hùng” và ở địa phương nào cũng có “Nghĩa trang Liệt sĩ’. Trong khi ở nước Mỹ giàu có, gần 60 ngàn lính Mỹ hy sinh ở Việt Nam cũng chỉ có tên trên một bức tường bằng đá lạnh lẽo.
     Mỗi khi có giặc đến nhà, thì hầu hết người dân Việt chúng ta gạt “cái tôi” sang một bên, xung phong ra tiền tuyến để “đền nợ nước, trả thù nhà”. Hỏi có người dân nước nào làm được thế?
     Hôm nay tôi đọc một tin gây xúc động, đó là 4 người con trai của một bà mẹ ở Thanh Hóa đã chung tiền xây 4 ngôi biệt thự chung quanh nơi mẹ ở để được sống cùng mẹ mãi mãi. Đó là một thí dụ điển hình về việc không nghĩ đến “cái tôi” của bản thân mình.
     Cho nên cũng là “cái tôi”, song người phương tây coi đó là “kim chỉ nam” cho mọi hành động, trong khi người phương đông là nghĩ cách đem “cái tôi” ra phục vụ cộng đồng. Xin đừng ai quên, “Mọi người vì mình, mình vì mọi người”, ai mà cuộc sống ích kỷ, hẹp hòi thì sẽ có quả báo.
     Nói thì nói vậy, chứ “cái tôi” luôn hiện hữu, nhất là đối với những kẻ coi thường luật pháp. Chúng phạm pháp vì chúng đề cao “cái tôi” quá mức. Những kẻ đó chỉ có thể dùng pháp luật để trị.
Vậy nhé!./.
Yêu nước ST.

Theo dấu chân Người ngày 7-1-1946

Ngày 7-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Chính phủ để nghe báo cáo của các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Canh nông sau chuyến kinh lý tại Ninh Bình và Thanh Hóa, Nghệ An và bàn việc động viên nhân dân cả nước hướng về và chi viện cho Nam bộ. Khi bàn về vấn đề chi viện cho Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cần phải thống nhất quân đội ngay để có thể tiếp viện cho Nam Bộ”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai giảng Trường Cán bộ Tự vệ Hồ Chí Minh. Trước 75 học viên của khóa cán bộ đầu tiên được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, Bác căn dặn: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Phân tích yếu tố tinh thần, Bác Hồ đưa ra một nguyên lý sáng suốt: “Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm” .

Ngày 7-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp nêu rõ lập trường rất mềm mỏng: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này; hoà bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc. Dân tộc Việt Nam đang chờ đợi cử chỉ đó”.

Nửa thập kỷ sau đó đó diễn ra một cao trào từ phong trào Đồng Khởi đến cuộc đương đầu chống “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ mà đỉnh cao là hai chiến thắng vang dội từ Ấp Bắc (1963) đến Bình Gió (cuối 1964). Với bút danh “Chiến Sĩ”, Bác viết bài đăng báo Nhân dân ngày 7-1-1965 với tiêu đề “Điện Biên Phủ nhỏ và Nhịp cầu vàng”. Bài báo một mặt vinh danh hai trận thắng trên là “Điện Biên Phủ nhỏ” nhưng để đi đến thắng lợi hoàn toàn còn cần bắc một “Nhịp cầu vàng” để nước Mỹ rút lui khỏi cuộc chiến tranh mà không bị mất mặt.

Thực tiễn cho thấy, sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân (1968), Mỹ đẫ phải bước vào bàn đàm phán tại Pari và 5 năm sau đó (1973) “Nhịp cầu vàng” đó tạo cơ hội cho Mỹ “rút lui mà khỏi mất mặt”... Để rồi không đầy hai năm sau (1975), miền Nam hoàn toàn giải phóng...

- Theo QĐND-

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2023

PHÁT HUY NỀN TẢNG CHÂN LÝ LỊCH SỬ NGÀY 07/01/1979!

     Cách đây 44 năm, ngày 7.1.1979 đã đi vào lịch sử như mốc son của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, tình hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Campuchia. Nhờ sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot và bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, hòa hợp dân tộc và phát triển.    

Cuộc đấu tranh cao cả được lịch sử khắc ghi
Trong chiều dài lịch sử, Việt Nam và Campuchia luôn đoàn kết bên nhau chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Tuy nhiên, sau khi lên nắm quyền lãnh đạo Campuchia tháng 4.1975, tập đoàn Pol Pot đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam đồng thời, thực hiện chính sách diệt chủng tàn bạo đối với nhân dân Campuchia.

Đáp lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia và xuất phát từ truyền thống đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc, sau khi thực hiện quyền tự vệ chính đáng, chặn đứng hành động gây chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam của tập đoàn phản động Pol Pot; Việt Nam đã kề vai, sát cánh cùng với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia tiến hành nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh và đến ngày 7.1.1979 đã hoàn toàn giải phóng thủ đô Phnom Penh.

Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại, đưa Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Trong thông điệp chúc mừng kỷ niệm 44 năm Ngày thành lập Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia, Thủ tướng Samdech Techo Hun Sen từng khẳng định: “Đại thắng 7.1.1979 đã chấm dứt thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Campuchia, mở ra một kỷ nguyên mới. Nhân dân Campuchia chúng ta đã giành lại quyền tự do và cơ hội tái thiết tổ quốc của chúng ta. Mọi người dân đều hiểu rõ rằng nếu không có sự ra đời của Mặt trận 2.12 và chiến thắng ngày 7.1, chúng ta không có ngày hôm nay, đó là chân lý lịch sử".

Năm 2022, tại lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Thủ tướng Hun Sen sang Việt Nam tìm kiếm sự trợ giúp của quân tình nguyện Việt Nam để giải phóng Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ ra, hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, đưa đất nước Campuchia hồi sinh, thể hiện sự hợp tác và đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc, góp phần vun đắp cho quan hệ hữu nghị truyền thống quý báu Campuchia - Việt Nam.

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, đây là cuộc đấu tranh cao cả, trong đó các chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam, đã kề vai sát cánh với những người con anh hùng của đất nước Campuchia để đánh đổ chế độ diệt chủng, hồi sinh Campuchia, vun đắp cho tình đoàn kết, gắn bó, hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, khẳng định chính nghĩa và đóng góp vào những lý tưởng cao đẹp của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. 

Cũng tại buổi lễ, Thủ tướng Hun Sen khẳng định "lịch sử cũng khắc ghi về hành động của quân đội Việt Nam để cứu người dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot”. Nhà lãnh đạo Campuchia đồng thời nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam thể hiện tinh thần hữu nghị trong sáng, tốt đẹp giữa hai nước, nhân dân hai nước. Tôi tin tưởng mối quan hệ này sẽ mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững".

Mốc son đoàn kết
quốc tế trong sáng
         Ông Mak Chan Narith - quan chức Bộ Quan hệ với Quốc hội, Thượng viện và Thanh tra Campuchia - từng chia sẻ: "Bản thân tôi cũng như mọi người dân Campuchia luôn ghi nhớ công lao và sự anh dũng cao cả mà quân đội tình nguyện Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã dành cho dân tộc chúng tôi, giúp chúng tôi đi lên từ bàn tay trắng, để có sự phát triển như ngày hôm nay". 

Theo ông Trần Văn Thông - nguyên tham tán chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia - thực tiễn đã chứng minh với thắng lợi lịch sử ngày 7.1, nhân dân Campuchia đã khép lại trang sử đen tối của những hố chôn tập thể và những cánh đồng chết, thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc và mở ra kỷ nguyên độc lập, hòa bình, tự do và phát triển cho đất nước Campuchia; đồng thời hồi sinh tình hữu nghị Campuchia - Việt Nam, mở ra thời kỳ mới cho quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Campuchia phát triển gắn bó, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau.

Ông Nguyễn Văn Triệu - Phó Chủ tịch Thường trực Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia Thành phố Hồ Chí Minh từng nhận định, ngày 7.1.1979 đã đi vào lịch sử như là mốc son của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung; của tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, đưa đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, bước vào một kỷ nguyên mới: Độc lập, tự do, hồi sinh, đồng thời mở ra một trang mới trong quan hệ láng giềng giữa hai nước.

Trong khi đó, Tổng lãnh sự Campuchia tại Thành phố Hồ Chí Minh Sok Dareth khẳng định, ngày 7.1.1979 không chỉ là bước ngoặt lịch sử khép lại trang sử của thời kỳ đen tối dưới chế độ diệt chủng Pol Pot mà còn mở ra kỷ nguyên mới, thắp sáng hy vọng mới, sự sống mới, hòa bình, ổn định phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập của Campuchia vào khu vực và thế giới. Người Campuchia mãi mãi tri ân và ghi nhớ công lao quý báu của Việt Nam, luôn nhớ rằng ngày 7.1 là ngày sinh lần thứ hai của họ. Đây là chân lý của lịch sử mà không ai có thể xuyên tạc, vu khống hay lãng quên được.

Viết tiếp chặng đường phát triển
     Ngày nay, quan hệ hữu nghị Việt Nam và Campuchia tiếp tục được tiếp thêm sức mạnh từ những truyền thống vốn có từ lâu đời trong lịch sử. Quan hệ Việt Nam - Campuchia đã và đang được củng cố và phát triển vững chắc theo phương châm láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.

Những năm qua, quan hệ Việt Nam - Campuchia phát triển tốt đẹp trên nhiều mặt. Năm 2022, hai nước có nhiều hoạt động trao đổi đoàn cấp cao: Chuyến thăm chính thức Campuchia của Thủ tướng Phạm Minh Chính và ngay sau đó là chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tới Campuchia cùng trong tháng 11.2022; Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thăm chính thức Campuchia tháng 10.2022...

Nhìn lại chặng đường 44 năm qua, chúng ta tự hào và vui mừng nhận thấy quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia luôn được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp đang tiếp tục không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước./.



Yêu nước ST.

THI NHÂN VÀ ĐẠO TẶC!

     Đêm trăng vằng vặc, thi nhân hạnh phúc thả hồn tìm thi hứng. Đạo tặc lại cảm thấy thật xui xẻo vì không có cơ hội trộm cắp tài sản.
     Cùng một hiện thực khách quan nhưng hai đối tượng có hai góc nhìn khác nhau, dẫn đến thái độ, quan điểm đối lập nhau. Trên mặt trận tư tưởng văn hóa, không ít người đang bị các thế lực xấu dẫn dụ bằng góc nhìn, tư duy của đạo tặc...

Thông điệp “ru ngủ” và thông tin “tầm gửi”
     Gần đây, nhiều tài khoản trên các nền tảng mạng xã hội Facebook, YouTube... chia sẻ video của một du học sinh Việt Nam ở nước ngoài nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và tâm tư của một bộ phận người Việt Nam ở hải ngoại. Sản phẩm này được làm từ năm 2020, nhân kỷ niệm 45 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thời gian này, nó được nhiều người sử dụng, chia sẻ lại như một cách để họ lan tỏa thông điệp của một bộ phận trí thức trẻ có cơ hội đi du học nước ngoài đối với tình hình đất nước, tương lai dân tộc.
     Theo dõi thì thấy, chủ nhân của tài khoản có video trên mạng xã hội là người có kiến thức, năng động, có kỹ năng diễn đạt bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Tiếc rằng, chỉ với một góc nhìn hẹp thông qua lăng kính của người nước ngoài, cô đã vội bày tỏ thái độ đồng tình với quan điểm về chiến tranh của những kẻ đã từng đem quân đến xâm lược Tổ quốc mình. Cô khuyên các bạn trẻ, có cơ hội hãy đi du học để được mở mang, khám phá và hãy nhìn nhận đất nước mình qua lăng kính của người khác để đánh giá lịch sử một cách đúng đắn và trọn vẹn hơn...
     Trên không gian mạng hiện nay, xuất hiện rất nhiều những sản phẩm truyền thông dạng như vậy. Thực trạng này cho thấy, các thế lực thù địch đã và đang có sự điều chỉnh, thay đổi mạnh mẽ về phương thức, thủ đoạn chống phá. Cùng với việc sử dụng những thành phần bất hảo, phản bội Tổ quốc ra mặt chống đối Đảng, Nhà nước bằng kiểu tấn công, đả kích, xuyên tạc công khai, trực tiếp trên không gian mạng, họ đã hướng đến ngày càng nhiều hơn việc sử dụng những trí thức trẻ, du học sinh có tư tưởng cực đoan như một công cụ tinh vi.
     Với cách lập ngôn tự sự, bằng lối diễn đạt nhẹ nhàng kiểu “ru ngủ”, những “phát thanh viên” trẻ tuổi này dẫn dụ người nghe bằng sự cài cắm thông tin rất khôn khéo, tinh vi. Họ luôn miệng nói rằng, mình không quan tâm đến chính trị. Rằng, mình nói lên vấn đề chỉ là bày tỏ một góc nhìn, một quan điểm cá nhân để mọi người cùng suy ngẫm. Kết luận thế nào là quyền của mỗi người... Nhưng thực chất thì đó là một kiểu “diễn biến hòa bình” tinh vi.
     Cách truyền thông kiểu “nửa nạc nửa mỡ” này là một chiêu bài dân túy, một phương thức biến thể của “cách mạng màu” được các thế lực thù địch áp dụng để chống phá Việt Nam trên không gian mạng. Biểu hiện của nó là hình thức tuyên truyền “mật ngọt chết ruồi”, “mưa dầm thấm lâu”... Sự thay đổi, điều chỉnh phương thức của họ xuất phát từ thực tế là, kiểu tung tin giả, dựng chuyện nói xấu, xuyên tạc sự thật, công kích trực diện... đã tỏ ra không còn tác dụng.
     Hằng ngày hằng giờ không gian mạng ngập những thứ “rác” thông tin độc hại do họ tung ra, đại đa số công chúng đã không dễ bị mắc lừa. Để có thể truyền tải thông điệp phản động, họ thay đổi chiến thuật, sử dụng phương thức “vu hồi”. Cùng với những chiến dịch, sản phẩm truyền thông kiểu “ru ngủ” như trên, còn có kiểu tầm gửi thông tin. Một số đối tượng từng công khai chống phá, đã thay đổi thái độ, quay sang phát ngôn ủng hộ Đảng, Nhà nước.
     Tuy nhiên, trong các sản phẩm truyền thông của họ, sự cài cắm những tư tưởng chống phá vẫn khá rõ. Trong một bài nói, bài viết, họ cài cắm một vài ý, một vài dòng, thậm chí chỉ một vài câu chứa thông điệp ám chỉ, kích động, thù địch. Kiểu ký sinh thông tin độc hại dạng này rất nguy hiểm. Nó như cây tầm gửi. Ban đầu chỉ là một mầm nhỏ, dần dần nó sẽ hút dưỡng chất của cây chủ để sinh sôi, thực hiện mưu đồ soán ngôi, lật đổ. Chúng ta cần vạch rõ, nhận diện rõ để giúp công chúng có kỹ năng phân biệt thật giả, trắng đen giữa mớ thông tin vàng thau lẫn lộn.

Từ góc nhìn đến thái độ
     Có thể thấy phương thức, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu, các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, bài bản. Tuy nhiên, bằng thái độ khách quan, bình tĩnh, sáng suốt, chúng ta không khó để nhận diện đúng bản chất của vấn đề. Bởi, những mưu đồ đen tối, dù có che đậy, ngụy trang tinh vi đến đâu, tự bản thân nó cũng sẽ lòi ra cái “đuôi cáo” giấu trong bộ lông sặc sỡ. Trên không gian mạng, những sản phẩm tuyên truyền của họ được ngụy trang dưới những thuật ngữ gọi là “sự thật”, “chính kiến”, “góc nhìn”, “suy nghĩ”, “chuyện riêng”... không khó để nhận ra những nội dung, thông điệp được họ cài cắm trong những câu chuyện, dòng trạng thái, cuộc trao đổi...
     Đó có thể là video trên trang cá nhân của một du học sinh có tư tưởng cực đoan, buổi Livestream của một người tự xưng là “học giả”, “nhà nghiên cứu”... Đáng chú ý là, trước khi thực hiện các nội dung tuyên truyền, chủ của các tài khoản mạng xã hội ấy thường tạo dựng lòng tin, gây thiện cảm với người khác bằng cách khéo léo giới thiệu nhân thân của mình.
     Chẳng hạn, bản thân từng là học sinh giỏi, sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, từng được giáo dục chu đáo, từng tự hào về Đảng... Nhưng khi ra nước ngoài, được học tập, được tiếp xúc, mở mang tầm hiểu biết thì sự thật lại không như những gì được giáo dục, học tập khi ở nhà...
     Điều đáng nói là những sản phẩm truyền thông ấy thu hút sự tương tác của khá nhiều người, nhất là giới trẻ, cả trong nước và du học sinh, kiều bào. Không ít người bày tỏ thái độ yêu thích, ủng hộ, hưởng ứng. Họ dễ tin vào thứ “mật ngọt chết ruồi” ấy bởi nhiều người bị kéo vào góc nhìn do đối tượng đã bố trí sẵn. Từ việc tương tác, hưởng ứng thông điệp cực đoan, một số người quay lưng thể hiện thái độ “thất vọng” với Đảng, Nhà nước; phủ nhận thành quả cách mạng của cha ông, cổ súy tư tưởng hướng ngoại.
     Để nhận diện rõ phương thức chống phá tinh vi của các thế lực thù địch thông qua các sản phẩm truyền thông như đã nêu trên, công chúng không gian mạng cần xác định, lựa chọn góc nhìn đúng đắn. Hiện thực khách quan chỉ có một. Bày tỏ thái độ như thế nào, phụ thuộc vào góc nhìn của bạn. Không ai phản đối việc các bạn trẻ khi ra nước ngoài học tập, làm việc, có đam mê nghiên cứu, học hỏi, lắng nghe dư luận bạn bè quốc tế đánh giá về đất nước mình, dân tộc mình, tiên tổ, ông cha mình, kể cả quan điểm của những cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam.
     Tuy nhiên, tất cả đều là những góc nhìn tham chiếu. Để đánh giá hiện thực, cần một cái nhìn tổng thể dựa trên thế giới quan, phương pháp luận khoa học.
     Khi bạn bị kẻ xấu dẫn dụ vào góc nhìn thiên lệch, võ đoán, cực đoan theo ý đồ của họ, lịch sử dân tộc và hiện thực đất nước tất yếu sẽ bị bóp méo, phiến diện. Câu chuyện dân gian về thi nhân và đạo tặc nhắc nhở chúng ta rằng, khi mình có góc nhìn đúng đắn, sẽ có thái độ tích cực. Có thái độ tích cực mới tạo ra năng lượng tích cực để có hành động vì chân lý, lẽ phải, biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.
     Đánh giá về lịch sử đất nước, về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mà lại nhìn qua lăng kính của kẻ từng đi xâm lược Tổ quốc mình rồi coi đó là “hiện thực khách quan”, kêu gọi Đảng, Nhà nước phải thay đổi chủ trương, đường lối... thì đó là cách làm phản khoa học, phi thực tế. Hành trang, điều kiện để thúc đẩy hòa hợp dân tộc là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai tươi đẹp để chung tay xây dựng đất nước phồn vinh. Lấy cớ hòa hợp dân tộc để “tẩy sử”, “lật sử” là hành vi của đạo tặc, cần phải đấu tranh lên án và loại bỏ.
     Đường lối, chủ trương, phương châm đối ngoại, quan hệ quốc tế của Việt Nam là chọn chính nghĩa và lẽ phải, không chọn bên. Là những công dân, những trí thức trẻ ra nước ngoài học tập, làm việc, điều tuyệt vời nhất các bạn trẻ cần làm đó là hãy chứng minh, chứng tỏ mỗi công dân là một “sứ giả” của văn hóa dân tộc, của vị thế quốc gia.
     Diện mạo đất nước cũng như đêm trăng sáng. Đó là hiện thực khách quan. Vì lý do gì mà bạn không đứng ở vị trí của thi nhân, lại để kẻ xấu lôi kéo làm đạo tặc?
Yêu nước ST.

 

Đấu tranh, ngăn chặn các tà đạo ở nước ta hiện nay

 

Tà đạo là đạo giáo chuyên dùng bùa phép mê hoặc người; đường lối sai quấy không chính đáng. Ở Việt Nam, những năm qua, tà đạo thường xuất hiện và phát triển mạnh ở vùng nông thôn, vùng sâu xa, nhất là địa bàn Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc.  Các tổ chức này đã thu hút được một số lượng người tin theo, trong đó có tà đạo đã lôi kéo hàng nghìn người tham gia, sinh hoạt tại nhiều địa phương, như: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn, Pháp Luân Công và đặc biệt gần đây là tà đạo Hội Thánh đức Chúa. Việc tuyên truyền, phát triển tà đạo đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, gây tâm lý bức xúc, hoang mang trong một bộ phận quần chúng và tín đồ các tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm phức tạp tình hình ANCT-TTATXH tại địa phương.

          Hoạt động của các tà đạo chủ yếu nhằm thực hành các hoạt động mê tín dị đoan, thực hành tín ngưỡng phản khoa học, phi đạo đức và văn hóa nhằm thu lợi bất chính, như yêu cầu người tin theo phải đóng góp tiền của, công sức xây dựng mới hay tu sửa nơi thờ tự, phục vụ hoạt động duy trì và phát triển tổ chức của các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Riêng đối với một số tà đạo như: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn… các đối tượng cầm đầu, cốt cán thu hút, lôi kéo người tham gia tổ chức nhằm chống phá chính quyền, cản trở việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, xâm phạm ANCT-TTATXH tại địa phương.

Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn các tà đạo ở nước ta hiện nay, đòi hỏi các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, đặc biệt là quản lý và định hướng các sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng theo thuần phong mỹ tục của dân tộc và phù hợp với luật pháp.T ăng cường xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh cho mọi người dân nhằm tạo “sức đề kháng”, “miễn dịch” mạnh mẽ trước hoạt động của các tà đạo.  Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Chủ động triển khai nắm tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lôi kéo, thu hút người tham gia các hội nhóm tà đạo để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các hoạt động tụ họp nhóm hoặc có hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo không được cơ quan chức năng cho phép để vận động quần chúng giải tán, đồng thời cô lập, răn đe những kẻ cầm đầu, cốt cán trong hội nhóm tà đạo. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH tại địa phương. 

 

Chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng –

 mưu đồ không thay đổi của các thế lực thù địch


Mặc dù thế giới đương đại trong nửa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những biến đổi sâu sắc, song chủ nghĩa Mác – Lê-nin với bản chất cách mạng và khoa học vẫn là một cơ sở lý luận quan trọng hàng đầu hướng dẫn nhận thức và cải tạo thế giới. Lý tưởng về một chủ nghĩa cộng sản đem lại công bằng, hạnh phúc, không còn áp bức, búc lột vẫn là ước mơ, hoài bảo của hàng triệu con người trên toàn cầu. Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh được ra đời từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước, trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cả trước đây và hiện nay. Trên tinh thần đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đó lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Như vậy, sự lựa chọn nền tảng tư tưởng của Đảng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, mà mang tính khách quan, khoa học.

Thực tế lãnh đạo đất nước hơn 85 năm qua đó cho thấy, nhờ kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển, giành những thắng lợi to lớn. Những thắng lợi đó đó đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đó trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rói, vị thế đất nước ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là chưa có tiền lệ, có nhiều khó khăn phức tạp. Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta không tránh khỏi những khuyết điểm, thậm chí sai lầm. Đó cũng là điều bình thường của một Đảng cầm quyền. Vấn đề quan trọng là Đảng ta không bảo thủ, trì trệ; đó kịp thời tự kiểm điểm một cách nghiêm túc để nhận ra và kiên quyết sửa chữa, khắc phục. Thế nhưng, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, với mục tiêu chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trước hết là tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng đó lợi dụng và thổi phồng những hạn chế đó, rồi xuyên tạc, quy chụp nguyên nhân là do chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, cứ trong các dịp Đảng ta tiến hành đại hội thì sự chống phá của các thế lực thự địch càng ráo riết hơn, quyết liệt hơn. Lần này cũng vậy, mục đích của chúng là không thay đổi, song thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cũng ra sức xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng: Hồ Chí Minh là người theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm phương tiện để thực hiện tư tưởng của mình nhờ đó tạo ra những sai lầm lịch sử. Chúng cũng tìm mọi cách để bôi nhọ, xuyên tạc nhân cách đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất chấp việc Người là hiện thân của nhân văn, biểu tượng về nhân cách, luôn ở trong con tim, khối óc của nhân dân Việt Nam và thế giới và những đóng góp xứng đáng của Người vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Dù các thế lực thù địch có nói gỡ đi chăng nữa, thực tiễn luôn là thước đo chuẩn xác nhất để kiểm chứng sự đúng - sai học thuyết, đường lối lónh đạo của các chính đảng. Những thành tựu rất đáng tự hào, khởi đầu từ Cách mạng Tháng Tám trong 70 năm qua, nhất là 30 năm đổi mới của cách mạng Việt Nam là minh chứng hùng hồn, không ai có thể xuyên tạc, bác bỏ được vai trũ của Đảng Cộng sản Việt Nam và nền tảng tư tưởng của Đảng.

Góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

Dưới sự lónh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Ban Bí thư và Bộ Chính trị, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị, cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng đó được tiến hành rộng khắp trên các lĩnh vực, đạt được kết quả quan trọng. Hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xó hội, tin tưởng vào cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh được giữ vững, khẳng định địa vị thống trị trong đời sống chính trị - tinh thần ở nước ta, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Mặc dù vậy, hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có mặt chưa cao; một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân cũn bị ảnh hưởng bởi những quan điểm sai trái, thù địch, dẫn đến hoài nghi, thiếu tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Trước tình hình đó, để tăng cường sự thống nhất tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, tạo đồng thuận xã hội, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, chuẩn bị thấu đáo, chất lượng, hiệu quả cho Đại hội XIII sắp tới, chúng ta cần quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị một cách hiệu quả nhất, hướng tới chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vững tin vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi tư tưởng đó thông suốt, niềm tin có cơ sở khoa học vững chắc, trở thành chất keo đặc biệt gắn kết quan hệ giữa Đảng với nhân dân, đưa tới thống nhất về hành động, làm cho cả dân tộc đồng cùng, chung sức, tạo thành lực lượng vật chất vô cùng to lớn, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Để thực hiện được, trước hết các cấp ủy đảng cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan các cấp đối với công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch. Tập trung xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xác định mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng đúng đắn, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lãnh đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật, các quy chế quản lý thông tin, báo chí, xuất bản, cơ chế cung cấp thông tin, phát ngôn. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác tổ chức, cán bộ; phũng, chống nội giỏn, bảo vệ bớ mật Quốc gia. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong phát hiện, xử lý những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển húa”, cơ hội chính trị; giải quyết triệt để các vấn đề nảy sinh, phũng ngừa, ngăn chặn sự can thiệp, móc nối của các thế lực thù địch.

Hai là, tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chớnh trị, tư tưởng, “sức tự đề kháng” cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân. Để làm được điều đó, cần chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chớnh trị trong hệ thống cỏc nhà trường. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc về đối tượng, âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Từ đó, định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.

Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, góp phần làm rừ, bổ sung và hoàn thiện nền tảng tư tưởng; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục nghiên cứu khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xu hướng vận động của nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,… để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả.

Bốn là, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hỡnh thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để chúng lợi dụng những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí chủ động, kịp thời thông tin làm rừ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, chương trỡnh, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài đấu tranh trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông.

Năm là, chỳ trọng xây dựng lực lượng nũng cốt, chuyên sâu trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Đó là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ xó hội chủ nghĩa. Chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm đấu tranh; bảo đảm cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở cỏc viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, cơ quan, đơn vị ở Trung ương và các địa phương, đội ngũ phóng viên, biên tập viên các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản - lực lượng nũng cốt, tiên phong trong đấu tranh bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng. Chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin, không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá.

Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các cấp, các ngành, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hũa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hũa bình, ổn định để phát triển đất nước.

 

 

 

CÓ PHẢI THAM NHŨNG, SUY THOÁI, THOÁI HÓA, BIẾN CHẤT CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG ĐẢNG TA HIỆN NAY LÀ PHỔ BIẾN, LÀ CĂN BỆNH NAN Y KHÔNG THỂ CHỮA TRỊ?                                                                                                                       

Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất ở nước ta đang diễn ra rất quyết liệt, đã có kết quả bước đầu, không có vùng cấm, không kể cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, tham nhũng vật chất hay tham nhũng quyền lực. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh. Trước tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh việc công kích, chống phá Đảng và Nhà nước ta; rêu rao nói xấu đội ngũ cán bộ, lặp lại luận điểm cho rằng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta đã không còn đủ khả năng, uy tín để lãnh đạo đất nước, đã tham nhũng, suy thoái, biến chất trở thành những kẻ “đè đầu cưỡi cổ” nhân dân và cho rằng đây là hiện tượng phổ biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị… từ đó nhằm làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của đảng viên và quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, từng bước tạo dựng cơ sở, xác lập chế độ đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam.

Để lập luận, minh chứng cho luận điểm này chúng đưa ra nhiều luận điệu xảo trá để tấn công, chống phá như:

 Cho rằng, chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo sẽ không chống được tham nhũng; “chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”; “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công”; “Đảng không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”… nhằm mục đích bôi nhọ, phú nhuận và chống lại quyết tâm phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta.

Từ  một số vụ việc tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất được phát hiện trong thời gian gần đây, chúng lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa cho rằng, toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng đều rơi vào tình trạng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất, suy ra thành Đảng, Nhà nước tham nhũng và đó là bản chất, là căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ “độc đảng” cầm quyền, dẫn tới hậu quả là “nền kinh tế đất nước kiệt quệ” do tình trạng tham nhũng, suy thoái…

Phủ nhận kết quả, thành tựu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta; cho rằng Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần phát động chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất nhưng đều thất bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng; cho rằng, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái của Đảng, Nhà nước ta chỉ là “đấu đá nội bộ”, “thanh trừ phe phái”.

Các quan điểm sai trái nêu trên đã bộc lộ giã tâm, mưu đồ đen tối là bôi nhỏ hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta; chống phá quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó góp phần phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin, đặc biệt là niềm tin vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong nhân dân.

Có thể thấy đây là quan điểm sai lầm, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá, nhiều nhận xét là chủ quan, vô căn cứ và mang tính áp đặt, cực đoan. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học, khách quan để bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trên, khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên:

Thứ nhất, tham nhũng suy thoái, thoái hóa, biến chất, tồn tại ở mọi chế độ vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực bị tha hóa

Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Suy thoái, thoái hóa biến chất là hiện tượng đội ngũ cán bộ thiếu tu dưỡng, rèn luyện; quan điểm, bản lĩnh, lập trường tư tưởng không kiên định vữngvàng, hoang mang dao động trước những tác động từ bên ngoài, tính chiến đấu giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém; cơ hội, thực dụng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phật của mình… Tham nhũng, suy thoái là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ một đảng hay đa đảng. Chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ.

Bởi thế, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra với nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”, do giai cấp tư sản lãnh đạo, thậm chí ở một số quốc gia còn có biểu hiện nguy hiểm, tình trạng tham nhũng còn leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như ở một số nước: Hàn Quốc, Malaysia. Cũng theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, một số nước theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền như: Colombia, Brazil, Malaysia... thuộc nhóm nước “tham nhũng nghiêm trọng”. Rõ ràng, việc cho rằng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chỉ có ở những nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo là hết sức sai lầm, phản khoa học, ngụy biện, quy chụp.

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có đầy đủ phẩm chất, năng lực để lãnh đạo hiệu quả, triệt để công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất

Để khẳng định một chính đảng, một nhà nước mới chung, Đảng, Nhà nước ta nói riêng có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hòa, biến chất hiệu quả, triệt để hay không cần căn cứ vào sứ mệnh, mục tiêu, nguyên tắc tổ chức hoạt động, bản chất quyền lực nhà nước và đặc điểm đội ngũ cán bộ của đảng, nhà nước đó để đánh giá.

Trước hết phải khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng ta không còn lợi ích nào khác. Mục tiêu của Đảng là xây dựng một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng phát triển”2. Đó là mục đích, lý tưởng cao cả không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động dựa trên nhiều nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc tự phê bình và phê bình, kỷ luật tự giác nghiêm minh; Đảng ta cũng xác định cần phải làm tốt công tác xây dựng Đảng thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng, coi đây là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên nguyên tắc. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình yêu cầu từng cán bộ, đảng viên phải thường xuyên kiểm điểm, đánh giá, thấy được những ưu điểm, hạn chế của mình, từ đó tự sửa chữa, hoàn thiện để “phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phân xấu bị dần dần mất đi”, không bị rơi vào tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đảng cũng yêu cầu, các tổ chức đảng và đảng viên nên phải thường xuyên thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách nghiêm minh và tứ giác; mọi cán bộ, đảng viên phải tuân thủ, chấp hành theo kỷ luật của Đảng một cách tự giác, nghiêm túc.

Đối với quyền lực của Nhà nước ta, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”1.

Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, Đảng và Nhà nước ta phải hết sức quan tâm đến đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta phải là những người đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết, như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẵn sàng hi sinh chấp nhận khó khăn gian khổ vì đất nước ,vì dân tộc, luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước, dân tộc, nhân dân lên trên hết và trước lợi ích của cá nhân. Đảng kết nạp những người con ưu tú, là công bộc của nhân dân, hăng hái, giác ngộ, được rèn luyện, thử thách, tự nguyện chiến đấu trong hàng ngủ của Đảng, đồng thời loại trừ những kẻ cơ hội, quan liêu, tham nhũng, suy thoái, lãng phí, thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng, Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò đặc biệt của nhân dân, phát huy, thực hành dân chủ rộng rãi, cuốn hút, lôi cuốn nhân dân tham gia vào các công việc của Đảng, của Nhà nước, trong đó có công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất.

Thứ ba, Đảng và Nhà nước ta có quyết tâm chính trị cao trong phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ và được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp, trên nhiều phương diện khác nhau.

 Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức giõ tính nguy hại của tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, vì nó làm suy yếu Đảng, làm suy yếu quyền lực Nhà nước, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh danh của Đảng và Nhà nước ta, dễ tạo ra nguy cơ biến bộ máy chính quyền và các tổ chức đảng trở thành bộ máy quan liêu mới, xa rời lợi ích của Đảng, của nhân dân. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống khắc phục tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, trong đảng viên và cán bộ nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, suy thoái, biến chất là “giặc nội xâm”, phải kiên quyết đấu tranh, loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Đảng và Nhà nước ta xác định phòng chống tham nhũng, suy thoái là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng ta xác định phải chủ đông phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, bao che, dụng túng tiếp tay cho tham nhũng; phải kết hợp giữa “xây” và “chống” phòng ngừa gắn với xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong phòng chống tham nhũng ở Việt Nam…

Thể hiện quyết tâm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất, Văn kiện các Đại hội của Đảng và nhiều chỉ thị, nghị quyết, chuyên đề của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất đã ra đời sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, thì ngay sau đó, chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về mối nguy cơ một số đảng viên của Đảng quan liêu, xa dân, tham ô, hủ hóa, rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tham ô, tham nhũng, lãng phí là những tội nghiêm trọng. Người chỉ giõ bản chất của tham ô, tham nhũng là lấy của công làm của tư, làm gian lận tham lam, tham ô là trộm cướp.

Trong những năm chiến tranh chống thực dân Pháp, chống Đế quốc Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới, Đảng ta cũng quan tâm và tổ chức nhiều cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với những biểu hiện tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên .Trong nhiệm kỳ đầu của thời kỳ đổi mới, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994 Đảng ta xác định, tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ của Đảng ta. Trong nhiệm kỳ tiếp theo không có nhiệm kỳ nào trung ương đảng không có nghị quyết liên quan đến phòng, chống quan liêu, tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất; trong đó có các nghị quyết tiêu biểu như: Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) toán VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay; Kết luận hội nghị trung ương 4 khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí; Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh được xác định là một nội dung quan trọng, cần đẩy mạnh, tăng cường: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”2.

Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất, Nhà nước ta cũng đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng chống các tệ nạn này. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả. Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương được thành lập (Ban Nội chính các tỉnh, thành phố sắp được kiện toàn) và đã đi vào hoạt động có nề nếp, hiệu quả. Nhà nước đã ban hành Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Các cấp ủy Đảng, chính quyền ở Trung ương đến địa phương quan tâm hơn đến công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp đã dành nhiều thời gian, công sức hơn để giám sát công tác này. Các cơ quan như ủy ban kiểm tra, ban nội chính,  thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, công an, viện kiểm sát, tòa án… được củng cố một bước cả về thẩm quyền pháp lý, cơ chế hoạt động, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất.

Quyết tâm phòng, chống suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta còn được biểu hiện ở Việt Nam tham gia và ký kết nhiều văn bản quốc tế về phòng, chống tham nhũng như: Công ước Liên hợp quốc về phòng,, chống tham nhũng (năm 2003); tham gia Chương trình hành động chống tham nhũng châu Á - Thái Bình Dương (năm 2004); tham gia các hoạt động trong một số diễn đàn về phòng ngừa và chống tham nhũng. Hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng giữa Việt Nam với nhiều quốc gia trên thế giới tiếp tục được mở rộng và củng cố. Việt Nam ký kết nhiều hiệp định tương trợ tư pháp với các nước. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận giải quyết nhiều hồ sơ, văn bản ủy thác tư pháp của nhiều nước.

Thứ tư, xét trên phương diện thực tiễn phần lớn đội ngũ cán bộ, đảng viên đều giữ được phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, số cán bộ, đảng viên tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất chỉ là thiểu số.

Ở đây, cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng, giữa thiểu số và đa số không thể phủ nhận trong thực tiễn cũng có những cán bộ, Đảng viên có biểu hiện tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất. Tuy nhiên, đó chỉ là thiểu số, ít ỏi so với đa số cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.  Những cán bộ đó đều bị dư luận lên án, bị nhận những hình thức xử lý nghiêm khắc của Đảng, thậm chí có trường hợp bị thanh loại khỏi tổ chức đảng. Cuộc đấu tranh tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực những năm qua được Đảng ta đẩy mạnh: “Huy động được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”5. Những cán bộ, đảng viên suy thoái, không bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức đều bị phê bình, kiểm điểm, kỷ luật. Điều đó khẳng định quyết tâm và kết quả phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng, Nhà nước ta; đồng thời bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ trong đảng ta hiện nay là phổ biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị.

Những cơ sở lý luận, thực tiễn trên đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định phẩm chất, uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn; tình trạng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước đạt hiệu quả cao, đồng thời bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; cần tiến hành đồng bộ các giải pháp:

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân; xây dựng chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ. Tiến hành đồng thời việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

Hai là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Gắn công tác cán bộ với việc thực hiện chủ trương của Đảng về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tiếp tục triển khai nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ gắn với tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu trong công tác cán bộ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Tổng kết việc thí điểm thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng... Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ, gắn đánh giá cá nhân với tập thể, với kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí chức danh lãnh đạo chủ chốt không phải là người địa phương.

Ba là, tập trung rà soát, thể chế hoá kịp thời chủ trương của Đảng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hiện có, bảo đảm đồng bộ, thống nhất giữa quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hoàn thiện các cơ chế về phân cấp quản lý cán bộ; tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; xây dựng cơ chế phát hiện, lựa chọn, trọng dụng nhân tài, cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trẻ để đào tạo, bổ sung cán bộ cho Đảng. Nghiên cứu, ban hành các cơ chế về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; cơ chế bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật. Phát huy vai trò và nâng cao chất lượng phản biện xã hội của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác xây dựng pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực như: Công tác cán bộ, tài chính, ngân sách, tài sản công, đất đai, tài nguyên, thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, hải quan, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án...

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, khiếu kiện kéo dài. Uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" ngay tại cơ sở, chi bộ. Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát chuyên đề; tăng cường kiểm tra, giám sát việc tự phê bình và phê bình, thực hiện trách nhiệm nêu gương và khắc phục khuyết điểm của tập thể, cá nhân. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, liên quan đến tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng được dư luận xã hội quan tâm, nhất là những vụ án, vụ việc do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Phối hợp đồng bộ, tạo sự chuyển biến rõ nét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán vững mạnh. Chú trọng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan phòng, chống, tham nhũng, tiêu cực.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; của báo chí. Chú trọng giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và nêu gương của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ, đảng viên và công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Hoàn thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị, nhất là công tác dân vận của chính quyền các cấp.

Như vậy, quan điểm suy diễn của các thế lực thù địch cho rằng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất của đội ngũ cán bộ trong Đảng và Nhà nước ta là phổ biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị là quan điểm chủ quan, phản động, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, quan điểm này đã dựa trên những phân tích, nhận xét phi khoa học, một chiều áp đặt. Về thực tiễn, quan điểm này hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế, cường điệu hóa khi không thấy rõ quyết tâm và kết quả phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học, khách quan để bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định phẩm chất, uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.