Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ CỦA VIỆT NAM

 Hiện nay có những luận điệu sai trái được lan truyền trên không gian mạng rằng: “Mô hình “độc đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo) là một mô hình tạo ra sự mất dân chủ trong xã hội Việt Nam".

Theo luận điệu này, muốn có một xã hội dân chủ, muốn phát triển thì Việt Nam phải từ bỏ “chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN)”, đi theo con đường “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” như ở các nước phương Tây. Vậy luận điệu trên sai trái ở điểm nào?

Xã hội dân chủ tại Việt Nam mang giá trị chung của nhân loại

Trước hết, tư tưởng dân chủ của phương Tây có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ dân chủ xuất hiện đầu tiên tại Athens, Hy Lạp trong thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Về nội dung, đó là “quyền lực thuộc về nhân dân” đồng thời theo nguyên tắc đa số. Nhưng khái niệm “nhân dân” ở đây không bao gồm phụ nữ và người nô lệ. Về mặt phương thức, dân chủ có nhiều hình thức: Dân chủ trực tiếp đó là những người tham gia bầu cử bầu ra người đại diện cao nhất của xã hội. Dân chủ gián tiếp-dân chủ đại diện là người bầu cử chỉ bầu ra người đại diện của mình... từ đó chỉ có những người đại diện mới bầu ra cơ quan và người lãnh đạo xã hội. 

Trải qua quá trình phát triển, chế độ dân chủ trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình, trong đó có chế độ dân chủ đa đảng nhưng thực chất chỉ có hai đảng thay nhau cầm quyền như ở Mỹ (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa); hay dân chủ với nhiều đảng nhưng đều thừa nhận Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền như tại Trung Quốc... Đáng lưu tâm là vào năm 2019, Đại học Cambridge (Anh) có một nghiên cứu cho thấy mức độ bất mãn về thực trạng nền dân chủ tại Hoa Kỳ và Anh ở mức cao đặc biệt. Cụ thể, năm 2019, tỷ lệ người không hài lòng với nền dân chủ ở Anh lên tới 61%. Tại Mỹ, mức độ hài lòng chỉ còn dưới 50%. Như thế có thể thấy, chế độ dân chủ tại hai quốc gia trên chưa làm hài lòng chính công dân của họ, nên không thể và không nên được coi là hình mẫu cho nền dân chủ của bất cứ quốc gia nào.   

Chế độ dân chủ của chúng ta khởi nguồn từ khi dân tộc Việt Nam đi theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ những thập niên đầu thế kỷ 20. Giữa vòng vây của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã vùng lên tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại được độc lập dân tộc, đồng thời xây dựng xã hội mới. Trong “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Nhà nước của chúng ta đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng dân chủ trên thế giới: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Từ đó, trong phần cuối của “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Ngay từ hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta-Hiến pháp năm 1946 đã cho thấy các quyền công dân (bao gồm cả quyền con người) được bảo đảm. Hơn 77 năm qua (1945-2022), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đấu tranh giành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội, vượt qua những giai đoạn đầy khó khăn, gian khổ, đến nay đã trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế ngày càng phát triển, có vị thế, uy tín cao trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Những mô hình xã hội Việt Nam là sự vận dụng và phát triển sáng tạo các mô hình xã hội hiện đại trên thế giới, đồng thời kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nền dân chủ của Việt Nam hiện nay là nền dân chủ gắn với chế độ làm chủ của nhân dân, do một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền-đó là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hệ thống chính trị Việt Nam là cơ sở chính trị-pháp lý của nền dân chủ Việt Nam. Về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “1- Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Như thế, qua quy định trong Hiến pháp có thể thấy: 1-Đảng không chỉ là đại diện lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà còn là đại biểu trung thành lợi ích của cả dân tộc; 2-Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền nhưng các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 3-Dân chủ gắn liền với Nhà nước và pháp luật.

Cũng theo Hiến pháp năm 2013 thì: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Các đại biểu Quốc hội được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, nghĩa là mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia trực tiếp bầu cử đại biểu Quốc hội để đại diện cho tiếng nói của mình tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. 

Dân chủ trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

Chế độ dân chủ của Việt Nam còn bao hàm cả văn hóa dân chủ. Trong đó, các cán bộ, công chức phải là công bộc của nhân dân. Các cấp chính quyền phải bảo đảm phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cùng với đó, công dân phải tuân thủ pháp luật.              

 Chúng ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, bản chất là yêu cầu thượng tôn pháp luật, mọi cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong xã hội phải sống và làm việc trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây là yêu cầu mà mọi nhà nước pháp quyền trên thế giới đều hướng tới.                   

Thế nhưng, hiện nay có nhiều người lầm tưởng rằng, môi trường internet, mạng xã hội là môi trường dân chủ vô hạn độ, người ta muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết... mà không phải chịu trách nhiệm. Đó là một sai lầm rất nguy hiểm, vì suy nghĩ như vậy không khác nào coi môi trường internet, mạng xã hội là một môi trường vô luật pháp. Không ít người đã vi phạm pháp luật bị xử lý, thậm chí bị xử lý hình sự vì những phát ngôn xuyên tạc, chống đối Đảng, Nhà nước; vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác trên internet và bị quy vào tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Bộ luật Hình sự. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ quốc gia nào, các quyền dân chủ đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật.   

Tương tự, quyền tự do báo chí của công dân được Nhà nước ta tôn trọng, bảo vệ. Tuy nhiên, quyền tự do đó cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Điều 10, Luật Báo chí năm 2016 quy định rõ: “Quyền tự do báo chí của công dân bao gồm: “1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2.Cung cấp thông tin cho báo chí; 3.Phản hồi thông tin trên báo chí; 4.Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”.

Điều 9 của Luật Báo chí quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, ví dụ như: “Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý; Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc...; Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc...; Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy...”.

Sở dĩ ngày nay, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao trước hết nhờ những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, tích cực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ, bảo đảm an sinh xã hội. Việt Nam còn là một môi trường hòa bình, ổn định, có quan hệ ngoại giao hữu nghị với các nước, đấu tranh vì tiến bộ trên thế giới. Vừa qua, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là lần tái cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc sau nhiệm kỳ 2014-2016 rất thành công, cho thấy uy tín cao của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế về dân chủ, nhân quyền. Những thực tế khách quan đó cho thấy bản chất của xã hội XHCN tại Việt Nam là một xã hội dân chủ, vì con người, và không có luận điệu xuyên tạc nào có thể phủ nhận.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 


           Nhận diện được những quan điểm cơ bản mà các thế lực thù địch tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đặc biệt khi chúng sử dụng mạng xã hội như một công cụ, vũ khí hữu hiệu tấn công chúng ta, công tác tư tưởng của Đảng cần tập trung vào những nội dung và phương pháp sau đây:
          Một là, nâng cao nhận thức trong toàn xã hội về nội dung và tầm quan trọng của công tác đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

          Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo trước những thông tin sai trái để kịp thời phát hiện, vạch mặt, chỉ tên và tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. Cần thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, trước hết là trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị,… Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch

Hai là, không ngừng tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, kĩ năng và phương pháp đúng đắn, khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội hiện nay.

          Trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc học tập tìm hiểu, tự rèn luyện của mỗi người, các cấp ủy đảng cần chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trang bị phương pháp xem xét, tiếp cận thông tin một cách đúng đắn, khoa học cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chỉ có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đầy đủ, hiểu biết thấu đáo, dân trí được nâng cao, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân mới có thể đủ sức đề kháng để tự phòng vệ trước các luồng thông tin, phân định rõ đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai, đâu là thông tin độc hại và đâu là thông tin hữu ích.
            Ba là, tạo lập môi trường thông tin thuận lợi để phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong cuộc đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, thù địch trên mạng xã hội, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng. Để tạo lập được một môi trường thông tin thân thiện trong giai đoạn hiện nay, cần chú ý đến tính công khai, minh bạch, cập nhật về thông tin, tăng cường thông tin chính thống, đặc biệt là những thông tin liên quan đến công tác tổ chức cán bộ, công tác nhân sự trước mỗi kì Đại hội Đảng để đáp ứng nhu cầu thông tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tránh gây hoang mang, nghi ngờ trong nhân dân. Bên cạnh đó, phải chủ động và kịp thời lên tiếng, đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kiên quyết không để kẻ xấu coi thường luật pháp, bôi nhọ uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo, gây hoang mang dư luận.

          Việc cung cấp thông tin kịp thời, thường xuyên, chính xác và đầy đủ là sự phản bác có hiệu quả nhất đối với những luận điệu xuyên tạc, chống phá.
          Đây cũng là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện yêu cầu: cần thoát khỏi thế “chống đỡ” để chuyển mạnh sang thế “tấn công” các thế lực thù địch, phản động. Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt phương châm công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu, không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá.

          Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 35 các cấp cần quan tâm biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo, xây dựng ngân hàng bình luận làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng cho các lực lượng đấu tranh trên không gian mạng.

          Duy trì tốt việc cung cấp thông tin cho cán bộ theo định kỳ, gặp mặt các đồng chí cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác hằng năm; chủ động gặp những người có quan điểm khác biệt để trao đổi, phân tích, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận, thống nhất.

           Ở từng cấp, cần duy trì tốt nền nếp chế độ hội ý cung cấp thông tin, định hướng nội dung, thống nhất biện pháp đấu tranh. Trong đó, cần chỉ rõ mục tiêu, luận điểm chống phá của các thế lực thù địch trong các tin, bài; cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác từ hệ thống ngân hàng đã được biên soạn sẵn làm cơ sở cho lực lượng viết bài tham gia đấu tranh. 

            Bốn là, cần xây dựng hành lang pháp lý hoàn thiện làm cơ sở cho việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trên không gian mạng xã hội. Để công tác đấu tranh phản bác trước những thông tin sai trái, bịa đặt, nói xấu, bôi nhọ cán bộ được chủ động, nhạy bén hơn nữa cần xây dựng khung khổ pháp lý về an toàn, an ninh và bảo mật thông tin. Theo đó, đối với những cá nhân có hành vi thông tin đăng sai sự thật, mang tính vu khống, bôi nhọ cá nhân phải kiên quyết phải xử lý theo pháp luật. Có làm được điều này mới thực sự góp phần xử lý hiệu quả các vi phạm về thông tin trên mạng xã hội hiện nay, đặc biệt là các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu khống làm tổn hại đến uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ, đảng viên, kích động, bôi xấu hình tượng lãnh tụ, các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Năm là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn nâng cao kiến thức và kĩ năng khai thác và sử dụng Internet, mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và những người trực tiếp làm công tác tư tưởng của Đảng để chống lại các quan điểm sai trái, thù địch một cách nhanh chóng, hiệu quả.
           Tóm lại, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không phải đến thời điểm này mới đặt ra mà nó là cuộc “đấu tranh không ngừng nghỉ” kể từ ngày Đảng ta ra đời, đảm nhận vai trò lãnh đạo nhân dân thực hiện các cuộc cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước. Suốt gần 90 năm qua, sự hiện diện của các thế lực thù địch, cũng như luận điệu xuyên tạc, sai trái chống phá Đảng luôn tồn tại, tiếp diễn. Trong giai đoạn hiện nay, với việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ và chiếm lĩnh không gian mạng xã hội, các thế lực thù địch vẫn dai dẳng, tiếp tục gia tăng ảnh hưởng chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chính vì vậy, cần phải nhận diện một cách đầy đủ và toàn diện các nội dung quan điểm đó để chủ động đấu tranh phản bác, bên cạnh đó cũng cần đổi mới hình thức, phương pháp và kĩ năng đấu tranh để làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay./.
XUAN THUY-01.2023

 

 

NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG CHỐNG CÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ VIỆT NAM HIỆN NAY

 Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc

Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”, “Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...  

 Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   

Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Hiện nay, phổ biến nhất trên không gian mạng là lợi dụng vụ việc nhạy cảm, phức tạp, vấn đề dân tộc, tôn giáo để bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ khi diễn ra sự kiện đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII… Những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt đó nhằm làm suy giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân thiếu hiểu biết, khả năng nhận thức các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội chưa cao, kể cả một số cán bộ, đảng viên có tư tưởng bất mãn, suy thoái, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thậm chí làm lu mờ vai trò của những đảng viên trung kiên, gây ra hoang mang, dao động, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trước tình hình đó, các cấp ủy đảng các cấp đã chủ động tiến hành công tác nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách quyết liệt với tinh thần trách nhiệm cao, không lơ là, mất cảnh giác. Việc nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái được thực hiện lồng ghép vào việc dạy và học tập lý luận chính trị, thông qua các buổi báo cáo chuyên đề, mà phổ biến là thông qua các bài phản bác trực tiếp được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, trong đó, có những tác phẩm có tính chiến đấu cao, đã đánh đúng và trúng vào các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đáng nói nhất là thời gian qua, lợi dụng những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, nhiều cá nhân đã đưa ra những thông tin sai sự thật để “câu like” trên mạng xã hội. Hành vi này không chỉ làm nhiễu loạn thông tin, tạo tâm lý hoang mang mà còn gây nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch, ngành chức năng tỉnh Quảng Trị đã kiên quyết xử lý để răn đe, giáo dục. Bên cạnh đó, kịp thời nắm bắt thông tin để xử lý những vấn đề bức xúc được đưa lên mạng xã hội.

Không chỉ đấu tranh phản bác những thông tin sai trái để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, còn tăng cường nắm bắt và xử lý những vụ việc thông qua mạng xã hội một cách chính xác, hiệu quả nhằm củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Vì vậy, trong thời gian tới, nhằm góp phần đấu tranh có hiệu quả trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, các cấp, các ngành cần tập trung vào các giải pháp sau:

Một là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trước cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, không gian mạng phát triển như “vũ bão”, thông qua “thế giới ảo”, các thế lực thù địch không đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống mà các hình thức chống phá của chúng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, do vậy đòi hỏi nội dung, phương thức đấu tranh của chúng ta cũng phải từng bước hoàn thiện cho phù hợp. Nội dung, phương pháp giữ vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng; nội dung đấu tranh phong phú, hình thức đa dạng, biện pháp cụ thể, sáng tạo, phù hợp thì hoạt động này mới có hiệu quả cao.

Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng…

Bên cạnh những giá trị đích thực, thì những mặt trái, tiêu cực của không gian mạng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức không nhỏ cho công tác quản lý. Một số quốc gia đã dựng lên các “biên giới ảo” trên nền Internet để kiểm soát “lãnh thổ” của mình. Với chúng ta, song hành cùng các giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch trên không gian mạng, thì cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ, như: bảo vệ tốt thông tin cá nhân; kỹ thuật phát tán thông tin trên không gian mạng; kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của đối phương... có vị trí vô cùng quan trọng, góp phần quyết định đến thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng hiện nay.

Ba là, giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật An ninh mạng năm 2018. Luật An ninh mạng được xây dựng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên mạng của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật An ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi. Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin; góp ý xây dựng chương trình giáo dục an toàn thông tin mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến an toàn thông tin mạng.

                                    XUAN THUY-01.2023

CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN LÀM TỔN HẠI UY TÍN VÀ XÓI MÒN PHẨM CHẤT, ĐẠO ĐỨC “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù không đội trời chung của đạo đức cách mạng; sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là thứ giặc “nội xâm”, nguy hiểm và chiến thắng nó còn khó khăn hơn cả chiến thắng kẻ thù cầm gươm, cầm súng trên chiến trường; chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, bởi “do cá nhân chủ nghĩa mà phạm sai lầm”1. Người cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”2. Nó là một trong ba loại giặc vô cùng nguy hiểm, với những biểu hiện rất đa dạng, lúc tinh vi, kín đáo, khi lộ liễu trắng trợn, biến báo, khó lường, xuất hiện ở nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được xây đắp nên từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; được nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc, giúp đỡ, nuôi dưỡng và yêu quý dành tặng, tôn vinh. Vinh dự, tự hào với danh hiệu cao quý đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân luôn trân trọng, gìn giữ, phát huy, không ngừng tô thắm, làm sáng thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tuy vậy, trong thực tiễn, mặc dù thường xuyên được giáo dục, rèn luyện và có kỷ luật nghiêm minh, song, ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ do lười tu dưỡng, rèn luyện đã sa vào chủ nghĩa cá nhân - thứ giặc “nội xâm”, trùng độc nguy hiểm ngay trong mỗi con người và trong lòng Quân đội. Tuy không nhiều, nhưng là những “con sâu làm rầu nồi canh”, làm tổn hại uy tín và xói mòn phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Bởi lẽ, chủ nghĩa cá nhân nó làm cho người quân nhân không thực hiện đúng 10 Lời thề danh dự và 12 Điều kỷ luật của quân nhân, mà biểu hiện trước hết là phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng, không trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Nó hoàn toàn ngược lại tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân - phẩm chất cao quý, quan trọng hàng đầu của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hệ quả của việc phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng sẽ dẫn đến không phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, của tổ chức, sợ gian khổ, hy sinh, không nhận nhiệm vụ, đầu hàng, chạy theo địch, mà điển hình của những kẻ “trở cờ” phản bội là Bùi Tín, minh chứng rõ nét nhất của việc sa vào chủ nghĩa cá nhân, phản bội Tổ quốc. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường,... một số ít quân nhân không giữ được mình sa vào chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt, mục tiêu, lý tưởng cách mạng, biểu hiện là: nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, kỷ luật của Quân đội; sa sút ý chí phấn đấu, không phục tùng mệnh lệnh, không gương mẫu trong công tác, thiếu tính kỷ luật và kỷ luật không nghiêm. Điều này không chỉ làm phai nhạt hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị ngay từ cơ sở.

Chủ nghĩa cá nhân làm cho những quân nhân sa vào chỉ biết và luôn đặt lợi ích của bản thân, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của tập thể đơn vị, Quân đội và của dân tộc. Đây là điều trái ngược với đạo đức cách mạng của người quân nhân là: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và Lời thề luôn nêu cao tinh thần bảo vệ của công, không tham ô, lãng phí - một giá trị cốt lõi của đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Không chỉ vậy, nó còn làm băng hoại những giá trị tốt đẹp của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là: đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, nguy hiểm. Biểu hiện rõ nét nhất của những quân nhân khi sa vào chủ nghĩa cá nhân là không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình, v.v. Để đạt mục đích, họ bất chấp tất cả, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, v.v. Tác hại này càng đặc biệt nguy hiểm, khi những người cá nhân chủ nghĩa lại là những cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan, đơn vị. Đó chính là sự nguy hiểm tiềm tàng làm cho Quân đội mất dần tính cách mạng, tính Đảng, tính nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Quân đội - lực lượng chính trị trung thành chiến đấu bảo vệ Đảng và chế độ.

Việc chỉ biết và luôn đặt lợi ích của mình lên trên hết còn biểu hiện ở sự háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Và, để đạt được mục đích tham danh trục lợi, địa vị quyền hành, họ coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh và không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Trên thực tế, đó cũng chính là những người luôn “dùng của công làm việc tư”, “ham địa vị, hay lên mặt”, chỉ ưa người khác “tâng bốc mình, khen ngợi mình”, “ưa sai khiến người khác”, “tự thấy mình cái gì cũng giỏi”, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, ích kỷ, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, v.v. Hậu quả của những hành vi trên làm cho người mắc căn bệnh này ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa tất yếu dẫn đến việc ỷ thế vào quyền hạn và trách nhiệm được trao, ỷ thế vào quyền lực tại các cơ quan, đơn vị để kéo bè, kéo cánh, chăm chút cho lợi ích của mình và nhóm mình mà bất chấp tất cả, coi thường kỷ cương phép nước, kỷ luật Quân đội để đạt mục đích tư lợi cá nhân.

Cùng với đó, còn là biểu hiện ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; không có tinh thần tự phê bình và phê bình; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức,... mà thờ ơ, vô cảm, bàng quang trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân. Đây là cách ứng xử tiêu cực, làm thui chột sức mạnh tập thể, giảm sức chiến đấu của đảng viên, tổ chức đảng. Nó đối lập với một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là: luôn có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Những biểu hiện trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nó không chỉ đối lập với phẩm chất tốt đẹp của những người quân nhân cách mạng đầy nhiệt huyết, dũng cảm trong chiến đấu, công tác, mà còn làm tổn hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân, gây chia rẽ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, làm mất dân chủ trong cơ quan, đơn vị.

Ngược dòng lịch sử, trong khi cả nước đang huy động sức người, sức của để kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thì Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, tham ô, đục khoét công quỹ của Nhà nước, đã bị Tòa án binh xử tử hình về tội tham nhũng đến nay vẫn là bài học đắt giá, còn nguyên tính thời sự. Nhưng một số quân nhân, trong đó có cả sĩ quan cao cấp, tướng lĩnh hiện nay không rút kinh nghiệm để tránh xa, ngược lại chỉ lo cho bản thân “vinh thân, phì gia”, sa vào chủ nghĩa cá nhân mà vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Nó không chỉ trực tiếp phá hoại phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, mà còn gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sự tin yêu của nhân dân với Quân đội. Bên cạnh đó, những vụ vi phạm kỷ luật trong quan hệ quân - dân; quan hệ của cán bộ với chiến sĩ; giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới,... ở một số cơ quan, đơn vị trong toàn quân cũng chính là những việc làm đối lập với đặc trưng: chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân của “Bộ đội Cụ Hồ”. Những vi phạm đó lâu dần sẽ dẫn đến sự chia rẽ cán - binh, không quy tụ được sức mạnh tổng hợp của đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong chiến đấu; nó còn là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, phá hoại chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, một bảo đảm quan trọng để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng.

Hiện nay, vẫn phải khẳng định rằng: truyền thống của Quân đội, khí phách “Bộ đội Cụ Hồ” về cơ bản vẫn được phát huy tốt; cán bộ, chiến sĩ Quân đội vẫn được nhân dân tín nhiệm, yêu thương, đang ngày đêm bám sát nhiệm vụ canh giữ biển, trời, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Song, những sai phạm của một số quân nhân do sa vào chủ nghĩa cá nhân thời gian qua, tuy chỉ là đơn lẻ, cá biệt ở một vài cơ quan, đơn vị, nhưng nếu không có giải pháp quyết liệt để ngăn chặn kịp thời, sẽ gây ra hậu quả không nhỏ, làm tổn hại và xói mòn phẩm chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; làm biến dạng, méo mó các mối quan hệ và ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây dựng môi trường văn hóa quân sự, nhất là trong xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị - cơ sở nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội./.

PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”, KIÊN QUYẾT CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Ngày 28/12/2021, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Đây là Nghị quyết rất quan trọng, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược, cùng sự nhạy bén, kịp thời của Quân ủy Trung ương, với các chủ trương, giải pháp cấp thiết, nhằm tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; đồng thời, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong toàn quân. Qua đó, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở, nền tảng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

“Bộ đội Cụ Hồ” - danh hiệu cao quý, giá trị cốt lõi của Quân đội nhân dân Việt Nam

“Bộ đội Cụ Hồ” - tên gọi bình dị nhưng vô cùng cao quý mà Nhân dân dành tặng, tôn vinh Quân đội ta. Đó là hình tượng cao đẹp, tập trung những phẩm chất ưu tú của người quân nhân cách mạng, một giá trị văn hóa - đạo đức của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” được xây đắp nên từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ; được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công tổ chức, giáo dục, rèn luyện; được Nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc, giúp đỡ, nuôi dưỡng. Những phẩm chất quý giá đó càng được tô thắm thêm qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, thực tiễn xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành của Quân đội, được các thế hệ lưu truyền, kế tục và phát huy. Đó là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, là niềm vinh dự, tự hào và là động lực mạnh mẽ, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ Quân đội không ngừng phấn đấu, rèn luyện để xứng đáng với danh hiệu cao quý, với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện ở các phương diện, trên mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ, trước hết ở lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân. Được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; luôn tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng; không quản hy sinh, gian khổ, chiến đấu anh dũng, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các cuộc chiến tranh giải phóng trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Sự trung thành của “Bộ đội Cụ Hồ” đã và đang thể hiện sâu sắc ở tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, luôn xung kích đi đầu, đứng vững ở nơi “đầu sóng ngọn gió”: vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi khó khăn, gian khổ và chiến tranh ác liệt nhất; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh tuổi xuân và tính mạng của mình để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc còn được biểu hiện: Quân đội luôn là lực lượng đi đầu, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, những luận điệu xuyên tạc, chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Luôn “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” là giá trị cốt lõi, phản ánh chức năng, nhiệm vụ của quân đội cách mạng. Trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; nhất là những hy sinh của cán bộ, chiến sĩ trong Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; trên những cung đường Trường Sơn huyền thoại, Ngã ba Đồng Lộc bất tử, thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; “Vòng tròn bất tử” trên đảo Gạc Ma - Trường Sa xanh thẳm,… là minh chứng cho phẩm chất sẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội của “Bộ đội Cụ Hồ”. Kế thừa truyền thống hào hùng đó, hiện nay, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn ra sức phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, làm chủ các loại vũ khí, trang bị mới, hiện đại; thường xuyên nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, công tác, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, v.v. Ở bất kỳ cương vị, công việc nào, mục đích trên hết, trước hết và tất cả đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội là vì nền độc lập, lợi ích quốc gia, dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; luôn thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong tình hình mới, thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, “Bộ đội Cụ Hồ” luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân chở che, đùm bọc, kề vai, sát cánh cả trong đấu tranh cách mạng cũng như trong thời bình. Thể hiện cụ thể và sâu đậm ở tình cảm yêu mến, sự kính trọng, gắn bó với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ Quân đội; tinh thần hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì tự do, hạnh phúc của nhân dân trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Ngày nay, phẩm chất, nhân cách đó càng được khẳng định trong thực tiễn thông qua công tác dân vận của Quân đội và được thể hiện rõ bằng những việc làm cụ thể của cán bộ, chiến sĩ trong giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc.

“Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”3, càng trong khó khăn, gian khổ, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” càng tỏa sáng. Với tinh thần “cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa môi trường và dịch bệnh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội lăn lộn trong gian khó, sáng tạo trong tổ chức giải cứu 12 công nhân bị sập hầm ở thủy điện Đạ Dâng (Lâm Đồng); 11 cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã anh dũng hy sinh khi trên đường hành quân đi cứu hộ, cứu nạn các công nhân tại khu vực Thủy điện Rào Trăng 3 (Thừa Thiên - Huế), v.v. Đặc biệt, trong các đợt cao điểm phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã nêu cao tinh thần dấn thân, sẵn sàng hy sinh, chấp nhận gian khổ, khắc phục mọi khó khăn để bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của nhân dân với phương châm “tìm đến nhân dân để biết nhân dân cần gì, không để nhân dân phải tìm đến bộ đội”, và “Không để ai bị bỏ lại phía sau”4, là minh chứng sống động cho tinh thần ấy; đã thể hiện “mối quan hệ máu thịt”, tình quân dân như “cá với nước” của cán bộ, chiến sĩ Quân đội với Nhân dân. Qua đó, viết tiếp thiên anh hùng ca bất hủ của Quân đội “bách chiến bách thắng”, “đi dân nhớ, ở dân thương” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, khẳng định: “Quân đội luôn là trụ cột quốc gia, nhất là khi đất nước lâm nguy, dịch dã, thiên tai”.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện ở tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung. Hàng vạn bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hy sinh cả máu xương, tính mạng để cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của Khơme đỏ để nhân dân Campuchia xúc động gọi Bộ đội Việt Nam - “Bộ đội Cụ Hồ” là “Bộ đội nhà Phật”. Hơn bảy năm qua, Việt Nam đã cử gần 250 lượt cán bộ, nhân viên Quân đội tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, v.v. Vượt lên những khó khăn, bất đồng ngôn ngữ, tình hình an ninh ở các phái bộ bất ổn, điều kiện sinh hoạt hạn chế, khí hậu khắc nghiệt,… những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Qua đó, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cùng phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” đã vượt khỏi những giới hạn về thời gian và không gian để lan tỏa, nhập sâu vào ánh mắt, trái tim bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam.

Gần tám thập kỷ qua, dưới sự chăm lo, rèn luyện, lãnh đạo của Đảng ta, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, kể cả trong thời điểm khó khăn, phức tạp và cam go nhất, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn luôn tỏa sáng, góp phần quan trọng để Quân đội nhân dân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đây là danh hiệu cao quý được nhân dân tôn vinh; là giá trị cốt lõi để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, luôn giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, giữ vững lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu, bản lĩnh chính trị, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Giá trị đó cần được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội hôm nay tiếp tục gìn giữ, bảo vệ, phát huy và phát triển lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ

 Phẩm chất cao đẹp, danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” là hồn cốt, là cội nguồn sức mạnh, là thành trì của Quân đội nhân dân Việt Nam. Song, giá trị cốt lõi đó đang chịu sự tác động, chống phá từ nhiều mặt; trong đó, chủ nghĩa cá nhân là sự phá hoại nội sinh, nguy hiểm nhất, khó chống đỡ nhất. Vì vậy, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, cần làm ngay, vừa thường xuyên, lâu dài của các cấp ủy, tổ chức đảng; là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Quân đội, trước hết là đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì các cấp.

Kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân để phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phát huy, tỏa sáng, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị đòi hỏi phải tiến hành tổng thể các hoạt động của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo và quá trình tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mỗi quân nhân; trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền. Những giá trị cốt lõi của “Bộ đội Cụ Hồ” được hun đúc và xuất phát từ chính nhận thức, tình cảm và trách nhiệm vì Tổ quốc, vì nhân dân của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đối lập với đó, gốc rễ chủ nghĩa cá nhân cũng nảy sinh từ những nhận thức sai trái, lệch lạc của mỗi quân nhân. Vì vậy, giải pháp nền tảng, xuyên suốt là thường xuyên giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thực sự giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cách mạng; luôn thấm sâu trong nhận thức rằng: giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân vừa là trách nhiệm của thế hệ hôm nay với những cống hiến, hy sinh to lớn của thế hệ cha anh đi trước, vừa là nhu cầu khẳng định bản thân cũng như giá trị của “Bộ đội Cụ Hồ” trong xã hội hiện nay. Để đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nhận thức đúng và coi trọng lãnh đạo thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với tinh thần đổi mới, sáng tạo, thực chất. Nội dung giáo dục phải toàn diện, song cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi là: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng cách mạng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người quân nhân cách mạng. Trong tiến hành giáo dục phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, sinh động, phù hợp với từng đối tượng. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với nắm bắt tư tưởng, kịp thời phát hiện, giải quyết từ gốc những vấn đề nảy sinh, đặc biệt là tư tưởng bất mãn, dao động, v.v. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền gương người tốt, việc tốt trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”,… tạo sự lan tỏa sâu rộng trong đơn vị. Qua đó, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, khát vọng cống hiến, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, “vượt qua chính mình” trước những “cám dỗ” về vật chất, địa vị và sự lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch để toàn tâm, toàn ý phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi quân nhân. Chủ nghĩa cá nhân nảy sinh trước hết từ mỗi cá nhân. Cá nhân lơ là, xem nhẹ, buông lỏng, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức sẽ dẫn tới tha hóa, biến chất, thậm chí phản bội Tổ quốc. Đây cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”1. Vì vậy, trong tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi quân nhân phải thường xuyên nghiêm túc “tự soi, tự sửa”, coi đó là nghĩa vụ, trách nhiệm, mục tiêu của bản thân. Để làm được điều đó, phải tự giác, thật thà, thẳng thắn “tự soi” những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm của mình, nhất là hạn chế trong tư tưởng, suy nghĩ (mầm mống của suy thoái về tư tưởng chính trị), từ đó chủ động “tự sửa” với các biện pháp tích cực, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, loại bỏ những suy nghĩ và hành động trái với đạo đức của người quân nhân cách mạng.

Hiện nay, đạo đức của người quân nhân cách mạng chịu sự tác động của nhiều yếu tố; trong đó, lợi ích vật chất, “lợi ích cá nhân” là vấn đề cốt yếu, dẫn đến nhiều sai phạm. Vì vậy, mỗi quân nhân, nhất là cán bộ, chủ trì các cấp phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng theo nguyên tắc: luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân, của Quân đội và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết; không được cơ hội, vụ lợi, thu vén vì lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Bởi, thực tiễn cho thấy: chỉ khi nào mọi quân nhân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức cho sự ổn định, phát triển của cơ quan, đơn vị thì khi đó chủ nghĩa cá nhân được đẩy lùi và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được gìn giữ, bồi đắp và phát huy.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp vừa hồng, vừa chuyên. Đây là giải pháp căn bản nhất để đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong từng cơ quan, đơn vị. Bởi, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Cán bộ tốt thì xây phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thuận lợi; cán bộ xấu thì chống “chủ nghĩa cá nhân” rất khó khăn. Vì vậy, trong xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, vấn đề quan trọng hàng đầu là: phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; kiến thức, năng lực toàn diện,… đặc biệt là, bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhân dân; giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; đề cao trách nhiệm nêu gương, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung của đất nước, Quân đội và đơn vị. Để có được đội ngũ cán bộ như vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng ở tất cả các khâu, các bước trong công tác cán bộ theo phương châm thẳng thắn, khách quan, minh bạch, công khai. Triệt để loại bỏ tư tưởng cục bộ địa phương, “kéo bè, kéo cánh”, trù dập, chèn ép,… trong công tác cán bộ, tạo động lực mạnh mẽ để mọi cán bộ yên tâm công tác, phát huy hết năng lực, sở trường; có cơ hội và môi trường thuận lợi để cống hiến và phát triển.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội là nguyên tắc bất biến. Và, tập trung dân chủ là nguyên tắc nền tảng, vô cùng quan trọng, góp phần bảo đảm cho Quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Chính vì thế, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ được xác định là một trong những nguyên nhân cơ bản của nhiều vụ việc vi phạm ở một số tổ chức, cá nhân trong Quân đội thời gian qua. Vì vậy, các cấp ủy cần tiếp tục thực hiện nghiêm Quy định số 104-QĐ/QU, ngày 16/02/2017 của Quân ủy Trung ương về “Một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam”. Trong đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, như: công tác quân lực, công tác cán bộ; công tác tài chính, mua sắm vật tư, trang bị, tài sản công; xây dựng cơ bản, quy hoạch quản lý, sử dụng đất và công trình quốc phòng; chính sách nhà ở, đất ở của cán bộ,… nhất thiết phải được tập thể cấp ủy, tổ chức đảng thông qua mới thực hiện. Trong sinh hoạt đảng, nhất là ở chi bộ, từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, bày tỏ chính kiến thẳng thắn, trung thực, khách quan, thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Những vấn đề quan trọng, những ý kiến khác nhau phải được thảo luận kỹ, kết luận rõ ràng trước khi biểu quyết. Thực hiện tốt nội dung này sẽ ngăn chặn đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì - những người có chức, quyền sa vào chủ nghĩa cá nhân ngay từ gốc. Bởi, chi bộ là nơi quản lý, rèn luyện, giáo dục đảng viên.

Năm là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; kiên quyết xử lý nghiêm các sai phạm. Để tạo sức mạnh trong đấu tranh, ngăn chặn và quyét sạch chủ nghĩa cá nhân, cấp ủy, tổ chức đảng các cơ quan, đơn vị cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, kiểm soát theo nguyên tắc: mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; nhất là trong công tác cán bộ và các lĩnh vực dễ để chủ nghĩa cá nhân chi phối dẫn đến nảy sinh tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất để kịp thời cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm, kiên quyết không để lọt những người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, chủ động nắm chắc tình hình mọi mặt của cơ quan, đơn vị, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các biểu hiện, hành vi của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” từ sớm, từ xa. Kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật đảng, kỷ luật Quân đội theo tinh thần không có “vùng cấm”, loại bỏ “cành sâu, mục để giữ cho cây khỏe mạnh” ngay trong từng cơ quan, đơn vị.

Cùng với đó, các cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần chăm lo xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; đồng thời, xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi để đấu tranh quyét sạch chủ nghĩa cá nhân, làm cho phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được phát huy và lan tỏa sâu rộng.

Tiến hành các giải pháp trên đòi hỏi nhận thức sâu sắc, quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, chủ động, sáng tạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Thực hiện tốt nội dung quan trọng này không chỉ làm cho chủ nghĩa cá nhân bị quyét sạch, mà còn tô thắm và làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Việt Nam kiên định chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, vì hòa bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa


  Chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay là sự nhất quán về đường lối, chủ trương và luật pháp về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của Đảng và Nhà nước Việt Nam; là tư tưởng quốc phòng đúng đắn, được lựa chọn và xác lập phù hợp với tình hình thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; là sự kế thừa truyền thống, tinh hoa văn hóa dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, được nâng lên và cấu thành nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.


Việt Nam ban hành nhiều chính sách quốc phòng, là sự thể hiện tầm cao trí tuệ, đúc kết tài thao lược quân sự, quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quân đội, phù hợp với bối cảnh quốc tế, thực tiễn đất nước, hòa bình hoặc chiến tranh, xung đột mà Việt Nam đang phải đối diện. Nhờ đó, Việt Nam không chỉ bảo vệ được toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn phá vỡ thế bao vây, cấm vận, mở đường hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, giữ vững nền hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Để chuẩn bị cho đất nước bước vào thời kỳ phát triển nhanh và bền vững, thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành một nước thịnh vượng, hùng cường và có nhiều đóng góp quan trọng vào giữ vững, xây đắp nền hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và thế giới, Đảng và Nhà nước ta ban hành chính sách quốc phòng Việt Nam (1), với một số quan điểm cơ bản:  

“Bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

“Một đồng”: Đồng thời tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung.

“Một tùy”: Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp.

Như vậy, “mẫu số chung” của chính sách quốc phòng Việt Nam là: “Tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Điều này thể hiện một chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, tiến bộ và đúng đắn của Việt Nam, vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa tôn trọng và hài hòa với lợi ích của các quốc gia khác và cộng đồng quốc tế.  

“Không tham gia liên minh quân sự” là chính sách đầu tiên, chi phối và quyết định toàn bộ các chính sách quốc phòng khác của Việt Nam. Thực hiện chính sách quốc phòng nhất quán độc lập, tự chủ, Việt Nam xây dựng sức mạnh quốc phòng bằng nguồn lực mọi mặt của đất nước và con người Việt Nam; độc lập song không biệt lập, mà đồng thời (“một đồng”) chú trọng tăng cường quan hệ quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, cùng có lợi, vì hòa bình và sự tiến bộ của thế giới.

Bởi vậy, những luận điệu cổ xúy Việt Nam “chọn phe”, “liên thủ” hoặc “liên minh” quân sự với nước khác để “gia tăng sức mạnh bảo toàn chủ quyền lãnh thổ”, cũng như đi ngược lại nguyên tắc “bốn không”, bản chất là âm mưu hòng làm suy yếu nền quốc phòng của Việt Nam, phá vỡ nguyên tắc nền quốc phòng tự chủ của một quốc gia độc lập, dẫn đến sự lệ thuộc vào các lực lượng quân sự khác, gây nên những hệ lụy to lớn ảnh hưởng tới sức mạnh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cùng với “bốn không”, “một đồng”, chính sách “một tùy” thể hiện sự khéo léo, linh hoạt, nhưng hết sức cứng rắn trong quan hệ quốc tế, quốc phòng, quân sự của Việt Nam. Trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, Việt Nam sẽ “cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp”, nhằm tăng thêm thực lực, sức mạnh quốc phòng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động xâm hại đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Mối quan hệ biện chứng, tương hỗ, chuyển biến linh hoạt giữa “bốn không”, “một đồng”, “một tùy” trong chính sách quốc phòng Việt Nam thể hiện sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự của dân tộc, phù hợp với xu thế của thời đại, bảo vệ tuyệt đối chủ quyền đất nước, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

Lịch sử chiến tranh và quân đội trên thế giới đã chứng minh về tính chất hai mặt của liên minh quân sự. Hiện nay, thế giới đang tồn tại một số liên minh, khối quân sự tiêu biểu: 1) Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) - liên minh quân sự 30 nước do Mỹ đứng đầu; 2) Tổ chức Hiệp ước An ninh tập thể (CSTO) - liên minh chính trị quân sự 6 nước châu Âu (thuộc khối Liên Xô trước đây) do Nga dẫn đầu; 3) Tổ chức An ninh tập thể Thượng Hải gồm 5 nước Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan; 4) Liên minh quân sự 3 nước Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Mỹ (ANZUS); 5) Liên minh quân sự Mỹ - Nhật Bản - Hàn Quốc; 6) Liên minh quân sự Nga - Bê-la-rút... Ngoài ra, trước sự tranh giành, mâu thuẫn và đối đầu quyết liệt về lợi ích, thế giới đã hình thành các “Bộ Tứ”, “Bộ Tam kim cương” ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, như: Mỹ - Nhật Bản - Ô-xtrây-li-a - Ấn Độ; Nga - Trung Quốc - I-ran; Nga - I-ran - Ấn Độ; quan hệ Đối tác An ninh tăng cường ba bên (AUKUS): Mỹ - Ô-xtrây-li-a - Anh…   

Trong tính tương đối, các liên minh, khối quân sự trên tạo ra một cục diện tương đối hòa bình, ổn định cho khu vực và thế giới trong thời gian qua; nhưng mặt khác, chính các khối liên minh quân sự này đã và đang gây ra những căng thẳng, châm ngòi cho các cuộc chiến tranh, xung đột, tranh chấp, chủ nghĩa khủng bố kéo dài dai dẳng. Mâu thuẫn về lợi ích căn bản giữa các nước lớn đã thúc đẩy những hành động quân sự, chính sách quốc phòng cực đoan. Các nước khác trong và ngoài các khối này luôn bị lôi kéo hoặc cuốn vào những cuộc xung đột, buộc phải chi phí, tiêu hao nguồn lực quốc gia cho quốc phòng, an ninh để tăng cường phòng bị và tham gia nhiều hoạt động quân sự của liên minh; hoặc liên tục bị xung đột, chiến tranh, chủ nghĩa khủng bố tàn phá... khiến cho đất nước không thể phát triển, ngày càng phụ thuộc, lệ thuộc sâu hơn vào các nước lớn. Và, một khi lợi ích quốc gia của các nước lớn hoặc các quốc gia thuộc khối quân sự lớn đạt được thì lợi ích của các đồng minh nhỏ hoặc các nước nhỏ sẽ bị gạt đi một cách phũ phàng… Sự thật đó cho thấy, việc “chọn phe” cũng có thể đồng nhất với sự đánh mất chủ quyền quốc gia - dân tộc, khi quyền căn bản nhất là độc lập về đường lối chính trị đối nội và đối ngoại, quân sự đã bị nước ngoài can thiệp. “Chọn phe” phần nào thể hiện sự lệ thuộc, sự lạc hậu về tư tưởng và hành động quốc phòng, quân sự, đi ngược lại xu thế hòa bình và hợp tác của thời đại. Các quốc gia trên thế giới dù có cùng chung ý thức hệ hoặc khác biệt ý thức hệ đều có thể tồn tại, chung sống hòa bình, thịnh vượng nếu các bên cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Vì vậy, việc kiên trì chính sách quốc phòng “bốn không”, “một đồng”, “một tùy” là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam.

Lịch sử và hiện tại đều chứng minh, Việt Nam có đủ sức mạnh để tự bảo vệ mình mà không cần lệ thuộc, phụ thuộc vào bất cứ khối và liên minh quân sự nào. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam chính là sức mạnh tổng hợp quốc gia, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại... Khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân Việt Nam đã trở thành sức mạnh vô địch mà không một kẻ địch nào có thể chiến thắng được. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đoàn kết là sức mạnh vô địch. Ta kháng chiến thắng lợi, cũng nhờ đoàn kết. Ta xây dựng hòa bình thắng lợi, cũng nhờ đoàn kết” (2).

Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật trong xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân; đồng thời là nhân tố quyết định bảo đảm cho quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc bất di bất dịch đó và thực tiễn xây dựng, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam là minh chứng hùng hồn đập tan mưu đồ của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa”, “trung lập hóa” và “dân sự hóa” quân đội, hòng làm cho quân đội nước ta mất phương hướng chính trị, xa rời lý tưởng, mục tiêu chiến đấu.

Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đồng thời tăng cường khả năng quốc phòng; phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam thực hiện chiến lược quốc phòng dựa trên tổng thể các hoạt động chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - xã hội và quân sự nhằm triệt tiêu các nguyên nhân dẫn đến xung đột vũ trang và chiến tranh. Quán triệt phương châm phòng thủ toàn diện, chủ động, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, quốc phòng Việt Nam sử dụng các biện pháp tổng hợp nhằm giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa các nguy cơ can thiệp từ bên ngoài.

Đó còn là sức mạnh của thực lực quân sự, quốc phòng Việt Nam đã không ngừng được xây dựng, lớn mạnh cả về lực lượng, tiềm lực, thế trận, khoa học - công nghệ, nghệ thuật chỉ huy, tác chiến, sự tập trung thống nhất về lãnh đạo và quản lý quốc phòng - an ninh quốc gia, vùng, miền chiến lược, địa phương và cơ sở. Các lực lượng vũ trang, nhất là quân đội được nhanh chóng xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia trách nhiệm và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình thế giới, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của đất nước nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế; đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Rõ ràng, những thành tựu, cùng thực lực sức mạnh quân sự, quốc phòng của Việt Nam đã tạo tiền đề vững chắc cho sự lựa chọn, kiên định, thống nhất triển khai thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự vệ, vì hòa bình; là điều kiện thuận lợi cho xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời tự nó là minh chứng đanh thép đập tan những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, kêu gọi từ bỏ chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay./