Thứ Năm, 12 tháng 1, 2023

Đừng giả dối và tiếp diễn sai lầm bởi sự vu khống, cáo buộc thiếu trách nhiệm

 

Sự thật nói lên tất cả, xảo trá là bản chất hay theo đuôi

Hội đồng Nhân quyền là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người của Liên Hợp quốc và là diễn đàn đối thoại, hợp tác và thúc đẩy quyền con người ở các quốc gia, dân tộc.

Ngày 11–10-2022, tại Hoa Kỳ, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bầu 14 quốc gia làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, trong đó có Việt Nam. Với 145/189 phiếu bầu, chiếm gần 80%, Việt Nam thuộc tốp cao nhất trong các nước trúng cử.Điều đó khẳng định sự ủng hộ, tín nhiệm vàsự kỳ vọng của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp có trách nhiệm của Việt Nam vào việc thúc đẩy và thực hiện quyền con người trên thế giới.

Với việc xác định con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; Đảng, Nhà nước ta đã cụ thể hóa các quan điểm của mình thành các điều khoản trong Hiến pháp, các bộ luật, các chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội vì con người. Theo đó, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, được bảo vệ, bảo đảm và hiến định rõ ràng trong Hiến pháp và pháp luật. 

Kết quả này đã được các cơ quan quốc tế có trách nhiệm khẳng định, đánh giá cao bởi Việt Nam đã thành công trong việc đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014–2016; đặc biệt trong những năm qua đã tích cực thúc đẩy đối thoại và hợp tác trong lĩnh vực này, đem lại và bảo đảm các quyền cơ bản của con người, nhất là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho người dân; để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp, được cộng đồng quốc tế thừa nhận, đánh giá cao. 

Thế nhưng, người có trách nhiệm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố quyết định đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo và nhân quyền vì “đã thực hiện và dung túng cho những vi phạm nghiêm trọng về quyền con người và tự do tôn giáo”. Làm việc này, phương Tây cho rằng họ “muốn giúp Việt Nam có thêm điều kiện để giải quyết các mối quan ngại lâu dài về tự do tôn giáo”.

Thật nực cười vì chiêu trò xảo trá này đã “lộ tẩy” bởi những người đưa Việt Nam vào “danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo” sống ở bên kia bán cầu, xa Việt Nam nửa vòng trái đất, nhưng lại tự cho mình cái quyền đánh giá, phán xét, xếp loại Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo có hệ thống, luôn tiếp diễn và nghiêm trọng”, ảnh hưởng nhiều nhất đến “người Hmong và người Thượng theo đạo Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy, Giáo hội Phật giáo Thống nhất, Cao Đài độc lập, và nhiều nhóm khác”. Từ đó, kêu gọi Việt Nam “phải nghiêm khắc giải quyết những lo ngại” của họ.

Đánh giá, phán xét thiếu khách quan, không trung thực là tự đánh mất lòng tin, tự tước bỏ uy tín

Đưa Việt Nam vào danh sách cần theo dõi đặc biệt về tư do tôn giáo và nhân quyền, người có trách nhiệm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã thiếu thận trọng, không khách quan trong việc đưa ra quyết định của mình khi chưa tiến hành điều tra, khảo sát thực tế tình hình tự do tôn giáo, nhân quyền ở Việt Nam. Họ dựa vào đâu và tin những kẻ nào mà lại độc quyền phán xét như vậy. Làm việc sai trái ấy, họ đã can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của một quốc gia có độc lập, chủ quyền; đã “vẽ đường cho hưu chạy” vì kích hoạt cho một số đối tượng bất mãn, chống cộng và một số hội, nhóm, tổ chức tôn giáo độc lập vi phạm luật pháp Việt Nam chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Việc công bố quyết định vô căn cứ trên, phương Tây đã hà hơi, tiếp sức cho một số phần tử thiếu thiện chí với Việt Nam, làm cho chúng “vui mừng, hứng khởi” ra mặt khi hoan nghênh quyết định của Hoa Kỳ; mượn cái cớ này, “kêu gọi Washington gây áp lực hơn nữa với Hà Nội để Việt Nam thay đổi chính sách về tự do tôn giáo và nhân quyền”.

Vậy là, do không hiểu rõ bản chất sự việc, không biết tường tận vấn đề, bản chất và âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam; lại bị mua chuộc, lừa gạt, một số giáo dân, phật tử đã tung lên mạng xã hội quan điểm, chính kiến “bày tỏ sự đồng tình với động thái mới nhất của Hoa Kỳ” và vội vàng ca tụng phương Tây, “kích động Mỹ” ra độc chiêu, ban bố “các chế tài hoặc làm cái gì đó” để buộc Việt Nam phải “thực hiện và tôn trọng các công ước quốc tế về tự do tôn giáo và nhân quyền”.

Phải nói ngay rằng,một số người đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo và nhân quyền đã dựa trên những thông tin không chính xác vềtự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam, đã thiếu sự kiểm chứng, đối chiếu, so sánh với những gì đã và đang diễn ra trên thực tế đời sống, sự tự do tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam; đã xúc phạm danh dự, uy tín của Việt Nam. Đây là điều không thể chấp nhận vì nó rất vô lý đối với một tổ chức tự xưng là đại diện cho tự do tôn giáo và nhân quyền nhưng lại làm việc sai trái, thiếu nhân văn, nhân đạo.

Nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế hiểu biết về Việt Nam đều cho rằng, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Nó đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật, quy định của Việt Nam và được bảo đảm tôn trọng trên thực tế. Bất kể là ai, tổ chức nào vi phạm luật pháp Việt Nam đều phải nghiêm trị theo pháp luật của Việt Nam. Hãy nhìn vào đời sống vật chất, tinh thần và sự phát triển về mọi mặt của đồng bào các tôn giáo, sinh hoạt của các tổ chức tôn giáo trên dải đất hình chữ S sẽ rõ sự thật về tự do tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam như thế nào, tính ưu việt của nó ra sao.

Thực tế chứng minh rằng: Những nỗ lực và thành tựu to lớn của Việt Nam về bảo đảm quyền con người, bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo cho người dân đã được chính nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế thừa nhận, đánh giá cao.

Ai đó, tổ chức nào còn nghi ngờ về sự thật ấy, hãy đến Việt Nam, bằng chính mắt mình và trí tuệ của người có học thức mà kiểm định thực tế những gì là sự thật đã, đang diễn ra đối với đồng bào các dân tộc, các tôn giáo trong đại gia đình Việt Nam. Nếu cần thiết thì chính quyền Việt Namsẽ dành thời gian, sẵn sàng trao đổi với những người có trách nhiệm, đại diện các quan chức năng của phương Tây về các vấn đề mà họ quan tâm trên tinh thần trung thực, thẳng thắn, cởi mở, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau, cùng đóng góp và thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước, miễn là có lợi cho người dân.

Với lương tâm, trách nhiệm và danh dự của một dân tộc anh hùng, có lương tri vì con người, Việt Nam khẳng định chủ trương, quan điểm đúng đắn về sự quan tâm, chăm lo đặc biệt đối với con người, nhất là việc coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người trong xây dựng và phát triển đất nước, gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội.

Thực tiễn hơn 90 năm đấu tranh giành độc lập dân tộc, nhất là hơn 35 đổi mới đã khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam trong thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền tự do tôn giáo theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế. Đồng bào, giáo dân, phật tử và các tổ chức tôn giáo Việt Nam không kêu ca, phàn nàn cớ sao những kẻ “cầm đèn chạy trước ô tô” lại giở trò “chọc ngoáy”, “phá đám”, cản trở cuộc sống bình an, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Sự thật việc trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc đã minh chứng sự nỗ lực phấn đấu kiên trì, bền bỉ của Việt Nam trong việc thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người, đồng thời khẳng định sự ủng hộ, tín nhiệm của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp quan trọng và có trách nhiệm của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người ở khu vực và trên thế giới; chẳng nhẽ 145/189 phiếu bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 là thiếu căn cứ.

Sự thật là cuộc sống rất sinh động, tự nó khẳng định chân lý và tỏa sáng niềm tin. Việt Nam không thể che giấu sự thật này bởi gần 200 quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ, hợp tác với Việt Nam, đã đến Việt Nam, nhiều công dân của họ đã và đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam; gần 150 quốc gia có đại sứ quan, lãnh sứ quán tại Việt Nam. Họ đều có mắt nhìn, có tai nghe, có trái tim và quan điểm rõ ràng về tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam. Họ biết rõ như thế nào là đúng, sai, phi lý và chính nghĩa. Họ không tự phản bội mình và lừa dối lương tâm. Họ đã, đang và sẽ nói lên sự thật vì họ tôn trọng sự thật khách quan.

Thiết nghĩ những người đưa Việt Nam vào danh sách cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo và nhân quyền nên dành thời gian tham khảo ý kiến của tất cả công dân quốc tế đã có mặt tại Việt Nam để không tái diễn sai lầm đáng tiếc; đừng quy chụp, vu khống; đừng tự biến mình thành “ngáo ộp”, người “vô lương tâm”, “thiếu trách nhiệm”, “không có liêm sỉ” khi chà đạp thô bạo lên những cố gắng của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy những giá trị phổ quát về quyền con người, đã hết lòng phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội.

Đọc kỹ lịch sử, đến khảo sát thực tế Việt Nam, thế giới quan, lời phát ngôn sẽ chân thực, nhân văn

Việt Nam – một dân tộc đã phải chống chiến tranh xâm lược nhiều lần, đã mất mát, hy sinh và nếm trải đắng cay cũng lắm nên rất yêu chuộng hoà bình, luôn đề cao các giá trị nhân văn và nhân đạo; nhất định không để những kẻ xấu thực hiện âm mưu chống phá, tung tin giả mạo, bôi nhọ danh dự, uy tín của mình; kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi quan điểm, hành vi sai trái về tự do tôn giáo và nhân quyền. Việt Nam đã, đang và sẽ giúp bạn bè quốc tế hiểu đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc hơn chủ trương, chính sách và thành tựu về quyền con người, tự do tôn giáo ở đất nước này.

Việt Nam đang chung tay với cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới hòa bình, văn minh, mọi người dân và mọi quốc gia, dân tộc đều thụ hưởng thành quả phát triển và tiến bộ xã hội, không ai bị bỏ lại ở phía sau. Chúng ta đều là con người, xin hãy tôn trọng lẫn nhau và hãy tăng cường đối thoại, đẩy mạnh hợp tác vì các giá trị nhân đạo.

 Dưới bầu trời hòa bình, hội nhập và hiểu biết lẫn nhau, chúng ta mới có thể bảo đảm tất cả quyền con người thuộc về con người, cho tất cả mọi người. Hỡi những ai, tổ chức nào đã thiếu khách quan khi đưa Việt Nam vào danh sách cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo và nhân quyền, hãy tự vấn lương tâm và cố gắng sửa chữa sai lầm, khuyết điểm.

Lúc này, làm đúng, thực hiện giá trị nhân văn là đừng nhúng tay vào chàm, bao che sự giả dối và tiếp diễn sai lầm đáng tiếc. Hãy đọc kỹ lịch sử Việt Nam, đến Việt Nam mà hiểu đất nước, con người Việt Nam; ở đó có lời giải đáp sâu sắc, thỏa đáng nhất về tự do tôn giáo và nhân quyền chân chính./.

Đằng sau chiêu trò phủ nhận thành quả đổi mới là một âm mưu…

Nhận diện những kẻ “ăn quả phá người trồng cây”, tiếp tay cho các thế lực thù địch

Phủ nhận thành quả cách mạng là một trong những thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị, trong đó phủ nhận thành quả 35 năm đổi mới đất nước là một chiêu trò hết sức nguy hiểm, được các thế lực thù địch “đặc biệt quan tâm”.

Ai chủ mưu dàn dựng và cổ súy cho kịch bản này; vì sao chúng lại làm như vậy? Có nhiều lý do giải thích, song chủ yếu là do nó liên quan trực tiếp đến vai trò cầm quyền lãnh đạo, uy tín, vị thế và sinh mệnh của Đảng; sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia – dân tộc; mối quan hệ giữa nó với lợi ích của những kẻ bất mãn, có thâm thù với chế độ, bất đồng quan điểm với Đảng, Nhà nước ta. Đây là những kẻ thường tự khoe “có học vị, học hàm, có chức danh, đã từng ăn cơm Tây” nhưng chúng chỉ là thiểu số, là “con sâu làm rầu nồi canh”, đang tiếp tay cho các thế lực chống phá, hại nước, hại dân.

Ưu tiên hàng đầu trong chống phá thành quả đổi mới là chúng chĩa mũi nhọn vào công tác xây dựng Đảng, bôi nhọ danh dự, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ – những người “đứng mũi chịu sào”, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Tình tiết mới của sự chống phá là chúng xúm vào xuyên tạc đời tư, thân thế, sự nghiệp, danh dự của lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Quân đội và Công an…, coi đó là sự công phá “mới, mốt và hiệu quả nhất” bởi tính úp mở, khêu gợi sự tò mò, tạo sức hút từ tâm lý hiếu kỳ, “thích cái lạ” của những phần tử bất mãn và một bộ phận dân chúng. Làm việc này, chúng đang thực hiện âm mưu: kích hoạt cho những phản ứng dây truyền, tạo sự lây lan nhanh và ảnh hưởng mạnh mẽ “từ nguồn, tại gốc” sự chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta vì chúng biết “mất dân, Đảng mất chỗ dựa vững chắc, “Đảng sẽ chung chiêng, chao đảo”, khi ấy chúng dễ bề thao túng Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN).

Từ mưu sâu, kế hiểm ấy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cấu kết với nhau, kiên trì, bền bỉ quậy phá, phủ nhận thành quả đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Vì vậy, chúng luôn bám sát mục tiêu, đối tượng mà chúng nhằm vào để tác động, bôi đen thành quả đổi mới đất nước, làm mất giá trị “thần tượng Hồ Chí Minh”, vai trò lãnh đạo của Đảng. Với âm mưu đen tối ấy, chúng đang dùng “trăm mưu, ngàn kế” để dội “nước lạnh vào lò, làm tắt lửa”, tạo áp lực lên Đảng; chia rẽ Đảng với Nhà nước và nhân dân.

Ngón đòn nham hiểm, xảo quyệt, thể hiện sự “vong ân, bội nghĩa” của chúng là quay lưng lại lịch sử, bêu xấu những người làm nên thành quả đổi mới. Chúng đang đẩy mạnh “sản xuất” tin giả, tung lên mạng xã hội những hình ảnh, tin, bài, các loại băng hình đủ kiểu loại, các luận điệu sai trái, đi ngược lại chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng nhằm bôi đen bức tranh kinh tế Việt Nam với nhiều gam màu sáng, tối; lẫn lộn thật giả, đúng sai. Chiêu thức này bắt đầu từ việc xuyên tạc đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đến việc hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng để phủ nhận kết quả đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Hiện nay, đang có sự tiếp tay, hỗ trợ đắc lực cho các thế lực chống phá Đảng ta từ những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị và một số người xấu “theo đuôi chúng”. Họ a dua với nhau cùng chơi trò “kẻ tung người hứng”, đồng thanh la ó rằng, Đảng “chẳng có công cán gì”, “thành tựu 35 năm đổi mới là do Đảng “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình” theo kiểu “mèo khen mèo dài đuôi”, còn thực chất là “không có thật”, “kết quả đổi mới hoàn toàn là điều bịa đặt để lừa gạt, mỵ dân”. Đặc biệt gần đây, sau khi Chính phủ công bố con số ấn tượng về tăng trưởng kinh tế năm 2022 là 8,02%, thì ngay lập tức, chúng cho rằng “đó là con số ma”, do “Tổng cục Thống kê thêu dệt”, rồi chúng tung hỏa mù về đúng, sai, gây sự nghi ngờ, mất niềm tin của công chúng, với lập luận: Nếu năm 2022 tăng trưởng kinh tế đạt 8,02% thì “chỉ béo quan chức”, còn “đời sống nhân dân vẫn rất khó khăn vì họ không có việc làm, thất thu; đất nước vẫn lún sau vào “vũng bùn” nghèo đói, lạc hậu”, …

Chưa hết, luận điệu xuyên tạc mang tính phổ quát được chúng “tua đi tua lại nhiều lần” là “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế không dám đổi mới chính trị vì “lĩnh vực này có nhiều gai góc”, “không có lợi lộc gì lại dễ bị mất chức, mất quyền hay xảy ra tình trạng đấu đá, tranh dành quyền lực”.

Từ sai trái này, đến sai trái khác, chúng đang nhúng sâu vào công việc xây dựng Đảng, tuyên truyền xuyên tạc, dặt tính chất vu cáo, buộc tội, nào là: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết động lực, mất sức sáng tạo; từ sau Đại hội XIII đến nay không đổi mới nữa”, nào là, Đảng chỉ “thay đổi nhỏ giọt nhằm tạo ê kíp, thanh trừng một số cán bộ không hợp cánh hẩu”, v.v.. Những luận điệu sai trái này thốt ra từ miệng kẻ xấu, rất ác ý, không thể xem thường. Nó xuất phát như “một chiến dịch”, ào ào như những lớp sóng dồn dập đổ vào bờ trong một thời điểm và nhan nhản trên mạng xã hội với tần suất lớn, nhất là vào dịp Đảng ta tổ chức các sự kiện chính trị quan trọng như họp hội nghị Trung ương, hội nghị tổng kết chuyên ngành của Đảng và tổ chức các phiên tòa xét xử các bị cáo dính líu đến đại án tham nhũng mà đối tượng là cán bộ cấp cao do Trung ương quản lý.

 Rõ ràng,với luận điệu “bán buôn lời nói”, “chọc gậy bánh xe”, chúng đang nuôi dưỡng âm mưu “nối giáo cho giặc”, cùng hợp lực chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chiêu thức này đặc biệt nguy hiểm, sức hủy hoại của nó rất lớn, không thể xem thường, chúng ta phải hết sức đề cao cảnh giác.

Bản chất không thay đổi, tội lỗi ngày càng thêm nặng

Trước đây, chúng đã tung ra luận điệu “Nếu không có ông Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam thì đất nước đã giầu đẹp từ lâu rồi” và nay, trước sự thật không thể chối cãi về thành tựu đổi mới, được cả thế giới thừa nhận, buộc chúng phải thay đổi chiến thuật “có thừa nhận kết quả đổi mới nhưng xuyên tạc, bóp méo sự thật; lấy hiện tượng quy về bản chất để phủ nhận tất cả”. Vì thế, chúng hậm hực tung ra luận điệu mới, nguy hại hơn:

“Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết bài, hết tài, hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo công cuộc đổi mới” và đổ lỗi cho Đảng gây nên sự tụt hậu về kinh tế, trì trệtrong phát triển đất nước. Lý do chính là chúng đỗ lỗi cho Đảng ta cứ khư khư bám giữ chủ nghĩa Mác – Lênin, một lý thuyết đã lỗi thời và kiên định đi theo con đường XHCN, một định hướng sai lầm vì “CNXH đã cáo chung”, đã được “đưa vào bảo tàng lịch sử”.

Giọng điệu chê bai, bài xích, chống phá Đảng thật trơ trẽn, ngông cuồng và hết sức ngạo mạn; đã thế, chúng còn lên giọng “khuyên” Đảng ta phải “tự lột xác”, “mở toang cánh cửa cho làn gió mới là tư tưởng tư sản và mô hình “xã hội dân chủ” phương Tây tràn vào Việt Nam”. Nhận thấy “lời khuyên” không được chấp nhận, chúng kêu gọi nhân dân “xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo của Đảng”; thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, mở rộng “tự do dân chủ”, “nhân quyền” để “cô lập Đảng”, v.v.. 

Âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch và bọn theo đuôi là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lái nước ta đi theo con đường TBCN, có lợi cho chúng. Vì âm mưu, thủ đoạn đen tối ấy, chúng đã điều chỉnh thái độ, hành vi một cách thực dụng hơn: “nếu chưa thể hạ “nốc ao” Đảng, thì phải làm cho Đảng mất vai trò, uy tín trước quần chúng nhân dân, nhất là giới trẻ; làm cho họ hoài nghi, bi quan, chán nản con đường đi lên CNXH, mất niềm tin vào khả năng lãnh đạo của Đảng; từ đó phai nhạt mục tiêu, lý tưởng phấn đấu, “tẩy chay CNXH”.

Để đạt mục đích này, chúng triệt để khai thác và sử dụng internet, mạng xã hội và thổi phồng những mặt tiêu cực trong quá trình Đảng lãnh đạo công cộc đổi mới gắn với phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta dành được trong 35 năm qua.

Là người dân Việt Nam yêu nước, đã từng “vào sinh, ra tử”, đã đi qua các cuộc chiến chiến tranh chống quân xâm lược Pháp, Mỹ và bành trướng, đã từng trải nghiệm sâu sắc từ những năm tháng sống trong cảnh nước mất nhà tan, chúng ta cảm nhận đầy đủ, thấm thía giá trị, ý nghĩa của từng ngày sống trong hòa bình, độc lập, tự do và ý nghĩa vô cùng to lớn của công cuộc đổi mới đất nước.

Nếu không có Đảng, Bác Hồ đưa đường, chỉ lối, không có công cuộc đổi mới từ năm 1986 do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, chắc chắn nhân dân ta không bao giờ có được cuộc sống tốt đẹp ngày nay. Bằng mắt mình hãy “nhìn thẳng, nói đúng”, cảm nhận sâu sắc sự thật đang diễn ra trên đất nước hình chữ S thân yêu, ai cũng thấy rõ sự thay da đổi thịt của quốc gia – dân tộc, sự đổi đời do Đảng, Bác Hồ và cách mạng đem lại. Sự thật nói lên tất cả.

Những người bất mãn, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta chắc chắn không phải “từ trên trời rơi xuống, từ khe đất mọc lên”; chắc chắn họ được sinh ra từ sự yêu thương, nuôi dưỡng của cha mẹ, được ăn học và trưởng thành nhờ công ơn của gia đình, dòng tộc, quê hương, đất nước và người thân. Họ có học thức, có chữ nghĩa, thế nhưng lại vô cảm, vô tâm, bạc bẽo, trở thành những kẻ “ăn cháo đá bát”, “ăn quả phá người trồng cây”, “được ở nhà xây lại chê bai ông chủ”. Thật lố bịch, vô liêm sỉ; đáng nguyền rủa, phê phán; tuyệt đối không thể chấp nhận chúng bởi chúng đang sống nhưng coi như “đã chết” bởi thiếu tình người, cạn lòng khoan dung, lại phụ bạc công sinh thành, dưỡng dục; chà đạp lên công sức của những người đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt, thậm chí đã đổ máu, hy sinh, dành lại cuộc sống hòa hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc hôm nay, những kẻ như thế không xứng đáng là một con người.

Muốn làm việc thiện, điều hay hãy dừng ngay tội lỗi

 Ai đó còn băn khoăn về được mất, phải trái, đúng sai từ thành quả công cuộc đổi mới, còn có biểu hiện “ăn quả phá người trồng cây”, “được ở nhà xây lại chê bai ông chủ”; xin một lần hãy đến Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 và hàng chục nghĩa trang liệt sĩ ở các địa phương khác trên khắp mọi miền đất nước mà tự vấn lòng mình, tự hỏi mình đã làm gì cho Tổ quốc, cho nhân dân, cho quốc gia – dân tộc. Và chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới của nhân dân đã được gì, sẽ mất gì; cớ sao lại cố chấp, theo đuôi bọn xấu, làm nhũng việc thất đức; xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ này vì sự đổi mới, tiến bộ xã hội; sao nỡ bội bạc với vong linh các anh hùng liệt sĩ, với những người cả một đời vì nước vì dân.

Sách đang mở có nhiều điều hay đáng đọc – xin hãy đọc đi! Sự thật là khách quan, cũng như thành tựu, kết quả đạt được qua 35 năm đổi mới đang hiện hữu trên từng con đường, ngõ phố, cuộc sống, sự xum họp đoàn viên của từng gia đình, từng khuôn mặt bé thơ và mỗi công dân Việt Nam yêu nước, nhất là dịp Tết đến, Xuân về – xin hãy để tâm suy xét kỹ; sự thật sẽ giúp mọi người tìm thấy niềm vui!

Cuộc đời đáng sống và luôn rộng mở, đón những người bên kia chiến tuyến trở về hoàn lương, xum họp cộng đồng. Bởi vì, làm điều thiện rất tốt, rất cần, lại không khó. Xin hãy bắt đầu từ việc tránh xa điều ác. Những kẻ “vong ân, bội nghĩa” nhất định sẽ bị tòa án lương tâm phán xử vì sai phạm cả về đạo lý và pháp lý. Cùng với đó, pháp luật Việt Nam dù nhân đạo đến đâu cũng không bao chứa, dung tha những kẻ bán nước, hại dân. Cha ông ta đã nói đúng: “Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng không lọt”; Luật Nhân quả thật rõ ràng “nhân nào thì quả ấy”, “ác giả sẽ ác báo”. Những kẻ gây tội ác hại nước, hại dân có trốn chạy lên trời cũng không thoát tội đâu./.


Nhận thức đúng đắn về đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng

 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam. Sứ mệnh lịch sử của Đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, tiến theo con đường XHCN. Ngoài lợi ích của nhân dân và của cả dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác. Vì vậy, đường lối chung của Đảng, nhất là đường lối quốc phòng đều là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và của cả dân tộc.

Đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng về bản chất là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo truyền thống văn hóa giữ nước, toàn dân đánh giặc của dân tộc, trên nền tảng lý luận Mác - Lênin về vũ trang toàn dân, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân và tinh hoa quốc phòng của nhân loại vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó không phải là một sự sao chép y nguyên, mà là sự kế thừa có chọn lọc, là sự vận dụng nhưng rất sáng tạo những tư tưởng quân sự, quốc phòng, BVTQ của dân tộc và thời đại trong cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, bành trướng xâm lược, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cường quyền đã và đang nổi lên nhằm giải phóng đất nước khỏi ách ngoại xâm, BVTQ và xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam.

Từ thời các vua Hùng dựng nước đến các triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, dân tộc ta luôn đứng trước những thế lực ngoại xâm hùng mạnh gấp nhiều lần, trong điều kiện đất không rộng, người không đông, kinh tế kém phát triển… thì lấy đâu ra nhân lực và nguồn lực dồi dào để có quân đội thường trực hùng hậu. Thánh Gióng - biểu tượng của tráng sĩ, chiến sĩ chống ngoại xâm, nếu không có cha mẹ sinh ra, không có dân làng góp gạo thổi cơm, không có triều đình lo đúc, rèn ngựa, giáp, roi sắt cho… thì dù có tài giỏi đến mấy cũng làm sao có thể đánh tan được giặc Ân… Do vậy, “tận dân vi binh”, “cả nhà cha con đều là lính”, “cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc”… là những tư tưởng quân sự, quốc phòng tiêu biểu, tinh hoa nhất của cha ông ta đã xác lập và được thực tiễn quốc phòng chứng minh là đúng đắn. Vậy, hà cớ gì mà lại đưa ra những lời lẽ phủ nhận những tư tưởng đó trong đường lối QPTD của Đảng.

Thời kỳ thực dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ và chư hầu xâm lược Việt Nam (1945 - 1975), dân số nước ta có khoảng 20-30 triệu người; nền kinh tế lạc hậu, không đồng nhất, đất nước bị chia cắt, chiến tranh tàn phá khắp nơi; trong khi thế lực ngoại xâm không chỉ quân đông, vũ khí hiện đại, tiềm lực quân sự dồi dào, được cả thế giới tư bản hậu thuẫn, “trang bị đến tận răng”… nếu nhân dân ta không dựa vào đường lối xây dựng QPTD, chủ trương toàn dân đánh giặc của Đảng, không kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng, lý luận tiến bộ của thời đại - Học thuyết Mác - Lênin về BVTQ XHCN, vũ trang toàn dân, không nhờ vào sự ủng hộ của bạn bè, nhân dân, chính phủ tiến bộ thế giới, đặc biệt là huy động hết sức mạnh tiềm tàng của toàn thể dân tộc Việt Nam… thì làm sao có thể đánh đuổi được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Sau năm 1975, tuy đất nước đã thống nhất, non sông liền một dải, nhưng thực sự nền kinh tế đã kiệt quệ, cơ sở hạ tầng bị cuộc chiến 21 năm tàn phá nặng nề, nhân dân còn thiếu đói, tàn dư của chế độ cũ, thế lực phản động nổi dậy chống phá ở nhiều nơi; chủ nghĩa đế quốc, bành trướng, dân tộc cực đoan cấu kết với nhau, bao vây, cấm vận, tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt nước ta; nguồn viện trợ của các nước XHCN bị thu hẹp, chấm dứt sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Cũng từ năm 1975, nhân dân cả nước ta lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược mới của bè lũ diệt chủng Polpot câu kết với thế lực bành trướng gây ra suốt nhiều năm ròng rã… Thử hỏi, nếu không có đường lối QPTD, nếu nhân dân không tham gia vào nền QPTD… thì liệu có được một Tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất và giàu mạnh như ngày hôm nay hay không? Quả thực, chỉ có sự tham gia của toàn dân vào sự nghiệp quốc phòng thì mới có được một đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân cả nước thực hiện QPTD, tham gia chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966.

Ngày nay, tuy thế và lực của cách mạng nước ta, trong đó có tiềm lực quân sự, quốc phòng đã lớn mạnh hơn nhiều nhờ thành tựu của hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, nhưng so với tiềm lực của các thế lực ở khu vực và trên thế giới có tham vọng về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, chia cắt, thôn tính, cướp đoạt lợi ích quốc gia - dân tộc… thì còn vô cùng nhỏ bé. Đặc biệt là trước những “mưu ma chước quỷ” của các TLTĐ của đối tượng có mưu đồ chống phá nền độc lập dân tộc, con đường phát triển của nhân dân Việt Nam… thì việc tiếp tục thực hiện đường lối QPTD, tham gia xây dựng nền QPTD là lẽ tự nhiên của mọi người dân Việt Nam, không thể tranh cãi.

Nhận diệnquan điểm sai trái, thù địch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam

 

Các quan điểm sai trái, thù địch, điển hình là những báo cáo phiến diện, lệch lạc, thiếu căn cứ khoa học lẫn pháp lý của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ - USCIRF, thường lặp đi lặp lại điệp khúc rằng: tình trạng vi phạm tự do tôn giáo vẫn tiếp diễn ở Việt Nam; sự đàn áp của Chính phủ tiếp tục là một thực tế khắc nghiệt đối với các nhóm tôn giáo độc lập chưa đăng ký(?!).

Các quan điểm sai trái, thù địch, luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu dựa vào một số hiện tượng, nhóm trái pháp luật mang danh nghĩa tôn giáo, chưa được công nhận, có hiện tượng hoạt động vi phạm pháp luật để quy kết Việt Nam “đàn áp tôn giáo”. Ví như: Nhóm bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Pháp luân công (không được thừa nhận là hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo). Các hiện tượng (nhóm) đó chưa đủ điều kiện để được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung hay công nhận tư cách pháp nhân tôn giáo theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tôn chỉ, mục đích, điều lệ, tổ chức, nhân sự). Thậm chí có một số nhóm lợi dụng hoạt động tôn giáo chống Nhà nước Việt Nam, như Văn phòng Công lý và hòa bình (do một số giáo sĩ, tu sĩ cực đoan của tỉnh dòng Chúa Cứu thế Việt Nam); nhóm Hội đồng Liên tôn (gồm một số giáo sĩ cực đoan thuộc 5 tôn giáo tham gia: Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo); nhóm Liên đoàn dân chủ Công giáo Việt Nam; nhóm Phật giáo Việt Nam thống nhất; nhóm Phật giáo Hòa Hảo thuần túy và Phật giáo Hòa Hảo truyền thống; nhóm Khối Nhơn sanh (Cao Đài); nhóm Tin lành Đấng Christ, Tin lành Lutheran Việt Nam - Hoa Kỳ (trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; nhóm Giê-sùa, Bà Cô Dợ (Tin lành ở Tây Bắc)... đã được USCIRF nêu lên như những minh chứng cho việc Việt Nam “đàn áp tôn giáo”(?!).

Dựa vào các nhóm trái pháp luật mang danh nghĩa tôn giáo cực đoan, chưa được chính quyền công nhận, lấy đó làm cơ sở để phê phán “đàn áp tôn giáo” là cách thức mà USCIRF và một số cá nhân, tổ chức thường sử dụng để áp đặt một cách vô lý quan điểm của họ, không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Trên thực tế, nhiều quốc gia có những biện pháp cứng rắn, kiên quyết dẹp bỏ các hiện tượng tôn giáo mới cực đoan để bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, như Trung Quốc đối với Pháp luân công; Nga đối với giáo phái Hội anh em trong trắng (The White Brotherhood), nhân chứng Giê-hô-va; Nhật Bản đối với phái Chân lý tối thượng (Aum Shirikyo); kể cả Pháp đối với các giáo phái cực đoan, cũng bị Mỹ xếp vào diện các nước hạn chế quyền tự do tôn giáo.

Các báo cáo của USCIRF và quan điểm sai trái, thù địch chủ yếu dựa vào một số phần tử cực đoan lợi dụng tôn giáo hoạt động chống Nhà nước Việt Nam, bị tòa án phạt tù, lấy đó là những “tù nhân lương tâm” (?!) để quy kết Việt Nam vi phạm nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo. Trong đó có các đối tượng như: Nguyễn Bắc Truyển (nhóm Phật giáo Hòa Hảo truyền thống, bị tuyên phạt 11 năm); Y Yich (bị kết án 12 năm) - người dân tộc thiểu số theo nhóm Tin lành cực đoan ở Tây Nguyên; Phan Văn Thu (án tù chung thân) - người sáng lập nhóm Ân đàn Đại đạo (Phú Yên),... Đó đều là những phần tử lợi dụng tôn giáo chống Nhà nước Việt Nam nên bị phạt tù theo quy định của Bộ luật Hình sự, chứ không phải các “tù nhân lương tâm”, như USCIRF gán cho.

Để công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc có hiệu quả, góp phần làm cho xã hội và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, chúng ta cần tăng cường công tác tuyền truyền, phổ biến về luật pháp về tự do tôn giáo và tình hình tự do tôn giáo ở nước ta cho toàn dân và cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn; Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho phù hợp với tình hình thực tế nước ta và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Quán triệt nâng cao nhận thức cho hệ thống chính trị về quan điểm, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo; nghiêm túc chấp hành chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Đa dạng hóa công tác truyền thông, kịp thời và nâng cao chất lượng của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên phương diện tín ngưỡng, tôn giáo.

Nhận diện và phản bác quan điểm sai trái về mô hình quản lý tôn giáo ở Việt Nam

 

Các luận điệu sai trái, thù địch nhìn nhận không đúng về mô hình quản lý tôn giáo theo chế độ “đăng ký” của Việt Nam. Họ lập luận hàm hồ rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo bắt các tôn giáo phải đăng ký, bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội; đặt ra gánh nặng và yêu cầu phức tạp đối với các nhóm tôn giáo để đăng ký với chính phủ; có những quy định sự kiểm soát đáng kể của chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo bằng những điều khoản hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, như duy trì một quy trình đăng ký và công nhận nhiều giai đoạn cho các nhóm tôn giáo (?!).

Những nhận định trên rõ ràng là mang tính áp đặt, không đúng với điều kiện thực tế công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam. Bởi lẽ, mỗi quốc gia đều có cách thức quản lý hoạt động tôn giáo phù hợp với truyền thống và thực tế của mình, trong đó quản lý hoạt động tôn giáo thông qua con đường đăng ký là một hình thức phổ biến, thích hợp và hiện thực ở nhiều quốc gia (như Pháp, Bun-ga-ri, Ba Lan, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc...), trong đó có Việt Nam. Theo đó, mỗi quốc gia có những yêu cầu riêng về điều kiện và thể thức việc đăng ký xem xét tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Có quốc gia xem việc đăng ký pháp nhân của tổ chức tôn giáo thuộc vấn đề ở cấp quốc gia, như Ba Lan, Nga, I-ta-li-a, Đức, Lat-vi-a; có quốc gia chỉ ở cấp hội đồng tỉnh, thành phố (Bun-ga-ri). Về điều kiện, có sự khác biệt giữa các nước, trong đó yếu tố thời gian tồn tại, số lượng, cơ sở tài sản tôn giáo, nhân sự, khả năng tài chính..., là những tiêu chí cơ bản. Việt Nam lựa chọn mô hình quản lý theo hình thức “đăng ký” và phân cấp chủ thể có thẩm quyền cấp đăng ký theo phạm vi hoạt động của tôn giáo là hợp lý và phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Luật pháp Việt Nam đưa ra những tiêu chí cụ thể để công nhận tổ chức tôn giáo chứ không phải để cản trở tự do tôn giáo. Theo đó, mọi tôn giáo nếu bảo đảm những điều kiện đó đều được công nhận, khác với một số quốc gia chỉ thừa nhận một số tôn giáo chủ yếu. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam ngoài những điều kiện về thời gian (giảm từ 23 năm theo Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo xuống còn 5 năm), nhân sự, địa điểm hợp pháp, còn có yêu cầu về hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích... Luật Tín ngưỡng, tôn giáo còn phân cấp quản lý (Trung ương và địa phương) theo phạm vi hoạt động của tổ chức tôn giáo. Bởi lẽ, tổ chức tôn giáo ở Việt Nam rất đa dạng, có tôn giáo phạm vi sinh hoạt trên khắp cả nước, như Phật giáo, Công giáo, Tin lành; có tôn giáo phạm vi hoạt động chỉ trong một khu vực, như Phật giáo Hòa Hảo, Bà-la-môn giáo, có tôn giáo thuộc loại nhóm nhỏ, như Minh sư đạo, Minh lý đạo, Bửu sơn Kỳ hương, Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Mặc Môn, đạo Baha’i (ở Việt Nam); có tôn giáo có nhiều tổ chức, hệ phái khác nhau, như Cao Đài, Tin lành,... Do đó, cơ chế công nhận và quản lý hoạt động của tổ chức tôn giáo theo hình thức đăng ký theo quy mô hoạt động của tôn giáo là phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, cũng giống như nhiều quốc gia khác và được luật pháp quốc tế thừa nhận (tính đặc thù). Đó không phải là điều kiện đặt ra để hạn chế hay cản trở quyền tự do tôn giáo như USCIRF hay các thế lực phản động, thù địch xuyên tạc.

Phê phán các quan điểm sai trái về chính sách quốc phòng ở Việt Nam hiện nay

Là một quốc gia đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, nên Việt Nam luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hoà bình. Đồng thời, Việt Nam cũng đòi hỏi các quốc gia khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi quốc gia của mình. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Điều này cũng được khẳng định rõ trong chính sách quốc phòng Việt Nam - đó là nền quốc phòng mang tính chất chính nghĩa, hoà bình và tự vệ, với chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, để thực hiện âm mưu đen tối, dã tâm thâm độc, nhằm chống phá cách mạng nước ta tới cùng, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ bất cứ thủ đoạn nào để xuyên tạc, bôi nhọ chính sách quốc phòng Việt Nam. Chúng lợi dụng các điểm mới trong đường lối, chính sách về quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước ta, nhất là trong Luật Quốc phòng 2018, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 để đưa ra bình luận, quy chụp thiếu căn cứ về nguyên tắc “bốn không”; tư vấn, góp ý, kiến nghị Việt Nam nên thiết lập, tham gia các liên minh quân sự nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng để bảo vệ đất nước. Chúng cho rằng, chính sách quốc phòng Việt Nam đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình hiện nay; chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ dùng vũ lực trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “tự cô lập mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn trong bảo vệ Tổ quốc, không phù hợp với tình hình thực tế, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Ngang nhiên, trắng trợn hơn, chúng còn vu khống, quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp, căng thẳng trên Biển Đông, trực tiếp tác động đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới biển, đảo, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc, lớn tiếng cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc... Từ đó, chúng kích động, hô hào, kêu gọi Đảng, Nhà nước cần dựa vào nước ngoài, nhất là các nước lớn và tham gia liên minh quân sự để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển, đảo và lợi ích đất nước. Mục đích chống phá của các thế lực thù địch là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang xa rời mục tiêu, lý tưởng, mất phương hướng chính trị; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân”; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, lối sống phương Tây vào Quân đội, Công an, làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, mất cảnh giác, từng bước tác động làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Sự thật phía sau sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động đối với chính sách quốc phòng Việt Nam đó là: Thứ nhất, đây chính là mưu đồ tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Thứ hai, xét về bản chất, mục đích chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là không hề thay đổi, nhưng âm mưu, thủ đoạn, sách lược ngày càng tinh vi, xảo quyệt và trắng trợn hơn. Thứ ba, dưới chiêu bài “thư ngỏ”, “góp ý, hiến kế” xuất phát từ “lòng yêu nước, vì chủ quyền dân tộc”, góp phần cho “tiếng nói lương tri của con dân đất Việt”, các thế lực thù địch, phản động đang tìm mọi cách dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc, tiến tới thay đổi chế độ chính trị, xã hội. Thứ tư, chúng kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong nhân dân, lừa bịp, dẫn dắt dư luận, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và gay gắt hơn. Nhiều nước tăng ngân sách quốc phòng, đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực quân sự với những thế hệ vũ khí mới, các loại hình tác chiến mới dẫn đến chạy đua vũ trang ngày càng quyết liệt hơn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, nhất là trên Biển Đông, tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến xung đột. Trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hoà bình”, kích động ly khai, bạo loạn lật đổ; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhằm chống phá nước ta ngày càng công khai, quyết liệt và trực diện... đặt ra cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc yêu cầu mới khó khăn, phức tạp hơn. Quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta là: Việt Nam xây dựng sức mạnh quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; củng cố, tăng cường nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh quân sự để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Điều 4, Luật Quốc phòng 2018 đã chỉ rõ: “Thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chống chiến tranh dưới mọi hình thức; chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, đối thoại quốc phòng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”[1]. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 tiếp tục khẳng định: “Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế,…”[2]. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phương châm: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”[3]. Đồng thời: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[4]. Thực tiễn cho thấy, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn chính sách quốc phòng đã đề ra với đường lối quốc phòng, quân sự độc lập, tự chủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định nhất quán quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quốc phòng phù hợp với truyền thống lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, có tính nhân văn sâu sắc; được công khai, minh bạch nhằm tăng cường sự hiểu biết, xây dựng lòng tin của các quốc gia với Việt Nam. Thực hiện chủ trương này là cơ sở để chúng ta tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay. Theo đó, để nhận diện rõ, vạch trần các âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện tốt một số biện pháp cơ bản sau: Một là, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, làm rõ sự cần thiết, tính đúng đắn, khoa học của chính sách quốc phòng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá chính sách quốc phòng Việt Nam là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền với hình thức, phương pháp đa dạng, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn đất nước và bối cảnh quốc tế nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, cách tiếp cận đúng cho nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về chính sách quốc phòng Việt Nam. Luận giải, làm rõ cơ sở khoa học, nội dung cơ bản, khẳng định chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ, được xây dựng trên nền tảng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thông qua đó, tiếp tục củng cố vững chắc lòng tin của các quốc gia về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Đồng thời, tích cực, chủ động tuyên truyền, cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng, an ninh đến quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực, định hướng dư luận, phân biệt rõ đúng sai, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tạo sức đề kháng, tự miễn dịch trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Quốc phòng và an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, trong thời đại của internet, một sự kiện xảy ra chỉ trong thời gian rất ngắn đã lan khắp toàn cầu. Vì vậy, càng chủ động giữ vững trận địa thông tin, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và minh bạch, càng ngăn chặn được các luồng thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự thật, hoặc suy diễn tiêu cực, gây hoang mang, lo lắng, bán tín bán nghi trong xã hội. Tất nhiên, trừ các thông tin bí mật quân sự, bí mật quốc gia, các thông tin khác, nhất là về các sự kiện lớn, đột xuất, phức tạp, nhạy cảm, có thể gây bất ổn xã hội, thì luôn cần có thông tin chính thống, kịp thời từ cơ quan chức năng, từ người có thẩm quyền phát ngôn cho báo chí, truyền thông, đó chính là sự định hướng dư luận hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, tập trung xây dựng lực lượng đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng, an ninh. Trong đó, tập trung vào đội ngũ nhà báo, nhà nghiên cứu, thông tin viên, tuyên truyền viên trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đây là lực lượng đưa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhanh và hiệu quả nhất, là những người trực tiếp góp phần đập tan thông tin và luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Do vậy, cần xây dựng lực lượng này có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ; chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm cho họ, bảo đảm để lực lượng này là nòng cốt, xung kích trong đấu tranh, phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. Hai là, tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Đây là nguyên tắc, nhân tố quyết định sự thành bại, mất còn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta đã được khẳng định nhất quán trong đường lối, quan điểm của Đảng: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”[5]. Do đó, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng luôn lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; đề cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đòi đa nguyên, đa đảng, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch. Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong Hiến pháp, pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cần xác định rõ cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, cán bộ chuyên trách quốc phòng ở các ban, bộ, ngành; trách nhiệm phối hợp của từng cấp, ngành, địa phương trong các hoạt động liên quan đến quốc phòng. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng; xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về quốc phòng có phẩm chất, năng lực tham mưu trong thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Đặc biệt, phải: “Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”[6]. Ba là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam đã khẳng định: sức mạnh của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của “thế trận lòng dân” vững chắc. Phát huy sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường là yếu tố quyết định tạo ra nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Thực tế trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh: Việt Nam giành được thắng lợi to lớn chính là nhờ thực hiện đường lối quân sự độc lập, tự chủ, gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang, chứ không phải xuất phát từ việc tham gia các liên minh quân sự. Đó là sức mạnh của độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Vì vậy, hiện nay để làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phải: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”[7]. Đồng thời: “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ… Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển”[8]. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để thực hiện thắng lợi chính sách quốc phòng Việt Nam. Bốn là, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; tăng cường công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định phát triển đất nước Đây là xu thế tất yếu trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Để giữ cho “trong ấm, ngoài êm”, thêm bạn, bớt thù, cùng với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Đồng thời, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với chiến lược đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, có nguyên tắc, tăng đối tác, giảm đối tượng, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Xử lý tốt quan hệ với các đối tác, không để bị động, bất ngờ. Hiện nay, cùng với thực thi chính sách quốc phòng “bốn không”, Việt Nam cũng chủ trương thực hiện “bốn tránh”: tránh xung đột về quân sự; tránh bị cô lập về kinh tế; tránh bị cô lập về ngoại giao; tránh bị lệ thuộc về chính trị. Đây là hệ thống đồng bộ các quan điểm, chính sách chiến lược của Đảng, Nhà nước ta về quốc phòng và đối ngoại nhằm tạo lập và gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phê phán luận điểm sai trái của các thế lực thù địch về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, dù là nước lớn hay bé, phát triển hay đang phát triển, đều xây dựng cho mình những chủ thuyết, bao gồm hệ thống các quan điểm, nhận thức, tư tưởng mang tính lý thuyết nhằm định hướng cho sự phát triển của quốc gia. Hệ thống tư tưởng định hướng này được cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương, chính sách, sách lược, chiến lược… nhằm hiện thực hóa những mục tiêu phát triển của các quốc gia, dân tộc trong thực tế. Chính nhờ được trang bị hệ thống lý luận khoa học, con tàu cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi đến đài vinh quang, sánh vai cùng bạn bè trên thế giới, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay…”[1]. Trong phạm vi hội thảo, tác giả tập trung phê phán các luận điệu, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch phủ nhận thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận quan điểm có tính nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; bác bỏ quan điểm của các thế lực thù địch về yêu cầu xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo học thuyết tam quyền phân lập: Thứ nhất, kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch phủ nhận thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Năm 1994, lần đầu tiên quan điểm, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII giữa nhiệm kỳ. Đây là quá trình mở đầu từ đúc kết, kế thừa có chọn lọc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật kiểu mới vào thực tiễn xây dựng Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm dụng quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự thống nhất của Trung ương”[2]. Trong quá trình đổi mới và cải cách đó, chúng ta nhận rõ một sự thăng hoa rõ rệt của nhận thức lý luận của Đảng ta trong vấn đề Nhà nước pháp quyền. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đưa yêu cầu đó lên thành quy tắc hiến định (Điều 2 Hiến pháp 1992 được sửa đổi năm 2001 và nay tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013) thể hiện sự thừa nhận và sự kết hợp tính phổ biến của một giá trị lịch sử nhân loại với những nét đặc trưng, những giá trị độc đáo của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đánh giá về thành tựu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”[3]. Những thành tựu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được thực tiễn kiểm nghiệm, hoàn toàn bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, nhà nước pháp quyền chỉ có thể thành công ở mô hình tư bản chủ nghĩa, gắn với chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thứ hai, bác bỏ luận điệu sai trái, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là nguyên tắc Hiến định mang tính giai cấp sâu sắc, nguyên tắc bảo đảm sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp cách mạng xã hội của nước ta là sự nghiệp cách mạng của toàn dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận hợp thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhưng đồng thời là lực lượng lãnh đạo hệ thống đó. Vì vậy, Nhà nước là một thành viên trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa tất yếu phải do Đảng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng. Mọi hoạt động của Nhà nước, cũng như việc tổ chức xây dựng và phát huy vai trò hiệu lực của Nhà nước trong điều hành quản lý xã hội đều phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng, ngoài ra không lực lượng nào có quyền nắm và lãnh đạo Nhà nước. Đây là vấn đề thuộc về bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, đồng thời cũng là một nguyên tắc hiến định, đã được ghi trong Hiến pháp năm 1992 và nay là Điều 4 Hiến pháp năm 2013. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện: Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, chính sách cụ thể và lãnh đạo tổ chức nhân dân thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách; lãnh đạo Nhà nước tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra việc quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước làm tham mưu cho Đảng; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân trong việc tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước và bảo vệ Nhà nước. Hiện nay, các thế lực thù địch đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu hòng bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội. Chúng lên tiếng cho rằng, ở Việt Nam không có “pháp trị”, chỉ có “đảng trị”. Đây là thủ đoạn nham hiểm của các lực lượng chống đối Đảng Cộng sản lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu những năm 80 của thế kỷ trước, tiếc rằng có một số người vẫn cổ xúy cho thủ đoạn trên, mà không biết những hậu quả khôn lường đối với đất nước, đối với xã hội, đối với người dân khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị đặt ngoài Hiến pháp. Những người có lương tri trên thế giới không thể không nhớ đến sự kiện Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã năm 1991, những người dân chủ cấp tiến hả hê khi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản bị đặt ngoài Hiến pháp, khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 1988) bị phá bỏ. Trên đất nước đó, sau những biến cố thăng trầm, chính Tổng thống Nga V. Putin trong cuộc gặp các đảng phái chính trị của Nga tại Điện Kremlin ngày 23/9/2016 cho rằng,Liên Xô sụp đổ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX, sự kiện Liên Xô sụp đổ không chỉ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ XX mà rất có thể là cả trong lịch sử chính trị thế giới, để lại những hậu quả có tính toàn cầu về tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh. Những ai đó nếu còn phản bác, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thiết tưởng cần nhớ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 1988) quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị phá vỡ, để lại những hậu quả nặng nề trong không gian hậu Xô viết cho đến ngày nay. Thứ ba, tiếp tục khẳng định nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; không áp dụng học thuyết tam quyền phân lập trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Đặc trưng cơ bản, chung nhất của Nhà nước pháp quyền là quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng trong từng nước khi giải quyết các vấn đề tổ chức quyền lực của nhà nước cũng đều xuất phát từ đặc điểm thực tiễn riêng của mỗi nhà nước khác nhau. Ở một số nhà nước trên thế giới, do xuất phát từ thể chế chính trị, đặc điểm lịch sử hình thành… có tổ chức nhà nước theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”, tức là phân lập các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với những hình thức và mức độ khác nhau. Về bản chất, dưới khoa học chính trị học, đây thực chất là sự phân chia quyền lực giữa các đảng phái. Tuy vậy, trên thực tế cũng chưa có một nước tư bản nào thực hiện đúng nguyên tắc tam quyền phân lập, mà đều áp dụng linh hoạt phù hợp với tình hình của từng nước. Ở nước ta, khi thảo luận vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước cũng có ý kiến cho rằng cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền trên cơ sở nguyên tắc tam quyền phân lập dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, Đại hội IX của Đảng đã dứt khoát khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[4]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[5]. Như vậy, điểm khác nhau cơ bản trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước tư sản, là: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất”, không thể “phân quyền” theo lối phân chia, cắt khúc, đối chọi lẫn nhau giữa các quyền, mà chỉ có sự phân công trên cơ sở thống nhất và tập trung quyền lực cao nhất ở Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Các quan điểm chủ đạo của Đảng ta về xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gắn chặt với sắc thái truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, cùng với các giá trị dân chủ, nhân đạo, nhân văn, nhân ái của nhân loại. Mô hình Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc vận dụng một cách sáng tạo và có chọn lọc những kinh nghiệm khác nhau của các dân tộc về cách thức tổ chức Nhà nước pháp quyền, ưu tiên những giá trị có tính phổ biến, kết hợp hài hoà với các giá trị truyền thống, những đặc điểm phát triển và lịch sử phát triển đất nước. Mọi yêu cầu, đòi hỏi hay đề nghị, kiến nghị Việt Nam phải “tam quyền phân lập” chỉ là thủ đoạn, âm mưu phá hoại, biến đất nước thành nơi hoang tàn, đổ nát. Bên cạnh đó, cũng cần phải nói, không phải chỉ tổ chức bộ máy nhà nước theo “tam quyền phân lập” mới kiểm soát được quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp. Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại hạnh phúc và nhiều lợi ích nhất cho nhân dân, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình nắm giữ, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thường tiềm ẩn rất nhiều những nguy cơ khác nhau như tham nhũng, lãng phí, lạm quyền… Vì vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ cấp bách, quan trọng trong quản lý nhà nước trên thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng, đây cũng chính là ước vọng hàng nghìn năm của nhân loại tiến bộ. Ở nước ta, thuật ngữ “kiểm soát” lần đầu tiên được hiện diện trong văn kiện của Đảng và thể chế hóa quan điểm đó, tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta không cần phải áp dụng cơ chế tam quyền phân lập, bởi các nhánh quyền lực của nhà nước ta không phải “nhánh quyền lực của phe nhóm này chống lại phe nhóm kia, vốn là gốc rễ của cơ chế tam quyền phân lập”. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo được Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định “là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”. Chúng ta tin tưởng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo - chính đảng được trang bị hệ thống lý luận sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết bác bỏ những luận điệu xuyên tạc phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phủ nhận nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của Nhà nước ta.

Chân lý Cách mạng Tháng Mười

105 năm đã trôi qua, kể từ tháng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại - cuộc cách mạng đã làm cho mơ ước ngàn đời của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột về cuộc sống tốt đẹp, về sự công bằng, về khả năng xây dựng xã hội xã hội nhân đạo, trở thành hiện thực. Cách mạng Tháng Mười Nga vì thế mãi mãi được ghi nhận là cuộc cách mạng giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó chính là xung lực mang lại nội dung mới cho sự phát triển thế giới, làm tăng vai trò của các dân tộc trong đời sống quốc tế và đẩy mạnh mối giao lưu quốc tế trong đời sống các dân tộc. Người ta đã nói nhiều về cách mạng Tháng Mười Nga với biết bao lời trân trọng ngợi ca của những người yêu chân lý, và cả không ít điều hằn học tức tối của những kẻ oán thù ngay từ khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Nhất là hiện nay, khi bộ mặt thế giới có những thay đổi hết sức phức tạp, thậm chí đã xảy ra nhiều điều nghịch lý ngay cả với những thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì có người đã rối trí và đi tới nhận thức sai lạc. Hơn thế nữa, kẻ thù đủ loại đang lợi dụng sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội và nhất là sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô để bôi nhọ hình ảnh của Cách mạng Tháng Mười Nga và công kích vào cơ sở tư tưởng của cuộc cách mạng đó là chủ nghĩa Mác- Lênin. Luận điệu của họ thực ra chẳng có gì mới, chỉ có điều lần này họ nói thẳng thừng hơn. Họ cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga là dích dắc của lịch sử, là cuộc bạo động phản dân chủ, là cuộc cách mạng đã đẻ non, lỗi thời, hết tác dụng. Họ coi chủ nghĩa Mác - Lênin là thứ tôn giáo không tưởng, và con đường xã hội chủ nghĩa được họ ví như một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản. Không phải ngẫu nhiên mà ở các nước phương Tây và ngay tại nước Nga, chủ đề về Cách mạng Tháng Mười Nga lại được đặt ra gay gắt như thế. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nước ta cũng đã xuất hiện ở đây đó một vài bài viết hoặc lời nói có những luận điểm sai trái, thậm chí nhân đó công kích trắng trợn vào chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Vậy nên cần thiết phải làm rõ chân lý. 1. Cách mạng Tháng Mười Nga không phải là dích dắc của lịch sử, mà là bước phát triển tất yếu, xuất phát từ yêu cầu bức bách cần đổi mới cơ cấu và hình thức phát triển của thế giới Như mọi người đều thấy, sự phát triển của lịch sử loài người được đo không chỉ bằng tháng, năm, thế kỷ, thiên niên kỷ mà trước hết bằng những chuyển biến xã hội sâu sắc, những thay đổi mang tính cách mạng trong xã hội. Mỗi một thời đại đều được nảy sinh từ những cột mốc đấu tranh cách mạng. Do vậy, các cuộc cách mạng đều gắn liền với thời đại, đều có tính tất yếu, hoàn toàn không phải là biến cố ngẫu nhiên tùy hứng của lịch sử. Cách mạng Tháng Mười Nga lại càng như thế. Nước Nga và Đảng bôn sê víc vào mùa thu năm 1917 đứng trước thời điểm lịch sử. Sự tham gia của đế quốc Nga vào cuộc chíến tranh thế giới lần thứ nhất tổn hại biết bao sinh mạng, của cải. Thái độ của Chính phủ lâm thời lúc đó không muốn đáp ứng nguyện vọng của quần chúng là ký hiệp ước hòa bình và giải quyết vấn đề chia ruộng đất của bọn địa chủ cho nông dân, thảm họa kinh tế và sự hỗn loạn xã hội đã tăng lên đến mức thấy rõ dấu hiệu sụp đổ. Khi ấy thượng tầng xã hội Nga bị rối loạn; khi ấy tầng lớp những người lao động, thợ thuyền, binh lính không thể chịu nổi cuộc sống quá ngột ngạt, nghiệt ngã như vậy nữa; khi ấy bộ tham mưu của Đảng và giai cấp công nhân Nga đứng đầu là Lênin đã nắm bắt chiều hướng vận động của xã hội, chớp thời cơ và phát động khởi nghĩa giành chính quyền. Cách mạng vô sản đã nổ ra như tất yếu. Cũng cần nhắc lại một đặc điểm của lịch sử: các cuộc chiến tranh thường là nguồn gốc của những cuộc cách mạng hoặc là ngòi nổ cho các cuộc cách mạng. Công xã Pari thực sự là tiếng vọng của cuộc chiến tranh Pháp - Phổ; cuộc cách mạng Nga năm 1905 được thúc đẩy bởi sự chém giết giữa binh lính nước Nga và Nhật Bản, và tương tự, cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất giữa các nước đế quốc đã gây ra bão táp. Cách mạng Tháng Mười Nga trở thành đỉnh cao của cơn bão táp ấy. Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra thắng lợi. Đó là minh chứng hùng hồn cho sự thiên tài của Lênin trong việc phát hiện sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản và từ đó tìm ra mắt xích, tìm ra khâu yếu nhất của nó. Nó lại càng chứng tỏ luận điểm của Lênin về khả năng thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một số nước, và thậm chí ở một nước, là đúng đắn và sáng tạo. 2. Cách mạng Tháng Mười Nga có bản chất và định hướng hòa bình dân chủ, là cuộc cách mạng sống mãi cùng lịch sử. Hòa bình - dân chủ- hạnh phúc, những tiếng ngọt ngào ấy bao giờ cũng được loài người trân trọng ước ao và từ lâu con người luôn quan tâm sâu sắc đến những lý tưởng ấy. Lịch sử chỉ dành cho số phận của loài người và của nhiều dân tộc những khoảng thời gian hòa binh rất ngắn so với chiều dài của nó. Thế kỷ XX đã phải chịu đựng thảm họa của hai cuộc chiến tranh thế giới. Nếu như không có Cách mạng Tháng Mười Nga và không có chủ nghĩa xã hội hiện thực, cứ mặc cho chủ nghĩa đế quốc tự do cướp bóc và tự do tranh ăn bằng súng đạn., thử hỏi thế giới sẽ ra sao? Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra thời kỳ mới cho loài người là khả năng ngăn ngừa chiến tranh thế giới và cùng tồn tại hòa bình. Đó mãi mãi là cống hiến vô giá mà lịch sử nghi nhận. Một điều khác mà ai cũng nhớ: Việc bảo đảm hòa bình đã được đưa lên thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong chính sách đổi mới ngoại của chính quyền xô viết thời đó. Hành động lập pháp đầu tiên của chính quyền Xô Viết là sắc lệnh của Lênin về hòa bình. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử loài người tư tưởng thiết lập một nền hòa bình vững chắc cho toàn thế giới được thể hiện trong chính sách của một quốc gia. Cách mạng Tháng Mười Nga cũng là một cuộc cách mạng đặt nền móng cho một nền dân chủ mới, cao nhất -dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ đối với đông đảo các tầng lớp nhân dân. Vậy ở đâu và ai là người vì dân chủ ? Không nói đâu xa, cứ xem ngay tại Liên Xô trước đây và nước Nga hôm nay cũng không dễ tìm được lời giải đáp cho cẩu hỏi ấy. Năm 1917 cuộc tiến công vào Cung điện Mùa Đông được tiến hành bởi hàng vạn công nhân, nông dân, binh lính. Nhưng ai cũng biết đó là một cuộc cách mạng ít đổ máu nhất so với mọi cuộc cách mạng trước đó. Vậy nên, dù ai có nói nghiêng, nói ngả thì cũng không thể đặt dấu chấm hết vào Cách mạng Tháng Mười. Cho dù thực thể của Cách mạng Tháng Mười Nga là chủ nghĩa xã hội hiện thực đang gặp những khó khăn to lớn, thậm chí đổ vỡ ở một số nơi, thì cuộc cách mạng đó vẫn sống mãi trong lòng nhân dân nước Nga và các nước khác, vì ai cũng rõ bản thân cuộc cách mạng đó đã phải nhận về toàn bộ gánh nặng lịch sử và những gian nan vất vả của người đi trước mở đường. Thực tế, cuộc cách mạng đó vẫn đang sống trong cuộc đấu tranh giai cấp những người làm công ở các nước tư bản đòi quyền dân sinh, dân chủ và đòi có việc làm. Nó vẫn tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần dân tộc của nhân dân các nước đang xác lập chủ quyền dân tộc thực sự. Và đặc biệt, tinh thần và lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn đang cổ vũ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong việc khắc phục những lệch lạc, tình tòi những cách thức và bước đi hợp lý để xây dựng chủ nghĩa xã hội thực sự tốt đẹp, văn minh. 3. Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là tôn giáo và không phải là chủ nghĩa không tưởng, mà là học thuyết khoa học bắt nguồn từ thực tiễn và cải tạo thực tiễn Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa có nguồn gốc sâu xa từ trong sự phát triển vật chất và tinh thần của nhận loại. Chủ nghĩa Mác không nằm ngoài trào lưu tư tưởng ấy, nên nó thuộc về xã hội, thuộc về con người. Mác và Ăngghen đã từng nhấn mạnh: Những kết luận và lý thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học không phải là những quan niệm trừu tượng như "công bằng", "bác ái", "hạnh phúc" theo ngôn từ trống rỗng, mà đều xuất phát từ xu hướng phát triển của xã hội hiện thực. Chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác không xa lạ như những ước mơ tận mãi thiên đường. Nó gần gũi đời thường, nó nhìn nhận tỉnh táo về những nhu cầu hiện thực và những khả năng thực tế có thể đáp ứng được. Những khả năng đó nằm trong sự phân tích và giải quyết những mâu thuẫn sâu sắc ngay chính trong những lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Việc các phần tử chống cộng luôn tìm mọi cách để công kích chủ nghĩa Mác, gán cho nó đủ thứ tội danh, càng thể hiện nó không phải là liều thuốc ru ngủ tinh thần đối với đông đảo quần chúng. Tại sao ở phương Tây, người ta khuyến khích hoặc không ngăn chặn việc xây nhà thờ, tự do giảng đạo ; người ta cung kính đón tiếp Giáo hoàng ? Bởi vì tất cả các tôn giáo, giáo phái ở đây chẳng có gì nguy hại đối với chế độ tư bản. Chủ nghĩa Mác không phải là một giáo lý, mà là vũ khí đấu tranh của quần chúng nhân dân. Nếu đã coi đó như một tôn giáo, thậm chí là tôn giáo viển vông, thì có gì kẻ thù của chủ nghĩa Mác lại lo sợ nó đến thế? Hốt hoảng đến thế ? và chống phá nó điên cuồng đến thế? Chủ nghĩa Mác có sức thuyết phục, có tính hấp dẫn lớn và bị công kích quyết liệt, cũng là vì đó là một hệ thống luận thuyết khoa học. Chủ nghĩa Mác vừa mang tính lý luận tư tưởng, vừa có tỉnh thực hiện cao. Nó xuất hiện và ngày càng được hoàn thiện, không nằm ngoài con đường phát triển chủ yếu của văn minh thế giới. Ngược lại, nó đã được chắt lọc từ tất cả những gì tốt đẹp nhất, tiến bộ nhất mà khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học nhân văn tích lũy được. Cách mạng Tháng Mười Nga là một minh chứng điển hình về sự vật chất hóa, hiện thực hóa của chủ nghĩa Mác. Việc kết hợp một cách nhuần nhuyễn lý luận mác xít với thực tiễn của phong trào công nhân Nga lúc ấy làm cho sức đột phá của cuộc cách mạng vô sản tăng lên và cũng làm cho học thuyết mác xít được hoàn thiện bằng những luận cứ mới mẻ. Tiến trình phát triển của những sự kiện tiếp theo Cách mạng Tháng Mười Nga mặc dù có biết bao biến cố phức tạp, nhưng hoàn toàn xác nhận sự thống nhất không thể tách rời giữa tính khoa học và tính cách mạng của chủ nghĩa Mác, sự gắn bó khăng khít giữa chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội hiện thực. Bởi vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga còn có ý nghĩa trọng đại là làm cho những tư tưởng xã hội chủ nghĩa mác xít thực sự trở thành khoa học, đánh dấu việc chuyển những tư tưởng đó sang phạm trù những hiện tượng thực tiễn chủ nghĩa xã hội trở thành một xã hội cụ thể. 4. Chủ nghĩa xã hội không phải là khúc quanh của lịch sử, mà là một giai đoạn phát triển rực rỡ của xã hội loài người. Trong bản hòa tấu công kích chủ nghĩa xã hội hiện nay có cả luận điệu cho rằng, sự phát triển của xã hội loài người là một con đường tự nhiên, cả đoàn người đang cùng đi lên chủ nghĩa tư bản thì bỗng dưng có một bộ phận tách khỏi đám đông để đi theo đường mới- chủ nghĩa xã hội. Do gặp nhiều gai góc cản trở không thể đi tiếp được nữa, một số người da trắng khôn ngoan đã quyết định bỏ lối mới- lối đằng sau này, để về với chủ nghĩa tư bản. Còn lại một số người da màu lại dại dột cứ tiếp tục đi, nhưng lại đi vòng vo để cuối cùng cũng phải về con đường cũ. Đây là một cách ví von xấc xược và thô thiển. Lịch sử loài người hàng vạn năm trở lại đây cho thấy, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có một quá trình hình thành và phát triển khác nhau, có cách thức, bước đi khác nhau trong không gian và thời gian rất khác nhau. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có chuyện cả loài người có chung một bậc, một trình độ và cùng đồng đều tiến bước như thế. Ngay việc coi con đường xã hội chủ nghĩa là không thể có, cũng là một cách nhìn thiển cận. Hơn bảy mươi năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trước đây là một khoảng thời gian rất ngắn so với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nhưng chỉ với thời gian như vậy, nhân dân Xô viết đã làm nên bao chuyện phi thường. Đó là việc quét sạch chủ nghĩa phát xít để cứu nền văn minh nhân loại, là bước tiến khổng lồ trong việc xây dựng một xã hội mới công bằng, nhân đạo. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng không thuộc bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa Còn chủ nghĩa tư bản mà có người cho đó là tương lai vĩnh cửu thì sao? Nó nói là tốt đẹp dân chủ ư? Đừng quên rằng chủ nghĩa phát xít đã ra đời từ chế độ tư bản chủ nghĩa. Cũng đừng quên rằng Việt Nam đã từng phải chịu đựng cuộc xâm lược của Pháp, Nhật và Mỹ. Ai cũng biết rằng chế độ tư bản chủ nghĩa không bao gồm lối sống Mỹ, chế độ đại nghị Pháp, điện tử Nhật Bản, mà nó còn bao gồm cả vùng ngoại vi mà người ta thường gọi là "thế giới thứ ba" ở châu Phi và các nước Mỹ la tinh. Tại những nơi ấy - những nơi đang hướng theo con đường tư bản chủ nghĩa - hiện đang có hơn 500 triệu người bị đe dọa chết đói, có khoảng hơn 1,6 tỷ người đang sống trong khốn khó cùng cực. Đúng là chủ nghĩa tư bản có được trình độ phát triển công nghệ chưa từng thấy, nhưng rất thiếu khả năng và rất vô trách nhiệm trong việc giải quyết khắc phục những nghèo đói, bất công. Tình hình thực tế ấy đã bác bỏ mọi sự nghi ngờ về tính cần thiết phải thay đổi xã hội tư bản chủ nghĩa bằng một xã hội nhân đạo hơn. Điều đó càng chứng tỏ lý tưởng của cách Mạng Tháng Mười về một xã hội bình đẳng, công bằng, hòa bình và hữu nghị mãi mãi là chân lý của thời đại. Chân lý ấy tiếp tục soi sáng con đường chúng ta đi hôm nay.

Trung Quốc và Việt Nam phối hợp chặt chẽ tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đi lại giữa hai nước

 

Trung Quốc và Việt Nam phối hợp chặt chẽ tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đi lại giữa hai nước

Chiều ngày 12/1, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết các cơ quan chức năng của Việt Nam đang phối hợp chặt chẽ với Trung Quốc để triển khai các hoạt động hợp tác phù hợp với tình hình mới và phù hợp với lợi ích thiết thực của hai bên sau khi Trung Quốc chính thức mở cửa trở lại.

Liên quan đến thông tin Trung Quốc thông báo mở cửa vào ngày 8/1 vừa qua, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết từ ngày 15/3/2022, Chính phủ Việt Nam đã phục hồi quy trình, thủ tục cấp các loại thị thực và giấy miễn thị thực cho người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài như trước khi áp dụng các biện pháp hạn chế phòng chống đại dịch Covid-19 theo đúng các quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi bổ sung năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành; qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch, chuyên gia và nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn phòng chống dịch Covid-19 trong tình hình mới.

"Với việc Trung Quốc chính thức mở cửa và dịch bệnh đang được kiểm soát tốt tại Việt Nam, các cơ quan chức năng của Việt Nam đang phối hợp chặt chẽ để triển khai các hoạt động hợp tác phù hợp với tình hình mới và phù hợp với lợi ích thiết thực của hai bên", bà Hằng nhấn mạnh trong cuộc họp báo thường kỳ vào chiều ngày 12/1.

Theo bà Hằng, trường hợp công dân Việt Nam muốn di chuyển đến các nước, trong đó có Trung Quốc cần chú ý theo dõi cập nhật chính sách visa, các quy định về chính sách nhập cảnh và phòng chống dịch ở nước sở tại trong thời gian ở nước ngoài; khi cần trợ giúp hoặc cần thông tin kịp thời, có thể liên hệ với các cơ quan đại diện Việt Nam trên địa bàn và các cơ quan chức năng sở tại.

Bên cạnh đó, trả lời câu hỏi báo chí về công tác phối hợp nhằm đảm bảo hàng hóa Việt Nam sang Trung Quốc và ngược lại diễn ra thông suốt sau khi Trung Quốc mở cửa trở lại từ ngày 8/1, Phó phát ngôn Phạm Thu Hằng cũng khẳng định thực hiện theo tuyên bố chung trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc cũng như tinh thần trong các cuộc trao đổi của lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Trung Quốc, các cơ quan chức năng của hai bên trao đổi thường xuyên, cùng tổ chức bảo đảm hoạt động thương mại và chuỗi cung ứng để duy trì thông suốt, tạo điều kiện cho hàng hóa xuất nhập khẩu của hai bên.

Được biết, từ ngày 8/1, Hải quan Trung Quốc thông báo sẽ gỡ bỏ tất cả các biện pháp xét nghiệm acid nucleic phòng chống Covid-19 đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm cả hàng đông lạnh tại cửa khẩu. Và trong dịp tết nguyên đán, nhiều cửa khẩu của Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp tạo thuận lợi thông quan.

"Các địa phương và các doanh nghiệp trong nước cần chủ động nắm thông tin để phối hợp với các đối tác Trung Quốc xây dựng kế hoạch vận chuyển và thông quan hàng hóa sau khi Trung Quốc mở cửa", bà Hằng nhấn mạnh./.