Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2023

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VẪN ĐANG LÀ MỘT THỰC TẾ VỚI NHIỀU CẤP ĐỘ TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY

 

Thời gian qua, trên một số diễn đàn, mạng xã hội và trang tin điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí nước ngoài, có ý kiến vẫn cố tình cho rằng, “tương lai thế giới này không có chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội là hoang tưởng”, "chủ nghĩa xã hội-đường đi không đến đích", “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng”.

Những ý kiến trên mang hàm ý hoài nghi về tính hiện thực của lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nhân loại đang hướng tới và có dụng ý phủ nhận con đường XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đang xây dựng và đạt được nhiều thành tựu to lớn.

Xu hướng xã hội hóa, dân chủ hóa là tất yếu

Theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, CNXH trước hết và tiêu biểu là sự vận động của đời sống hiện thực theo xu hướng xã hội hóa. Nó đối lập với xu hướng tư nhân hóa của xã hội hiện tồn.

Vậy, biểu hiện của “xu hướng xã hội hóa trên thực tế” là như thế nào?  

Đó là xu hướng ngày càng tăng lên các mối liên kết xã hội trong sản xuất như hợp tác, liên kết, phối hợp, phân công trong sản xuất hoặc dịch vụ. Thực tiễn sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội hóa thì cách tổ chức quản lý xã hội cũng buộc ngày càng phải dân chủ hóa. Theo C.Mác, đây là những xu hướng hiện thực cơ bản cho sự ra đời của CNXH. Lý tưởng về xây dựng một xã hội trên các nguyên tắc: Công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... cũng được xây dựng và hiện thực hóa từ những xu hướng này.      

Thế nhưng, phải đến thế kỷ 19 thì những nhân tố cho việc định hình xu hướng xã hội hóa trên thực tiễn mới rõ ràng. Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa hoặc các cuộc cách mạng công nghiệp là biểu hiện thực tế tiêu biểu nhất cho xu hướng này.

Cùng với sự trưởng thành của phong trào công nhân, sự hình thành các đảng cộng sản, cuộc đấu tranh cho lý tưởng công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... đã có thêm sự dẫn đường của lý luận CNXH khoa học. Cái tất yếu và cái tự giác hòa quyện với nhau cùng nâng tầm nhận thức và hiệu quả hành động cho nhân loại.            

Tính hiện thực của CNXH thể hiện ở nhiều cấp độ

Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra các cấp độ hiện thực hóa của CNXH như sau:  

Cấp độ thứ nhất, tính hiện thực của CNXH được thể hiện qua những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa ngay trong thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản. Điển hình là sự phổ biến phương thức sản xuất công nghiệp, sự tăng lên các mối liên kết của nhân loại trong sản xuất, dịch vụ và sự định hình hệ thống pháp luật-công pháp quốc tế để cùng nhau giải quyết một cách công bằng, bình đẳng những vấn đề của phát triển hiện đại.      

Cấp độ thứ hai, tính hiện thực của CNXH thể hiện ở những phong trào, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... Thực chất là những xu hướng vận động, những cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội với các mục tiêu hòa bình, độc lập, cùng phát triển trong dân chủ, công bằng và bền vững.      

Cấp độ thứ ba là thông qua các cuộc cách mạng xã hội, xác lập chế độ dân chủ XHCN, thông qua đó xác lập quyền làm chủ của nhân dân, chế độ kinh tế XHCN trên cơ sở công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động... Đặc trưng chính trị của chế độ XHCN là giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thông qua vai trò cầm quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua nhà nước XHCN.

Cấp độ thứ tư là sự xác lập trên thực tế hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa-chủ nghĩa cộng sản. Một xã hội mới phát triển ở trình độ rất cao cả về sản xuất dịch vụ và tổ chức quản lý, được xây dựng trên nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”, con người được phát triển tự do, xã hội không còn giai cấp, không còn nhà nước, môi trường thiên nhiên được bảo vệ bền vững; hòa bình và hữu nghị trở thành quan hệ phổ biến và tất định trong quan hệ quốc tế. Loài người trên trái đất này bước vào một giai đoạn phát triển với trình độ mới: Xã hội cộng sản văn minh.

Phản ánh các cấp độ phát triển của CNXH hiện thực là lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Hiện thực hóa lý luận này tiêu biểu nhất là quá trình xây dựng CNXH hiện thực trên thế giới mà khởi đầu là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và các xu hướng đi lên CNXH hơn 100 năm qua. Trải qua khá nhiều thăng trầm, tính hiện thực của CNXH vẫn được thể hiện trên nhiều phương diện và cấp độ.                 

CNXH hiện diện ở nhiều quốc gia là minh chứng khách quan

Ở cấp độ là những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp đang nối tiếp nhu cầu thúc đẩy xu hướng này, khiến cho sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng ngày càng gắn bó. Cùng với đó là các biểu hiện mới của xã hội hóa hiện đại, như: Toàn cầu hóa, phân công và hợp tác lao động quốc tế, sự hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất, kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng. Các liên kết hợp tác, đồng thuận giữa nhiều nước trong quản trị để giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Tất cả xác định rằng, xu thế xã hội hóa hiện nay đang rất mạnh mẽ.

Ở cấp độ là những xu hướng, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... mà biểu hiện cụ thể là tìm tới một mô hình tổ chức xã hội khác với chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phủ định kiểu tổ chức xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”-như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

 Hiện nay, mô hình phát triển này đang là thực tiễn ở nhiều nước Bắc Âu và một số quốc gia phát triển khác. Ở những nước này, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuy vẫn còn là chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng khá nhiều giá trị XHCN, nhân tố XHCN đã và đang được tích lũy. Giá trị xã hội, lợi ích xã hội, mục tiêu xã hội, ý nghĩa xã hội của các hoạt động rất được xem trọng và được coi như những nhân tố hữu cơ của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Những thành quả ấy trước hết là kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân nhưng mặt khác, cũng cần thấy rằng, chính quy luật của cuộc sống-ở đây là xu thế xã hội hóa, đã thúc đẩy những tiến bộ xã hội ấy.

Ở cấp độ là chế độ XHCN, sau cuộc khủng hoảng của một mô hình xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô (1989-1991), nhiều nước vẫn giữ vững chế độ XHCN, tiến hành cải cách đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. CNXH hiện thực đang là thực tế ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba... Ở những quốc gia này, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã và đang gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhà nước XHCN, quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân đều là những thực tế không thể phủ nhận. Đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH trong cải cách đổi mới ở các nước XHCN hiện nay không chỉ xác nhận xu thế đi lên CNXH ở cấp độ quốc gia mà còn cống hiến những con đường, biện pháp mới mẻ để xây dựng CNXH. Những cống hiến đó đã được các đảng cộng sản và đảng công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới thừa nhận như những giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh, xu thế thời đại ngày nay.

Những “mảnh ghép” tốt đẹp đang định hình xã hội tương lai

Điều khá thú vị là, một số “mảnh ghép” của xã hội tương lai-chủ nghĩa cộng sản, cũng đang dần xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hiện nay. Chế độ tự quản của các cộng đồng dân cư, cái mà C.Mác cho rằng sẽ thay thế cho nhà nước trong xã hội cộng sản, hiện nay cũng đã xuất hiện ở nhiều nước trong một số lĩnh vực quản trị xã hội. Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh thế thế giới và cũng là tác giả của khái niệm “cách mạng công nghiệp 4.0” nhận định rằng: Hiện nay chúng ta đã có chủ nghĩa cộng sản về thông tin! Hàm ý của ông phản ánh một thực tế là hiện nay, nếu bạn có phương tiện nối mạng, nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu, chỉ cần tra một từ khóa vào công cụ tìm kiếm, sẽ có ngay hàng triệu thông tin và gần như hoàn toàn miễn phí! Ngay ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều hành động thiện nguyện tự giác cũng phản ánh lối tư duy và hành động của con người trong xã hội tương lai: “Bánh mì miễn phí”, “nước uống miễn phí”, “dịch vụ sửa xe miễn phí”...

Chúng ta có thể coi những ví dụ trên là những “mảnh ghép” của hiện thực đang định hình cho xã hội tương lai-xã hội cộng sản chủ nghĩa.           

Như vậy, với một cách nhìn khoa học, chúng ta có thể khẳng định CNXH vẫn đang là một thực tế với nhiều cấp độ trên thế giới hiện nay. Thực tế đó đang biểu hiện rất sinh động, có sức hấp dẫn mạnh mẽ với nhân loại. Thế giới đang đi lên CNXH với nhiều con đường, cách thức khác nhau. Như lời C.Mác và Ph.Ăng-ghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”(1).    

Theo PGS, TS NGUYỄN AN NINH

(Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)


LỊCH SỬ CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ

 

Những ngày cuối tháng 12/2022, các cơ quan chức năng triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 – 12/2022). Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Thế nhưng trong dịp này, các thế lực xấu lại rêu rao, đưa ra nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử, cho rằng chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chỉ là do “gặp thời”, “may mắn”.

Không chỉ Việt Nam mà các nghiên cứu từ phía Mỹ cũng đã nhìn nhận rõ vấn đề này. Trên tạp chí Air & Space của Bảo tàng Smithsonian (Mỹ) có bài viết tựa đề “The Christmas Bombing” (Trận mưa bom Giáng sinh) được trích từ cuốn sách The Eleven Days of Christmas: Americas Last Vietnam Battle (11 ngày Giáng sinh: Trận chiến Việt Nam cuối cùng của Mỹ) của tác giả Marshall Michel, người đã trực tiếp đến Hà Nội, mô tả khá chi tiết về chiến dịch Linebacker II do Mỹ chủ mưu. Theo tác giả Marshall Michel, đầu tháng 12/1972, Nixon điện cho Kissinger thông báo kế hoạch ném bom trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh.

Ngày 14/12, Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, tướng Alexander Haig và chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, đô đốc Thomas Moorer thông qua lần cuối chiến dịch Linerbacker II. Mục tiêu mà Mỹ đặt ra là duy trì nỗ lực tối đa để phá hủy tất cả các tổ hợp mục tiêu chính ở khu vực Hà Nội và Hải Phòng và các vùng lân cận, tạo ra “cường độ khủng khiếp để buộc Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải chấp nhận điều khoản của Mỹ, và cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng Mỹ không bỏ rơi họ”. Cũng qua chiến dịch này, Nixon muốn răn đe Sài Gòn nếu giúp Nixon kéo dài đàm phán, xa hơn là giúp Nixon chiến thắng trong nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo thì Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ...

Bài viết trên tạp chí Air & Space cũng nêu rõ, do thiệt hại ngoài sức tưởng tượng nên ngày 30/12/1972, Tổng thống Nixon đã ra lệnh chấm dứt ném bom… Vậy là Hiệp định Paris đã được ký với nội dung về cơ bản không khác mấy so với phương án đã được ký tắt trước khi đàm phán bị kéo dài do Mỹ từ chối ký kết trước đây. Bài viết cũng cho rằng, Mỹ đã chịu rất nhiều tổn thất để rồi vẫn phải ký vào văn bản mà họ không muốn ký, điều này đồng nghĩa là mục tiêu của Mỹ khi phát động chiến dịch Linebacker II thực sự thất bại. Chiến dịch Linebacker II bị phản đối mạnh mẽ trên khắp thế giới, cả ở các nước XHCN lẫn các nước phương Tây, thậm chí tại Mỹ, Nixon còn bị chỉ trích là kẻ điên rồ…

                                                                                                       Theo Thanh Ngà


CHIẾN THẮNG “ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG” LÀ BẢN LĨNH VÀ TRÍ TUỆ CỦA VIỆT NAM

 

Trong những ngày cuối tháng 12/2022, các cơ quan chức năng triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972 – 12/2022). Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Thế nhưng trong dịp này, các thế lực xấu lại rêu rao, đưa ra nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử, cho rằng chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chỉ là do “gặp thời”, “may mắn”.

50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Đảng và Bác Hồ đã sớm chỉ đạo bộ đội Phòng không - Không quân chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đánh máy bay B.52 và các loại máy bay chiến thuật khác từ nhiều năm trước đó. Trong 12 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, không khoan nhượng.

Chiến thắng ấy là sự minh chứng hùng hồn sức mạnh của con người Việt Nam, sức mạnh của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cách mạng và khoa học, giữa bản lĩnh vững vàng, khí phách tiến công, quyết đánh và trí tuệ để đánh thắng, sự kết hợp giữa tinh thần quyết chí, tin tưởng với đức hy sinh cao thượng.

Thực tế lịch sử ghi rõ, tháng 12/1972, Mỹ tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 nhằm gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pari theo các điều khoản sửa đổi của Mỹ; đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế - quốc phòng của miền Bắc, hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam, làm tê liệt ý chí chiến đấu, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới. Thực hiện âm mưu này, Mỹ đã huy động số lượng lớn máy bay, tàu chiến và các loại vũ khí vào chiến dịch.

Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của Mỹ kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai đến năm 1972. Trong đó, máy bay chiến lược B.52 gồm 193/tổng số 400 chiếc hiện có của quân đội Mỹ; máy bay không quân chiến thuật gồm 1.077/tổng số 3.043 chiếc (có 1 biên đội máy bay F. 111 khoảng 50 chiếc); tàu sân bay với 6/24 chiếc; hơn 50 máy bay tiếp dầu trên không và một số loại máy bay phục vụ khác như máy bay gây nhiễu từ xa, máy bay trinh sát chiến lược, chiến thuật, máy bay chỉ huy, liên lạc dẫn đường, cấp cứu cùng 60 tàu chiến các loại của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương. Máy bay chiến lược B.52, còn được gọi là siêu pháo đài bay B.52, là máy bay chiến đấu hiện đại nhất của không lực Hoa Kỳ vào thời điểm đó, có tải trọng vũ khí 18 - 30 tấn bom, có thể mang 12-20 quả tên lửa hành trình ALEM hoặc 8 tên lửa hành trình (tàng hình) ACM, 4 pháo 20mm hoặc một pháo 20mm 6 nòng (gấp 10 lần so với máy bay cường kích). Cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta cuối tháng 12/1972 là một cuộc ném bom có tính hủy diệt.

Trong 12 ngày và đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần máy bay B.52 và 3.920 lần máy bay chiến thuật ném xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc nước ta hơn 100.000 tấn bom, đạn. Chiến dịch thả bom đã huỷ diệt nhiều phố xá, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga, giết chết 2.368 dân thường, làm bị thương 1.355 người khác.

Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B.52, các lực lượng vũ trang ta với nòng cốt là quân chủng Phòng không - Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân Thủ đô Hà Nội đã phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng.

Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18/12/1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B.52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B.52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Sau thất bại này, Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 17 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Cuối tháng 3/1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Đây là minh chứng cho thấy chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam là thành quả của sự chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân Việt Nam./.


TẠI SAO LẠI LÀ MAY MẮN

 

50 năm đi qua, với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam. Vậy mà có những cựu binh Mỹ lại cho rằng:

Trên Quora, thiếu tá Keith Parker đã từng phục vụ trên các máy bay B-52G và C-130 cố tình xuyên tạc sự thật khi viết rằng, Việt Nam đã bắn hơn 1.400 tên lửa SAM lên bầu trời “một cách mù quáng” để hạ gục các máy bay B-52 chứ không phải là do thực lực của phòng không Việt Nam. Keith Parker cho rằng, Bộ Chỉ huy phòng thủ hàng không vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD) và Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược (SAC) đã tự nghiên cứu rất nhiều phương pháp chống B-52 nhưng đều thất bại, ngay cả những quốc gia như Liên Xô cũng đều không dám tự tin hạ gục B-52. Từ đó, đánh lái bản chất sự kiện này thành “Việt Nam đã thất bại vào 12/1972 chứ không phải là một chiến thắng như họ tuyên truyền.

Một số cựu phi công của Hạm đội 7 cho rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ được B-52 nhờ vào chiến thuật “vãi đạn”; là kết quả của chiến thuật sử dụng hỏa lực phòng không “bừa bãi” để hạ gục B-52 chứ không đến từ sự tính toán chiến thuật và năng lực phòng không! Gary Cummings, một cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam còn đặt một giả thuyết rằng, tất cả đều do chính những sĩ quan Liên Xô mới bắn rụng B-52 chứ không có bộ đội nào của Việt Nam bắn hạ. Một cựu binh khác là Paul Reinman còn khôi hài hơn khi cho rằng, phi công MiG của Việt Nam đã bắn hạ B-52 là “do vô tình lạc vào đường bay của B-52 chứ không phải là do năng lực”! Trong một diễn đàn tự cho là “nghiên cứu lịch sử”, có một số người cổ suý những quan điểm lệch lạc trên, từ đó bình luận rằng, Việt Nam đã may mắn bắn hạ B-52 vì sự chủ quan của đối phương, vì trời tối, vì sự chủ quan của quân Mỹ…

Những luận điệu trên làm sai lệch bản chất sự kiện, tung ra những con số ảo và tạo nghi vấn về các số liệu lịch sử nhằm gây nhiễu loạn thông tin, xuyên tạc ý nghĩa, giá trị của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Trên thực tế, chính Mỹ đã thừa nhận mình là bên không chịu nổi tổn thất và buộc phải ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đám phán ký kết Hiệp định Paris. Đây là những luận điệu xuyên tạc làm sai lệch lịch sử của một số kẻ đổi trắng thay đen./.


KHÔNG CHÍNH XÁC, THIẾU KHÁCH QUAN CỦA BỘ NGOẠI GIAO MỸ KHI ĐÁNH GIÁ VỀ NHÂN QUYỀN, TỰ DO TÔN GIÁO CỦA VIỆT NAM

 

Cứ vào các dịp cuối năm, Bộ Ngoại giao Mỹ thường đưa ra các báo cáo nhân quyền, tự do tôn giáo đối với các nước trên thế giới, Mỹ tự cho mình đóng vai trò “Cảnh sát quốc tế” để giám sát hoạt động của các nước về nhân quyền, tự do tôn giáo.

Việt Nam có đầy đủ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý vững chắc để chứng minh những điều mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã nêu trong báo cáo là không chính xác, thiếu khách quan. Cụ thể:

Thứ nhất, việc Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo là dựa trên những đánh giá thiếu khách quan, công bằng. Bộ Ngoại giao Mỹ đơn phương đưa ra danh sách để đánh giá một quốc gia có chủ quyền, độc lập như Việt Nam là đi ngược lại quy định Hiến chương của Liên Hợp Quốc (LHQ) năm 1946. Mặt khác, cáo buộc này đã phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam khi tham gia vào “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966” mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 với điều 18 cam kết về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng” (khoản 1, Điều 18 Công ước năm 1966).

Thực tế tại Việt Nam, tình hình tự do tôn giáo được khẳng định rõ trong Hiến pháp, pháp luật và được tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Nhiều năm qua, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có tín đồ, chức sắc tôn giáo được nâng cao, đã có những bước chuyển biến rất rõ nét, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đặc biệt với việc Việt Nam 2 lần trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ (nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023-2025) với số phiếu bầu cao cho thấy sự tín nhiệm của các nước trên thế giới với cách nhìn nhận đánh giá đúng đắn, công tâm về tiến trình bảo đảm nhân quyền nói chung và quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam nói riêng.

Ngoài ra, những thành tựu gần đây về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận như tổ chức thành công 3 lần Đại lễ VESAK LHQ các năm 2008, 2014 và năm 2019; Việt Nam đã cùng với Giáo hội Công giáo hoàn vũ (Vatican) tổ chức 9 vòng đối thoại thường niên để tiến tới xây dựng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Vatican phục vụ lợi ích giữa giáo hội, giáo dân và dân tộc Việt Nam. Đến nay, số lượng các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận là 16 tôn giáo, 43 tổ chức đăng ký hoạt động tôn giáo, nhiều tổ chức tôn giáo mới hình thành đều được các cơ quan, ban, ngành chức năng hướng dẫn tỉ mỉ theo quy định Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2106 đảm bảo tính thống nhất, ổn định và tuân thủ quy định của luật pháp Việt Nam.

Thứ hai, cáo buộc của Bộ Ngoại giao Mỹ dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Bộ Ngoại giao Mỹ thường cử các phái đoàn ngoại giao vào Việt Nam để theo dõi, quan sát về tình hình tự do tôn giáo, điều này phù hợp với tinh thần đối thoại, hợp tác lẫn nhau giữa Việt Nam và Mỹ. Tính từ năm 2006 đến nay, phía Mỹ hằng năm thường xuyên cử các phái đoàn hỗn hợp của Bộ Ngoại giao, Quốc hội Mỹ, tổ chức phi chính phủ trực thuộc các cơ quan, ban, ngành của Mỹ đến thăm, tiếp xúc làm việc với các cá nhân, chức sắc, tín đồ và tham dự các hội thảo, hội luận, tọa đàm do chính quyền Việt Nam tổ chức để làm rõ hơn quy cách quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.

Tuy nhiên, Mỹ thường cử phái đoàn đến thăm gặp, tiếp xúc với cá nhân là chức sắc, tín đồ tôn giáo có những hoạt động vi phạm pháp luật hoặc những hội nhóm chưa đủ điều kiện công nhận về tổ chức tôn giáo theo quy định pháp luật. Đơn cử vào tháng 5 và tháng 10/2022, Bộ Ngoại giao Mỹ đã cử phái đoàn vào Việt Nam để khảo sát tình hình tự do tôn giáo chỉ tiếp xúc với các hội nhóm tôn giáo chưa được công nhận, thường xuyên vi phạm pháp luật như “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, “Pháp luân công”, “Tin lành Đấng Christ các dân tộc Việt Nam”, “nhóm Cao Đài, Hòa Hảo độc lập”, “tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình”… Họ lên tiếng bênh vực những cá nhân vi phạm pháp luật như đối tượng Nguyễn Năng Tĩnh, Lê Đình Lượng, Hồ Đức Hòa… trong Công giáo; đối tượng Nguyễn Trung Tôn, Y Hinnie, A Ga, A Đảo… trong đạo Tin lành; đối tượng Thích Không Tánh, Thích Tuệ Sỹ trong “Phật giáo Việt Nam thống nhất”. Thậm chí, những kẻ cố tình lợi dụng danh nghĩa tín ngưỡng, tôn giáo như đối tượng Lê Tùng Vân tại “Thiền am bên bờ vũ trụ” (còn gọi là Tịnh thất Bồng Lai), tỉnh Long An cũng được phía Mỹ liệt kê vào danh sách cần “quan tâm, bảo vệ”.

Chính từ thu nhận bởi những tiếng nói của các cá nhân, tín đồ vi phạm pháp luật như trên nên phía Bộ Ngoại giao Mỹ đã vin vào đó để quy kết phía Việt Nam đang “đàn áp tự do tôn giáo” và cho rằng, việc xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật, phạm tội là “xử lý và đàn áp tôn giáo”. Điều này thể hiện cách nhìn nhận thiếu khách quan và áp đặt tiêu chuẩn tự do tôn giáo của Mỹ đối với Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam và Mỹ đã xây dựng được cơ chế đối thoại trên cơ sở niềm tin, bình đẳng và hướng đến sự ổn định phát triển giữa hai quốc gia, dân tộc. Những năm qua, hai nước đã thường xuyên tổ chức “Đối thoại Nhân quyền thường niên Hoa Kỳ - Việt Nam” nhằm trao đổi, đối thoại giải quyết những vướng mắc, bất đồng xung quanh vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Năm 2022, hai nước đã tổ chức cuộc họp Đối thoại nhân quyền tại Mỹ thu được kết quả thành công tốt đẹp, mở ra triển vọng mới về cải thiện nhân quyền tích cực ở Việt Nam trong thời gian tới.

Thế nhưng, Bộ Ngoại giao Mỹ đơn phương đưa Việt Nam vào “Danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo” năm 2022 đã phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ trong tiến trình tạo niềm tin, củng cố quan hệ ngoại giao. Việc đưa ra những đánh giá, nhận định nêu trên của Bộ Ngoại giao Mỹ đã tạo thêm những cơ sở, điều kiện để các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị tuyên truyền xuyên tạc sai lệch bản chất vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Thứ tư, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tổ chức, cá nhân chức sắc, tín đồ. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành năm 2018), Nghị định 162/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Nghị quyết số 25/NQ-TƯ ngày 12/3/2003, Hội nghị Trung ương 7, Khóa IX về công tác tôn giáo, nêu 5 quan điểm về chính sách trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho chức sắc, tín đồ. Những quy định này đã tạo cơ sở cho những phát triển, thành tựu trên lĩnh vực tôn giáo, trong đó nhìn nhận yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo là “nhu cầu không thể thiếu của một bộ phận người dân” và “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo”; xác định tín ngưỡng, tôn giáo là nguồn lực quan trọng mà các cơ quan, ban, ngành chức năng trong hệ thống chính trị phải phát huy nguồn lực này góp phần xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thiết chế văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, gắn tín ngưỡng, tôn giáo với đạo đức con người, văn hóa dân tộc.

Thứ năm, sự phát triển lớn mạnh của các tổ chức tôn giáo ở trong nước và liên kết quan hệ quốc tế trong tôn giáo là minh chứng cho thấy tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu vào thế giới. Định hướng phát triển của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có thể thấy rõ thông qua nội dung Hiến chương, điều lệ, quy định của tôn giáo luôn bám sát yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Chẳng hạn, Phật giáo luôn kiên định con đường “Đạo pháp dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; Công giáo tự hào với quan điểm “sống phúc âm trong lòng dân tộc”; đạo Tin lành với Hiến chương “phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc”; đạo Cao Đài với khẩu hiệu “nước vinh - đạo sáng”… đã khơi dậy truyền thống gắn kết giữa tín ngưỡng, tôn giáo với tinh thần tự lực, tự cường, độc lập dân tộc.

Mặt khác, trong xu thế mở cửa hội nhập hiện nay, nhiều tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đã vươn mình, khẳng định sự lớn mạnh bằng việc tổ chức các sự kiện hành hương, đại lễ, lễ trọng thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế. Cụ thể: Đại lễ VESAK Phật giáo LHQ năm 2019 diễn ra tại chùa Tam Chúc, Hà Nam đã có hơn 500 phái đoàn quốc tế đến tham dự; lễ hành hương tại La Vang (Quảng Trị), Sở Kiện (Hà Nam) của Công giáo Việt Nam đã thu hút sự tham gia của hàng trăm tổ chức Công giáo trên thế giới đến hành hương, chiêm bái. Những điều này thể hiện rõ tầm ảnh hưởng của các tổ chức tôn giáo Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế, xã hội trong nước; đồng thời xây dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam có đầy đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Tóm lại, từ những thành tựu có được trong bức tranh về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là minh chứng sống động cho thấy hơn bao giờ hết tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trở thành động lực, yếu tố thúc đẩy gắn kết, đoàn kết xã hội, xây dựng xã hội mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Những cáo buộc của phía Mỹ khi đưa Việt Nam vào “danh sách cần giám sát đặc biệt về tự do tôn giáo” thực sự chưa thể hiện góc độ tiếp cận tích cực, thiếu căn cứ pháp lý, đi ngược lại những cam kết mà phía Mỹ và Việt Nam đã ký kết, thỏa thuận. Hi vọng rằng trong thời gian tới, phía Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ có những đánh giá khách quan, cụ thể, sâu sát và vì lợi ích của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam để đưa ra những đánh giá, quyết định hữu ích cho quan hệ giữa hai quốc gia, dân tộc.

                                                                    Theo Vũ Tiến Lợi - Nguyễn Xuân Thịnh

ĐỪNG CÁO BUỘC VÔ CĂN CỨ

 

Ngày 02/12/2022, trên website của Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào cái gọi là “Danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo”. Điều này gây nên những phản ứng của dư luận xã hội về sự thiếu khách quan trong nhìn nhận, đánh giá thực chất vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời thể hiện góc nhìn sai lệch của Bộ Ngoại giao Mỹ khi đánh giá về nhân quyền, tự do tôn giáo.

Theo cáo buộc của Bộ Ngoại giao Mỹ, Việt Nam cùng 3 nước khác đó là: Algeria, Cộng hòa Trung Phi, Comoros thuộc cái gọi là “Danh sách giám sát đặc biệt về tự do tôn giáo”. Lý do Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra là Việt Nam trong năm 2022 đã “can dự vào hay dung thứ cho những vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo”. Đồng thời với Bộ Ngoại giao Mỹ là tổ chức Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo quốc tế (USCIRF) cũng công bố báo cáo mới về “Danh sách nạn nhân tự do tôn giáo hay niềm tin”, theo đó cáo buộc Việt Nam chưa tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, đặc biệt tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân.

Trước những cáo buộc phi lý của Bộ Ngoại giao Mỹ, Việt Nam đã có những phản hồi chính thức về vấn đề này. Cụ thể, ngày 15/12/2022, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định: “Việc Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo là dựa trên những đánh giá thiếu khách quan cũng như các thông tin không chính xác về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam”. Yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ cần khách quan hơn trong đánh giá về Việt Nam./.

 


TUẤN KHANH - KẺ PHẢN ĐỘNG NGUY HIỂM!

         Với khiếu tấu hài và âm nhạc, Tuấn Khanh thường xuất hiện với vai trò giám khảo trong một số gameshow nổi tiếng như VietNam Idol, Sao Mai điểm hẹn… được giới trẻ yêu thích. Buồn thay, mới vụt sáng trên bầu trời showbiz, Tuấn Khanh quay sang bình luận về chính trị đã phá chính quyền với thái độ hết sức cực đoan, thường xuyên phát biểu trên BBC, RFA, RFI…với những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Nhà nước Việt Nam. 
     Trên trang RFA tháng 01/2016, Tuấn Khanh thẳng thừng so sánh lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hòa với Hải quân Nhân dân Việt Nam trong trận hải chiến 1988 sặc mùi phản động. Mất dạy hơn, trong vụ 39 người Việt nhập cư trái phép gặp nạn tại Anh, Tuấn Khanh so sánh với hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những ngôn từ khốn nạn: “Ai có quyền đánh giá ước mơ hay phẩm giá của những người trẻ đó? Ai có quyền gọi họ là liều lĩnh hay ngu xuẩn vì không chấp nhận hiện tại? Nếu giả sử chẳng may trong lịch sử, chiếc tàu buôn Latonche Tre’ville chở anh thanh niên Văn ba bị đắm ngoài khơi năm 1911, hôm nay tên gọi về Nguyễn Tất Thành là gì, nhất là khi anh ta không chịu yên phận và chấp nhận cuộc đời một thầy giáo dạy chữ Hán của trường Dục Thanh của Hội Liên Thành”.  
     Có thể nói khuyết tật về nhân cách của một kẻ mang danh “nhạc sĩ”, Tuấn Khanh đã bộc lộ tâm địa đen tối, tư tưởng xấu xa, tiếp tay cho các thế lực chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc mà gần đây nhất Hắn xuyên tạc trắng trợn: “Một nữ sinh nhảy lầu tự tử ở Sài Gòn sau khi bị 12 lính Việt Nam cưỡng hiếp” tại Trường Quân sự - Quân khu 7. Những gì Tuấn Khanh làm bộc lộ bộ mặt của một kẻ phản động cực kỳ nguy hiểm trên mạng xã hội. Đã đến lúc cơ quan chức năng phải xử lý nghiêm khắc với đối tượng này để bảo vệ sự bình yên cho nhân dân, đất nước./.

Yêu nước ST.

 

Định nghĩa thứ ba: Nhà nước pháp quyền hiểu chung nhất là Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, trong đó mọi chủ thể kể cả nhà nước đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật - một hệ thống pháp luật có tính phổ biến cao (đề cao tính tối cao của Hiến pháp và luật), phù hợp với ý chí, thể hiện đầy đủ những giá trị cao cả nhất của xã hội, con người.

NH.MLN

Nhà nước pháp quyền

 

Định nghĩa thứ hai: NNPQ là khái niệm để chỉ một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của Nhà nước và các các công dân trên cơ sở pháp luật.

Nh.MLN

Nhà nước pháp quyền

 Định nghĩa thứ nhất: Nhà nước pháp quyền là khái niệm dùng để chỉ xã hội được tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành pháp luật và được bảo đảm thực thi bằng bộ máy nhà nước và các thiết chế chính trị- xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân./.

Nh.MLN

SỰ THỰC VỀ VIỆC CHUYÊN GIA NHÂN QUYỀN CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM!

         Các chuyên gia nhân quyền thuộc tổ chức phi chính phủ - Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW) đã lên tiếng tố cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền đối với 18 nhà “hoạt động dân chủ, nhân quyền” tại Việt Nam đang bị bắt giữ, xử lý.
     Cụ thể, đài RFA đã dẫn “Bốn chuyên gia độc lập về nhân quyền của Liên Hiệp quốc đã gửi một thư chung tới Chính phủ Việt Nam yêu cầu giải trình về việc cầm tù 18 nhà hoạt động, người bảo vệ nhân quyền và nhà báo- những người bị đã bị bắt giữ tùy tiện và bị tước quyền tự do khi thực thi quyền tự do ngôn luận”.
     Lý do mà chuyên gia này đưa ra đó là nhằm để “Hà Nội thấy họ bị giám sát chặt chẽ hơn, đôi khi dẫn đến những người nêu trong danh sách sẽ được đối xử tốt hơn ở trong tù”.
     Danh sách mà họ đưa ra bao gồm các nhà hoạt động: Nguyễn Lân Thắng, Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Thị Tâm, Cấn Thị Thêu, Bùi Tuấn Lâm.
     Các tổ chức phi chính phủ hoạt động về dân chủ, nhân quyền thường xuyên cáo buộc Việt Nam vi phạm các điều được quy định trong Công ước về quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã tham gia vào năm 1982. Cụ thể, các tổ chức này cáo buộc Việt Nam vi phạm điều 9, điều 14, điều 19, điều 26 của Công ước.
     Tuy nhiên điều quan trọng nhất đó là những người hoạt động “dân chủ, nhân quyền” kia đã đi ngược lại những giá trị lợi ích của dân tộc Việt Nam, một số kẻ có hành vi gây rối trật tự công cộng khiến cho dư luận xã hội lên án, yêu cầu chính quyền phải xử lý nghiêm minh để tránh gây hậu quả nguy hại cho xã hội.
     Nên nhớ rằng Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, những hành vi đi ngược lại lợi ích dân tộc và vi phạm quy định pháp luật sẽ bị xử lý.
     Những đòi hỏi của các tổ chức phi chính phủ về dân chủ, nhân quyền chỉ nên dừng lại ở những khuyến nghị và tôn trọng quyền tự chủ của Việt Nam./.
Yêu nước ST.

ĐỪNG THEO ĐÁM PHẢN ĐỘNG XUYÊN TẠC, XÚC PHẠM HỌ!

         Phải nói rõ là xã hội nào cũng có 2 mặt tích cực và tiêu cực, tổ chức, cơ quan đơn vị nào cũng có mạnh có yếu, có tốt, có xấu nhưng chắc chắn không ai bao che cái xấu, triệt tiêu cái tốt cả. 
     Thế mà, một câu chuyện do các thế lực thù địch phản động tự bịa ra, cắt ghép lồng âm thanh vào video rồi tung lên mạng xã hội để bôi nhọ hình ảnh lực lượng vũ trang. Thế là chúng dắt mũi hàng ngàn người tin theo, rồi đổ vấy cho Trường Quân sự quân khu 7. Rồi tiếp đó là vào bình luận xúc phạm hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ".
     Phải khẳng định, bất kỳ một tổ chức nào của LLVT cũng không bao che chuyện xấu! Sự việc ở Trường Quân sự Quân khu 7 là một sự tung tin thất thiệt dắt mũi cộng đồng từ một câu chuyện khác. Và lâu nay không phải chỉ có mỗi tin đồn thất thiệt xuyên tạc này đâu mà hàng trăm ngàn câu chuyện khác chúng cắt ghép, thêu dệt để thực hiện chiêu trò đánh lừa dư luận để chống phá đất nước. Trong môi trường Internet, người Việt đã, đang và sẽ còn phải hứng chịu rất nhiều nữa những thông tin kích động kiểu như này từ bọn "phản động". Vì chúng dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc để hạ thấp uy tín, phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, hòng phi chính trị hóa quân đội, tách vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm quân đội mất phương hướng trong xử lý các tình huống phức tạp. Khi LLVT yếu đi thì các vấn đề an ninh quốc phòng và trật tự xã hội sẽ không được bảo đảm, bất ổn sẽ xẩy ra như Tiunisi, Yamen, Ucraina... là không tránh khỏi. Khi đó đất nước sẽ đi về đâu với những trò thâm độc của chúng???  
     Người dân cần cảnh giác, tỉnh táo hơn, hãy bình tĩnh phán xét trước mọi thông tin nóng để tìm hiểu sự thật từ cơ quan chức năng, thông cáo báo chí chính thống. Đừng vì một thông tin chưa được kiểm chứng, có ý đồ xuyên tạc mà xúc phạm những người Lính Cụ Hồ vì trước những nan nguy của thiên tai địch họa, "ở đâu có khó khăn ở đó chúng ta còn có tấm khiên che chắn, đó là Công An nhân dân và "Bộ đội Cụ Hồ".
     Thử nhìn xem đại dịch Covid -19, Lũ lụt, họa hoạn, cháy rừng, trộm cướp... ai đã xông pha nơi tuyền đầu để mang lại hạnh phúc cho nhân dân? Rõ ràng không phải bọn phản động Việt tân ở bên kia nửa bán cầu Tây!
Yêu nước ST.

BỐN CHỮ “NHÂN” TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC!

         Tại phiên thứ 23 để kiểm điểm, đánh giá kết quả hoạt động năm 2022, xác định chương trình công tác năm 2023 diễn ra hôm 12.1 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói về 4 chữ “nhân”.
     Tổng Bí thư nói: “Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực hiện rất nhân văn, nhân nghĩa, nhân ái, nhân tình nhưng vẫn đủ răn đe và giáo dục, ngăn ngừa là chính”.
Đây không phải là quan điểm mới mà là quan điểm xuyên suốt cả quá trình đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.
     Gần 9 năm trước, tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội hồi tháng 10.2014, khi trả lời những bức xúc của cử tri về tình trạng tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: "Phải bình tĩnh tỉnh táo, rất khôn ngoan, có con mắt chiến lược. Bác Hồ dạy rồi, cha ông ta dạy rồi, đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Tức là phải giữ cho được sự ổn định để đất nước phát triển".
     Ngày 12.1, Tổng Bí thư nhắc lại quan điểm xử một vài người để răn đe, giáo dục, ngăn ngừa người khác đừng vi phạm, để cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, ngăn ngừa là chính, không phải cốt xử cho nhiều, xử cho nặng mới là nghiêm.
     4 chữ “nhân” trong “nhân văn, nhân nghĩa, nhân ái, nhân tình” đã phần nào thể hiện được sự khoan dung, hướng đến sự ổn định lâu dài. Đây cũng chính là điều mà Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô Đại Cáo: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.
     Chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, làm một cách rất bài bản, thuyết phục”. Thuyết phục chính là ở chỗ “Xử là phải xử nghiêm theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với lương tâm”.
     Bằng chứng cho thấy, dù năm 2022, các đơn vị đã thi hành kỷ luật 539 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 47 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý… thì sự ổn định của bộ máy, của đất nước không những vẫn được duy trì mà còn vững mạnh và phát triển.
     4 chữ “nhân” trong phòng chống tham nhũng, tiêu cực đảm bảo sự ổn định lâu dài và đảm bảo để những ai đã và sẽ bị xử lý phải tâm phục, khẩu phục. Quan trọng nhất, đó là đảm bảo niềm tin trong Đảng, trong nhân dân./.
Ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo cuộc họp ngày 12.1.
Yêu nước ST.

LẠI GIỞ GIỌNG THẢO MAI!

         Cũng sắp đến Tết rồi, chiều cuối đông Hà Nội bên cạnh ly café ngắm mưa phùn bay ngang qua con phố, cảm giác thật tuyệt vời. Hình như trời đang thay đổi khí tiết, báo hiệu sắp sửa bước sang mùa xuân ấm áp. Có lẽ chính vì vậy tính cách và thói quen bộc lộ cảm xúc của con người cũng ít nhiều bị ảnh hưởng, điển hình là “Tân” đây, vừa hồi chiều có đăng lên facebook một bài viết với giọng điệu không thể giả trân được hơn.
     Mở đầu bài viết tác giả tự thuật rằng “không biết Mỹ, Ngụy là gì”, “không biết Việt Nam Cộng hòa là gì” cũng “không biết sự phồn hoa của Đô thành Sài Gòn một thời” thế nhưng lại biết rằng cái sự phồn hoa đấy được ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước. Bản thân nói như tự vả vào mặt mình như vậy không cảm thấy ngại ngùng gì hay sao? Cố tình nói như vậy để thuyết phục, lôi kéo dư luận tin theo hay sao? Nhưng theo tôi thấy thì có kẻ ngốc mới tin, đọc mở đầu đã thấy sự giả dối khó ưa.
     Bản thân những kẻ phản động và cơ hội chính trị luôn có cụm từ “thiên đường xã hội chủ nghĩa” nhằm đặt ra hoài nghi và gián tiếp khẳng định rằng xã hội chủ nghĩa mà đất nước ta đang hướng tới thực chất không có thật. Bằng cách đặt câu hỏi rằng “Nếu XHCN là thiên đường thì tại sao…?” để cho thấy sự việc tưởng chừng như bất hợp lý, dễ dàng khua môi múa mép, phản đối lại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta. Song, những người am hiểu tường tận vấn đề ai cũng biết rằng đấy chỉ là mánh khóe xảo trá của tụi đu càng bởi dễ thấy chưa có đất nước nào hoàn tất việc đi lên xã hội chủ nghĩa mà đơn giản chỉ là trong quá trình tiến tới đó.
     Tác giả bài viết kết luận bằng một câu hỏi rất ngây ngô: “…ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo…”. ĐƯƠNG NHIÊN LÀ CÓ RỒI, ở Việt Nam bất kỳ ai cứ từ đủ 18 tuổi là có quyền bầu cử. Hằng năm cứ đến ngày bầu cử là làng xóm phố phường ai nấy đều hân hoan thực hiện quyền công dân của mình, bầu cho những đại biểu mà bản thân họ ủng hộ. Ngay cả dịch bệnh Covid-19 vừa rồi cũng không làm gián đoạn tiến độ của hoạt động bầu cử. Không những toàn bộ người dân đủ 18 tuổi đều có quyền bầu cử, mà công tác tiến hành bầu cử còn được xem là một trong những công tác quan trọng nhất của đất nước. Tác giả hỏi như vậy chẳng phải là vừa hỏi vừa xuyên tạc hay sao. Nực cười là những bình luận dưới bài viết lại đua nhau bảo rằng “tôi chẳng bao giờ đi bầu cứ”, tức là được đi đấy, nhưng đã tự đánh mất quyền lợi của chính mình.
     Trời đổi khí tiết sang xuân, còn Tân thì hỏi như hâm thế à? Miệng thì bảo là “câu hỏi nhỏ” song, tôi thấy rõ rằng đây hẳn phải là những trăn trở của tác giả. Bây giờ được giải đáp phần nào rồi thì hãy ngừng lên mạng viết linh tinh này nọ với dụng ý xấu, chẳng ai tin và cũng chẳng hay ho gì chuyện đó đâu./.
Yêu nước ST.

CÚNG ÔNG CÔNG, ÔNG TÁO - PHONG TỤC TÍN NGƯỠNG ĐẸP CỦA NGƯỜI VIỆT!

         Không ai biết chính xác tục cúng ông Công, ông Táo có từ bao giờ, chỉ biết rằng nó tồn tại từ rất lâu, được lưu truyền từ xa xưa cho đến tận ngày nay, đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam!
     Lễ cúng ông Công, ông Táo là một trong những nét đẹp văn hóa ngày Tết của người Việt.
     Cứ đến ngày 23 tháng Chạp Âm lịch hằng năm, người Việt lại chuẩn bị mua sắm lễ vật, chuẩn bị cúng ông Công, ông Táo và phóng sinh cá chép để tiễn ông Công, ông Táo về trời.
     Không ai biết chính xác tục cúng ông Công, ông Táo có từ bao giờ, chỉ biết rằng nó tồn tại từ rất lâu, được lưu truyền từ xa xưa cho đến tận ngày nay, đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam nhiều thế hệ và trở thành một nét đẹp trong văn hóa ngày Tết.

Một phong tục tín ngưỡng đẹp
     Cúng ông Công, ông Táo là một phong tục có từ rất lâu đời ở Việt Nam. Theo truyền thuyết kể lại, ông Công là vị thần cai quản đất đai trong nhà, còn ông Táo là ba vị đầu rau trông coi việc bếp núp.
     Ông Công, ông Táo được ông Trời phái xuống trần gian theo dõi và ghi chép những việc làm Thiện-Ác của con người. Và hằng năm, cứ vào ngày 23 tháng Chạp, các vị thần này lại cưỡi cá chép lên Thiên đình báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong suốt một năm qua để Thiên đình định đoạt công, tội.
     Do đó, trong quan niệm của người Việt, ông Công và ba vị Thần Táo (hay vua Bếp) là những vị thần định đoạt cát hung, phước đức cho gia đình. Tất nhiên, phước đức này đến từ việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà.
     Với mong muốn cho gia đình mình được nhiều may mắn, nên hằng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, người ta lại làm lễ tiễn ông Công, ông Táo lên chầu trời.
     Đồ lễ để cúng ông Công, ông Táo thường có một bộ mã ông Công và ba bộ mã ông Táo. Ngoài ra còn có hương, hoa, oản, quả, cau, trầu; cùng một mâm cỗ được chuẩn bị cẩn thận, đầy đủ với xôi, gà, giò, nem, canh măng miến... Tuy nhiên, thực tế tùy theo khả năng của từng gia đình, các gia đình có thể cúng mâm cỗ chay.
     Lễ cúng ông Táo thường được tiến hành trước 12 giờ trưa ngày 23 tháng Chạp Âm lịch (có thể cúng vào trưa, tối ngày 22 tháng Chạp hoặc sáng 23 tháng Chạp) bởi dân gian quan niệm sau 12 giờ trưa là ông Táo lên chầu trời nên sẽ không nhận được đồ cúng.
     Theo truyền thuyết, cá chép là phương tiện duy nhất có thể đưa Táo Quân về trời. Bởi thế, vào ngày này, các gia đình đều cúng cá chép. Một số gia đình có thể mua cá chép giấy, tuy nhiên phần lớn các gia đình thường mua 3 con cá chép thả vào chậu nước đặt cạnh mâm cỗ, sau khi làm lễ xong đem ra sông thả, ngụ ý cá sẽ hóa rồng, vượt vũ môn, làm phương tiện cho Táo Quân cưỡi về trời.
     Ngoài ra, trong tâm thức người Việt, “cá vượt Vũ môn” hay “cá chép hóa rồng” còn mang ý nghĩa của sự thăng hoa, biểu tượng của tinh thần vượt khó, sự kiên trì, bền chí chinh phục tri thức để đi tới thành công, biểu trưng cho nhân cách thanh cao tiềm ẩn hoặc hướng đến một kết quả tốt đẹp.

Để phong tục cúng
ông Công, ông Táo
thêm ý nghĩa
     Theo truyền thống của người Việt, vào ngày cúng ông Công, ông Táo lên thiên đình để báo cáo mọi việc trong gia đình nhà chủ với Ngọc Hoàng, mọi người thường dọn dẹp nhà, bếp sạch sẽ, làm một mâm cơm để tiễn ông Công ông Táo về trời. Tín ngưỡng ngày giàu ý nghĩa nhân văn, hướng con người tích cực làm việc tốt, sống lương thiện.
     Ngoài những điểm tương đồng này, tùy theo phong tục vùng miền mà nghi lễ cúng ông Công, ông Táo giữa 3 miền Bắc-Trung-Nam có sự khác biệt nhất định, nhưng nhìn chung là đều thể hiện tấm lòng thành kính của gia chủ đối với vị thần cai quản việc phúc đức trong nhà.
     Tuy nhiên, ngày nay tục lệ này đang bị hiểu sai cả trong hình thức thể hiện lẫn trong tâm thức một số người dân. Nếu theo truyền thống thì lễ cúng ông Công, ông Táo chỉ cần mâm cơm, chè ngọt, trầu cau, hoa quả… ngày nay nhiều gia đình bày biện lễ lạt quá tốn kém.
     Nhiều người bỏ tiền triệu mua nhiều vàng mã về đốt với niềm tin rằng, nếu họ dâng mâm cao cỗ đầy thì sẽ được Táo quân xí xóa những việc làm xấu, ban cho nhiều phước lộc.
     Còn về phong tục thả cá chép, không chỉ được cho là phương tiện giúp ông Công, ông Táo lên chầu trời, xét từ góc độ Phật giáo, phóng sinh cá chép thể hiện sự từ bi cũng như truyền thống nhân đạo của nhân dân ta, xét về khía cạnh môi trường, việc thả cá chép còn góp phần làm đa dạng sinh học tại những khu vực cá được thả.
     Lý thuyết là vậy, tuy nhiên trên thực tế việc thả cá không đúng cách cùng với ý thức kém của một bộ phận dân cư lại gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường.
     Do đó, khi thả cá, mọi người cần chú ý một số điều như: chọn mua những con cá trông nhanh nhẹn, không bị bong vảy; chọn thả cá về đúng môi trường mà cá có thể sinh sống; không nên ném cả túi cá xuống hồ, làm cá không thể thoát ra ngoài; nhặt, vứt túi nylon đúng nơi quy định… Mỗi người dân hãy ý thức hơn nữa trong việc bảo vệ môi trường xanh và sạch đẹp, vừa thực hành tiết kiệm, vừa gìn giữ được những nét văn hóa cổ truyền của dân tộc.
     Tết ông Công, ông Táo đã đến, Tết Nguyên đán cũng sắp đến. Hy vọng, những hành động, việc làm chưa đúng, chưa đẹp sẽ sớm được khắc phục để mọi người ai cũng được đón một cái Tết vui vẻ và ý nghĩa./.
Theo TTXVN.
Yêu nước ST.

TIẾP NHẬN BỨC CHÂN DUNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DO NGUYÊN CHỦ TỊCH QUỐC HỘI NGUYỄN THỊ KIM NGÂN VẼ!

         Trong không khí đón chào năm mới 2023 và chuẩn bị đón Tết cổ truyền xuân Quý Mão, kỷ niệm 93 năm thành lập Đảng, 77 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội, sáng 13/1, Văn phòng Quốc hội trang trọng tổ chức lễ tiếp nhận bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.
     Phát biểu tại lễ tiếp nhận bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết, bức tranh được bà vẽ vào tháng 11/1975 bằng bút chì với tất cả tình cảm kính trọng sâu sắc vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã trao tặng bản gốc và bản in trên lụa cho nhà truyền thống của Quốc hội./.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2023

“GENZ THÔNG THÁI” VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG KỆCH CỠM!

         Có một thực tế phũ phàng như thế này, đó là song hành cùng với sự bùng nổ của công nghệ thì nảy sinh ra một bộ phận những người lười tư duy, não phụ thuộc vào smartphone, kiến thức góp nhặt theo kiểu “copy and paste”.
     Những người như thế thường lại rất tích cực lướt MXH, mỗi ngày họ tiếp xúc với một rừng thông tin hầm bà lằng trên mạng. Có thể là các fanpage chuyên quote/trích dẫn những triết lý nhân sinh, những học giả truyền cảm hứng kiếm tiền bằng việc dạy người khác làm giầu, các em gái nhí nhố khoe thân nhưng kèm theo những chiêm nghiệm cuộc đời … Kinh điển có, tân thời có, tự mình rút ra có … và thoạt nghe qua đều thấm đẫm ý vị nhân sinh.
     Nhưng họ không chịu tư duy và chiêm nghiệm, và thế là họ tin vào những kiến thức nửa vời ấy, đôi khi xào xáo 1 tý, biến nó thành của mình một cách cẩu thả. Rồi, những mầm độc ấy tiếp tục được lây lan trên internet, rồi dần dần sẽ có một cộng đồng những con người ngáo đá nhưng vẫn luôn vỗ ngực tự nhận mình là “GenZ thông thái”
     Đã kể về cái gọi là “trọc phú tri thức” rồi, nhưng hôm nay mình vẫn kể lại, về cái gọi là “copy and paste”. Ở Showbiz Việt hiện nay có rất nhiều những MC, diễn viên hay đạo diễn theo chủ nghĩa Tây học nửa mùa, với tư tưởng lai căng có phần dị hợm. Họ thích sao chép các motif từ các kịch bản phương Tây, các giá trị phương Tây rồi cố đặt nó vào bối cảnh Việt Nam, mà không hiểu được đâu là truyền thống văn hoá của dân tộc. Một khi tác phẩm của họ tạo được tiếng vang, mang lại lợi nhuận cao (được truyền thông hỗ trợ hoặc do chạy theo thị hiếu), fan của họ lại cứ nghĩ thế là vĩ đại, là xuất chúng.
     Lấy ví dụ, về bộ phim 'Cua lại vợ bầu' chiếu dịp Tết 2019, với sự tham gia của “danh hài” Trấn Thành và “siu mẫu” Ninh Dương Lan Ngọc. Nhiều người xem xuýt xoa khen hay, còn tôi nhận vé công chiếu nhưng phải bỏ về giữa chừng vì nhận thấy phim là “ngôn lù và hài nhảm” đúng nghĩa. 
     Các bạn nhìn vào ảnh, và đọc câu chuyện của Hello Bobo (khả năng là chém gió), xong rồi hãy thử suy nghĩ về mạch nội dung của Cua lại vợ bầu.
     Đây, nữ chính Nhã Linh (Lan Ngọc thủ vai) được miêu tả là một cô gái độc lập, mạnh mẽ - và có mối quan hệ yêu đương với Trọng Thoại (Trấn Thành). Khi chuẩn bị tiến tới hôn nhân thì bạn chung của cả hai vô tình xuất hiện. Ba chấm xảy ra, cô gái bất ngờ có thai, lạ kỳ là không rõ bố đứa bé là ai. Đến lúc này người yêu cô mới cuống cuồng lên, tìm mọi cách quan tâm săn sóc nhằm cua lại người yêu cũ, anh ta tâm niệm làm cha đứa bé (bất chấp bố nó là ai). Còn cô gái cũng suy nghĩ kiểu xanh chín, “trong hai chàng trai ai quan tâm, yêu chiều cô hơn thì sẽ được chọn lấy làm chồng”.
     Từ bao giờ khi người yêu mải công việc không quan tâm, một cô gái có thể lên giường cùng người khác nhưng vẫn được cảm thông, thậm chí ngu xuẩn hơn là họ còn được bênh vực và cổ vũ? Có phải là do các bộ phim nói về Tình một đêm trước hôn nhân của Mỹ khiến người Á Đông chúng ta cảm thấy nó là bình thường. 
     Một cô gái sống buông thả, ích kỷ thậm chí có phần “trơ trẽn” - chả hiểu sao lại được nhiều bạn trẻ khen nức nở, báo chí tung hô lên mây về những triết lý bộ phim mang lại - hay là họ được trả tiền để làm điều này? Nào là: Đừng chỉ vì thắng một cuộc cãi vã mà chấp nhận thua cả một cuộc tình. Nào là: Hãy luôn quan tâm đến người mình yêu, như vậy người thứ ba sẽ không có cơ hội xuất hiện. Rồi: Tình yêu không phải là chiếc xe chạy mãi, phải có lúc hỏng hóc, quan trọng là phải biết sửa chữa kịp thời.
     Nếu Cua lại vợ bầu không phải ngôn lù, không phải hài nhảm thì là gì? Nhưng sao nó lại được tung hô, thần thánh lên kinh vậy?
     À, là vì nó được sự ủng hộ của một lớp những người bị ngáo đá về tư tưởng, một bộ phận fan của MC Trấn Thành với nghệ danh “GenZ thông thái”.
     Mặt trái của kinh tế thị trường, kể cả có được định hướng XHCN, thì vật chất được đẩy lên làm xu thế chủ đạo dẫn dắt quan điểm sống. Đó còn chưa kể đến hệ lụy của nhiều trào lưu văn hóa ngoại lai lệch lạc đang tràn về Việt Nam, dẫn đến một bộ phận giới trẻ Việt Nam mơ hồ giữa giá trị đúng và sai, tam quan đang dần lệch lạc.
     Truyền thông cũng giống như con dao hai lưỡi, tưởng khen mà tác dụng đôi khi ngược lại, đôi lúc đang phê phán lại vô tình khiến họ thêm phần hả hê vì nổi tiếng, mà nổi tiếng thì thường kèm theo với tiền tài và danh vọng.
     Có những group triệu member, nơi để cho các “trai xinh gái đẹp” tự do khoe hàng trở thành địa điểm lui tới thường xuyên của nhiều cư dân mạng. Thế là, việc một cô gái chụp cái ảnh khoe thân hết nấc, kèm thêm dòng cap khêu gợi kiểu: “Badgirl dụ anh nằm ngửa, còn em hứa chỉ dựa anh nằm ngủ”, “Pha lê thì trong sáng, còn phê la thì trong tối” (với địa chỉ Ins đính kèm) nhận được hàng chục ngàn like, và hàng ngàn cmt quá khích thậm chí tục tĩu, đầy nhục dục ở phía dưới. Và để câu dần những anh chàng ưa ngắm gái, cũng như việc ngày càng nhiều chị em thích khoe thân, các cô gái hở ngày càng bạo, khoe ngày càng nhiều. 
     Càng lúc mọi thứ càng như “lối mòn”, hễ ai thích nổi tiếng thì cứ làm chuyện khác người, chuyện gây bức xúc, phẫn nộ là sẽ được người khác tự tìm đến “soi”, bóc mẽ, chửi bới. Chỉ cần có một tinh thần thép chịu đựng được những “tác dụng phụ” đó, thì sự nổi tiếng chỉ đến trong chớp mắt, còn nhanh hơn quá trình một người làm nghệ thuật chân chính tìm được chỗ đứng trong lòng khán giả.
Và một khi công cuộc khoe thân phản cảm đang được “bình thường hóa”, thì việc 5-10 năm sau giới trẻ Việt xem phụ nữ khỏa thân là chuyện đương nhiên, nó là một viễn cảnh tương lai u ám. 
     Bình tâm mà xét, nguyên nhân sâu xa cũng bởi truyền thông kền kền ngày càng tha hóa, họ chỉ tập trung vào xu hướng, thị hiếu của giới trẻ, các tin tức 3S2 “sốc sex sến bẩn bựa” hay những nội dung gây tranh cãi, ném đá...”. Trong khi đó, những tấm gương người tốt, việc tốt, những hành động đẹp thì lại rất ít xuất hiện.
     Điều đó đã khiến giới trẻ thấy rằng bản thân cũng không hề thua kém, cũng phải “khoe thân” hoặc làm gì đó thật đặc biệt. Để được đưa tin, được phản ánh, phê phán và được nổi tiếng bất chấp tai tiếng cũng không sao cả.
     Dấu hiệu rõ nhất khi chủ nghĩa vật chất lên ngôi, giá trị đạo đức xuống cấp đó chính là truyền thông bẩn ngày càng lộng hành, là văn hóa ngoại lai ngày càng phổ biến. Ví dụ như ở Liên Xô, vào cuối thập niên 1980, khi văn hóa Mỹ và phương Tây xâm nhập ồ ạt, các tờ báo/kênh truyền thông đua nhau khai thác những vấn đề gây sốc như tình dục, bạo lực... Ngay cả một số tờ báo giàu truyền thống như báo Đoàn viên thanh niên cộng sản Moscow cũng trở thành “báo lá cải vỉa hè”, thường xuyên đăng ảnh mát mẻ, hay những nội dung tình dục, loạn luân nhằm thu hút độc giả. Dưới ảnh hưởng của thị trường và cám dỗ vật chất, báo chí, truyền hình, phát thanh cũng như các nhà xuất bản đua nhau theo đuổi lợi nhuận, không những quên đi trách nhiệm chính trị, thậm chí mất đi cả lương tâm xã hội.
     Một khi cái gốc của nền văn hóa lung lay, và bùm, năm 1991 Liên Xô sụp đổ và cái giá phải trả là hơn chục năm trời nước Nga, người thừa kế, sống trong cảnh hỗn loạn và tủi nhục. 
     Hay như câu chuyện ở Việt Nam, hiện có những bạn trẻ sẵn sàng bán phẩm giá để lấy tiền, và họ xem nó như là “một chuyện hết sức bình thường”, lỗi một phần do truyền thông kền kền đang cố tình bình thường hoá điều ấy.
     Ở Nhật Bản, thì các JAV idol về bản chất cũng chỉ là gái bán dâm mà thôi. Nhưng để hợp thức hóa nó, dân Nhật Bản quay lại quá trình mua dâm (hoạt động tình dục) để phục vụ khán giả, PR truyền thông rầm rộ. Lập tức bán dâm kiểu JAV nó được bình thường hóa, và sau 10 năm, nó dần thành một thứ văn hóa. Gái bán dâm kiểu JAV sẽ được nâng cấp từ phò lên thành Idol, được ngàn người hâm mộ.
     Ở Việt Nam, những mối quan hệ SGDD-SGBB đang dần nở rộ, và trên chừng mực nào đấy dần được bình thường hóa bởi truyền thông kền kền. Giờ đây, nhiều em gái SGBB không hề cảm thấy xấu hổ về việc các em làm, và cho nó là chính đáng. Nó, là một tín hiệu cực kỳ nguy hiểm.
     Nói trực tiếp thế này cho dễ hiểu. Ở Nhật, gái nhận tiền để quay lại hoạt động mua dâm và PR bình thường hóa, sau họ tiến hóa thành JAV Idol. Tương tự, ở Việt Nam, nhiều cô phò non nhận tiền theo tháng để bán dâm cho một người hoặc nhóm người, một khi họ được truyền thông hợp thức hóa và dần tiến hóa thành SGBB.
     Thời buổi thông tin bùng nổ, việc tiếp thu văn hóa ngoại lai cần có lọc lựa, đẹp đẽ thì tiếp thu và xấu xa cần bài trừ. Quan trọng nhất, các giá trị đạo đức văn hóa cổ truyền tốt đẹp của dân tộc cần cố gắng giữ gìn, vì đó mới thực sự là “bản sắc con người Việt”./.
Yêu nước ST.

 

NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN – MỘT BIỆN PHÁP HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG SỰ SUY THOÁI VỀ PHẨM CHẤT, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG


Ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ công việc gì, ai cũng phải có trách nhiệm – trách nhiệm với tổ chức, với công việc và với chính mình. Nếu không thì chúng ta sẽ không thể trưởng thành, tiến bộ theo đúng tư cách là một con người. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm” mà nó còn là một giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, phẩm giá văn hóa... Sinh thời Bác Hồ đã khẳng định: “là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi, đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công” và Người cũng thẳng thắn chỉ rõ: “Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm”.

Tuy nhiên, nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi, đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với nhiệm vụ được phân công, góp công, góp sức cùng tập thể trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi công việc được giao. Phải làm thế nào cho công việc ngày càng trôi chảy, hiệu quả, góp công nhiều hơn vì tập thể. Để khi tập thể vững mạnh thì bản thân mình cũng trưởng thành, tiến bộ.

Vậy để có tinh thần trách nhiệm tốt, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải làm gì? Đó là, phải tự mình chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học và đạt kết quả cao nhất; phải có tính tự trọng cao để làm việc với tinh thần, thái độ công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, vì danh dự của cá nhân; phải biết tự xử với chính bản thân mình trong mọi việc, khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân do đâu mà mắc phải để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; phải tự giác tự phê bình, phê bình và không được tự ái để không ngừng tiến bộ; phải có sự tự tin trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao.

Một trong những tiêu chí cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực.

Trong tình hình hiện nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có chức có quyền luôn bị những cám dỗ, bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là, dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng, tửu sắc… đầy mê hoặc, quyến rũ. Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống./.

 

 

PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Theo nội dung dân chủ chính trị thì dân chủ là một phạm trù riêng lĩnh vực chính trị. Còn chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước. Dân chủ là một giá trị xã hội mang tính toàn nhân loại. Dưới chế độ nô lệ và phong kiến, tư tưởng thần quyền và phân biệt đẳng cấp hà khắc đã tước bỏ tự do, dân chủ của nhân dân. Giai cấp tư sản đã lật đổ chế độ chuyên chế quân chủ, xác lập chế độ nghị viện, phổ thông đầu phiếu, hai đảng (hoặc chế độ đa đảng), phân quyền, bình quyền, đây là những nội dung chủ yếu của chế độ dân chủ tư sản. Dân chủ tư sản được xây dựng trên cơ sở phủ định chế độ chuyên quyền phong kiến, vì thế, trong sự phát triển chung của lịch sử, nó có những đóng góp tích cực, thể hiện sự tiến bộ nhất định. Nhưng dân chủ tư sản xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, chỉ những nhà tư bản lớn mới là những người nắm giữ vai trò quyết định, cũng có nghĩa dân chủ không bao giờ thuộc về quảng đại nhân dân. Do đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa mới thực sự là nền dân chủ ưu việt, phát triển cao hơn dân chủ tư sản. Lịch sử phát triển dân chủ trong xã hội nhân loại chứng minh, mỗi một quốc gia có quyền lựa chọn chế độ dân chủ phù hợp, không nhất thiết mô phỏng chế độ dân chủ của quốc gia khác. Chế độ dân chủ của một quốc gia phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, thể chế chính trị, kinh tế... của từng nước, đồng thời cần không ngừng hoàn thiện và phát triển. Một nền dân chủ ưu việt và đích thực chỉ khi nó do chính nhân dân lựa chọn và quyền làm chủ của nhân dân, các quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo vệ. Thực tiễn chứng minh, chế độ chính trị phương Tây cũng đầy rẫy những bất công và tình trạng vi phạm dân chủ, không “hoàn hảo”, khác với nhiều người vẫn ra sức tán dương, ca tụng. Trái lại, một số quốc gia đã phải trả giá đắt cho việc bê nguyên xi mô hình dân chủ phương Tây, dẫn tới những bất ổn, thậm chí rơi vào vòng xoáy của khủng hoảng và nội chiến kéo dài.

Thực hiện dân chủ là yêu cầu nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ ngày thành lập tới nay, Đảng luôn nhấn mạnh quyền làm chủ của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ có nghĩa “dân là chủ” và “người dân làm chủ”, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng là động lực của cách mạng. Chính quần chúng nhân dân là lực lượng cách mạng đông đảo nhất trực tiếp thực hiện đường lối cách mạng, biến đường lối cách mạng của Đảng thành hiện thực. Ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền về tay nhân dân sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Trong lãnh đạo đấu tranh cách mạng, trải qua cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và sau đó là cách mạng dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nội dung cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa được Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý và vận hành nền kinh tế thị trường, bảo đảm đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế luôn gắn với bảo đảm công bằng, thực hiện tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa, phát triển con người, nhằm mục đích nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Quá trình dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế ngày càng mở rộng. Phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp... Công bằng trong phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Quá trình mở rộng dân chủ kinh tế gắn liền với mở rộng dân chủ chính trị, thực hành ngày càng rộng rãi và thực chất quyền lực chính trị của nhân dân, thông qua cả phương thức ủy quyền gián tiếp và dân chủ trực tiếp. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của nhân dân, không có sự đoàn kết, sáng tạo của quần chúng nhân dân thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Dân chủ chính là biểu hiện quan điểm giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội, là nhân tố tạo ra sự ổn định, phát triển và thịnh vượng.

Nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, trên cơ sở thượng tôn pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định là mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhân dân làm chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thượng tôn pháp luật sẽ bảo đảm tất cả các thành viên xã hội được bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm. Đảng vừa là bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và Đảng cũng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo có chức năng thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng thành các văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ và thống nhất. Nhân dân làm chủ thông qua các cơ quan đại diện và làm chủ trực tiếp qua cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”. Nhận thức của Đảng ta về thực hành dân chủ ngày càng toàn diện và sâu sắc. Điều này thể hiện rõ hơn cả ở chỗ quyền công dân gắn với quyền con người được đề cao, tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật, tích cực thực hiện các công ước quốc tế liên quan quyền con người mà Việt Nam đã ký kết và tham gia; coi trọng dân chủ ở cơ sở, coi trọng phản biện xã hội, đề cao thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.

Quyền con người là phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có ở con người được pháp luật công nhận, nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy. Việt Nam đã xây dựng được các thể chế và thiết chế bảo đảm quyền con người, nhất là bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền chính trị, dân sự, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền của nhóm thiểu số hoặc yếu thế, như người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người có tín ngưỡng, tôn giáo. Công tác tuyên truyền, giáo dục, nghiên cứu về quyền con người có bước phát triển tích cực. Nhận thức về quyền con người được nâng cao hơn. Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người được đẩy mạnh. Đấu tranh phản bác kịp thời và hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Thực hiện dân chủ ở cơ sở là bước tiến mở rộng dân chủ trực tiếp, nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, đưa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vào cuộc sống ở cơ sở. Xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở đã góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên; không ngừng nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm đội ngũ cán bộ, công chức; góp phần đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao vai trò, uy tín của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân.

Phản biện xã hội mang lại kết quả tích cực, phát huy và mở rộng dân chủ, là phương thức quan trọng để đạt đồng thuận xã hội. Tạo dựng thói quen thảo luận và bảo đảm quyền tự do ngôn luận để khích lệ cá nhân, các tổ chức tham gia thảo luận về các vấn đề quan trọng của quốc gia. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân bao hàm hoạt động giám sát và phản biện xã hội, nhất là phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện hơn các quy định về quyền giám sát của nhân dân, cơ chế pháp lý bảo đảm cho nhân dân trực tiếp giám sát hoạt động của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và các tổ chức, cơ quan Đảng, Nhà nước. Trong nhà nước pháp quyền, tính tối thượng của pháp luật được tôn trọng, mọi hành vi của tổ chức và cá nhân đều phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trên cả 3 lĩnh vực: xây dựng pháp luật, chấp hành pháp luật và bảo vệ pháp luật. Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, khả thi, công khai, minh bạch, công bằng..., phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tuy nhiên, ở một số nơi, nhận thức và thực hành về dân chủ còn hạn chế, thực hiện dân chủ cơ sở còn hình thức, quyền làm chủ của nhân dân chưa hoàn toàn được tôn trọng và phát huy, chưa có cơ chế đầy đủ bảo đảm để nhân dân thực hiện vai trò chủ thể của quyền lực. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở một số nơi rơi vào hình thức. Còn tình trạng lạm quyền, lộng quyền, quan liêu, cửa quyền gây phiền hà cho nhân dân của một số cơ quan công quyền, cán bộ. Chậm thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành pháp luật, quy định... Hệ thống pháp luật của Việt Nam có mặt còn chưa đồng bộ, hay thay đổi gây khó khăn cho các cơ quan thi hành pháp luật và nhân dân, ảnh hưởng đến việc thực hành dân chủ trong xã hội... Những hạn chế đó cần sớm được khắc phục để nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân và thực hành quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn ngày càng rộng rãi và thực chất./.