Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023
"CÁI TÔI" MỘT BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN PHƯƠNG TÂY!
Theo dấu chân Người ngày 7-1-1946
Ngày 7-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Chính phủ để nghe báo cáo của các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Canh nông sau chuyến kinh lý tại Ninh Bình và Thanh Hóa, Nghệ An và bàn việc động viên nhân dân cả nước hướng về và chi viện cho Nam bộ. Khi bàn về vấn đề chi viện cho Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cần phải thống nhất quân đội ngay để có thể tiếp viện cho Nam Bộ”.
Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai giảng Trường Cán bộ Tự vệ Hồ Chí Minh. Trước 75 học viên của khóa cán bộ đầu tiên được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, Bác căn dặn: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Phân tích yếu tố tinh thần, Bác Hồ đưa ra một nguyên lý sáng suốt: “Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm” .
Ngày 7-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp nêu rõ lập trường rất mềm mỏng: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này; hoà bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc. Dân tộc Việt Nam đang chờ đợi cử chỉ đó”.
Nửa thập kỷ sau đó đó diễn ra một cao trào từ phong trào Đồng Khởi đến cuộc đương đầu chống “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ mà đỉnh cao là hai chiến thắng vang dội từ Ấp Bắc (1963) đến Bình Gió (cuối 1964). Với bút danh “Chiến Sĩ”, Bác viết bài đăng báo Nhân dân ngày 7-1-1965 với tiêu đề “Điện Biên Phủ nhỏ và Nhịp cầu vàng”. Bài báo một mặt vinh danh hai trận thắng trên là “Điện Biên Phủ nhỏ” nhưng để đi đến thắng lợi hoàn toàn còn cần bắc một “Nhịp cầu vàng” để nước Mỹ rút lui khỏi cuộc chiến tranh mà không bị mất mặt.
Thực tiễn cho thấy, sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân (1968), Mỹ đẫ phải bước vào bàn đàm phán tại Pari và 5 năm sau đó (1973) “Nhịp cầu vàng” đó tạo cơ hội cho Mỹ “rút lui mà khỏi mất mặt”... Để rồi không đầy hai năm sau (1975), miền Nam hoàn toàn giải phóng...
- Theo QĐND-
Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2023
PHÁT HUY NỀN TẢNG CHÂN LÝ LỊCH SỬ NGÀY 07/01/1979!
THI NHÂN VÀ ĐẠO TẶC!
Đấu tranh, ngăn chặn các tà đạo ở nước
ta hiện nay
Tà
đạo là đạo giáo chuyên dùng bùa phép mê hoặc người; đường lối sai quấy không
chính đáng. Ở Việt Nam, những năm qua, tà đạo thường xuất hiện và phát
triển mạnh ở vùng nông thôn, vùng sâu xa, nhất là địa bàn Tây Nam Bộ,
Tây Nguyên, Tây Bắc. Các tổ chức này đã
thu hút được một số lượng người tin theo, trong đó có tà đạo đã lôi kéo
hàng nghìn người tham gia, sinh hoạt tại nhiều địa phương,
như: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn, Pháp Luân Công và đặc biệt gần
đây là tà đạo Hội Thánh đức Chúa. Việc tuyên truyền, phát
triển tà đạo đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, gây tâm lý
bức xúc, hoang mang trong một bộ phận quần chúng và tín đồ các tôn giáo, chia
rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm phức tạp tình hình ANCT-TTATXH tại địa
phương.
Hoạt
động của các tà đạo chủ yếu nhằm thực hành các hoạt động mê tín dị đoan, thực
hành tín ngưỡng phản khoa học, phi đạo đức và văn hóa nhằm thu lợi bất chính,
như yêu cầu người tin theo phải đóng góp tiền của, công sức xây dựng mới hay tu
sửa nơi thờ tự, phục vụ hoạt động duy trì và phát triển tổ chức của các đối tượng
cầm đầu, cốt cán. Riêng đối với một số tà đạo như: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn… các
đối tượng cầm đầu, cốt cán thu hút, lôi kéo người tham gia tổ chức nhằm chống
phá chính quyền, cản trở việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội,
xâm phạm ANCT-TTATXH tại địa phương.
Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn các tà đạo ở
nước ta hiện nay, đòi hỏi các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt
công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, đặc biệt là quản lý và định hướng các
sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng theo thuần phong mỹ tục của dân tộc và phù hợp
với luật pháp.T ăng cường xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú,
lành mạnh cho mọi người dân nhằm tạo “sức đề kháng”, “miễn dịch” mạnh mẽ trước
hoạt động của các tà đạo. Tiếp tục đẩy mạnh
công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Chủ động
triển khai nắm tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lôi kéo, thu
hút người tham gia các hội nhóm tà đạo để triển khai các biện pháp phòng ngừa,
đấu tranh. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các hoạt động tụ họp
nhóm hoặc có hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo không được cơ quan chức
năng cho phép để vận động quần chúng giải tán, đồng thời cô lập, răn đe những kẻ
cầm đầu, cốt cán trong hội nhóm tà đạo. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội,
không ngừng nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu
số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường củng cố quốc phòng, an
ninh, bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH tại địa phương.
Chống
phá nền tảng tư tưởng của Đảng –
mưu đồ không thay đổi của các thế lực thù địch
Mặc dù thế giới đương đại trong nửa
cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những biến đổi sâu sắc, song chủ nghĩa Mác
– Lê-nin với bản chất cách mạng và khoa học vẫn là một cơ sở lý luận quan trọng
hàng đầu hướng dẫn nhận thức và cải tạo thế giới. Lý tưởng về một chủ nghĩa
cộng sản đem lại công bằng, hạnh phúc, không còn áp bức, búc lột vẫn là ước mơ,
hoài bảo của hàng triệu con người trên toàn cầu. Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí
Minh được ra đời từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin
vào điều kiện cụ thể của đất nước, trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là hệ thống
quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản, nhân tố quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cả trước đây và hiện nay. Trên tinh thần đó,
Đảng Cộng sản Việt Nam đó lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Như vậy, sự lựa chọn nền tảng
tư tưởng của Đảng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, mà mang tính khách quan,
khoa học.
Thực tế lãnh đạo đất nước hơn 85 năm
qua đó cho thấy, nhờ kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển,
giành những thắng lợi to lớn. Những thắng lợi đó đó đưa nước ta từ một xứ thuộc
địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con
đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đó trở thành người làm
chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu,
đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rói, vị
thế đất nước ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là chưa có tiền lệ, có
nhiều khó khăn phức tạp. Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong quá
trình lãnh đạo, Đảng ta không tránh khỏi những khuyết điểm, thậm chí sai lầm.
Đó cũng là điều bình thường của một Đảng cầm quyền. Vấn đề quan trọng là Đảng
ta không bảo thủ, trì trệ; đó kịp thời tự kiểm điểm một cách nghiêm túc để nhận
ra và kiên quyết sửa chữa, khắc phục. Thế nhưng, trong nhiều năm qua, các thế
lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, với mục tiêu chống phá Đảng
Cộng sản Việt Nam, mà trước hết là tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của
Đảng đó lợi dụng và thổi phồng những hạn chế đó, rồi xuyên tạc, quy chụp nguyên
nhân là do chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, cứ trong các
dịp Đảng ta tiến hành đại hội thì sự chống phá của các thế lực thự địch càng
ráo riết hơn, quyết liệt hơn. Lần này cũng vậy, mục đích của chúng là không
thay đổi, song thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt.
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phần
tử cơ hội cũng ra sức xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng: Hồ Chí Minh
là người theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm phương
tiện để thực hiện tư tưởng của mình nhờ đó tạo ra những sai lầm lịch sử. Chúng
cũng tìm mọi cách để bôi nhọ, xuyên tạc nhân cách đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, bất chấp việc Người là hiện thân của nhân văn, biểu tượng về nhân cách,
luôn ở trong con tim, khối óc của nhân dân Việt Nam và thế giới và những đóng
góp xứng đáng của Người vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng con người.
Dù các thế lực thù địch có nói gỡ đi
chăng nữa, thực tiễn luôn là thước đo chuẩn xác nhất để kiểm chứng sự đúng -
sai học thuyết, đường lối lónh đạo của các chính đảng. Những thành tựu rất đáng
tự hào, khởi đầu từ Cách mạng Tháng Tám trong 70 năm qua, nhất là 30 năm đổi
mới của cách mạng Việt Nam là minh chứng hùng hồn, không ai có thể xuyên tạc,
bác bỏ được vai trũ của Đảng Cộng sản Việt Nam và nền tảng tư tưởng của Đảng.
Góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư
tưởng của Đảng
Dưới sự lónh đạo, chỉ đạo của Trung
ương Đảng, Ban Bí thư và Bộ Chính trị, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng,
sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ
quan, địa phương, đơn vị, cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng đó được tiến hành rộng khắp trên
các lĩnh vực, đạt được kết quả quan trọng. Hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng
vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác – Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xó hội,
tin tưởng vào cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh được giữ vững, khẳng
định địa vị thống trị trong đời sống chính trị - tinh thần ở nước ta, trở thành
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Mặc dù vậy, hiệu quả đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có mặt chưa cao; một bộ phận
cán bộ, đảng viên, nhân dân cũn bị ảnh hưởng bởi những quan điểm sai trái, thù
địch, dẫn đến hoài nghi, thiếu tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng, có
biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”.
Trước tình hình đó, để tăng cường sự
thống nhất tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, tạo đồng thuận xã hội, thiết
thực góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, chuẩn bị
thấu đáo, chất lượng, hiệu quả cho Đại hội XIII sắp tới, chúng ta cần quán
triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị một
cách hiệu quả nhất, hướng tới chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân vững tin vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, tin tưởng vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện
tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi tư tưởng đó thông suốt, niềm tin
có cơ sở khoa học vững chắc, trở thành chất keo đặc biệt gắn kết quan hệ giữa
Đảng với nhân dân, đưa tới thống nhất về hành động, làm cho cả dân tộc đồng cùng,
chung sức, tạo thành lực lượng vật chất vô cùng to lớn, thúc đẩy sự nghiệp cách
mạng tiến lên, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Để thực hiện được, trước hết
các cấp ủy đảng cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò quản
lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan các cấp đối với
công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch. Tập
trung xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư
tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xác định
mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng đúng đắn, hiệu
quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lãnh đạo hoàn
thiện hệ thống pháp luật, các quy chế quản lý thông tin, báo chí, xuất bản, cơ
chế cung cấp thông tin, phát ngôn. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo
vệ chính trị nội bộ, công tác tổ chức, cán bộ; phũng, chống nội giỏn, bảo vệ bớ
mật Quốc gia. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong phát hiện,
xử lý những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển húa”, cơ hội chính trị; giải
quyết triệt để các vấn đề nảy sinh, phũng ngừa, ngăn chặn sự can thiệp, móc nối
của các thế lực thù địch.
Hai là, tăng cường và nâng cao chất
lượng giáo dục lý luận chớnh trị, tư tưởng, “sức tự đề kháng” cho cán
bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân. Để làm được điều đó, cần chú
trọng nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chớnh trị trong hệ thống cỏc nhà
trường. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ
nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng, phát triển của Đảng.
Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm
lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm
tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận
thức đầy đủ, sâu sắc về đối tượng, âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của
các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình
hiện nay. Từ đó, định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng
trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù
địch.
Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận,
tổng kết thực tiễn, góp phần làm rừ, bổ sung và hoàn thiện nền tảng tư
tưởng; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục nghiên cứu khẳng định và cụ thể hóa
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các
giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Quan tâm nghiên cứu để dự
báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước; dự báo âm mưu, thủ đoạn
chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là
trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xu hướng vận động của nguy cơ “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”,… để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù
hợp, hiệu quả.
Bốn là, phối hợp chặt chẽ giữa các lực
lượng chức năng, đa dạng hóa các hỡnh thức đấu tranh phản bác những quan điểm
sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp
giữa các ban, bộ, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa
phương để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các
thế lực thù địch. Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình,
trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để chúng lợi
dụng những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để
xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đa
dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện
pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm
chính. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí chủ động, kịp thời
thông tin làm rừ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân. Xây dựng
các chuyên trang, chuyên mục, chương trỡnh, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài
đấu tranh trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông.
Năm là, chỳ trọng xây dựng
lực lượng nũng cốt, chuyên sâu trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai
trái, thù địch. Đó là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị
vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục,
có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ xó hội chủ nghĩa. Chú trọng nâng tầm lý
luận sắc sảo, kinh nghiệm đấu tranh; bảo đảm cơ sở vật chất, chính sách
đãi ngộ thỏa đáng cho đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở
cỏc viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, cơ quan, đơn vị ở Trung ương và các
địa phương, đội ngũ phóng viên, biên tập viên các cơ quan thông tấn, báo chí,
xuất bản - lực lượng nũng cốt, tiên phong trong đấu tranh bảo vệ trận địa tư
tưởng của Đảng. Chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin,
không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá.
Đấu tranh phản bác những luận điệu sai
trái của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến
đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc
Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực
lượng, các cấp, các ngành, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến
hũa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước, bảo
vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hũa bình, ổn định để
phát triển đất nước.
CÓ PHẢI THAM NHŨNG, SUY THOÁI, THOÁI HÓA, BIẾN CHẤT CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG ĐẢNG TA HIỆN NAY LÀ PHỔ BIẾN, LÀ CĂN BỆNH NAN Y KHÔNG THỂ CHỮA TRỊ?
Trong
thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất ở nước ta đang diễn ra
rất quyết liệt, đã có kết quả bước đầu, không có vùng cấm, không kể cán bộ
đương chức hay đã nghỉ hưu, tham nhũng vật chất hay tham nhũng quyền lực. Nhiều
vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ
án nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo,
điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh. Trước tình hình đó, các thế lực thù
địch, phản động đẩy mạnh việc công kích, chống phá Đảng và Nhà nước ta; rêu rao
nói xấu đội ngũ cán bộ, lặp lại luận điểm cho rằng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà
nước ta đã không còn đủ khả năng, uy tín để lãnh đạo đất nước, đã tham nhũng,
suy thoái, biến chất trở thành những kẻ “đè đầu cưỡi cổ” nhân dân và cho rằng đây
là hiện tượng phổ biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị… từ đó nhằm làm
mất uy tín của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của đảng viên và quần
chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, từng bước tạo
dựng cơ sở, xác lập chế độ đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam.
Để lập luận, minh
chứng cho luận điểm này chúng đưa ra nhiều luận điệu xảo trá để tấn công, chống
phá như:
Cho rằng,
chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo sẽ không chống được tham nhũng; “chỉ có thể
chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát
quyền lực”; “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy
thoái thành công”; “Đảng không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái, thoái
hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”… nhằm mục
đích bôi nhọ, phú nhuận và chống lại quyết tâm phòng, chống tham nhũng, suy
thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta.
Từ một số vụ việc tham nhũng, suy thoái, thoái
hóa, biến chất được phát hiện trong thời gian gần đây, chúng lấy hiện tượng làm
bản chất, quy chụp, cường điệu hóa cho rằng, toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng
đều rơi vào tình trạng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất, suy ra thành
Đảng, Nhà nước tham nhũng và đó là bản chất, là căn bệnh nan y, kinh niên của
chế độ “độc đảng” cầm quyền, dẫn tới hậu quả là “nền kinh tế đất nước kiệt quệ”
do tình trạng tham nhũng, suy thoái…
Phủ nhận kết quả,
thành tựu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong
đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta; cho rằng Đảng và Nhà nước ta đã nhiều
lần phát động chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất nhưng đều thất
bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng; cho rằng, cuộc đấu tranh
chống tham nhũng, suy thoái của Đảng, Nhà nước ta chỉ là “đấu đá nội bộ”,
“thanh trừ phe phái”.
Các quan điểm sai
trái nêu trên đã bộc lộ giã tâm, mưu đồ đen tối là bôi nhỏ hạ thấp uy tín của
Đảng, Nhà nước ta; chống phá quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu
tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán
bộ, đảng viên, từ đó góp phần phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin,
đặc biệt là niềm tin vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong
nhân dân.
Có
thể thấy đây là quan điểm sai lầm, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích,
đánh giá, nhiều nhận xét là chủ quan, vô căn cứ và mang tính áp đặt, cực đoan.
Chúng ta có đủ cơ sở lý luận, thực tiễn khoa học, khách quan để bác
bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trên, khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất
trong đội ngũ cán bộ, đảng viên:
Thứ nhất, tham nhũng suy thoái, thoái hóa, biến chất, tồn tại ở mọi chế
độ vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực bị tha hóa
Tham nhũng là hành vi
của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Suy
thoái, thoái hóa biến chất là hiện tượng đội ngũ cán bộ thiếu tu dưỡng, rèn
luyện; quan điểm, bản lĩnh, lập trường tư tưởng không kiên định vữngvàng, hoang
mang dao động trước những tác động từ bên ngoài, tính chiến đấu giảm sút, ý
thức tổ chức kỷ luật kém; cơ hội, thực dụng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ,
hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phật
của mình… Tham nhũng, suy thoái là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các
quốc gia do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt
chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ một đảng hay đa đảng. Chế độ một đảng
cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, thoái
hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ.
Bởi thế, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham
nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra với nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó
đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”, do giai
cấp tư sản lãnh đạo, thậm chí ở một số quốc gia còn có biểu hiện nguy hiểm,
tình trạng tham nhũng còn leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như ở một số nước:
Hàn Quốc, Malaysia. Cũng theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, một số
nước theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền như: Colombia,
Brazil, Malaysia... thuộc nhóm nước “tham nhũng nghiêm trọng”. Rõ ràng, việc
cho rằng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng
viên chỉ có ở những nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo là hết sức sai lầm, phản
khoa học, ngụy biện, quy chụp.
Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt
Nam và Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có đầy đủ phẩm chất, năng lực để
lãnh đạo hiệu quả, triệt để công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái
hóa biến chất
Để
khẳng định một chính đảng, một nhà nước mới chung, Đảng, Nhà nước ta nói riêng
có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng,
suy thoái, thoái hòa, biến chất hiệu quả, triệt để hay không cần căn cứ vào sứ
mệnh, mục tiêu, nguyên tắc tổ chức hoạt động, bản chất quyền lực nhà nước và
đặc điểm đội ngũ cán bộ của đảng, nhà nước đó để đánh giá.
Trước
hết phải khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt
Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và
của dân tộc. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân
tộc, Đảng ta không còn lợi ích nào khác. Mục tiêu của Đảng là xây dựng một xã
hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;
có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;
các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ
nhau cùng phát triển”2. Đó là mục đích, lý tưởng cao cả không
bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng và Nhà
nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động dựa trên nhiều nguyên tắc, trong đó
có nguyên tắc tự phê bình và phê bình, kỷ luật tự giác nghiêm minh; Đảng ta
cũng xác định cần phải làm tốt công tác xây dựng Đảng thường xuyên đổi mới,
chỉnh đốn Đảng, coi đây là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên nguyên tắc. Nguyên
tắc tự phê bình và phê bình yêu cầu từng cán bộ, đảng viên phải thường xuyên
kiểm điểm, đánh giá, thấy được những ưu điểm, hạn chế của mình, từ đó tự sửa
chữa, hoàn thiện để “phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và
phân xấu bị dần dần mất đi”, không bị rơi vào tham nhũng, suy thoái, thoái hóa,
biến chất. Đảng cũng yêu cầu, các tổ chức đảng và đảng viên nên phải thường
xuyên thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước một cách nghiêm minh và tứ giác; mọi cán bộ, đảng viên phải tuân thủ, chấp
hành theo kỷ luật của Đảng một cách tự giác, nghiêm túc.
Đối với quyền lực của
Nhà nước ta, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định: “Tất
cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp”1.
Để nâng cao năng lực
và sức chiến đấu của Đảng, Đảng và Nhà nước ta phải hết sức quan tâm đến đội
ngũ cán bộ, đảng viên. Đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta phải là những người
đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết, như lời dạy của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẵn sàng hi sinh chấp nhận khó khăn gian khổ vì đất nước ,vì
dân tộc, luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước, dân tộc, nhân dân lên trên hết và
trước lợi ích của cá nhân. Đảng kết nạp những người con ưu tú, là công bộc của
nhân dân, hăng hái, giác ngộ, được rèn luyện, thử thách, tự nguyện chiến đấu
trong hàng ngủ của Đảng, đồng thời loại trừ những kẻ cơ hội, quan liêu, tham
nhũng, suy thoái, lãng phí, thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng, Nhà nước. Đảng
và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò đặc biệt của nhân dân, phát huy, thực
hành dân chủ rộng rãi, cuốn hút, lôi cuốn nhân dân tham gia vào các công việc
của Đảng, của Nhà nước, trong đó có công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái,
thoái hóa, biến chất.
Thứ ba, Đảng và Nhà nước ta có quyết tâm chính trị cao trong phòng chống
tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ và được thực
hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp, trên nhiều phương diện khác nhau.
Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức giõ tính
nguy hại của tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ,
vì nó làm suy yếu Đảng, làm suy yếu quyền lực Nhà nước, gây ảnh hưởng đến uy
tín, danh danh của Đảng và Nhà nước ta, dễ tạo ra nguy cơ biến bộ máy chính
quyền và các tổ chức đảng trở thành bộ máy quan liêu mới, xa rời lợi ích của
Đảng, của nhân dân. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có quyết tâm chính trị cao
và kiên quyết phòng, chống khắc phục tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến
chất trong tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, trong đảng viên và cán bộ nhà nước.
Đảng và Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, suy thoái, biến chất là “giặc nội xâm”, phải kiên quyết đấu
tranh, loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Đảng và Nhà nước ta xác định phòng
chống tham nhũng, suy thoái là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị
trong sạch, vững mạnh. Đảng ta xác định phải chủ đông phòng ngừa, không để xảy
ra tham nhũng, lãng phí, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng,
bao che, dụng túng tiếp tay cho tham nhũng; phải kết hợp giữa “xây” và “chống”
phòng ngừa gắn với xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ,
không có “vùng cấm” trong phòng chống tham nhũng ở Việt Nam…
Thể hiện quyết tâm
trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất, Văn
kiện các Đại hội của Đảng và nhiều chỉ thị, nghị quyết, chuyên đề của Đảng về
công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất đã ra đời sau
thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, thì
ngay sau đó, chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về mối nguy cơ một số đảng viên
của Đảng quan liêu, xa dân, tham ô, hủ hóa, rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch
Hồ Chí Minh coi tham ô, tham nhũng, lãng phí là những tội nghiêm trọng. Người
chỉ giõ bản chất của tham ô, tham nhũng là lấy của công làm của tư, làm gian
lận tham lam, tham ô là trộm cướp.
Trong những năm chiến
tranh chống thực dân Pháp, chống Đế quốc Mỹ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội thời
kỳ đổi mới, Đảng ta cũng quan tâm và tổ chức nhiều cuộc xây dựng, chỉnh đốn
Đảng để phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với những biểu hiện tham nhũng, suy
thoái, thoái hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên .Trong nhiệm kỳ đầu
của thời kỳ đổi mới, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm
1994 Đảng ta xác định, tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn
nguy cơ của Đảng ta. Trong nhiệm kỳ tiếp theo không có nhiệm kỳ nào trung ương
đảng không có nghị quyết liên quan đến phòng, chống quan liêu, tham nhũng, suy
thoái, thoái hóa, biến chất; trong đó có các nghị quyết tiêu biểu như: Nghị
quyết Trung ương 6 (lần 2) toán VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong
công tác xây dựng Đảng hiện nay; Kết luận hội nghị trung ương 4 khóa IX về tiếp
tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ
tham nhũng, lãng phí; Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng; Nghị quyết Trung ương 4 khóa
XI một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; nghị quyết Trung ương 4
khóa XII về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng,
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
được xác định là một nội dung quan trọng, cần đẩy mạnh, tăng cường: “Kiên
quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm
chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”2.
Cụ thể hóa các quan
điểm, chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa,
biến chất, Nhà nước ta cũng đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo
đấu tranh phòng chống các tệ nạn này. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn
vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng từng bước được kiện toàn, phát huy
hiệu quả. Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính
Trung ương được thành lập (Ban Nội chính các tỉnh, thành phố sắp được kiện
toàn) và đã đi vào hoạt động có nề nếp, hiệu quả. Nhà nước đã ban hành Luật
phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Các cấp ủy
Đảng, chính quyền ở Trung ương đến địa phương quan tâm hơn đến công tác phòng,
chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Quốc hội, Hội đồng Nhân dân
các cấp đã dành nhiều thời gian, công sức hơn để giám sát công tác này. Các cơ
quan như ủy ban kiểm tra, ban nội chính, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, công an, viện
kiểm sát, tòa án… được củng cố một bước cả về thẩm quyền pháp lý, cơ chế hoạt
động, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ
phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất.
Quyết tâm phòng,
chống suy thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta còn được biểu
hiện ở Việt Nam tham gia và ký kết nhiều văn bản quốc tế về phòng, chống tham
nhũng như: Công ước Liên hợp quốc về phòng,, chống tham nhũng (năm 2003); tham
gia Chương trình hành động chống tham nhũng châu Á - Thái Bình Dương (năm 2004);
tham gia các hoạt động trong một số diễn đàn về phòng ngừa và chống tham nhũng.
Hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng giữa Việt Nam với nhiều quốc gia
trên thế giới tiếp tục được mở rộng và củng cố. Việt Nam ký kết nhiều hiệp định
tương trợ tư pháp với các nước. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiếp nhận
giải quyết nhiều hồ sơ, văn bản ủy thác tư pháp của nhiều nước.
Thứ tư, xét trên phương diện thực tiễn phần lớn đội ngũ cán bộ, đảng viên
đều giữ được phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, số cán bộ, đảng viên tham
nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất chỉ là thiểu số.
Ở đây, cần phân biệt
rõ giữa bản chất và hiện tượng, giữa thiểu số và đa số không thể phủ nhận trong
thực tiễn cũng có những cán bộ, Đảng viên có biểu hiện tham nhũng, suy thoái,
thoái hóa biến chất. Tuy nhiên, đó chỉ là thiểu số, ít ỏi so với đa số cán bộ,
đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những cán bộ đó đều bị dư luận lên án, bị nhận
những hình thức xử lý nghiêm khắc của Đảng, thậm chí có trường hợp bị thanh
loại khỏi tổ chức đảng. Cuộc đấu tranh tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
những năm qua được Đảng ta đẩy mạnh: “Huy động được sức mạnh tổng hợp của hệ
thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng,
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy
thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”5. Những cán bộ, đảng viên suy
thoái, không bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức đều bị phê
bình, kiểm điểm, kỷ luật. Điều đó khẳng định quyết tâm và kết quả phòng, chống tham nhũng, suy
thoái, thoái hóa, biến chất của Đảng, Nhà nước ta; đồng thời bác bỏ, phủ nhận
những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng
tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ trong đảng
ta hiện nay là phổ biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị.
Những cơ sở lý luận,
thực tiễn trên đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng
định phẩm chất, uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quyết tâm của Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa
biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai
trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với
nhiều khó khăn, thách thức, bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn đang hiện hữu, có
mặt còn gay gắt hơn; tình trạng tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất
trong đội ngũ cán bộ, đảng viên còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sự tồn vong
của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa,
biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước đạt hiệu quả cao, đồng
thời bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế
lực thù địch; cần tiến hành đồng bộ các giải pháp:
Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tạo
sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên về
tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, đề cao trách nhiệm tự
học, tự nghiên cứu của cá nhân; xây dựng chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận
chính trị định kỳ, thường xuyên đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nâng cao chất
lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cấp
uỷ, thường vụ cấp uỷ, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương
đến chi bộ. Tiến hành đồng thời việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính
trị trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch. Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm
nêu gương, ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là
cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm các quy
định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều
đảng viên không được làm.
Hai là, tập
trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu
gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả. Bảo đảm
nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ.
Gắn công tác cán bộ với việc thực hiện chủ trương của Đảng về tổ chức bộ máy
của hệ thống chính trị. Tiếp tục triển khai nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết
số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về xây dựng đội ngũ cán bộ
các cấp. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có lý tưởng cách mạng, có
bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc,
phục vụ nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện tốt
chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm,
luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa
học, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ quản lý doanh
nghiệp nhà nước. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân
chủ gắn với tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ và người đứng đầu trong công tác
cán bộ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Tổng kết việc thí
điểm thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng... Nâng cao
chất lượng công tác đánh giá cán bộ, gắn đánh giá cá nhân với tập thể, với kết
quả thực hiện nhiệm vụ. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và luân
chuyển cán bộ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí chức danh lãnh
đạo chủ chốt không phải là người địa phương.
Ba là, tập trung rà soát, thể chế hoá kịp thời chủ trương của Đảng, sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hiện có, bảo đảm đồng bộ, thống nhất
giữa quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hoàn thiện các cơ
chế về phân cấp quản lý cán bộ; tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ;
kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; xây dựng cơ chế phát hiện,
lựa chọn, trọng dụng nhân tài, cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trẻ để đào
tạo, bổ sung cán bộ cho Đảng. Nghiên
cứu, ban hành các cơ chế về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong
công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển
hoá"; cơ chế bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng
viên tham nhũng, tiêu cực. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, siết chặt kỷ luật, kỷ
cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp
luật. Phát huy vai trò và nâng cao chất lượng phản biện xã hội của nhân dân,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác xây dựng
pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát
quyền lực trong các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham
nhũng, tiêu cực như: Công tác cán bộ, tài chính, ngân sách, tài sản công, đất
đai, tài nguyên, thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, hải quan, điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án...
Bốn là, tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức
đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công
tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, khiếu kiện kéo dài. Uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên
quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, "tự
diễn biến", "tự chuyển hoá" ngay tại cơ sở, chi bộ. Nâng cao
hiệu quả hoạt động giám sát chuyên đề; tăng cường kiểm tra, giám sát việc tự
phê bình và phê bình, thực hiện trách nhiệm nêu gương và khắc phục khuyết điểm
của tập thể, cá nhân. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cấp uỷ, tổ chức đảng, cán
bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực. Đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ
án, liên quan đến tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng được dư luận xã hội quan
tâm, nhất là những vụ án, vụ việc do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo. Phối hợp đồng bộ, tạo sự chuyển biến rõ
nét trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở.
Xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật, kiểm tra, thanh tra, kiểm
toán vững mạnh. Chú trọng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và tăng cường
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan phòng, chống, tham nhũng,
tiêu cực.
Năm là, phát huy vai trò, trách
nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị
- xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh. Tiếp
tục hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị trong sạch, vững mạnh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám
sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội, góp ý
xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
chính trị - xã hội; của báo chí. Chú trọng giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện
đạo đức, lối sống và nêu gương của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý,
cán bộ, đảng viên và công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Hoàn thiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của
hệ thống chính trị, nhất là công tác dân vận của chính quyền các cấp.
Như
vậy, quan điểm suy diễn của các thế lực thù địch cho rằng tham nhũng, suy
thoái, thoái hóa biến chất của đội ngũ cán bộ trong Đảng và Nhà nước ta là phổ
biến, là căn bệnh nan y không thể chữa trị là quan điểm chủ quan, phản động,
không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, quan điểm này đã dựa
trên những phân tích, nhận xét phi khoa học, một chiều áp đặt. Về thực tiễn,
quan điểm này hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế, cường điệu hóa khi
không thấy rõ quyết tâm và kết quả phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái
hóa, biến chất của Đảng và Nhà nước ta. Chúng ta có đủ cơ sở lý luận, thực tiễn
khoa học, khách quan để bác bỏ, phủ nhận những quan điểm sai trái, luận điệu
xuyên tạc trên của các thế lực thù địch, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, khẳng định phẩm chất, uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên
và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta về đấu tranh phòng
chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng
viên.





