Các luận điệu sai
trái, thù địch nhìn nhận không đúng về mô hình quản lý tôn giáo theo chế độ
“đăng ký” của Việt Nam. Họ lập luận hàm hồ rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo bắt
các tôn giáo phải đăng ký, bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn
giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội; đặt ra gánh nặng và yêu
cầu phức tạp đối với các nhóm tôn giáo để đăng ký với chính phủ; có những quy
định sự kiểm soát đáng kể của chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo bằng
những điều khoản hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, như duy trì một quy
trình đăng ký và công nhận nhiều giai đoạn cho các nhóm tôn giáo (?!).
Những nhận định trên
rõ ràng là mang tính áp đặt, không đúng với điều kiện thực tế công tác quản lý
nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam. Bởi lẽ, mỗi quốc gia đều có cách thức quản lý
hoạt động tôn giáo phù hợp với truyền thống và thực tế của mình, trong đó quản
lý hoạt động tôn giáo thông qua con đường đăng ký là một hình thức phổ biến,
thích hợp và hiện thực ở nhiều quốc gia (như Pháp, Bun-ga-ri, Ba Lan, Nhật Bản,
Nga, Trung Quốc...), trong đó có Việt Nam. Theo đó, mỗi quốc gia có những yêu
cầu riêng về điều kiện và thể thức việc đăng ký xem xét tư cách pháp nhân của
các tổ chức tôn giáo. Có quốc gia xem việc đăng ký pháp nhân của tổ chức tôn
giáo thuộc vấn đề ở cấp quốc gia, như Ba Lan, Nga, I-ta-li-a, Đức, Lat-vi-a; có
quốc gia chỉ ở cấp hội đồng tỉnh, thành phố (Bun-ga-ri). Về điều kiện, có sự
khác biệt giữa các nước, trong đó yếu tố thời gian tồn tại, số lượng, cơ sở tài
sản tôn giáo, nhân sự, khả năng tài chính..., là những tiêu chí cơ bản. Việt
Nam lựa chọn mô hình quản lý theo hình thức “đăng ký” và phân cấp chủ thể có
thẩm quyền cấp đăng ký theo phạm vi hoạt động của tôn giáo là hợp lý và phù hợp
với điều kiện Việt Nam.
Luật pháp Việt Nam đưa
ra những tiêu chí cụ thể để công nhận tổ chức tôn giáo chứ không phải để cản
trở tự do tôn giáo. Theo đó, mọi tôn giáo nếu bảo đảm những điều kiện đó đều
được công nhận, khác với một số quốc gia chỉ thừa nhận một số tôn giáo chủ yếu.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam ngoài những điều kiện về thời gian (giảm
từ 23 năm theo Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo xuống còn 5 năm), nhân sự, địa
điểm hợp pháp, còn có yêu cầu về hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích...
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo còn phân cấp quản lý (Trung ương và địa phương) theo
phạm vi hoạt động của tổ chức tôn giáo. Bởi lẽ, tổ chức tôn giáo ở Việt Nam rất
đa dạng, có tôn giáo phạm vi sinh hoạt trên khắp cả nước, như Phật giáo, Công
giáo, Tin lành; có tôn giáo phạm vi hoạt động chỉ trong một khu vực, như Phật
giáo Hòa Hảo, Bà-la-môn giáo, có tôn giáo thuộc loại nhóm nhỏ, như Minh sư đạo,
Minh lý đạo, Bửu sơn Kỳ hương, Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Mặc Môn, đạo Baha’i
(ở Việt Nam); có tôn giáo có nhiều tổ chức, hệ phái khác nhau, như Cao Đài, Tin
lành,... Do đó, cơ chế công nhận và quản lý hoạt động của tổ chức tôn giáo theo
hình thức đăng ký theo quy mô hoạt động của tôn giáo là phù hợp với điều kiện
thực tế Việt Nam, cũng giống như nhiều quốc gia khác và được luật pháp quốc tế
thừa nhận (tính đặc thù). Đó không phải là điều kiện đặt ra để hạn chế hay cản
trở quyền tự do tôn giáo như USCIRF hay các thế lực phản động, thù địch xuyên
tạc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét