Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2023

 

                           VĂN HÓA DÂN TỘC PHẢI ĐƯỢC GIỮ GÌN

Thời gian qua, dư luận, nhất là cư dân mạng, rất lo lắng cho nguy cơ lai căng về văn hóa, mất bản sắc văn hóa dân tộc , mất lịch sử qua hai sự việc.

Sự việc thứ nhất, đó là việc cô ca sĩ Han Sara đã phá cách hay nói đúng hơn là bóp méo ca từ của ca khúc cách mạng nổi tiếng “Cô gái mở đường” trong một chương trình biểu diễn ca nhạc trên phần nền âm nhạc chát chúa và các ca sĩ thì ăn mặc phản cảm, thậm chí dung tục.

Sự việc thứ hai là chuyện Ban quản lý dự án Century City ở xã Bình Sơn, huyện Long Thành, Đồng Nai dựng lên bức tượng Nữ thần tự do ngay trong khuôn viên của dự án.

Hai sự việc này tưởng chừng không liên quan tới nhau nhưng thực ra nó đều gửi đi một thông điệp cảnh báo về nguy cơ mất bản sắc văn hóa dân tộc, sự lai căng về văn hóa.

Chuyện cô ca sĩ xuyên tạc dòng nhạc cách mạng trên nền dung tục và phản cảm khiến cho các khán giả phẫn nỗ. Một hình tượng cách mạng, một ca khúc cách mạng, đáng lẽ phải được biểu diễn ở những nơi nghiêm túc chứ không phải trên một nền dung tục và phản cảm như thế.

Cô ca sĩ đã dở, Ban giám khảo còn đáng chê trách hơn khi cũng gật gù tán thưởng sự phá cách ngớ ngẩn đó.

Rồi trách nhiệm của nhà đài ở đâu khi để xảy ra những hiện tượng đó.

Chưa hết, việc cô ca sĩ Han Sa ra cũng không phải là hiện tượng cá biệt. Ngày nay những chương trình truyền hình thực tế đã xuất hiện đầy rẫy trên sóng truyền hình quốc gia và rất nhiều chương trình có nội dung trơ trẽn, phản cảm không phù hợp văn hóa dân tộc.

Những thứ đó sẽ đầu độc tâm lý, nhận thức giới trẻ hàng ngày.

Tương tự là câu chuyện tượng Nữ thần tự do tại Đồng Nai.

Ai chẳng biết tượng Nữ thần tự do là biểu tượng của nước Mỹ. Nếu nước Mỹ không phải là nước đã từng gây nên chiến tranh Việt Nam, không phải là nước đã từng muốn đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá, không phải là nước đã giết hại hàng triệu sinh mạng con người tại Việt Nam thì không nói làm gì.

Đằng này nước Mỹ đã gây nên bao nhiêu tội ác tại Việt Nam, mà có lâu đâu, mới có hơn 40 năm. Vậy mà mọi người đã quên dễ thế sao.

Tôn sùng biểu tượng của một nước đã từng gây nên tang thương cho Việt Nam, liệu có phải là mốt sự xúc phạm với sự hy sinh máu xương của biết bao anh hùng thương binh liệt sĩ.

Họ quên lịch sử nhanh thế sao?

Hai sự việc, nhưng đều gửi đi một thông điệp, hãy cẩn thận, nếu không chúng ta sẽ mất cả văn hóa và lịch sử.


 

BÁO CHÍ... PHẢN CÁCH MẠNG LÀ GÌ?

Anthony Tran - đây là cái tên được tìm kiếm nhiều nhất trong sáng nay tại Việt Nam. Anh này là ai? Thị trưởng trẻ nhất trong lịch sử tại một thành phố Maribyrnong, thuộc bang Victoria, Úc. Đẹp trai, cao to, tài năng, phong thái chững chạc là những gì mà truyền thông Việt đang gán cho anh này.

Và còn điều gì nữa? Maribyrnong là một trong những thành phố đầu tiên tại Úc đưa ra một nghị quyết phổ biến việc treo cờ vàng thây ma VNCH. Bên cạnh đó, thành phố này đã có tiền lệ về việc hạn chế lá cờ đỏ sao vàng chính thức của Việt Nam ngày nay. Lá cờ vàng thây ma VNCH đã trở thành một lá cờ được treo chính thức tại thành phố này trong hơn 6 năm qua. Theo SBS - một tờ báo "lề trái", Đại sứ quán Việt Nam tại Úc nhiều lần gửi công văn yêu cầu chính phủ Úc can thiệp, vì chỉ có lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ duy nhất hợp pháp và đại diện cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Maribyrnong cũng là một trong những thành phố diễn ra nhiều cuộc biểu tình chống phá Việt Nam nhất tại Úc vào mỗi dịp đặc biệt. Năm 2015, để thị uy vụ việc chính quyền thành phố Maribyrnong cho phép treo cờ vàng công khai, những người Việt Nam tị nạn tại Úc đã biểu tình ngay trước Đại sứ quán Việt Nam tại Canberra. Hồi ấy, thị trưởng của thành phố này cũng là một người gốc Việt.

Trong tuyên bố kêu gọi bầu cử, Anthony Tran cho biết anh là một người ủng hộ những người Việt Nam tự do tị nạn. Sau khi trúng cử, anh sẽ cố gắng hoàn thành công trình Bảo tàng Người Việt tự do tại Úc. Công trình này có biểu tượng là con thuyền với lá cờ vàng thây ma VNCH, lên án chế độ Việt Nam và kêu gọi người Việt “đi ra nước ngoài tìm với tự do dân chủ”.

Anthony Tran là một “hạt giống” của chương trình đào tạo DILP, một chương trình lãnh đạo của các phe phái chống phá Việt Nam. DILP luôn sử dụng lá cờ vàng ba sọc đỏ trong mọi chương trình hành động, giới thiệu, truyền thông. Mới đây trên trang Instagram chính thức, DILP cũng kêu gọi bầu chọn cho các ứng cử viên- trong đó có Anthony Tran.

Thật lạ kỳ là đi đâu, từ VOV đến VTV, đến VnExpress, Zing cũng lên những bài viết ca ngợi, tung hô vị thị trưởng này, rồi xài nhiều mỹ từ ca ngợi. Rồi nhiều dân mạng “tự hào”, khen nức nở là soái ca ngôn tình, tài năng…

Những cơ quan báo chí hàng đầu, với mạng lưới thông tin rộng khắp, lại chẳng hề tra cứu thông tin, dễ dàng đăng bài và duyệt bài. Không ngờ rằng có ngày, báo chí và truyền thông mạng Việt Nam lại quảng bá cho một người vốn có tư tưởng thù địch, chống phá Việt Nam lên trang nhất.

Bộ Thông tin và Truyền thông ở đâu? Cục Báo chí đang làm cái gì? Phòng An ninh chính trị nội bộ liệu có biết đến những thông tin này không?

 

Trọng nam khinh nữ - Một tư tưởng lạc hậu cần được thay đổi

 

Trọng nam khinh nữ là một tư tưởng phân biệt đối xử theo giới tính trong đó coi nam giới quan trọng hơn phụ nữ. Đây từng là một hệ thống tư tưởng tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là dưới chế độ phong kiến. Mặc dù hiện nay quyền phụ nữ được công nhận nhưng hệ thống tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn ở một số nước, đặc biệt là gắn liền với các tư tưởng tôn giáo. Ở những vùng khác, nhiều người vẫn còn mang tư tưởng này với nhiều cấp độ khác nhau.

Việt Nam là nước bị ảnh hưởng mạnh bởi tư tưởng phong kiến và Nho giáo. Nó ăn sâu bén rễ vào đời sống nhiều thế hệ. Có câu “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”  với ý nghĩa là "một con trai thì là có nhưng mười con gái vẫn là không có", thể hiện cách đánh giá con là nam hay nữ trong Nho giáo. Theo đó, các gia đình hay dòng họ từ xưa (và thậm chí cả ngày nay) vẫn có tư tưởng coi trọng việc sinh con trai. Nếu không có con cháu trai nối dõi vẫn bị xem là tuyệt tự và khi bố mẹ hoặc ông bà chết đi sẽ không có người và nơi thờ cúng. Thế nên phần lớn các gia đình hiện nay vẫn phải cố đẻ cho được con trai. Bên cạnh những mặt tích cực về giáo dục đạo đức, tư tưởng trọng nam khinh nữ không còn phù hợp.

Trong xã hội xưa và cả ngày nay, số đông chị và em gái luôn chịu thiệt thòi, nhiều người nhà rất khá giả có hàng chục phòng nhưng khi lấy chồng phải sống chung với bố mẹ chồng và anh chị em trong cùng một căn phòng chật hẹp. Bố mẹ đẻ có thừa tiền cũng không cho mua nhà riêng vì đó là việc của nhà chồng, còn người anh và em trai nhà bố mẹ để lại nên chẳng phải lo nghĩ gì... 

Xét về phụng dưỡng bố mẹ, chị và em gái thường dành thời gian chăm sóc hơn anh và em trai vì con gái sống bao giờ cũng tình cảm, biết hiếu thảo với cha mẹ hơn, con trai nhiều người còn phá phách bắt bố mẹ trả nợ nên mọi người mới nói: "Sinh con trai sống khổ, chết sướng; Sinh con gái sống sướng chết khổ". Các cụ ngày xưa cho rằng, sau này mất đi, linh hồn ngày rằm và mồng một, ngày Tết, ngày giỗ ... chỉ được vào nhà con trai mình, còn nhà con gái thờ cúng đằng nội muốn vào không được. Do vậy, con trai dù hư thì vẫn được coi trọng, đây chính là quan điểm tiêu cực, cần được đổi mới và xem xét lại một cách sao cho thích hợp hơn.

Bên cạnh số đông đó xuất hiện những gia đình có tư tưởng rất đổi mới: con nào cũng như nhau, cũng được yêu thương, chăm sóc giống nhau, thể hiện sự công bằng. Con gái lấy chồng nghèo sẵn sàng cho ở rể hoặc mua căn chung cư cho ra ở riêng, miễn là con gái mình được sống sung sướng. Con trai lấy vợ cũng như vậy, thừa kế bằng nhau không con nào hơn. Đấy là những người biết nhìn xa trông rộng và hiểu lẽ đời.

Nhiều nhà không có con trai người con gái yêu quý bố mẹ mình nên giữ chỗ thờ cúng bố mẹ mình 50% trên bàn thờ, hoặc làm một bàn thờ riêng bên cạnh, việc này rất nhiều người mang nặng tư tưởng phong kiến đang lên án cho rằng: trái đạo lý, chửi mắng người con trai hèn bị vợ chèn ép, sợ hàng xóm đánh giá, làm ảnh hưởng hạnh phúc nhiều gia đình, nhưng đó có gì là sai, đạo lý nào cũng dạy con người đối xử với nhau nhân văn, bố mẹ bên nào cũng ngang nhau sao cấm con gái thờ cúng được.

Chính vì nặng tư tưởng nên nhiều ông bà ép con phải đẻ cháu trai, vợ đẻ 3 - 4 đứa con gái bắt ra ngoài, nếu không sẽ cho là bất hiếu, trường hợp này không hiếm. Những tư tưởng phong kiến cổ hủ nếu không tự giải thoát khỏi nó thì sống rất gò bó, lúc nào cũng sợ bị đánh giá, gièm pha - nguyên nhân tan vỡ hạnh phúc của biết bao gia đình chỉ vì tự ái những chuyện không đâu vào đâu. Còn biết tự tin, vượt qua nó thì sống rất thoải mái, tất cả chỉ hướng tới một cuộc sống tốt đẹp cho chính mình và con cháu mình, con Trai hay con Gái đều là con mình và không nhất thiết cứ phải sinh con Trai. Tư tưởng lạc hậu trọng nam khinh nữ cần được thay đổi, để nam – nữ được bình đẳng trong xã hội ngày nay.

 

 

Suy diễn thẻ căn cước gắn chíp để phá hoại chính sách mới của Nhà nước

 

Theo đề xuất của Bộ Công an, thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chíp điện tử đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai thực hiện. Song trước và sau khi chủ trương này được phê duyệt, một số đối tượng đã lên diễn đàn mạng xã hội công kích, đưa ra những suy đoán vô căn cứ nhằm gieo rắc hoài nghi trong dư luận, nào là gắn chíp điện tử vào thẻ CCCD để "theo dõi công dân", nào là "vi phạm đời tư cá nhân"...

Trước đó, chiêu bài chống phá kiểu này cũng đã được đưa ra khi Nhà nước khuyến cáo người dân cài đặt Bluezone để tăng hiệu quả phòng chống dịch COVID-19.

Ngay sau khi Bộ Công an đề xuất Thủ tướng Chính phủ về phương án gắn chíp điện tử vào thẻ CCCD khi người dân có nhu cầu cấp mới, một số đối tượng sử dụng trang Facebook (fb) cá nhân, hoặc có bài viết, bình luận trên những diễn đàn mạng xã hội để chống phá quyết liệt chủ trương này.

Tại fb của một người tự xưng là luật sư, tên là N.M.C viết: ..."việc gắn chíp thẻ CCCD khác nào gắn chíp điện tử cho chính người mang thẻ! Muốn biết người này đi những đâu? Vào lúc nào? Cùng với những ai? Chỉ cần ngồi tra định vị là biết ngay chi tiết...". N.M.C còn so sánh gắn chíp điện tử vào thẻ CCCD như cách mà "các nông trại lớn chăn thả cừu, bò, lợn, ngựa thường gắn chíp để tiện chăn dắt".

Hoặc cũng giống với cách "ở một số nước tiên tiến thường gắn chíp điện tử cho các phạm nhân thi hành án phạt tù tại gia...". Mặc dù, ngay sau khi viết "status" (trạng thái) này, chính một người bạn của N.M.C trên fb đã có ý kiến bình luận giải thích để C hiểu rằng, không thể dùng chíp gắn trên động vật để sử dụng trong thẻ CCCD được vì những lý do kỹ thuật, nhưng C cố tình không hiểu, không chịu xóa dòng trạng thái của mình. Fb của N.M.C có tới hàng nghìn người theo dõi, điều đó thể hiện sự thiếu trách nhiệm khi đưa thông tin sai sự thật trên không gian mạng của một người được coi là "am hiểu" pháp luật như luật sư C!

Trên YouTube, đối tượng T.V.Đ còn làm một video clip, phát ngôn đả phá chủ trương gắn chíp điện tử vào thẻ CCCD bằng cách suy diễn vô căn cứ. T.V.Đ cho rằng chủ trương gắn chíp điện tử vào thẻ CCCD là "bắt chước" cách làm của một quốc gia láng giềng nhằm quản lý, theo dõi công dân. Với cách lập luận theo kiểu "thuyết âm mưu", Đ còn quy chụp các camera giao thông lắp trên đường là camera có chức năng "nhận diện khuôn mặt" để theo dõi công dân!

T.V.Đ không biết hay cố tình không biết, CCCD điện tử đã áp dụng trên thế giới từ thập niên 90 và đến nay đã có khoảng 70 quốc gia sử dụng. Hoàn toàn không giống như giọng điệu xuyên tạc của Đ cho rằng, chỉ có một vài quốc gia "kém dân chủ" mới sử dụng!

Thực ra, những đối tượng như N.M.C hay T.V.Đ không quan tâm đến đúng, sai khi đưa thông tin lên mạng xã hội bởi mục đích cuối cùng của các đối tượng này là tìm mọi cách để chống phá các chủ trương, chính sách của Nhà nước. Xin nhắc lại rằng, cũng bằng cách này, một số đối tượng tự xưng là "đấu tranh cho dân chủ" đã mạnh mồm gào thét trên mạng xã hội, vận động tẩy chay khuyến cáo cài đặt phần mềm Bluezon vì cho rằng phần mềm này cũng là phần mềm viết ra để theo dõi công dân... Việc làm của họ đã đi ngược lại nỗ lực của ngành y tế và nhân dân khi tình hình dịch bệnh lúc đó đang có những diễn biến mới phức tạp.

Phải khẳng định rằng, gắn chíp điện tử thay vì mã vạch vào thẻ CCCD là áp dụng thành tựu của khoa học kỹ thuật vào thực tế đời sống xã hội. Trước đây chúng ta chưa triển khai bởi chưa có điều kiện, nay các doanh nghiệp trong nước đã làm chủ được công nghệ với giá thành rẻ, là thời điểm thích hợp để triển khai.

 

Việc áp dụng thẻ CCCD điện tử cũng nhằm thực hiện chủ trương Chính phủ điện tử. Mục đích nhằm tạo ra nhiều tiện ích cho người dân khi thực hiện các giao dịch hành chính, không phải mang nhiều loại giấy tờ tới các cơ quan hành chính như trước đây. CCCD điện tử đảm bảo độ bảo mật cao, lưu trữ được nhiều trường thông tin hơn và có thể tích hợp thêm các thông tin của các bộ, ngành khác về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bằng lái xe…

Sử dụng thẻ CCCD điện tử, có thể phòng tránh được việc các loại giấy tờ bị giả mạo, nếu không may bị mất thẻ CCCD kẻ gian cũng không sử dụng được, không giống như chứng minh nhân dân trước đây.

Ngành Công an khẳng định, chíp điện tử gắn vào thẻ CCCD không theo dõi được công dân. Trả lời trước báo chí, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội đã nói rõ điều đó, vì loại chíp gắn trên căn cước công dân không có chức năng định vị. Hơn nữa, chúng ta đã có hệ thống pháp luật đảm bảo các quyền cơ bản của công dân. Nếu bất cứ một ngành nào, cơ quan nào làm sai sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước sự giám sát của nhân dân.

Tại sao khi sử dụng thẻ ngân hàng có gắn chíp điện tử, điện thoại thông minh có phần mềm định vị... chúng ta đều không nghĩ tới là mình sẽ bị theo dõi, bị mất quyền riêng tư? Nay lợi dụng chủ trương áp dụng khoa học kỹ thuật gắn chíp điện tử vào CCCD phục vụ tiện ích của người dân và xã hội thì một số đối tượng lại thổi phồng, xuyên tạc, vu khống? Bởi động cơ của những đối tượng này là gieo rắc hoài nghi để phá hoại chủ trương, chính sách mới của Nhà nước, chia rẽ, làm mất ổn định xã hội.

Chúng tôi cho rằng, bất cứ một chủ trương, chính sách mới được ban hành rất cần sự góp ý, phản biện của xã hội, của người dân, của các cơ quan, tổ chức nhằm làm sáng tỏ sự cần thiết và làm minh bạch hơn một số vấn đề mà người dân quan tâm... Song việc góp ý, phản biện phải trên tinh thần xây dựng chứ không phải lợi dụng việc góp ý, phản biện để phá hoại, "chụp mũ" bằng những suy diễn thiếu cơ sở khoa học.

 

Nhận diện về luận điệu xuyên tạc về thẻ căn cước công dân gắn chíp


Mỗi sự thành công của Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… chẳng khác một đòn giáng mạnh vào những nỗ lực chống phá của các thế lực thù địch và đám rận chủ quốc nội. Vì trong thâm tâm những kẻ vong nô phản quốc, bợ đít ngoại bang chưa bao giờ muốn đất nước ta được phát triển mà ngược lại, chúng luôn tuyên truyền, bóp méo sự thật về tình hình đất nước ta, phủ nhận mọi thành quả cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, điều mà chúng còn sợ hơn cả đó chính là nhân dân luôn đặt trọn niềm tin, ủng hộ mọi chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước ta.

Chỉ đơn cử như việc dự án sản xuất, cấp và quản lý thẻ Căn cước công dân gắn chíp thơi gian qua là một ví dụ điển hình trong tổng thể âm mưu phá hoại chủ trương đúng đắn này. Có thể thấy, trước và sau khi chủ trương Dự án này được phê duyệt, triển khai, các nhà rận chủ, số thần kinh chính trị đã “tá nước theo mưa” những suy diễn, luận điệu công kích việc cấp CCCD gắn chip điện tử của các thế lực thù địch bên ngoài.

Chúng triệt đểlợi dụng mạng xã hội Facebook, Youtube để đăng tải, chia sẻ các bài viết với nội dung như: “Việc gắn chip thẻ căn cước công dân giống như việc gắn chip điện tử cho chính người mang thẻ, chỉ cần tra định vị là biết chi tiết các hoạt động của công dân”; “Gắn chip điện tử vào căn cước công dân là vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, xâm phạm sự riêng tư của cá nhân”; “Chủ trương gắn chip điện tử vào thẻ CCCD là bắt chước cách làm của một số quốc gia láng giềng nhằm quản lý, theo dõi công dân và chỉ có một cách vài quốc gia “kém dân chủ” mới sử dụng”,…. Những suy diễn vô căn cứ này đã làm hoang mang dư luận cũng như ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách mới của nhà nước, gây chia rẽ, làm mất ổn định xã hội.

Trong khi đó, cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực này là Bộ Công an cũng đã phân tích và thông báo rõ ràng rằng: chip điện tử gắn trên thẻ CCCD nhằm bảo mật, lưu trữ thông tin cá nhân của công dân chứ tuyệt đối không nhằm giám sát, theo dõi người dân như những đối tượng thường xuyên tạc. Lượng thông tin lưu trữ trên thẻ được tích hợp từ nhiều loại giấy tờ của công dân (như họ tên; địa chỉ; số CMND, ngày, tháng, năm sinh,…) giúp cho công dân truy xuất thông tin của mình một cách nhanh chóng, không phải mang theo nhiều loại giấy tờ khi thực hiện các giao dịch dân sự và các giao dịch khác.

Bên cạnh đó, thẻ CCCD gắn chip điện tử được sản xuất với công nghệ tiên tiến hiện nay, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nên mức độ bảo mật cao, tích hợp nhiều thông tin sinh trắc của công dân đảm bảo truy nguyên đồng nhất về 01 con người, hạn chế tối đa nguy cơ làm giả, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin của công dân (đặc biệt là sinh trắc học về vân tay).

Ngoài ra, thẻ CCCD có gắn chip điện tử làm giảm chi phí cho công dân trong việc công chứng giấy tờ và thực hiện các giao dịch vụ trực tuyến của Chính phủ điện tử.

Do vậy, có thể khẳng định, thẻ CCCD gắn chip là bước tiến quan trọng trong việc đưa ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào hoạt động quản lý nhà nước, giúp cải cách hành chính một cách hiệu quả. Ðây cũng là cơ sở quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Chính phủ điện tử mà Ðảng, Nhà nước ta đang triển khai thực hiện để người dân được hưởng lợi. Chưa kể, trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp lần thứ 4, khi xu hướng chuyển đổi số diễn ra trên tất cả các lĩnh vực thì việc triển khai sử dụng thẻ CCCD gắn chíp điện tử càng trở nên cần thiết, góp phần để đất nước tiếp cận nhanh với công nghệ tiên tiến hiện đại của quốc tế.

Với những tiện ích về công nghệ trong cuộc cách mạng 4.0 này thì có thể thấy rõ ràng thể CCCD gắn chịp có quá nhiều tính ưu việt. Hơn nữa, thẻ CCCD gắn chip còn giúp cho công tác quản lý nhà nước, phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm cũng thuận lợi hơn.

Đương nhiên, những đối tượng phạm tội nói chung và những đối tượng phạm tội liên quan đến ANQG nói riêng sẽ chẳng thích điều này. Do đó, nhìn tổng quan một cách khách quan có thể thấy, lý do mà các thế lực thù địch, số chống đối chính trị luôn tuyên truyền sai sự thật vể thẻ CCCD gắn chíp không chỉ dừng lại ở việc muốn chúng ta tiến tới sự hoàn thiện về “Chính phủ điện tử”, để bắt kịp với sự tiến bộ của xã hội, mà ngược lại, chúng còn gián tiếp phá hoại một trong những nội dung phòng, ngừa tội phạm trong tình hình mới.

Do đó, mỗi chúng ta cần có cái nhìn khách quan, đúng đắn và tin tưởng vào chủ trương của Nhà nước, từ đó đấu tranh phản bác lối suy diễn xuyên tạc, thiếu cơ sở khoa học của những kẻ chống phá và các thế lực thù địch để mỗi chúng ta là một chiến sỹ tiên phong trên mặt trận tuyên truyền; đưa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống.

 

 

NHẬN DIỆN NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động ở cả trong và ngoài nước đang tìm mọi cách để chống phá cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, ngoại giao, ... Trong đó, kinh tế được kẻ thù coi là trọng tâm, khâu “đột phá”, với các âm mưu, thủ đoạn rất thâm độcđược chúng tiến hành hết sức tinh vi, xảo quyệt, cụ thể là:

Thứ nhấtxuyên tạc, phủ nhận những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm kinh tế cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích là nhằm phá ta ngay từ nền tảng lý luận cơ bản của Đảng; phủ nhận tính đúng đắn sáng tạo trong đường lối lãnh đạo kinh tế của Đảng ta, từ đó nhằm chuyển hóa hệ tư tưởng của ta, gây mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng với cách mạng Việt Nam. Biện pháp chúng thường tiến hành là: phủ nhận, xuyên tạc những tư tưởng kinh tế  cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề như lý luận giá trị thặng dư, lý luận bần cùng hóa giai cấp vô sản, lý luận về vai trò sứ mệnh của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, vai trò kiểm kê, kiểm soát của nhà nước về kinh tế… Lợi dụng vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên xô và Đông Âu để phủ nhận các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế xã hội chủ nghĩa. Xuyên tạc, phủ nhận đường lối đổi mới kinh tế của Đảng ta về phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, về đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại…

 

Thứ hai,chúng tuyên truyền cổ vũ cho các quan điểm kinh tế tư­ sảnTrong cuộc đấu tranh kinh tế chống chiến lược “diễn biến hoà bình” hiện nay, khi mà tương quan so sánh lực lượng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, bất lợi đối với các lực lượng cách mạng, hoà bình và tiến bộ, thì việc chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cổ vũ cho các quan điểm kinh tế tư­ sản ngày càng trở nên nguy hiểm. Tính chất nguy hiểm đó biểu hiện ở chỗ, nó dễ gây nên sự ngộ nhận, sự nhầm lẫn, hoài nghi, mất lòng tin… ở một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đối với công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển kinh tế đất nước như chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hay chủ động, tích cực mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại…

Lợi dụng những thành tựu phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản trong những thập kỷ gần đây, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cổ vũ cho các quan điểm kinh tế tư­ sản, đặc biệt là chủ nghĩa tự do mới. Chúng đề cao lợi ích cá nhân, cổ vũ cho lối sống vật chất thuần tuý, thực dụng, từ đó cho rằng, chỉ có chế độ tư hữu và tư tưởng tự do kinh tế tư sản mới là dân chủ, văn minh, là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Chúng cho rằng, không thể có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa… Từ đó, chúng cố tình tuyên truyền và ráo riết yêu cầu Việt Nam phải tăng cường tư nhân hoá nền kinh tế, phát triển kinh tế theo kinh tế thị trường tự do tư bản chủ nghĩa.

Thực tiễn cho thấy, mặc dù các học thuyết kinh tế tư sản về kinh tế thị trường hiện đại có những nhân tố khoa học, phản ánh đúng tính quy luật phát triển kinh tế, nhưng nó không tránh khỏi những hạn chế là vẫn bảo vệ cho sở hữu tư nhân và lợi ích của giai cấp tư sản, ủng hộ cho tư tưởng tự do tư sản…

            Thứ balợi dụng vào đường lối đổi mới, mở cửa nền kinh tế của đất nước để phá hoại kinh tế của ta.Thực hiện đầu tư vào kinh tế nước ta để nắm và thôn tính các yết hầu của nền kinh tế, qua đó mà chi phối các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tạo nên sự phụ thuộc của ta vào các nước tư bản phát triển để từng bước chuyển hóa nền kinh tế nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thông qua các hoạt động về kinh tế, đưa người vào nước ta thực hiện thu thập tin tức tình báo nói chung, kinh tế nói riêng; móc nối với các phần tử phản động trong nước để phá ta từ bên trong. Thực hiện tung tin thất thiệt gây tâm lý hoang mang trong dân chúng, tung bạc giả phá hoại nền tài chính, tiền tệ của ta… Mặt khác, lợi dụng vào ưu thế của các nước phát triển để gây sức ép về kinh tế với nước ta thông qua hoạt động thương mại quốc tế, thực hiện cắt quan hệ về buôn bán, ngừng cho vay, đòi nợ, hủy chế độ ưu đãi … nhằm buộc chúng ta phải khuất phục về chính trị.

Thứ tư,tìm cách mua chuộc, làm tha hóa đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế của nước ta. Đây là một thủ đoạn hết sức nguy hiểm, thông qua khống chế đội ngũ cán bộ quản lý để dễ bề phá hoại chúng ta, làm xói mòn niềm tin của dân với đội ngũ cán bộ của Đảng. Chúng dùng tiền để mua chuộc, hối lộ cán bộ; trợ cấp cho con, cháu cán bộ có chức, có quyền đi du học; mời cán bộ và gia đình họ đi thăm quan, du lịch nước ngoài… qua đó để lôi kéo, mua chuộc, làm giảm sút ý chí chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, tha hóa về lối sống của một bộ phận cán bộ nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng của chúng ta để thổi phồng, bóp méo sự thật, gây tâm lý hoài nghi, chống đối của dân chúng với chính quyền các cấp, chia rẽ nhân dân với Đảng.

Tóm lại, “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực kinh tế là cực kỳ nguy hiểm, vì nó có tác động mạnh mẽ và gây nên hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế nư­ớc ta. Đây là một mũi tiến công của các thế lực thù địch nhằm chuyển hoá cách mạng nư­ớc ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy đấu tranh kinh tế chống chiến l­ược “diễn biến hoà bình” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chúng ta cần phải tỉnh táo, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác; nhận diện và nắm chắc nhữngthủ đoạn chống phá trên lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay để kịp thời đưa ra những biện pháp phòng chống và đấu tranh có hiệu quả.

 

      Nhận diện hoạt động lợi dụng hội nhập kinh tế quốc tế để chống phá Việt Nam

Những năm qua, nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch sử dụng mọi phương thức, thủ đoạn hoạt động; trong đó, triệt để lợi dụng hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) nhằm xâm phạm an ninh quốc gia, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Họ coi đó là một trong những nội dung quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, kết hợp với kích động các hoạt động chống phá từ bên trong nước ta.

Nhận thức rõ trong thời đại ngày nay, việc hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan, do đó Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp trong lãnh đạo, chỉ đạo để ngày càng phát triển, mở rộng các mối quan hệ quốc tế, trong đó có HNKTQT. Thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước về HNKTQT, những năm qua, tiến trình này của Việt Nam đã, đang đạt nhiều kết quả hết sức to lớn. Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 185 nước trên thế giới và cũng là nước ASEAN duy nhất có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các thành viên nhóm G7 và 13/20 nước G20. Việt Nam đã ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế. Nhờ HNKTQT, những năm qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ cùng với các lĩnh vực khác của xã hội. Năm 2016, GDP Việt Nam đạt 203 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2006; GDP năm 2017 đạt hơn 220 tỷ USD, tăng cao nhất kể từ 2011 trở lại đây và tăng 6,81% so với năm 2016. Năm 2015, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng 4 lần so với năm 2006, lên 11,8 tỷ USD. Năm 2017, FDI vào Việt Nam đạt gần 36 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, tăng 42,3% so với cùng kỳ năm 2016. Riêng 10 tháng năm 2018, cả nước có 2.458 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài là 27,9 tỷ USD, bằng 98,8% so với cùng kỳ năm 2017. Năm 2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt 425,12 tỷ USD, tăng 21% (tương ứng tăng 73,74 tỷ USD) so với năm 2016, là mức tăng kỷ lục trong vòng 10 năm trở lại đây. Chỉ trong 10 tháng năm 2018, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 396,85 tỷ USD, tăng 13,8%, tương ứng tăng 48,12 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2017. Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng thế giới mới công bố, dự báo Việt Nam đứng thứ 68/190 nền kinh tế, tăng 14 bậc so với năm 2017.

Thế nhưng trong sự thành công của Việt Nam về HNKTQT, các thế lực thù địch cũng không ngừng lợi dụng lĩnh vực này để nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với Việt Nam. Những năm qua, các thế lực thù địch đã ráo riết triển khai một số hoạt động cơ bản như sau:

Một là, thúc đẩy việc tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài để từng bước chi phối nền kinh tế Việt Nam; thông qua đó nhằm làm cho Nhà nước từng bước mất dần khả năng kiểm soát, điều hành nền kinh tế đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Với phương châm: “Lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị”, các thế lực thù địch âm mưu từng bước xóa bỏ chế độ XHCN một cách từ từ, êm ả, không gây ra chấn động lớn trong xã hội mà khởi nguồn là từ những sai lầm trong HNKTQT ở Việt Nam.  

Hai là, họ lợi dụng HNKTQT và hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, nhất là thông qua hợp tác với các cơ quan của Đảng, Nhà nước Việt Nam để xâm nhập nội bộ, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, thu thập tin tức bí mật nhà nước để chống phá Việt Nam. Họ đặc biệt triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại, các phương tiện công nghệ cao để thu thập tin, đánh cắp bí mật nhà nước, lấy cắp các phát minh, sáng chế của Việt Nam, gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế Việt Nam.  

Ba là, triệt để thông qua các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp quốc tế hợp tác, làm ăn với Việt Nam để đưa ra các yêu cầu mang tính áp đặt phi lý. Họ còn tìm cách gây ra “khủng hoảng”, những tác động tiêu cực từ bên ngoài làm suy yếu nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng đến phúc lợi nhân dân và sức mạnh của Nhà nước.  

Bốn là, họ tìm cách tác động tới các chính khách cực đoan trong quốc hội một số nước phương Tây, đòi gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện cải cách chính trị, pháp luật theo kiểu phương Tây (như yêu cầu Nhà nước xóa bỏ một số điều về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự hiện hành…); đòi thay Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải thúc đẩy tự do báo chí, tự do ngôn luận theo tiêu chí phương Tây, đòi thả các đối tượng chống đối vi phạm pháp luật... nhằm tạo nên những tiền đề gây mất ổn định chính trị, xã hội ngay từ bên trong đất nước.

Cũng cần phải nghiêm túc nhìn nhận rằng, việc HNKTQT của Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, đó là: Cơ cấu tăng trưởng kinh tế Việt Nam chưa thay đổi căn bản; chất lượng tăng trưởng vẫn còn thấp và chưa thực sự ổn định, bền vững. Quá trình HNKTQT chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh. Việt Nam chưa có kế hoạch tổng thể và lộ trình hợp lý về HNKTQT; chưa có chiến lược rõ ràng khi tham gia các FTA. Việc ứng phó với các biến động và xử lý những tác động xấu do nền kinh tế thế giới gây ra còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ; hệ thống luật pháp Việt Nam theo yêu cầu HNKTQT chưa hoàn thiện và đầy đủ. Ở một số địa phương, các vụ việc phức tạp xảy ra liên quan đến khiếu nại, tố cáo… chậm được giải quyết, tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định chính trị-xã hội. Sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày càng gay gắt. Còn tồn tại tệ nạn tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng, triển khai các dự án, đề án hợp tác kinh tế quốc tế… Đó là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng hòng thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

Nhằm tận dụng những cơ hội, thuận lợi trong hội nhập quốc tế để xây dựng, phát triển đất nước và phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hành vi lợi dụng HNKTQT để chống phá Việt Nam, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp trọng tâm như sau:

Một là, công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng HNKTQT để chống phá nước ta luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tính tất yếu khách quan của việc HNKTQT; âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề này để “diễn biến hòa bình” đối với nước ta của các thế lực thù địch; vị trí, vai trò công tác đấu tranh chống hoạt động lợi dụng HNKTQT để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này.

Hai là, bảo đảm thực hiện hiệu quả quá trình HNKTQT trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia; giữ vững ổn định chính trị-xã hội, kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc. Xác định rõ hội nhập là quá trình vừa có nhiều cơ hội, vừa gặp nhiều thách thức, vừa hợp tác, vừa đấu tranh; do vậy, cần chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu. Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế, coi đây là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong HNKTQT. 

Ba là, thường xuyên nắm chắc tình hình hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nước ngoài hợp tác, làm ăn với Việt Nam để chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động lợi dụng hợp tác để xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam. Cần tập trung nắm tình hình hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nước ngoài, các chương trình, dự án đầu tư có yếu tố nước ngoài triển khai ở Việt Nam… nhằm kịp thời phát hiện những vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh chính trị, trật tự xã hội để phòng, chống hiệu quả. Chủ động phát hiện đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm những trường hợp làm lộ, lọt bí mật nhà nước, cung cấp bí mật nhà nước cho các tổ chức nước ngoài, hoặc bị kẻ địch mua chuộc, lôi kéo nhằm phá hoại kinh tế nước ta.

Bốn là, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ làm việc ở các cơ quan, đơn vị thường xuyên tiếp xúc, trao đổi, hợp tác với các tập đoàn kinh tế nước ngoài, bảo đảm cho đội ngũ này luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu chủ động và tích cực HNKTQT; có khả năng nắm bắt và tận dụng cơ hội lớn, vượt khó khăn, thách thức đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia nước ta trong HNKTQT, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến HNKTQT trên cơ sở tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường và các cam kết hội nhập quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Chú trọng nội luật hóa theo lộ trình phù hợp với những cam kết quốc tế, bảo đảm tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua các khó khăn, thách thức từ việc tham gia hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong HNKTQT, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, chủ quyền của đất nước ta.   

Những năm tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng HNKTQT để phá hoại thành quả cách mạng và chống phá chế độ xã hội mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Với những thành tựu đã đạt được trong HNKTQT, chúng ta có quyền tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta sẽ HNKTQT thành công, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, phát triển.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 15 THÁNG 01 NĂM 1950!

         “Công an phải có tinh thần phục vụ nhân dân, là bạn dân ”!
     Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi Hội nghị công an toàn quốc ngày 15 tháng 01 năm 1950: “...Xây dựng bộ máy công an nhân dân. Tức là công an phải có tinh thần phục vụ nhân dân, là bạn dân. Đồng thời phải dựa vào các đoàn thể mà tổ chức và giáo dục nhân dân trong công việc phòng gian trừ gian, để nhân dân thiết thực giúp đỡ công an”, trích dẫn Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. Lời trong thư gửi Hội nghị công an nhân dân của Người được viết trong bối cảnh Đảng ta đang lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân ta tiến hành các nhiệm vụ: thực hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; trấn áp bọn phản động, củng cố bảo vệ thành quả cách mạng.
     Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận những đóng góp, hy sinh lớn lao của lực lượng công an nhân dân trong những năm qua; đồng thời căn dặn lực lượng công an hãy cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ, với tinh thần vì dân, tin dân, dựa vào dân mà phục vụ nhân dân. Lời của Người trong thư gửi Hội nghị công an nhân dân được toàn thể cán bộ công an phấn khởi đón nhận, nhanh chóng lan truyền sâu rộng đến mọi tổ chức trong lực lượng công an, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ công an gắng sức thi đua lập nhiều thành tích trong bảo vệ chế độ, giữ gìn trật tự, an ninh chính trị và cuộc sống của nhân dân.
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉnh huấn lực lượng công an, không chỉ là bài học lớn đối với lực lượng công an nhân dân, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Ghi sâu lời Bác năm xưa, hiện nay các đơn vị quân đội phát huy bản chất, truyền thống quân với dân như "cá với nước", đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ nhân dân; đẩy mạnh phong trào thi đua "Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới", phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, an toàn gắn với xây dựng địa bàn an toàn, góp phần củng cố, tăng cường "thế trận lòng dân", cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.




Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ ĐỔ LỖI CHO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN!

         Hiện nay, có một số luận điệu cho rằng sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin?
     Xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, có tính khoa học, đòi hỏi thời gian, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Chúng ta bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài suốt 30 năm. Khó khăn lớn nhất trước hết không phải từ sự thiếu thốn về của cải, vật chất mà đa phần chính ở quan điểm, tác phong mang nặng tính chất của nền văn hóa nông nghiệp. Không có kinh nghiệm tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe xã hội chủ nghĩa như trước đây, nhiều thế lực đang nhòm ngó, chống phá, trong điều kiện ấy, những thành tựu mà công cuộc đổi mới đạt được là đặc biệt quan trọng. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trong suốt hơn 35 năm thực hiện chính sách đổi mới. Từ GDP bình quân đầu người chỉ 80 USD đã tăng lên mức trên 3.000 USD. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cơ bản. Những điều đó là không thể phủ nhận và mặc nhiên đã được nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới, trong đó có nhiều học giả phương Tây thừa nhận.
     Từ thực tế cho thấy, không thể có lý gì để nói rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước./.




Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2023

“TẾT TRỒNG CÂY MÙA XUÂN THÌ TRỜI VUI, ĐẤT VUI, NGƯỜI CÀNG VUI”

 

Sinh thời, Bác Hồ mong mỗi người Việt Nam ta đón Tết cổ truyền dân tộc trong mùa Xuân vui vẻ, xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân bằng việc làm thiết thực – Đó là Tết trồng cây. Bác từng nói: “Tết trồng cây mùa Xuân thì trời vui, đất vui, người càng vui”.

Khi đất nước chưa thống nhất, Bác kêu gọi nhân dân miền Bắc: “Ta trồng cây cho ta và cho cả miền Nam nữa”. Như thế, Tết trồng cây được thực hiện cũng chính vì hướng đến mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

“Vui Tết trồng cây, nơi nơi phấn khởi, người người thi đua”. Việc làm đó mang lại nguồn lợi lớn về kinh tế và bảo vệ môi trường như Bác Hồ đã chỉ rõ: “Nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều này sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống nhân dân”. Nó cũng sẽ tạo nên một màu xanh cho đất nước - xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh biển - góp phần bảo vệ mùa màng, bảo vệ xóm làng, bảo vệ môi trường thiên nhiên, hạn chế được những thiệt hại của mưa bão, sạt lở đất và xói mòn. Thế là “trồng cây tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều” - Bác nhấn mạnh.

 Ngày 16/2/1969 (tức ngày mồng Một Tết Kỷ Dậu), Bác Hồ trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây (cũ). Nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương, Bác nói: “Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới, nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hoà. Đất nước bây giờ là của ta, cho nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi”.

Hiện nay, mỗi độ Xuân về, nhân dân cả nước lại nô nức cùng nhau thực hiện lời dạy của Người. Bởi: “Mùa Xuân là Tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”. Duy trì tốt Tết trồng cây chính là cách để thực hiện mong mỏi lúc sinh thời của Bác./.


ĐÓN TẾT TIẾT KIỆM

 

Trong bài "Mừng Xuân vĩ đại" Bác nhắc nhở "Chúng ta mừng Xuân một cách vui vẻ, tưng bừng, nhưng tuyệt đối không lãng phí".

Trên Báo Nhân Dân số 2132, ngày 28/1/1960, trong bài "Mừng Tết Nguyên đán thế nào?" Bác viết:

"Suốt năm chúng ta thi đua lao động sản xuất. Nhân ngày Nguyên Đán, chúng ta vui chơi một hôm để chào Xuân. Việc đó cũng đúng thôi.

Nhưng chúng ta nên mừng Xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân. Nên nhớ rằng chúng ta phải cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nên vì một cớ gì mà quên nhiệm vụ ấy.

Các đồng chí cán bộ ta cần phải hướng dẫn đồng bào làm cho ngày Tết vui vẻ và tưng bừng, tiết kiệm và thắng lợi".

Trong sách "Thanh Hóa khắc sâu lời Bác" (1975), Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thanh Hóa có ghi lại lời dặn dò của Bác Hồ với cán bộ và nhân dân tỉnh nhà nhân dịp Bác về thăm Thanh Hóa (1957): "Chúng ta làm việc suốt năm, vui ngày Tết là xứng đáng, nhưng vui một cách lành mạnh thì nên vui. Tôi mong các cụ các bà chống lãng phí, vì lãng phí chỉ có hại cho dân, cho nước, cho nhà, vì nó đưa đến phong tục hủ bại, rượu chè, hút xách...".

Bác khuyên trong những ngày Tết, "Không nên chơi bời quá độ mà phải có chừng độ. Chơi quá độ, bừa bãi không nên. Nếu chơi nhiều thì không tăng gia sản xuất, học tập được. Ta có câu "Lạc bất khả cực, lạc cực sinh ai". Nghĩa là vui không nên quá mức, vui quá mức đi đến cái buồn".

Trên Báo Nhân Dân ngày 18/1/1960, nhắc nhở đồng bào cố gắng tiết kiệm, đừng lãng phí trong ngày Tết, Hồ Chủ tịch có mấy câu thơ vừa giản dị, vừa sâu sắc:

Trăm năm trong cõi người ta,

Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan,

Mừng Xuân, Xuân cả thế gian

Phải đâu lãng phí, cỗ bàn mới Xuân.

Bác Hồ cũng thường nhắc nhở rằng đón Tết, vui Xuân trong ngày đầu năm phải nghĩ đến công việc của cả năm. Bác viết trong bài "Mùa Xuân quyết thắng" trên Báo Nhân Dân số 2147 ngày 3/2/1960.

Tục ngữ có câu: "Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân" (Nhất niên chi kế, thi ư Xuân). Thật đúng như vậy. Mùa Xuân thì trời vui, đất vui, người càng vui. Cho nên ngay từ đầu mùa Xuân mọi công việc làm được tốt, thì cả năm sẽ phát triển tốt và kết quả tốt". Từ ngày Tết đầu năm phải lo nghĩ" để hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, để Xuân sau thắng lợi hơn Xuân này"./.


CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH LUÔN DÀNH THỜI GIAN ĐẾN THĂM TỪNG NHÀ TRONG DỊP TẾT

 

Trong mùa xuân đầu tiên của đất nước, đêm 30 Tết, Người không dành những giây phút này để nghỉ ngơi, mà đã trực tiếp tới thăm từng gia đình người dân nghèo khổ. Người lặng người khi chứng kiến cảnh gia đình của một người đạp xích lô “Tết mà không có tết”. Trong nhà chỉ có một nén hương đang cháy dở trên bàn, chủ nhà thì ốm phải nằm đắp chiếu mê mệt. Người đã dặn đồng chí thư ký hôm sau mang thuốc, quà của Người đến thăm hỏi và nhắc đồng chí thư ký ghi lại để báo cho đồng chí Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội biết. Cũng trong đêm đó, Người đã đến thăm gia đình nhà chị Chín làm nghề gánh nước thuê, cũng là một gia đình “không có Tết”. Ngoài ra, Người còn đến chúc Tết một số gia đình như: Gia đình ông Từ Lâm - người bán sách cũ ở Cửa Nam; một gia đình buôn bán ở phố Phúc Kiến (nay là phố Lãn Ông); một gia đình công chức ở phố Hàng Lọng (nay là phố Lê Duẩn).

Người dành tình thương yêu, sự quan tâm đến tất thảy mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là những người khó khăn nhất, nghèo nàn nhất. Người mong muốn được thấy mọi người dân không kể sang hèn đều được ấm no, hạnh phúc trong ngày tết cổ truyền dân tộc. Sáng mùng một Tết, Người nói chuyện với đại biểu đồng bào ở Nhà hát lớn, đi động viên chúc Tết lực lượng công an, đi chia kẹo mừng tết với các cháu nhi đồng tại Ấu trĩ viên và đặc biệt, Người đã đến thăm hỏi, động viên các các thương, bệnh binh Pháp tại Bệnh viện Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Quân y 108) và Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức). Đi thăm nhưng Người vẫn canh cánh một điều và mang điều đó tâm sự với mọi cấp, mọi ngành, mọi người khi Người có dịp tiếp xúc: Mọi người cùng đồng tâm nhường cơm, sẻ áo, cùng nhau chăm sóc những người nghèo, những cảnh ngộ khó khăn để ai ai cũng đều có Tết.

Trong những ngày xuân sau này, đặc biệt là từ sau ngày hòa bình lập lại (năm 1954), vào những ngày tết cổ truyền của dân tộc, dù bận trăm công ngàn việc, Người luôn dành thời gian của mình để đến thăm từng nhà dân, để xem nhân dân ta chuẩn bị tết cổ truyền, để thấy được người dân có thực sự được hưởng cuộc sống ấm no, vui tươi, hạnh phúc hay không?

Hôm nay, nhớ về Người, trong không khí Xuân Bính Thân đang tới, chúng ta lại nhớ những việc làm đầy tình thương yêu, trìu mến của Người với toàn thể nhân dân, lại nhớ tới sự chăm sóc ân cần của Người tới mọi thế hệ người Việt Nam đặc biệt là mỗi khi Tết đến, Xuân về. Từ đó, càng dặn lòng mình mỗi người hãy học tập và làm theo Bác từ việc nhỏ nhất trong việc yêu thương, đồng cảm với mọi con người. Bởi vì hơn 90 triệu dân hôm nay, bên cạnh đại đa số mọi người no đủ do làm ăn giỏi, do chăm chỉ lao động, do may mắn trong cuộc sống; vẫn còn bao kiếp người do nhiều lý do khác nhau, vẫn ở trong cảnh ngộ đói ăn thiếu uống, đang co ro chịu cái rét thấu xương nơi gầm cầu, quán chợ… Chúng ta cùng nhau chia sẻ, đồng cảm để ai ai cũng đều có Tết - như điều mong ước giản dị của Bác Hồ./.


BÁC HỒ VỚI TẾT ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN

 

Trong Tết Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nước vừa thoát khỏi hơn 80 năm ách thực dân, Người đã viết thư gửi thế hệ thanh niên (thế hệ trẻ cũng được coi như mùa xuân của đất nước Việt Nam): “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” (Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán năm 1946). Người căn dặn các cháu phải thực hành đời sống mới, phải hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ… để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.       

Không chỉ với thế hệ thanh niên, trong bài viết “Tết” đăng trên báo Cứu Quốc số 147, ngày 21/01/1946, Người nhắc nhở cả dân tộc: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết mừng Xuân”. Và kêu gọi toàn thể đồng bào cùng “chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với: Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận, những gia quyến các chiến sĩ, những đồng bào nghèo nàn để sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui và Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập” (Thư gửi Phụ nữ Việt Nam nhân dịp Xuân Bính Tuất - 1946).

Người làm thơ gửi phụ nữ Việt Nam nhân ngày Tết, nhắc nhở họ phải siêng năng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, để thực sự trở thành những người “Đời sống mới”./.


THÓI HỐNG HÁCH, TRỊCH THƯỢNG CẦN ĐƯỢC NGHIÊM TRỊ

 

Cuối năm 2022 vừa qua, dư luận không khỏi bất bình trước việc ông Nguyễn Viết Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Bí thư Chi bộ Công ty Cổ phần Tập đoàn Đất Quảng, đại biểu HĐND tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2021-2026, trong lúc bực dọc đã dùng gậy golf đánh nữ nhân viên phục vụ tại sân golf khiến cô này phải vào bệnh viện sơ cứu. Trước đó, một cán bộ của Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường TP Đà Nẵng có hành vi ném trả tiền lẻ mà chủ quán ăn trả lại cho con mình và dùng những lời bất nhã đe dọa sự tồn tại của quán này.

Đây là hai ví dụ về cán bộ, đảng viên-những người có trách nhiệm phải nêu gương phẩm chất đạo đức, ứng xử, tôn trọng nhân dân thì lại thể hiện sự hống hách, có hành vi xúc phạm người dân, bị dư luận lên án mạnh mẽ. Thực tế đã có không ít video clip chia sẻ trên mạng xã hội hình ảnh cán bộ, công chức, viên chức ở cấp cơ sở thể hiện sự hách dịch, trịch thượng, thiếu văn hóa, cậy quyền cậy thế, rõ ràng mình sai mà vẫn ngang ngược dọa dẫm kiểu "Biết tao là ai không?"-khiến người dân rất bức xúc.

Không chỉ hống hách với người dân, một số cán bộ còn "quân phiệt miệng", thiếu tôn trọng cấp dưới, nhất là đối với những nhân viên trẻ tuổi. Biểu hiện rõ nhất là quát mắng vô cớ, làm cho nhân viên sợ sệt, khi cấp dưới đến gặp thì lạnh lùng, đe nẹt, thái độ xem thường, không hướng dẫn, giúp đỡ mà chỉ tìm cớ quát tháo, chì chiết, phê bình không phải trên tinh thần đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp mà cố tình thể hiện uy quyền, tạo khoảng cách trên-dưới nhằm bắt cấp dưới phải cầu cạnh, cung phụng mình. Cá biệt, có cán bộ còn "nói một đằng, làm một nẻo", ví dụ như yêu cầu cấp dưới phải triệt để thực hành tiết kiệm nhưng bản thân mình thì lãng phí, tùy tiện sử dụng tài sản công vào những việc riêng, thậm chí phục vụ cả gia đình, họ hàng... Cán bộ cấp trên mà như vậy khiến cấp dưới chán nản, mất niềm tin và động lực phấn đấu, thậm chí sinh ra bất mãn. Hiện tượng này cần phải phê phán, đấu tranh mạnh mẽ vì đó là nguyên nhân gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, suy yếu tổ chức và vô cùng nguy hiểm khi các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá./.