Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023

PHÁT HUY NỀN TẢNG CHÂN LÝ LỊCH SỬ NGÀY 07/01


Cách đây 44 năm, ngày 7.1.1979 đã đi vào lịch sử như mốc son của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, tình hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Campuchia. Nhờ sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot và bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, hòa hợp dân tộc và phát triển.
Cuộc đấu tranh cao cả được lịch sử khắc ghi
Trong chiều dài lịch sử, Việt Nam và Campuchia luôn đoàn kết bên nhau chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Tuy nhiên, sau khi lên nắm quyền lãnh đạo Campuchia tháng 4.1975, tập đoàn Pol Pot đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam đồng thời, thực hiện chính sách diệt chủng tàn bạo đối với nhân dân Campuchia.
Đáp lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia và xuất phát từ truyền thống đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc, sau khi thực hiện quyền tự vệ chính đáng, chặn đứng hành động gây chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam của tập đoàn phản động Pol Pot; Việt Nam đã kề vai, sát cánh cùng với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia tiến hành nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh và đến ngày 7.1.1979 đã hoàn toàn giải phóng thủ đô Phnom Penh.
Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại, đưa Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Trong thông điệp chúc mừng kỷ niệm 44 năm Ngày thành lập Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia, Thủ tướng Samdech Techo Hun Sen từng khẳng định: “Đại thắng 7.1.1979 đã chấm dứt thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Campuchia, mở ra một kỷ nguyên mới. Nhân dân Campuchia chúng ta đã giành lại quyền tự do và cơ hội tái thiết tổ quốc của chúng ta. Mọi người dân đều hiểu rõ rằng nếu không có sự ra đời của Mặt trận 2.12 và chiến thắng ngày 7.1, chúng ta không có ngày hôm nay, đó là chân lý lịch sử".
Năm 2022, tại lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Thủ tướng Hun Sen sang Việt Nam tìm kiếm sự trợ giúp của quân tình nguyện Việt Nam để giải phóng Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ ra, hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, đưa đất nước Campuchia hồi sinh, thể hiện sự hợp tác và đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc, góp phần vun đắp cho quan hệ hữu nghị truyền thống quý báu Campuchia - Việt Nam.
Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, đây là cuộc đấu tranh cao cả, trong đó các chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam, đã kề vai sát cánh với những người con anh hùng của đất nước Campuchia để đánh đổ chế độ diệt chủng, hồi sinh Campuchia, vun đắp cho tình đoàn kết, gắn bó, hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, khẳng định chính nghĩa và đóng góp vào những lý tưởng cao đẹp của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Cũng tại buổi lễ, Thủ tướng Hun Sen khẳng định "lịch sử cũng khắc ghi về hành động của quân đội Việt Nam để cứu người dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot”. Nhà lãnh đạo Campuchia đồng thời nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam thể hiện tinh thần hữu nghị trong sáng, tốt đẹp giữa hai nước, nhân dân hai nước. Tôi tin tưởng mối quan hệ này sẽ mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững".
Mốc son đoàn kết quốc tế trong sáng
Ông Mak Chan Narith - quan chức Bộ Quan hệ với Quốc hội, Thượng viện và Thanh tra Campuchia - từng chia sẻ: "Bản thân tôi cũng như mọi người dân Campuchia luôn ghi nhớ công lao và sự anh dũng cao cả mà quân đội tình nguyện Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã dành cho dân tộc chúng tôi, giúp chúng tôi đi lên từ bàn tay trắng, để có sự phát triển như ngày hôm nay".
Theo ông Trần Văn Thông - nguyên tham tán chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia - thực tiễn đã chứng minh với thắng lợi lịch sử ngày 7.1, nhân dân Campuchia đã khép lại trang sử đen tối của những hố chôn tập thể và những cánh đồng chết, thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc và mở ra kỷ nguyên độc lập, hòa bình, tự do và phát triển cho đất nước Campuchia; đồng thời hồi sinh tình hữu nghị Campuchia - Việt Nam, mở ra thời kỳ mới cho quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Campuchia phát triển gắn bó, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau.
Ông Nguyễn Văn Triệu - Phó Chủ tịch Thường trực Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia Thành phố Hồ Chí Minh từng nhận định, ngày 7.1.1979 đã đi vào lịch sử như là mốc son của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung; của tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, đưa đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, bước vào một kỷ nguyên mới: Độc lập, tự do, hồi sinh, đồng thời mở ra một trang mới trong quan hệ láng giềng giữa hai nước.
Trong khi đó, Tổng lãnh sự Campuchia tại Thành phố Hồ Chí Minh Sok Dareth khẳng định, ngày 7.1.1979 không chỉ là bước ngoặt lịch sử khép lại trang sử của thời kỳ đen tối dưới chế độ diệt chủng Pol Pot mà còn mở ra kỷ nguyên mới, thắp sáng hy vọng mới, sự sống mới, hòa bình, ổn định phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập của Campuchia vào khu vực và thế giới. Người Campuchia mãi mãi tri ân và ghi nhớ công lao quý báu của Việt Nam, luôn nhớ rằng ngày 7.1 là ngày sinh lần thứ hai của họ. Đây là chân lý của lịch sử mà không ai có thể xuyên tạc, vu khống hay lãng quên được.
Viết tiếp chặng đường phát triển
Ngày nay, quan hệ hữu nghị Việt Nam và Campuchia tiếp tục được tiếp thêm sức mạnh từ những truyền thống vốn có từ lâu đời trong lịch sử. Quan hệ Việt Nam - Campuchia đã và đang được củng cố và phát triển vững chắc theo phương châm láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.
Những năm qua, quan hệ Việt Nam - Campuchia phát triển tốt đẹp trên nhiều mặt. Năm 2022, hai nước có nhiều hoạt động trao đổi đoàn cấp cao: Chuyến thăm chính thức Campuchia của Thủ tướng Phạm Minh Chính và ngay sau đó là chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tới Campuchia cùng trong tháng 11.2022; Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thăm chính thức Campuchia tháng 10.2022...
Nhìn lại chặng đường 44 năm qua, chúng ta tự hào và vui mừng nhận thấy quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia luôn được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp đang tiếp tục không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay

 

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình.

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc.

BẢO VỆ CÁN BỘ DÁM ĐỘT PHÁ, VÌ LỢI ÍCH CHUNG


1. Phát biểu tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương ngày 3-1, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa nhấn mạnh cần phải chấn chỉnh việc làm “cầm chừng”, “phòng thủ”, “che chắn”, giữ “an toàn” trong một bộ phận cán bộ, công chức nào đó, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp… Từ đó người đứng đầu Đảng ta yêu cầu có cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thời gian qua, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII và đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, công cuộc phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh với việc xử lý hình sự nhiều cán bộ, nguyên cán bộ cấp cao thì đâu đó xuất hiện “vi rút trì trệ”. Biểu hiện cao độ của sự trì trệ là nhiều việc lẽ ra phải được giải quyết ở cấp dưới nhưng cấp dưới, cấp cơ sở không giải quyết, mà dồn lên cấp trên, thậm chí lên đến cấp Chính phủ. Có thể thấy rõ thực trạng này trong giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp nhà nước; việc xử lý các dự án thua lỗ, chậm tiến độ... Mới nhất là khi một số vụ án liên quan đến ngành Y tế được phát hiện, xử lý thì sau đó việc tổ chức đấu thầu, đấu giá mua sắm thuốc chữa bệnh, sinh phẩm và trang thiết bị y tế bị đình trệ; việc hợp tác kinh doanh, đầu tư các trang thiết bị y tế tiên tiến từ nguồn lực xã hội gần như “đóng băng”.
Hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên nói rằng: “Bây giờ làm việc gì cũng sợ sai, làm xong rồi cũng không biết có sai hay không, sai cũng không biết sai chỗ nào và thậm chí không làm gì cũng có thể dẫn đến sai phạm”. Từ đó biện minh rằng, sở dĩ họ sợ sai không dám làm là vì cơ chế. Ở thời điểm này cơ chế có thể đúng, nhưng ở một thời điểm khác có thể sai. Vì thế “không làm gì thì có thể bị khiển trách, làm rồi có thể vướng lao lý”?!
Xét cho cùng, bản chất cơ chế, chính sách là đúng nhưng cái không đúng là không ít người lợi dụng cơ chế để “bắt tay dưới gầm bàn”, “đi đêm”, móc ngoặc làm những việc khuất tất để phục vụ cho lợi ích cá nhân, một nhóm người. Vì thế không thể đổ cho cơ chế. Nếu là cơ chế, tại sao nhiều cán bộ, công chức, viên chức chấp nhận nghèo chứ không tham nhũng và càng không thể nói số đó không hiểu luật, mà họ có đạo đức, có danh dự, có tự trọng...
Thực tiễn đó đòi hỏi giải quyết tình trạng “vi rút trì trệ” âm ỉ trong các cơ quan công quyền, đồng thời với việc xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ những cán bộ đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện các nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”. Tuy nhiên phải hiểu rằng, dám làm, dám đột phá, không có nghĩa là làm ẩu, làm liều, càng không phải là vi phạm pháp luật. Dám đột phá, dám chịu trách nhiệm chính là thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng của người “đứng mũi chịu sào” không lùi bước trước khó khăn và luôn sẵn sàng đón nhận cả thành công và chưa thành công, thậm chí đối mặt với những rủi ro khi không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không tư lợi mà lấy lợi ích chung lên hàng đầu.
Tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm là thực tế không thể phủ nhận và càng không cho phép được kéo dài. Để khắc phục tình trạng này, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần cụ thể hóa Kết luận số 14-KL/TƯ ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” vào đời sống. Trong đó tập trung rà soát những bất cập, nhanh chóng sửa đổi những quy định của pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể, ưu tiên những việc ảnh hưởng đến số đông: Đầu tư công, tài chính, giáo dục, y tế… theo hướng rõ ràng hơn, minh bạch hơn; cá thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân. Việc này cần làm thường xuyên, liên tục để làm sao phải chặt chẽ trong quản lý, có tính răn đe, giáo dục; không để người xấu lợi dụng nhưng cũng tạo sự yên tâm cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ. Quy định phải cụ thể, càng cụ thể thì càng làm chỗ dựa tin cậy cho những hành vi dám đột phá vì lợi ích chung diễn ra mạnh mẽ, lấn át sự trì trệ.
Cùng với đó, để khuyến khích tinh thần dám đột phá, đương đầu với khó khăn thì cách đánh giá cán bộ cũng cần được triển khai phù hợp; xóa tư tưởng làm việc “cầm chừng” trong một bộ phận công chức, viên chức. Cách đánh giá cần phải giúp người được giao việc, nhất là việc mới, việc khó vững tâm tin rằng nếu mình vào việc vì lợi ích chung thì sẽ được nhìn nhận đúng, sẽ không gặp rắc rối.
Một yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng để thúc đẩy cán bộ dám đột phá là tập thể lãnh đạo, nhất là người đứng đầu phải thật sự có tâm trong ứng xử với cấp dưới, luôn biết nghĩ đến tập thể, cá nhân nhận việc mới, việc khó trước rồi mới nghĩ đến việc mình được lợi gì từ đó; có tầm trong lãnh đạo, điều hành, quyết đoán nhưng không chuyên quyền và phải là trung tâm đoàn kết của cơ quan, đơn vị… Nếu không, tình trạng “mũ ni che tai” sẽ cản trở sự phát triển của đơn vị, địa phương.
Ngoài ra, để bảo vệ cán bộ dám đột phá vì lợi ích chung cần đẩy mạnh cơ chế kiểm tra, giám sát trong Đảng một cách thực chất. Trong đó, tập thể phải là “bệ đỡ” cho tinh thần trách nhiệm của cá nhân người cán bộ dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.
ST

ĐẢNG, MÙA XUÂN VÀ VẬN NƯỚC


Với người dân Việt Nam, mùa xuân luôn thiêng liêng và ấm áp. Mùa xuân gắn với Tết Nguyên đán - Tết cổ truyền của dân tộc, mở đầu năm mới âm lịch. Mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi, nảy lộc, nở hoa và là mùa của niềm tin, hy vọng.
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có rất nhiều sự kiện trọng đại xảy ra vào mùa xuân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa xuân (ngày 3-2-1930) đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường xây dựng và phát triển của dân tộc ta. Từ mùa xuân năm ấy, vận nước đã thay đổi. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, dân tộc Việt Nam tiếp tục tạo lập thêm nhiều mùa xuân huy hoàng, khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.
Có lẽ hiếm có dân tộc nào trên thế giới khi nói đến Đảng cầm quyền, người dân lại dùng hai chữ “Đảng ta”. Hai chữ đó thật thiêng liêng, tự hào, gắn sâu trong tâm thức của các thế hệ người Việt 93 năm qua. 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phấn đấu không ngừng, luôn xứng đáng là “người đày tớ, người lãnh đạo thật trung thành của nhân dân”, “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng ghi nhận.
Sau mùa xuân thành lập Đảng, đến mùa xuân năm 1931 là sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào ngày 26-3-1931, tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày nay. Đây là tổ chức chính trị - xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Mùa xuân năm 1941, Bác Hồ kính yêu trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Giữa một vùng núi non trùng điệp với muôn hoa đua sắc và lòng người rưng rưng, lắng đọng trong giờ phút Bác Hồ đặt bước chân đầu tiên lên đất mẹ tại cột mốc 108 (Pác Bó - Cao Bằng) trong sắc hoa Xuân rực rỡ sau bao năm xa Tổ quốc đã trở thành cảm hứng vô tận cho sự ra đời bài thơ “Mùa Xuân năm 1941” của nhà thơ Tố Hữu: Ôi sáng Xuân nay, Xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về... im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ...”.
Điện Biên Phủ - chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp được tổ chức vào mùa xuân năm 1954 (chiến dịch kéo dài từ ngày 13-3 đến ngày 7-5-1954).
Trận Ấp Bắc là trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam Việt Nam đánh bại lực lượng càn quét của ngụy quân Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy, báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ diễn ra vào mùa xuân năm 1963 (2-1-1963). 5 năm sau, vào dịp Tết Mậu Thân (năm 1968), quân dân miền Nam nhất tề tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn, tiến công hàng loạt căn cứ quân sự, đánh trúng các sào huyệt, cơ quan đầu não quan trọng của quân Mỹ và quân Ngụy, là đòn quyết định giáng vào chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.
Mùa xuân năm 1973, sau nhiều thất bại thảm hại, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 27-1-1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari lập lại hòa bình tại Việt Nam.
Mùa xuân năm 1975, cả dân tộc Việt Nam bừng bừng khí thế cho cuộc tổng tiến công chiến lược. Mở đầu là chiến dịch Tây Nguyên (từ 4-3 đến 24-3-1975). Kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (26-4 đến 30-4-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Có một sự trùng hợp khá lý thú của lịch sử, các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng ta thường được tổ chức vào mùa xuân. Sau mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta lại đem đến cho đất nước những mùa xuân ấm áp, sinh chồi nảy lộc. Đại hội lần thứ nhất của Đảng diễn ra vào mùa xuân năm 1935 tại Ma Cao, Trung Quốc. Gần đây nhất là Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng diễn ra vào mùa xuân năm 2021.
Trong các sự kiện về Đảng ta, mùa xuân và vận nước của Việt Nam không thể không nhắc đến các sự kiện diễn ra trên mảnh đất cách mạng Tuyên Quang. Từ khi có Đảng, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang một lòng một dạ sắt son theo Đảng, xây dựng phong trào, phát triển, củng cố cơ sở cách mạng vững chắc; tiến hành thắng lợi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, cấp châu đầu tiên trong cả nước. Khi tình hình thế giới biến động mau lẹ, có lợi cho cách mạng Việt Nam, Bác Hồ đã chỉ thị phải chọn ngay một địa bàn để làm căn cứ lãnh đạo cách mạng cả nước. Tân Trào, Tuyên Quang, mảnh đất hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, có dân tốt, cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, thuận tiện làm một trung tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược và nước ngoài, đã được chọn làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước.
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được tổ chức tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang vào mùa xuân năm 1951 (từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951). Đây là một trong những sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Đảng từ bí mật trở lại hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng.
Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, vào mùa xuân năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Tuyên Quang để lãnh đạo toàn dân kháng chiến kiến quốc. Ngày 2-4-1947, Người về đến làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Một lần nữa, Thủ đô Khu Giải phóng năm xưa đã trở thành Thủ đô Kháng chiến, là nơi ở, làm việc của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương.
Sau 7 năm Bác Hồ rời Tuyên Quang về Hà Nội, vào mùa xuân năm 1961 (trong 2 ngày 19 và 20-3-1961), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang vô cùng xúc động được đón Người về thăm. Bác đã đến thăm xóm Hợp Hòa 2, xã Lưỡng Vượng (thị xã Tuyên Quang), Trung đoàn 246, Nông trường Sông Lô, Trường Thiếu nhi vùng cao, Trường Sư phạm cấp I Bình Thuận, Trường Bổ túc văn hóa tỉnh, Trường Đảng tỉnh Tuyên Quang. Người đến dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ III; nói chuyện với nhân dân Tuyên Quang tại sân vận động thị xã; thăm và nói chuyện với nhân dân Tân Trào (Sơn Dương)…
Thực hiện lời căn dặn của Bác khi Người về thăm Tuyên Quang, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn đoàn kết thống nhất, phấn đấu không ngừng và đạt nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt trong năm 2022 vừa qua với sự tăng trưởng kinh tế cao, diện mạo từ đô thị tới nông thôn được đổi thay khởi sắc, đời sống nhân dân được cải thiện.
Mùa xuân năm 2023 này là mùa xuân thứ 93 kể từ ngày Đảng ta ra đời và là mùa xuân thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Năm 2022 vừa khép lại với những thành tựu toàn diện của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng, đặc biệt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, kinh tế đạt tăng trưởng ở mức cao nhất trong nhiều năm qua, vượt qua mọi dự báo lạc quan nhất, tạo đà cho hầu hết các lĩnh vực khác bứt phá… Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những thành công lớn, tạo bước chuyển mạnh mẽ. Không còn vùng cấm, không có ngoại lệ. Liên tục các cán bộ vi phạm, kể cả cán bộ cấp cao bị “đưa ra ánh sáng”, bị xử lý đúng người, đúng tội thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước, được nhân dân đồng tình, ủng hộ cao. Qua đó, thể hiện nhất quán quan điểm “nói đi đôi với làm” trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.
Dẫu vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, song kết quả của những nỗ lực trong năm vừa qua là tiền đề rất quan trọng cho vận nước vào năm 2023 này.
Với nhân dân, Đảng ta luôn là mùa xuân của dân tộc.
Đại tá, nhà báo ĐỖ PHÚ THỌ
Có thể là hình ảnh về 1 người, hoa và văn bản cho biết 'ởi tất cả sự khiêm tán, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ cÓ được cơ đồ, tiềm lực, vị thể và uy tín quôc tế như ngay nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả môt quả trình nỗ lực phẩn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta... TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG'

1

CƠ SỞ KHOA HỌC-THỰC TIỄN ĐỂ BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ ẢO VỌNG”

 

Thời gian qua, trên một số diễn đàn, mạng xã hội và trang tin điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí nước ngoài, có ý kiến vẫn cố tình cho rằng, “tương lai thế giới này không có chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội là hoang tưởng”, "chủ nghĩa xã hội-đường đi không đến đích", “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng”.
Những ý kiến trên mang hàm ý hoài nghi về tính hiện thực của lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nhân loại đang hướng tới và có dụng ý phủ nhận con đường XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đang xây dựng và đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Xu hướng xã hội hóa, dân chủ hóa là tất yếu
Theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, CNXH trước hết và tiêu biểu là sự vận động của đời sống hiện thực theo xu hướng xã hội hóa. Nó đối lập với xu hướng tư nhân hóa của xã hội hiện tồn.
Vậy, biểu hiện của “xu hướng xã hội hóa trên thực tế” là như thế nào?
Đó là xu hướng ngày càng tăng lên các mối liên kết xã hội trong sản xuất như hợp tác, liên kết, phối hợp, phân công trong sản xuất hoặc dịch vụ. Thực tiễn sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội hóa thì cách tổ chức quản lý xã hội cũng buộc ngày càng phải dân chủ hóa. Theo C.Mác, đây là những xu hướng hiện thực cơ bản cho sự ra đời của CNXH. Lý tưởng về xây dựng một xã hội trên các nguyên tắc: Công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... cũng được xây dựng và hiện thực hóa từ những xu hướng này.
Thế nhưng, phải đến thế kỷ 19 thì những nhân tố cho việc định hình xu hướng xã hội hóa trên thực tiễn mới rõ ràng. Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa hoặc các cuộc cách mạng công nghiệp là biểu hiện thực tế tiêu biểu nhất cho xu hướng này.
Cùng với sự trưởng thành của phong trào công nhân, sự hình thành các đảng cộng sản, cuộc đấu tranh cho lý tưởng công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... đã có thêm sự dẫn đường của lý luận CNXH khoa học. Cái tất yếu và cái tự giác hòa quyện với nhau cùng nâng tầm nhận thức và hiệu quả hành động cho nhân loại.
Tính hiện thực của CNXH thể hiện ở nhiều cấp độ
Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra các cấp độ hiện thực hóa của CNXH như sau:
Cấp độ thứ nhất, tính hiện thực của CNXH được thể hiện qua những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa ngay trong thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản. Điển hình là sự phổ biến phương thức sản xuất công nghiệp, sự tăng lên các mối liên kết của nhân loại trong sản xuất, dịch vụ và sự định hình hệ thống pháp luật-công pháp quốc tế để cùng nhau giải quyết một cách công bằng, bình đẳng những vấn đề của phát triển hiện đại.
Cấp độ thứ hai, tính hiện thực của CNXH thể hiện ở những phong trào, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... Thực chất là những xu hướng vận động, những cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội với các mục tiêu hòa bình, độc lập, cùng phát triển trong dân chủ, công bằng và bền vững.
Cấp độ thứ ba là thông qua các cuộc cách mạng xã hội, xác lập chế độ dân chủ XHCN, thông qua đó xác lập quyền làm chủ của nhân dân, chế độ kinh tế XHCN trên cơ sở công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động... Đặc trưng chính trị của chế độ XHCN là giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thông qua vai trò cầm quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua nhà nước XHCN.
Cấp độ thứ tư là sự xác lập trên thực tế hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa-chủ nghĩa cộng sản. Một xã hội mới phát triển ở trình độ rất cao cả về sản xuất dịch vụ và tổ chức quản lý, được xây dựng trên nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”, con người được phát triển tự do, xã hội không còn giai cấp, không còn nhà nước, môi trường thiên nhiên được bảo vệ bền vững; hòa bình và hữu nghị trở thành quan hệ phổ biến và tất định trong quan hệ quốc tế. Loài người trên trái đất này bước vào một giai đoạn phát triển với trình độ mới: Xã hội cộng sản văn minh.
Phản ánh các cấp độ phát triển của CNXH hiện thực là lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Hiện thực hóa lý luận này tiêu biểu nhất là quá trình xây dựng CNXH hiện thực trên thế giới mà khởi đầu là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và các xu hướng đi lên CNXH hơn 100 năm qua. Trải qua khá nhiều thăng trầm, tính hiện thực của CNXH vẫn được thể hiện trên nhiều phương diện và cấp độ.
CNXH hiện diện ở nhiều quốc gia là minh chứng khách quan
Ở cấp độ là những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp đang nối tiếp nhu cầu thúc đẩy xu hướng này, khiến cho sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng ngày càng gắn bó. Cùng với đó là các biểu hiện mới của xã hội hóa hiện đại, như: Toàn cầu hóa, phân công và hợp tác lao động quốc tế, sự hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất, kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng. Các liên kết hợp tác, đồng thuận giữa nhiều nước trong quản trị để giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Tất cả xác định rằng, xu thế xã hội hóa hiện nay đang rất mạnh mẽ.
Ở cấp độ là những xu hướng, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... mà biểu hiện cụ thể là tìm tới một mô hình tổ chức xã hội khác với chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phủ định kiểu tổ chức xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”-như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.
Hiện nay, mô hình phát triển này đang là thực tiễn ở nhiều nước Bắc Âu và một số quốc gia phát triển khác. Ở những nước này, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuy vẫn còn là chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng khá nhiều giá trị XHCN, nhân tố XHCN đã và đang được tích lũy. Giá trị xã hội, lợi ích xã hội, mục tiêu xã hội, ý nghĩa xã hội của các hoạt động rất được xem trọng và được coi như những nhân tố hữu cơ của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Những thành quả ấy trước hết là kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân nhưng mặt khác, cũng cần thấy rằng, chính quy luật của cuộc sống-ở đây là xu thế xã hội hóa, đã thúc đẩy những tiến bộ xã hội ấy.
Ở cấp độ là chế độ XHCN, sau cuộc khủng hoảng của một mô hình xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô (1989-1991), nhiều nước vẫn giữ vững chế độ XHCN, tiến hành cải cách đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. CNXH hiện thực đang là thực tế ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba... Ở những quốc gia này, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã và đang gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhà nước XHCN, quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân đều là những thực tế không thể phủ nhận. Đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH trong cải cách đổi mới ở các nước XHCN hiện nay không chỉ xác nhận xu thế đi lên CNXH ở cấp độ quốc gia mà còn cống hiến những con đường, biện pháp mới mẻ để xây dựng CNXH. Những cống hiến đó đã được các đảng cộng sản và đảng công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới thừa nhận như những giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh, xu thế thời đại ngày nay.
Những “mảnh ghép” tốt đẹp đang định hình xã hội tương lai
Điều khá thú vị là, một số “mảnh ghép” của xã hội tương lai-chủ nghĩa cộng sản, cũng đang dần xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hiện nay. Chế độ tự quản của các cộng đồng dân cư, cái mà C.Mác cho rằng sẽ thay thế cho nhà nước trong xã hội cộng sản, hiện nay cũng đã xuất hiện ở nhiều nước trong một số lĩnh vực quản trị xã hội. Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh thế thế giới và cũng là tác giả của khái niệm “cách mạng công nghiệp 4.0” nhận định rằng: Hiện nay chúng ta đã có chủ nghĩa cộng sản về thông tin! Hàm ý của ông phản ánh một thực tế là hiện nay, nếu bạn có phương tiện nối mạng, nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu, chỉ cần tra một từ khóa vào công cụ tìm kiếm, sẽ có ngay hàng triệu thông tin và gần như hoàn toàn miễn phí! Ngay ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều hành động thiện nguyện tự giác cũng phản ánh lối tư duy và hành động của con người trong xã hội tương lai: “Bánh mì miễn phí”, “nước uống miễn phí”, “dịch vụ sửa xe miễn phí”...
Chúng ta có thể coi những ví dụ trên là những “mảnh ghép” của hiện thực đang định hình cho xã hội tương lai-xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Như vậy, với một cách nhìn khoa học, chúng ta có thể khẳng định CNXH vẫn đang là một thực tế với nhiều cấp độ trên thế giới hiện nay. Thực tế đó đang biểu hiện rất sinh động, có sức hấp dẫn mạnh mẽ với nhân loại. Thế giới đang đi lên CNXH với nhiều con đường, cách thức khác nhau. Như lời C.Mác và Ph.Ăng-ghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”(1).
PGS, TS NGUYỄN AN NINH
(Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH VÀ PHU NHÂN CHỦ TRÌ CHIÊU ĐÃI ĐOÀN NGOẠI GIAO NHÂN DỊP TẾT CỔ TRUYỀN

 

Nhân dịp Tết cổ truyền Quý Mão 2023, tối 9/1, tại Hà Nội, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Phu nhân chủ trì tiệc chiêu đãi Đoàn Ngoại giao do Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam long trọng tổ chức.
Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Võ Văn Thưởng, Thường trực Ban Bí thư; Trần Thanh Mẫn, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng; các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Trọng Nghĩa, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Thị Minh Hoài, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Lê Minh Khái, Phó Thủ tướng Chính phủ; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Võ Thị Ánh Xuân, Phó Chủ tịch nước; các Phó Thủ tướng Chính phủ: Trần Hồng Hà, Trần Lưu Quang, các Phó Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Khắc Định, Nguyễn Đức Hải; đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành của Việt Nam; Đại sứ Palestine tại Việt Nam Saadi Salama, Trưởng đoàn Ngoại giao tại Việt Nam cùng các Đại sứ, Đại biện, Trưởng đại diện các tổ chức quốc tế tại Hà Nội cùng Phu nhân, Phu quân.
Phát biểu ý kiến tại sự kiện, trong không khí ấm cúng, thân tình, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ hân hạnh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng đại diện các tổ chức quốc tế có buổi gặp mặt đầu năm 2023; gửi tới Quý vị và các bạn lời chào trân trọng, lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.
Thủ tướng nêu rõ, thế giới của chúng ta trải qua năm 2022 với rất nhiều biến động phức tạp, khó lường và khó khăn, thách thức nhiều hơn dự báo: ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19; cuộc xung đột tại Ukraine; lạm phát, thiếu hụt năng lượng, đứt gãy chuỗi cung ứng, sản xuất; các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp… Từ đó các quốc gia càng nhận thức sâu sắc, rõ ràng hơn về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các nền kinh tế; cùng nhau hợp tác, phối hợp hành động với cách tiếp cận toàn cầu, tăng cường đoàn kết quốc tế và đề cao chủ nghĩa đa phương. Cũng nhờ đó mà đại dịch Covid-19 đã cơ bản được kiểm soát; hầu hết các quốc gia đã mở cửa trở lại và thúc đẩy quá trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội.
Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, với tinh thần đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị và sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng 3,15%; GDP cả năm tăng 8,02%; các cân đối lớn được bảo đảm; quy mô nền kinh tế đạt 409 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 4.110 USD; an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được tăng cường; hoạt động đối ngoại được đẩy mạnh, tiếp tục mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và các nước.
Đặc biệt, với tinh thần hợp tác quốc tế cao đẹp, cộng đồng quốc tế đã dành cho Việt Nam sự giúp đỡ kịp thời, có ý nghĩa, góp phần tạo điều kiện để phòng chống dịch, mở cửa và phục hồi kinh tế xã hội.
Nhân dịp này, thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, Thủ tướng chân thành cảm ơn toàn thể quý vị, và thông qua quý vị xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Chính phủ và nhân dân các nước, các tổ chức quốc tế đã luôn dành tình cảm, sự hỗ trợ quý báu, thiết thực, hiệu quả cho Việt Nam trong thời gian vừa qua.
Thủ tướng nêu rõ, bước sang năm 2023, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, là khát vọng của mỗi chúng ta. Song, chặng đường hiện thực hóa mục tiêu và khát vọng đó không hề dễ dàng và đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi quốc gia và toàn thế giới. Chúng ta cần nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, thắt chặt hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác, cùng nhau ứng phó hiệu quả với những thách thức mang tính toàn cầu với tinh thần “tất cả cùng thắng”. Mỗi quốc gia có thể có sự khác biệt, giống như trong gia đình mỗi người có thể có tính cách khác nhau nhưng chúng ta cùng chung khát vọng, tầm nhìn, niềm tin, hy vọng về một thế giới hòa bình, hữu nghị và phát triển bao trùm, bình đẳng, toàn diện.
Thủ tướng nhấn mạnh, chúng ta cần chuẩn bị tâm thế sẵn sàng để cùng nhau “hóa giải” các thách thức của kinh tế thế giới, diễn biến phức tạp của các vấn đề an ninh phi truyền thống, những cọ xát địa-chính trị, địa-kinh tế. Đồng thời, chúng ta cần có những giải pháp chính sách kịp thời, phù hợp với bối cảnh từng quốc gia trên nguyên tắc chia sẻ, hỗ trợ, thấu hiểu và mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân mỗi nước.
Chúng ta cần chuẩn bị tâm thế sẵn sàng để cùng nhau “hóa giải” các thách thức của kinh tế thế giới, diễn biến phức tạp của các vấn đề an ninh phi truyền thống, những cọ xát địa-chính trị, địa-kinh tế. Đồng thời, chúng ta cần có những giải pháp chính sách kịp thời, phù hợp với bối cảnh từng quốc gia trên nguyên tắc chia sẻ, hỗ trợ, thấu hiểu và mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân mỗi nước.
Chúng ta cần tăng cường liên kết, tháo gỡ khó khăn, rào cản để thúc đẩy các lĩnh vực là động lực của phục hồi kinh tế sau đại dịch như sản xuất, thương mại, du lịch, dịch vụ, chuỗi cung ứng… Đồng thời đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư, nắm bắt cơ hội từ xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bao trùm, toàn diện, hợp tác, bền vững.
Về phần mình, Việt Nam kiên trì, nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; là bạn bè tốt, là đối tác tin cậy của các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đóng góp tích cực vào nỗ lực chung, hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn cho khu vực và thế giới.
Chúng tôi mong muốn và tin tưởng rằng quý vị sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối hiệu quả, làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước. Quý vị là những sứ giả quan trọng để đưa Việt Nam đến gần hơn với thế giới và mang thế giới đến gần hơn với Việt Nam.
Tết cổ truyền dân tộc của chúng tôi đang đến gần. Việt Nam chúng tôi có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Thủ tướng chúc quý vị sẽ có những ngày nghỉ lễ đầm ấm, an toàn, khỏe mạnh, có ý nghĩa. Mong rằng quý vị sẽ có dịp tham dự nhiều hoạt động, sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật; thưởng thức văn hóa ẩm thực, âm nhạc phong phú; tham quan các danh lam thắng cảnh của Việt Nam; để thực sự cảm nhận, chia sẻ, thấu hiểu và yêu mến đất nước, con người Việt Nam nhiều hơn.
Trong không khí tin cậy, ấm áp này, chúng ta hãy cùng nâng ly: chúc Việt Nam, các nước bè bạn trên thế giới tiếp tục thành công trên con đường hướng tới hòa bình, hợp tác, phồn vinh, hạnh phúc và thịnh vượng!
Chúc quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế không ngừng được củng cố và phát triển!
Chúc toàn thể quý vị và gia đình, người thân đón một Tết Việt Nam đầm ấm và một năm mới dồi dào sức khỏe, tràn đầy hạnh phúc và thật nhiều thành công!
Thay mặt Đoàn Ngoại giao, Đại sứ Palestine tại Việt Nam Saadi Salama gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; nhấn mạnh, một mùa Xuân mới đang đến, cũng là lúc năm 2022 qua đi với những thành tựu tốt đẹp mà Việt Nam đã đạt được trên nhiều lĩnh vực. Bước tiến này đã nối dài những thành công trên hành trình hơn 35 năm đổi mới, mở cửa, mang đến những tâm thế mới để đất nước Việt Nam bước vào năm 2023 với những niềm tin mới, nguồn lực mới trong một năm sẽ có những thử thách nhưng cũng đầy ắp cơ hội mới.
Đại sứ nêu rõ, năm 2022, tình hình quốc tế đã có những biến động phức tạp, khó lường. Cho dù hợp tác vẫn tiếp tục là xu hướng chủ đạo nhưng các cuộc xung đột, chiến tranh đã xảy ra thách thức các nỗ lực hòa bình và tạo môi trường an ninh ổn định để phát triển. Tuy nhiên, vượt qua nhiều khó khăn, bên cạnh một chính sách điều hành kinh tế-xã hội hiệu quả, Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế của một quốc gia thân thiện, sẵn sàng là bạn, là đối tác của các nước trong cộng đồng quốc tế, phát huy vai trò tại các diễn đàn đa phương khu vực và toàn cầu.
Việc Việt Nam được tín nhiệm bầu vào nhiều tổ chức quốc tế quan trọng như Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO nhiệm kỳ 2022-2026… là những minh chứng thuyết phục cho chính sách ngoại giao tích cực của Việt Nam.
Năm 2023 là thời điểm đặc biệt đối với Việt Nam khi đất nước của các bạn đã xác định sẽ tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ phát triển kinh tế, hoàn thiện thể chế, nâng cao đời sống người dân trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những chuyển biến khó lường, các cuộc xung đột, căng thẳng vũ trang vẫn diễn ra ở nhiều nơi đe dọa việc thực hiện những mục tiêu thịnh vượng của nhân loại.
Đoàn Ngoại giao tin tưởng rằng, với quyết tâm và bản lĩnh, với chủ trương đối ngoại hòa bình và tinh thần xây dựng, Việt Nam sẽ đóng góp tiếng nói quan trọng trong việc tiếp tục thúc đẩy tuân thủ luật pháp quốc tế, duy trì hòa bình và ổn định thế giới, tăng cường hợp tác giữa các quốc gia, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và nỗ lực giải quyết các thách thức chung vì một hành tinh đáng sống cho các thế hệ con cháu chúng ta.
Nhân dịp này, thay mặt Đoàn Ngoại giao, Đại sứ bày tỏ sự cảm kích đối với Thủ tướng Phạm Minh Chính và các cơ quan hữu quan Việt Nam vì sự đồng hành, hỗ trợ, lòng mến khách và tình bạn thân thiết đã dành cho những nhà ngoại giao trong công việc cũng như cuộc sống. Điều đó khiến cá nhân ông cũng như rất nhiều thành viên của Đoàn Ngoại giao ngày càng gắn bó, yêu mến đất nước Việt Nam. Đoàn Ngoại giao cũng quyết tâm tiếp tục các nỗ lực thúc đẩy và phát triển hơn nữa mối quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên thế giới thông qua hợp tác hòa bình và cùng có lợi vì một thế giới hòa bình, bình đẳng, thịnh vượng, hợp tác và phát triển bền vững.
Trước thềm Tết Nguyên đán Quý Mão, một sự kiện có ý nghĩa thiêng liêng với dân tộc Việt Nam, Đại sứ Saadi Salama chúc lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam một Mùa Xuân mới an vui, hạnh phúc và tiếp tục tạo nên những dấu ấn đáng nhớ trong hành trình hội nhập và phát triển thịnh vượng./.
Báo Nhân Dân

TẠI SAO SÂN MỸ ĐÌNH “TÀN PHẾ” CHỈ SAU 4 NĂM?


Bên trên là trận đấu tại AFF Cup 2018 tại sân vận động Mỹ Đình giữa Việt Nam và Malaysia, còn bên dưới là trận đấu Việt Nam với Myanamar tại AFF Cup 2022. Nhìn vào hai bức hình có thể thấy rõ rằng chỉ sau 4 năm, sân Mỹ Đình đã xuống cấp một cách nghiêm trọng về mặt cỏ. Vậy, tại sao lại có sự xuống cấp này?
Trước năm 2012, khu liên hợp thể thao Mỹ Đình theo nằm hoàn toàn dưới sự quản lý của nhà nước. Từ năm 2012 - 2017, khu liên hợp này được thí điểm hình thức tự chủ tài chính 100%. Tức là khu liên hợp này sẽ thực hiện cho thuê đất đai, cơ sở vật chất… để phục vụ các nhu cầu thương mại chứ không chỉ dừng lại ở việc phục vụ thể thao quốc gia. Và các vấn đề cũng bắt đầu phát sinh từ đây.
Đầu tiên, cứ mỗi 5 năm thì mặt cỏ sẽ được thay mới hoàn toàn. Và lần thay mới toàn diện cuối cùng đã từ trước khi tự chủ tài chính. Tức là cách đây đã hơn 10 năm, như vậy là quá lâu.
Trong những năm từ 2009 đến 2018, nhờ cơ chế tự chủ tài chính, mỗi năm khu liên hợp thể thao Mỹ Đình thu được 30 - 60 tỷ đồng, số tiền này vừa đủ để trả lương nhân viên, duy trì khu liên hợp. Cần phải biết rằng, sân Mỹ Đình nằm trong khu liên hợp thể thao Mỹ Đình nên số tiền nhìn có vẻ lớn nhưng thực chất sân Mỹ Đình chỉ được xài một phần trong số tiền kể trên. Nhưng với số tiền kiếm được, sân Mỹ Đình vẫn có thể hoạt động “không đến nỗi nào”.
Từ năm 2018, hết thí điểm, bắt đầu tiến hành thanh tra toàn diện việc tự chủ tài chính của khu liên hợp Mỹ Đình và một loạt các vụ việc được phát giác ra. Ví dụ như tự ý cho thuê các phần diện tích đất ngắn hạn khi chưa có sự đồng ý của đơn vị chủ quản là Bộ VH-TT&DL và Bộ Tài chính, cho các đơn vị thuê với mức giá rẻ rồi các đơn vị này cho thuê lại với mức giá cao gấp 3 lần gây ra thất thoát nghiêm trọng cho nhà nước, không hạch toán một vài khoản thu vào báo cáo tài chính, nâng cấp hạ tầng khu liên hợp với các vật tư có mức giá cao hơn từ 3 đến 7 lần so với mức giá thị trường, cho một số doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính và chuyên môn tham gia các hoạt động cải tạo nâng cấp khu liên hợp...
Các việc trên đã gây ra thất thoát lớn cho nhà nước cộng thêm việc số tiền hạch mà khu liên hợp kiếm được về mặt báo chí chỉ đủ duy trì hoạt động mà không dư ra nhiều cho các hoạt động nâng cấp, bảo trì.
Trong 2 năm 2020 - 2021, vì việc việc bị thanh tra, điều tra nên các doanh nghiệp, hộ kinh doanh đều không mặn mà thuê đất tại đây nữa, các giải đấu thể thao bị đình chỉ, các hoạt động kinh tế lễ hội thuê mặt bằng tại Mỹ Đình diễn ra rất hạn chế. Dẫn tới nguồn thu không đủ tiền trả lương nhân viên, không đủ tiền duy trì hoạt động, khu liên hợp Mỹ Đình (trong đó có sân Mỹ Đình) xuống cấp không phanh. Trong khi đó, các khoản thuế phải nộp và lãi liên tục tăng cao. Mỗi năm, khu liên hợp này phải nộp thuế sử dụng đất lên tới trên 60 tỷ đồng trong khi doanh thu hiện tại chỉ vài tỷ đồng.
Sang năm 2022, tình trạng tài chính của ban quản lý sân Mỹ Đình đã gần như cạn kiệt và không khó hiểu khi sân Mỹ Đình không khác gì cái bãi chăn bò như hiện tại.
Vậy nên sai phạm tại sân Mỹ Đình là những sai phạm mang tính hệ thống và tồn tại trong nhiều năm liền, đặc biệt từ giai đoạn 2012 - 2018. Dẫn tới hệ quả từ sau 2018 đến nay, khu liên hợp này trong giai đoạn nằm chờ kết quả điều tra, xử lý. Việc nâng cấp sân Mỹ Đình chuẩn bị cho vòng loại thứ 3 World Cup và SEA Games chỉ mang tính thời điểm tạm thời và không giải quyết được tận gốc vấn đề.
ST
Có thể là hình ảnh về 5 người, mọi người đang chơi thể thao, ngoài trời và sân vận động