Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2023

Một số vấn đề về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế qua nghiên cứu tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 TCCS - Tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đóng góp toàn diện, sâu sắc vào kho tàng lý luận của Đảng. Trong đó, tác phẩm đưa ra định hướng quan trọng qua việc giải quyết mối quan hệ cơ bản, cốt lõi giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế của Đảng ta qua các kỳ đại hội

Bước khởi đầu cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế của nước ta được đánh dấu bằng chủ trương thực hiện đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại được Ðại hội VII của Ðảng (năm 1991) thông qua. Đó là: “Chúng ta chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”(1), và “Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(2).

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trao đổi với các đại biểu dự Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần thứ tư - năm 2022 với chủ đề: “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập kinh tế sâu rộng trong tình hình mới”_Ảnh: TTXVN

Ðại hội VIII (1996), Đảng ta quyết định: “Tiếp tục đổi mới cơ chế kinh tế đối ngoại, đẩy nhanh quá trình hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới”(3). Phù hợp với xu thế toàn cầu hóa kinh tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được đẩy mạnh, Ðại hội IX của Ðảng (năm 2001) khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(4). Cũng tại Đại hội IX, lần đầu tiên vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế được đưa vào văn kiện của Đại hội với chủ trương gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trước hết là độc lập, tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh: có mức tích lũy ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số ngành công nghiệp nặng then chốt; có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ; giữ vững ổn định kinh tế - tài chính vĩ mô; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường... Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”(5). Với chủ trương này, nước ta tích cực tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời chủ động chuẩn bị các điều kiện trong nước về cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 27-11-2001, “Về hội nhập kinh tế quốc tế”, trong đó nhấn mạnh những nguyên tắc nhất quán chỉ đạo quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Ðể triển khai thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành kế hoạch hành động, phân công công việc cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương...

Đại hội X (năm 2006), Đảng ta xác định “Tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại...; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và đầy đủ hơn với khu vực và thế giới”(6).

Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta đã chuyển từ hội nhập kinh tế quốc tế lên hội nhập quốc tế. Đây là điểm mới trong tư duy hội nhập quốc tế của Đảng ta. Đại hội XI của Đảng khẳng định quan điểm: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(7). Đây là một trong những luận điểm mới có tính chất kế thừa và phát triển trong đường lối đối ngoại của Đảng ta so với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác đã được Đại hội IX và Đại hội X của Đảng thông qua.

Đại hội XII (năm 2016), Đảng ta đưa ra chủ trương: “Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế... đẩy mạnh hội nhập trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của đất nước; hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế”(8).

Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta xác định rõ hơn nội hàm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế là: “Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế Việt Nam đã ký kết. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế”(9).

Như vậy, qua các kỳ đại hội Đảng, chủ trương, đường lối về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế có những bước phát triển phù hợp với tình hình thế giới và trong nước: từ hội nhập rồi chủ động hội nhập; tích cực và chủ động hội nhập, đến chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và đầy đủ hơn với khu vực và thế giới...

Độc lập, tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập quốc tế có hiệu quả. Hội nhập quốc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ.

Xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ, trước hết là độc lập, tự chủ về đường lối phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh; có thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng phó được với các tình huống phức tạp, tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế...

Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển trên nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc; bình đẳng, cùng có lợi, vừa hợp tác, vừa đấu tranh; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại; đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch...

Trong quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, không ngừng tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả hợp tác với bên ngoài; tăng cường vai trò và ảnh hưởng của nước ta đối với kinh tế khu vực và thế giới...

Việc triển khai thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng về giữ vững và bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia và việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế đã đạt nhiều thành tựu và kết quả quan trọng: nhận thức của xã hội, các chủ thể tham gia hội nhập quốc tế, đặc biệt là các doanh nghiệp về sự cần thiết, những tác động hai chiều thuận - nghịch đan xen của hội nhập quốc tế đối với nền kinh tế, cũng như yêu cầu phải xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ đồng thời với việc đẩy mạnh hội nhập kinh tế, đã được nâng lên và ngày càng đi tới thống nhất. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi vấn đề đặt ra để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế, đều đã được giải quyết...

Trong khi đó, sự phát triển của tình hình thế giới và trong nước lại tiếp tục đặt ra những vấn đề mới. Thực tiễn đó là một trong những yếu tố quan trọng để Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển quan điểm về xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế.

Để hội nhập quốc tế thực sự hiệu quả, đưa đất nước phát triển, Đảng ta xác định phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế đều cùng hướng tới một mục tiêu chung là đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, nhằm làm cho thế và lực của đất nước được tăng cường, thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hai nhiệm vụ này gắn bó, tác động qua lại, có mối quan hệ biện chứng với nhau, là hai mặt của sự thống nhất, vừa có mặt thuận, vừa có mặt nghịch, vừa tạo đà, tạo thế cho nhau, vừa tác động không thuận chiều, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Một mặt, có nội lực mạnh, có độc lập và tự chủ mới tạo vị thế và khả năng cho nước ta tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế cũng mang “thế giới đến với Việt Nam”, mang lại công nghệ, kinh nghiệm quản lý, vốn, nhanh chóng bổ sung sức mạnh cho nội lực còn khiếm khuyết, thiếu hụt, rút ngắn con đường phát triển nhằm không ngừng tự hoàn thiện mình để giữ vững hơn nền độc lập, tự chủ, bảo vệ các lợi chính đáng của đất nước trong bối cảnh các quan hệ đa phương, song phương giữa các quốc gia, các tổ chức khu vực và quốc tế ngày càng phức tạp, đa dạng và chằng chịt. Hội nhập quốc tế càng chất lượng, nền kinh tế độc lập, tự chủ càng cao. Nền kinh tế độc lập, tự chủ càng cao, càng có điều kiện chủ động, tích cực hội nhập quốc tế...

Như vậy, hội nhập quốc tế trở thành định hướng lớn trong đường lối đối ngoại của nước ta để thu hút các nguồn lực bên ngoài, nuôi dưỡng, phát huy nguồn lực trong nước, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong quá trình phát triển theo định hướng đã lựa chọn, đồng thời phát huy vai trò, đóng góp của đất nước đối với hòa bình, phát triển của khu vực và thế giới...

Mặt khác, khi hội nhập quốc tế có nghĩa là chấp nhận những nguyên tắc, quy định, nghĩa vụ thành viên... do các chủ thể của luật quốc tế quy định. Đó là điều không thể không tính đến và không thể không ảnh hưởng khi xây dựng các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... của đất nước, cũng như khi thực thi các chính sách đó...

Hội nhập quốc tế mang lại cho nước ta quyền và cơ hội, đồng thời phải thực thi nghĩa vụ và đối mặt với thách thức. Nước ta hội nhập quốc tế với rất nhiều nét đặc thù, trong đó khó khăn nhất là trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp, đất nước vừa thoát ra khỏi nhóm các nước nghèo và đứng trước nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” nếu không có các chính sách phát triển phù hợp. Bên cạnh đó, những hệ lụy của các cuộc chiến tranh kéo dài, tác động rất lớn đến đời sống xã hội, đến cuộc sống, tâm lý, nếp nghĩ của người dân, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động và điều nguy hiểm nữa là những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang có những diễn biến phức tạp...

Những khó khăn trong việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế càng trở nên đậm nét hơn khi đặt trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động to lớn, nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo.

Những vấn đề mấu chốt về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế qua Tác phẩm

Trong tác phẩm của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”(10). Tổng Bí thư đưa ra một cách toàn diện, đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, chủ trương, giải pháp nhằm giải quyết hiệu quả mối quan hệ này, trong đó có hai vấn đề sau:

Thứ nhất, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đột phá lý luận của Đảng ta trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế.

Một vấn đề có tính chất điển hình về “Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lốì, chiến lược phát triển kinh tế đất nước”, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới(11). Cả lý luận và thực tiễn chứng minh nhận định trên của Tổng Bí thư là hoàn toàn đúng đắn. Kinh tế thị trường (trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, khi mọi sản phẩm đều có thể trở thành hàng hóa) là sản phẩm của văn minh nhân loại, xuất hiện từ rất xa xưa, từ chế độ phong kiến, được phát triển tới trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản (CNTB), nhưng tự bản thân kinh tế thị trường không đồng nghĩa với CNTB. Nghĩa là, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của CNTB, mà kinh tế hàng hóa - nguồn nuôi dưỡng và xuất phát điểm của kinh tế thị trường - tồn tại trong nhiều chế độ xã hội khác nhau, song không có kinh tế thị trường chung, đồng nhất cho mọi chế độ xã hội khác nhau. Mặc dù, kinh tế thị trường là mô hình phát triển phổ quát, có những đặc điểm chung, có những giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực chung, vận động theo những quy luật chung..., nhưng ở mỗi quốc gia, kinh tế thị trường có sắc thái riêng, có dấu ấn riêng về lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội, truyền thống... Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, kinh tế thị trường mang những đặc trưng, bản chất khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất, vào bản chất chính trị của chế độ xã hội đó, phù hợp với lịch sử, văn hóa, tập quán của từng quốc gia, dân tộc. Mặc dù, những quy luật kinh tế chi phối sự vận động, phát triển của nền kinh tế thị trường là khách quan, có những yêu cầu tất yếu như nhau, nhưng quan điểm, tập quán, thói quen vận dụng những quy luật kinh tế khách quan đó trong mỗi quốc gia là khác nhau. Không thể có nền kinh tế thị trường ở nước này lại là bản sao của kinh tế thị trường ở nước khác. Trên thế giới có nhiều mô hình phát triển kinh tế thị trường như, kinh tế thị trường tự do ở Mỹ, kinh tế thị trường xã hội ở Đức, kinh tế thị trường cộng đồng trách nhiệm (hay phối hợp) ở Nhật Bản, kinh tế thị tr­ường nhà nư­ớc phúc lợi ở Thụy Điển, kinh tế thị trường XHCN đặc sắc Trung Quốc... Lần đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường xuất hiện mô hình kinh tế thị trường mới - kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây thực sự là “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta”. Qua thực tiễn hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, một thành quả lý luận quan trọng được khẳng định: phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là hoàn toàn đúng đắn, là sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta và là con đường, phương thức để xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên đất nước ta. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế là nền kinh tế quá độ, không thể có ngay kinh tế thị trường XHCN, nước ta phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH - vừa tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường của thế giới, vừa vận dụng, phát triển sáng tạo cho phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là một thể thống nhất bao gồm hai mặt gắn bó biện chứng hữu cơ với nhau là kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; đồng thời, bảo đảm định hướng XHCN nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn lực phát triển... “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ)”(12).

Kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển đồng bộ, toàn diện trong cả bốn khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Các thành phần kinh tế hợp tác, cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành hữu cơ quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng tồn tại, phát triển lâu dài. Các thành phần kinh tế được bình đẳng trong huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực phát triển và trách nhiệm, nghĩa vụ đối với đất nước, đối với xã hội. Phân phối các nguồn lực đầu vào cho sản xuất và phân phối sản phẩm làm ra bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và tạo động lực cho phát triển. Ở nước ta hiện nay, thực hiện chế độ phân phối với nhiều hình thức, chủ yếu là phân phối theo lao động, theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách... Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội... Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(13)...

Thực tiễn qua hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, “trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thực sự đem lại những thay đổi to lớn, rất tốt đẹp cho đất nước”(14), “kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”(15). Đó là những thành tựu không thể phủ nhận, mặc dù trong thực tế, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta còn nhiều hạn chế, cần tiếp tục hoàn thiện...

Việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không chỉ là vấn đề mang tính tất yếu của công cuộc đổi mới, mà còn là sự đúng đắn về nguyên tắc, quan điểm của Đảng, đồng thời là đòi hỏi của thực tiễn đất nước với điểm xuất phát thấp đi lên CNXH như Việt Nam; không chỉ là nền móng bảo đảm độc lập, tự chủ về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, mà còn là điều kiện căn bản và môi trường rộng mở tối ưu bảo đảm cho sự phát triển năng động, mạnh mẽ và bền vững của nền kinh tế gắn chặt với công bằng xã hội và vì mục tiêu tiến bộ xã hội, xét trên cả hai bình diện đối nội và hội nhập quốc tế một cách chủ động, hiệu quả. Đó cũng là sự thể hiện ưu thế tuyệt đối của chế độ xã hội ta khi xem kinh tế thị trường chỉ là phương tiện, công cụ hữu hiệu để xây dựng CNXH nhằm phục vụ nhân dân so với các chế độ xã hội khác cũng phát triển kinh tế thị trường...

Thứ hai, phát huy sức mạnh tổng hợp cả nội lực và ngoại lực trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế.

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ không phải là xây dựng nền kinh tế khép kín, đóng cửa, mà là nền kinh tế mở, gắn với hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp, cùng chiều của nội lực và ngoại lực... Trong tác phẩm của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại. Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(16); “Ý chí tự lực, tự cường và nội lực là quyết định, cơ bản, lâu dài; sự ủng hộ, giúp đỡ và nguồn lực từ bên ngoài là vô cùng quan trọng”(17); “huy động và kết hợp có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài với nguồn lực trong nước để phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(18). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Ưu tiên tìm kiếm và mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và lao động Việt Nam, thu hút nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, nhất là FDI hướng vào các lĩnh vực ưu tiên của đất nước. Tích cực cùng các nước thúc đẩy đàm phán, ký kết, phê chuẩn và thực hiện các thỏa thuận FTA đa phương; nghiên cứu khả năng tham gia các sáng kiến đa phương trong khu vực về kết nối kinh tế và phát triển kết cấu hạ tầng; tiến hành đàm phán các FTA song phương thế hệ mới với các nước, nhất là với các đối tác thương mại lớn”(19).

Sản xuất và gia công bảng vi mạch tích hợp sử dụng cho điện thoại di động và các sản phẩm điện tử thông minh ở Công ty TNHH Hana Micron Vina 100% vốn đầu tư của Hàn Quốc tại tỉnh Bắc Giang_Ảnh: TTXVN

Để thực hiện thành công mục tiêu Đại hội XIII của Đảng đề ra, cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong điều kiện toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, phải có vốn, công nghệ, cán bộ khoa học, công nhân lành nghề, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, hội nhập thị trường thế giới và thị trường khu vực,... Những vấn đề này không thể giải quyết được nếu nước ta chỉ dựa vào nội lực và càng không thể thực hiện được nếu chỉ dựa vào ngoại lực, phải khéo léo sử dụng sức mạnh tổng hợp của cả nội lực và ngoại lực. Nội lực đóng vai trò quyết định, là nguồn trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đưa đất nước đi lên. Ngoại lực đóng vai trò quan trọng. Nền kinh tế thế giới hiện nay có xu hướng trở thành nền kinh tế thị trường thế giới thống nhất, nền kinh tế mỗi nước là một bộ phận, trong điều kiện đó, nền kinh tế nước ta muốn phát triển được không thể không gắn với nền kinh tế thị trường thế giới và khu vực. Vấn đề đặt ra là, giải quyết mối quan hệ giữa phát huy nội lực với mở rộng hội nhập quốc tế để tranh thủ khai thác ngoại lực như thế nào?

Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu sáng lập, đã lựa chọn con đường đúng đắn là đi lên CNXH. Đảng và nhân dân ta nắm vững và quán triệt sâu sắc phương châm: giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; động viên cao độ nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài; xây dựng một nền kinh tế độc, lập, tự chủ, mở cửa, hội nhập khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời phải chú ý tới những hàng hóa trong nước có khả năng sản xuất và sản xuất có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thị trường nội địa và nhu cầu của nhân dân. Nội lực càng mạnh, càng khai thác được nhiều hơn, hiệu quả hơn ngoại lực; trên cơ sở đó mới có thể giữ vững được độc lập, tự chủ của đất nước. Chính vì vậy, có thể khẳng định: phát huy nội lực xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trở thành yêu cầu cơ bản của công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta. Do đó, để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, vấn đề có tính quyết định sống còn là phải khơi dậy và phát huy tối đa các nguồn nội lực, khai thác mọi lợi thế so sánh của đất nước làm ra những hàng hóa xuất khẩu, thu ngoại tệ, nhập khẩu những hàng hóa, tư liệu sản xuất trong nước không có điều kiện sản xuất hoặc sản xuất không có hiệu quả. Thông qua hoạt động kinh tế đối ngoại để chuyển việc sản xuất những hàng hóa trong nước có lợi thế so sánh để đổi lấy tư liệu sản xuất phục vụ cho tái sản xuất mở rộng ở trong nước. Hơn nữa, nội lực còn là nguồn đối ứng để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả ngoại lực, biến ngoại lực thành nội lực. Nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế trở thành nhân tố quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế...

Trong tác phẩm của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tổng kết: “Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách, không chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”(20).

Hiện nay, chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và tin tưởng chắc chắn rằng: chúng ta sẽ hoàn thiện đồng bộ, nâng cao chất lượng thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của nội lực kết hợp với sức mạnh của ngoại lực. Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, đạt mục tiêu đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao./.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước thời kỳ mới

 Đánh giá hiệu quả xây dựng, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực phát triển văn hóa

Các kết quả đạt được

Thứ nhất, quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã hình thành nền tảng pháp lý toàn diện và hệ thống, góp phần tăng cường sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước của văn hóa.

Trong lĩnh vực văn hóa, hiện nay nước ta có 5 luật (Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thư viện), 50 nghị định, 14 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và trên 100 thông tư, thông tư liên tịch được điều chỉnh trực tiếp. Các luật này đã từng bước tạo ra một khuôn khổ pháp lý tương đối nhất quán, góp phần thể chế hóa và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng, tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa của người dân. Đồng thời, việc thể chế hóa hệ thống pháp luật đã từng bước giúp điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống văn hóa theo hướng hài hòa và lành mạnh hơn. Nhà nước từ vị trí người chỉ huy đã chuyển sang vai trò của nhà quản lý và bảo trợ. Từ sự chuyển dịch mang tính cấu trúc này, vai trò của hệ thống chính sách, pháp luật trong lĩnh vực văn hóa được đề cao.

Thứ hai, khung chính sách đã tạo môi trường thể chế cho phép các ngành công nghiệp văn hóa khai thác, chuyển hóa các nguồn tài nguyên văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa.

Sự ra đời của “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” (năm 2016) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi cho các ngành công nghiệp văn hóa khai thác và chuyển hóa các nguồn tài nguyên văn hóa thành các sản phẩm và dịch vụ văn hóa có sức hấp dẫn. Các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tích cực triển khai công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Những thay đổi tích cực về thể chế, chính sách đã thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam có những bước tiến mới, mang lại những đóng góp nhất định vào tăng trưởng GDP của cả nước. Theo thống kê, các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam đạt 3,61% GDP cả nước năm 2018 (so với mức 2,68% năm 2015). Công nghiệp văn hóa Việt Nam bước đầu phát huy hiệu quả tài nguyên văn hóa và chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, hệ thống các văn bản pháp luật về thuế, khuyến khích xã hội hóa, thu hút nguồn lực từng bước tạo cơ sở pháp lý cho việc huy động mọi nguồn lực trong xã hội đầu tư cho văn hóa.

Trong giai đoạn 2014 - 2019, tỷ lệ đầu tư cho văn hóa từ ngân sách nhà nước tăng dần theo các năm, đầu tư cho phát triển văn hóa thông qua nguồn vốn cấp về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là 5.735,442 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển là 918,653 tỷ đồng, vốn ngân sách sự nghiệp là 4.816,789 tỷ đồng. Đầu tư cho phát triển văn hóa các địa phương trong giai đoạn trước năm 2016 được thực hiện thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Trong giai đoạn 2014 - 2015, Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã được cấp 546 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển là 290 tỷ đồng, vốn ngân sách sự nghiệp là 256 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2016 - 2020, tổng nguồn vốn của Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa là 10.620 tỷ đồng(1). Về cơ bản, nguồn vốn đầu tư từ các chương trình này có tính chất “vốn mồi” đã đem lại hiệu quả để thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, nhất là đồng bào tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Bên cạnh đó, chủ trương xã hội hóa được xác lập qua các văn bản(2) đã tạo cơ chế, chính sách ưu đãi (về thuế, phí, tín dụng, quyền sử dụng đất...), các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng từ các cá nhân, tổ chức xã hội đã được huy động cho việc phát triển văn hóa. Nhà nước cũng khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo, khuyến học, phát triển nhân tài, quảng bá văn học nghệ thuật, phát triển điện ảnh, hỗ trợ xuất bản... Ví dụ, Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định đối tượng không chịu thuế tại khoản 12, Điều 5. Theo đó, lĩnh vực văn hóa (bao gồm hoạt động văn hóa, triển lãm; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập phim, phát hành và chiếu phim) được hưởng mức thuế suất ưu đãi 5%. Đối với các hàng hóa, dịch vụ khác chịu mức thuế suất 10% (trong đó có các dịch vụ, hoạt động du lịch). Trong thời điểm đại dịch COVID-19, Nhà nước đã có những chính sách kịp thời, giảm thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế để hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực văn hóa, du lịch... Ngoài ra, các nguồn lực khác cần thiết cho phát triển văn hóa ở Việt Nam, như nhân lực, kết cấu hạ tầng, kiến thức chuyên môn,... cũng được huy động và phát huy góp phần quan trọng trong việc tạo ra những kết quả tích cực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật nước nhà.

Thứ tư, cơ chế, chính sách đang từng bước góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Tính đến ngày 30-6-2021, tổng số nhân lực ngành văn hóa, thể thao, du lịch trong cả nước là 899.950 người, trong đó lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật: 19.751 người; lĩnh vực thể dục - thể thao: 10.199 người; lĩnh vực du lịch: 870.000 người, trong đó 18.907 người phục vụ ở cả 3 lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao và du lịch(3). Trong thời gian qua, các quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn về quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng, bổ nhiệm... cán bộ được xây dựng bài bản, đổi mới phù hợp với tình hình thực tiễn, khắc phục những hạn chế trước đó. Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ ngành đang được quy hoạch bài bản, điều chỉnh cơ cấu độ tuổi, trình độ hợp lý. Các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, phát hiện tài năng văn hóa, nghệ thuật và tôn vinh nhân tài cũng được thực hiện nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao cho lĩnh vực văn hóa.

Thứ năm, quá trình hoàn thiện thể chế đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, di sản, di tích lịch sử - văn hóa.

Quá trình hoàn thiện thể chế đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, di sản, di tích lịch sử - văn hóa vốn vô cùng dồi dào, đa dạng của Việt Nam. Bên cạnh những chương trình cụ thể nhằm hiện thực hóa “Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030”, như Chương trình bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2025; Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021 - 2030; Chương trình phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2022 - 2026 trong công tác giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên thông qua các di tích, di sản văn hóa phi vật thể, các bảo tàng từ Trung ương đến địa phương (Chương trình phối hợp số 217/CTr-BGDĐT- BVHTTDL, ngày 4-3-2022), nước ta cũng tiếp tục các nỗ lực nhằm nâng cao vị thế trong cộng đồng quốc tế và tích cực quảng bá di sản văn hóa của đất nước ra thế giới, thể hiện ở việc trúng cử thành viên Ủy ban liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể nhiệm kỳ 2022 - 2026, đón nhận thêm 2 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh vào các danh mục của UNESCO (Thực hành Then Tày, Nùng, Thái và Nghệ thuật làm gốm của người Chăm). 

Nghệ thuật làm gốm của người Chăm _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ sáu, việc chú trọng triển triển khai chủ đề năm trong ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy giá trị và vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội.

Trong năm 2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phát động chủ đề công tác năm là “Năm xây dựng môi trường văn hóa cơ sở và công tác tổ chức cán bộ”, từ đó đưa xây dựng môi trường văn hóa trở thành một bước đột phá mới trong hoạt động của toàn ngành với mục tiêu bảo đảm mọi thành viên của cộng đồng được phát triển các năng lực sáng tạo. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2021 - 2026. Đây là căn cứ để Ban Chỉ đạo Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nội dung trong phong trào có trọng tâm, trọng điểm; ban hành kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện phong trào đến các cấp, các ngành và người dân kịp thời, góp phần phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố bồi đắp các giá trị chân - thiện - mỹ.

Thứ bảy, việc xây dựng thể chế, chính sách đã tôn trọng, bảo vệ sự đa dạng của văn hóa các dân tộc, vùng, miền, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần bảo vệ an ninh chính trị và giữ vững chủ quyền quốc gia của Tổ quốc.

Các chương trình và hoạt động đa dạng, phong phú, như lớp tập huấn, truyền dạy, ngày hội văn hóa các dân tộc, các liên hoan, chương trình biểu diễn lưu động,... được tổ chức thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa của nhân dân và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, góp phần tích cực để thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền trong cả nước. Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa - nghệ thuật được đẩy mạnh và tạo hiệu ứng tốt trong xã hội.

Thứ tám, các nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa số bước đầu phát huy hiệu quả.

Một loạt các chương trình chuyển đổi số đã được Chính phủ phê duyệt, như Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, Chương trình chuyển đổi số ngành thư viện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Đề án Số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, Đề án Trung tâm phát hành phim trực tuyến... Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật càng có xu hướng chuyển dịch sang môi trường số. Các chương trình biểu diễn nghệ thuật không khán giả được phổ biến rộng rãi thông qua các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội... và đạt hiệu quả cao.

Các hạn chế, bất cập

Một là, hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa có số lượng lớn, song nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý và tính quy phạm thấp, thiếu những quy tắc xử sự cụ thể để các chủ thể phải thực hiện dẫn đến hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa còn hạn chế.

Hệ thống văn bản pháp luật về văn hóa, gia đình có khoảng 160 văn bản quy phạm pháp luật, gồm nhiều loại khác nhau, từ luật, pháp lệnh đến thông tư. Số lượng văn bản mâu thuẫn, chồng chéo còn nhiều, làm giảm tính minh bạch khiến cho pháp luật trở nên phức tạp, khó áp dụng. Một số lĩnh vực chưa có luật hoặc pháp lệnh điều chỉnh (nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, xây dựng môi trường văn hóa, thiết chế văn hóa, tuyên truyền cổ động chính trị, quyền và nghĩa vụ của văn nghệ sĩ...), thậm chí chưa có văn bản điều chỉnh (lĩnh vực văn học, quản lý hoạt động trò chơi...) ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý nhà nước về từng lĩnh vực.

Hai là, khung thể chế chưa hoàn thiện, chậm điều chỉnh “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” trong bối cảnh mới đang làm giảm vai trò kiến tạo và khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập của thị trường văn hóa.

Mặc dù “Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu doanh thu của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, tuy nhiên sau gần 6 năm thực hiện Chiến lược, việc đạt được chỉ tiêu này vẫn còn là một thách thức rất lớn. Công nghiệp văn hóa ở Việt Nam vẫn chưa được điều chỉnh bằng văn bản quy phạm pháp luật, thiếu chính sách, pháp luật tạo hành lang pháp lý để phát triển lĩnh vực mới, đầy tiềm năng này, trong đó các chính sách về huy động nguồn lực đóng vai trò then chốt. Các chính sách phát triển công nghiệp văn hóa còn chưa phù hợp với sự vận động của thị trường, điển hình như việc kiểm duyệt nội dung các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật dựa trên những tiêu chí không rõ ràng. Mặt khác, Nhà nước không có cơ chế và chế tài đủ mạnh để giải quyết vấn đề cốt lõi của thị trường văn hóa, như bảo vệ bản quyền... Những bất cập trong việc sử dụng các công cụ quản lý khiến cho Nhà nước chưa thực sự trở thành trọng tài cho các chủ thể kinh tế, chưa điều tiết và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa những người sản xuất, phân phối hàng hóa và người tiêu dùng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhiều thể chế, quy định liên quan đến các ngành công nghiệp văn hóa còn chậm đổi mới, chưa phù hợp với quy chuẩn của quốc tế.

Ba là, cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành, cơ quan các cấp, giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân chưa chặt chẽ. Sự tham gia của các chủ thể cấp cơ sở, đặc biệt là những người chịu tác động trực tiếp của hệ thống thể chế, chính sách, còn mang tính hình thức.

Tuy được khẳng định là các tổ chức tự quản của người dân, rất nhiều tổ chức xã hội ở Việt Nam phụ thuộc về mặt kinh phí vào hệ thống chính trị và cơ quan nhà nước. Hoạt động của các tổ chức xã hội vì thế bị hành chính hóa, mang nặng tính hình thức và thụ động. Cơ chế cho sự tham gia của xã hội vào việc hoạch định, triển khai và đánh giá chính sách của Nhà nước và giám sát hoạt động của doanh nghiệp chưa được quy định rõ ràng. Trong khi đó, nhiều thủ tục hành chính của Nhà nước quy định các mối quan hệ dân sự còn rườm rà, làm giảm vai trò xã hội trong tham gia quản lý và điều tiết sự phát triển.

Bốn là, các quy định pháp luật về huy động nguồn lực cho thấy văn hóa chưa hoàn toàn là ngành, nghề được ưu tiên, khuyến khích, phát triển; văn hóa gặp phải các “điểm nghẽn”, “rào cản” từ chính nhận thức xã hội và các quy định của pháp luật chưa theo kịp đòi hỏi từ thực tế sinh động.

Hiện nay, hiệu lực của các quy định về chính sách thuế trong các luật chuyên ngành chỉ mang tính nguyên tắc về “ưu đãi”, việc áp dụng phụ thuộc vào các quy định cụ thể của từng đạo luật về thuế. Luật Đầu tư năm 2020 quy định văn hóa là một trong những ngành, nghề được ưu đãi đầu tư, tuy nhiên chỉ giới hạn trong lĩnh vực hẹp là bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, trong khi văn hóa là lĩnh vực rộng. Năm 2020, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), nhưng chỉ có 5 lĩnh vực được áp dụng đầu tư theo phương thức PPP, trong đó không có lĩnh vực văn hóa. Như vậy, căn cứ Luật Đầu tư và Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì lĩnh vực văn hóa chưa hoàn toàn là ngành, nghề được ưu tiên khuyến khích. Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định thu nhập được miễn thuế đối với các khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho các hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hóa, nghệ thuật, từ thiện... và phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội hóa khác để lại đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của pháp luật chuyên ngành, tuy nhiên lại không có lĩnh vực văn hóa. Bên cạnh đó, thói quen trông chờ ngân sách của Nhà nước cho các hoạt động văn hóa vốn đã ăn sâu trong tiềm thức từ thời kinh tế tập trung bao cấp, cùng với quan niệm ngành văn hóa là ngành “tiêu tiền” đang tạo thêm những rào cản trong nhận thức về đầu tư các nguồn lực cho văn hóa.

Năm là, việc gián đoạn chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, chương trình phát triển văn hóa đang làm giảm động lực thúc đẩy phát triển văn hóa gắn với kinh tế - xã hội, để đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững.

Việc đầu tư cho bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Trong thời gian qua, nguồn vốn đầu tư từ “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa các năm 2014 - 2015” và “Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa giai đoạn 2016 - 2020” có tính chất “vốn mồi” đã đem lại hiệu quả tích cực cho lĩnh vực di sản. Tuy nhiên, việc Chương trình kết thúc vào năm 2021 đã khiến cho việc huy động nguồn lực cho nhu cầu phát triển văn hóa của địa phương, vốn ngang bằng, thậm chí lớn hơn giai đoạn trước đây, gặp nhiều khó khăn.

Sáu là, cơ chế, chính sách đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng với vai trò, vị trí của văn hóa trong phát triển.

Về tổng thể, mức đầu tư cho văn hóa trong tổng chi ngân sách tương đối thấp so với các lĩnh vực khác, chưa tương xứng với thực tiễn, chưa đồng đều. Theo Nghị quyết số 40/2021/QH15, ngày 13-11-2021, của Quốc hội “Về việc phân bổ ngân sách Trung ương năm 2022”, tỷ lệ ngân sách dành cho văn hóa và thông tin chỉ chiếm 0,9% tổng ngân sách được phân bổ. Không chỉ hạn chế về quy mô, mà cơ cấu đầu tư công cho văn hóa cũng còn nhiều bất cập. Phần lớn nguồn vốn công dành cho hoạt động sự nghiệp, tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển còn thấp. Với những hạn chế này, đầu tư công của Nhà nước chưa đủ sức “làm mồi”, “dẫn dắt” cho đầu tư của tư nhân trên thị trường.

Bảy là, bất cập trong cơ chế, chính sách tạo tình trạng thiếu hài hòa giữa khu vực công và khu vực tư trong việc tiếp cận nguồn hỗ trợ từ Nhà nước.

Những bất cập trong việc phân bổ nguồn lực công và tiếp cận nguồn lực công cùng sự thiếu vắng những tiêu chí rõ ràng và cụ thể để làm cơ sở cho việc đánh giá và ban hành quyết định tài trợ chưa thực sự tạo ra động lực khuyến khích sáng tạo và nỗ lực nâng cao chất lượng tác phẩm, chưa tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Đảo Ký Ức Hội An - nơi diễn ra show diễn thực cảnh "Ký ức Hội An" _Nguồn: tcdulichtphcm.vn

Định hướng và giải pháp

Việc đánh giá hiệu quả thể chế, chính sách như đã nêu trên đòi hỏi phải tập trung khắc phục bất cập, tháo gỡ các điểm nghẽn trong thực thi thể chế thông qua xây dựng, hoàn thiện chính sách có khả năng tạo cơ chế để thúc đẩy phát triển văn hóa trong giai đoạn mới. Cụ thể: 

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực văn hóa nhằm tạo cơ sở pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội về văn hóa, tạo nguồn lực phát triển. Cụ thể: Sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa nhằm khắc phục bất cập, tháo gỡ các điểm nghẽn trong thực thi Luật Di sản văn hóa hiện hành ở các điểm chưa xác định rõ, hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị. Sửa đổi, bổ sung Luật Quảng cáo ở các quy định về các loại hình quảng cáo, phương tiện quảng cáo mới phát sinh...; nghiên cứu xây dựng luật về nghệ thuật biểu diễn, nghị định về hoạt động văn học, chính sách về tài sản nội dung văn hóa số... Tiếp tục điều chỉnh, sửa đổi một số luật chuyên ngành, như Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, các luật về thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp, nghị định về khuyến khích xã hội hóa nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ Nhà nước, huy động nguồn lực xã hội và tối ưu hóa nguồn lực nội sinh từ văn hóa. Cụ thể: Luật Đầu tư cần các quy định pháp luật liên quan và quy định pháp luật chuyên ngành về văn hóa để tạo cơ sở pháp lý cho nguồn lực từ Nhà nước. Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan để khơi thông nguồn lực từ văn hóa trong hạ tầng của văn hóa, như Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, trong đó có chính sách phù hợp phát huy, sử dụng có hiệu quả tài sản kết cấu hạ tầng, thiết chế văn hóa, tài sản đặc thù của văn hóa; cơ chế tự chủ tài chính đồng bộ với nhân sự, kế hoạch của các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa. Bổ sung các chính sách thúc đẩy phát triển tài năng, tinh hoa trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, nhân lực của ngành văn hóa từ nguồn lực nhà nước, ưu tiên nhân lực sáng tạo và nhân lực quản lý. Các chính sách về nguồn lực nhà nước đầu tư cho văn hóa cũng cần tính đến chính sách tầm quốc gia, chính sách của địa phương, chính sách đặc thù, chính sách thúc đẩy phát triển văn hóa tinh hoa (văn hóa, nghệ thuật) và hỗ trợ phát triển văn hóa quần chúng.

Thứ hai, tiếp tục triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Đầu tư cho phát triển văn hóa đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Nguồn vốn đầu tư từ “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa các năm 2014 - 2015” có tính chất “vốn mồi” đã đem lại hiệu quả. Việc kết thúc Chương trình trong khi những nhu cầu về phát triển văn hóa của địa phương vẫn đặt ra tương đương thậm chí lớn hơn so với giai đoạn trước đã và đang đặt ra nhiều thách thức trong phát triển văn hóa. Vì vậy, rất cần một Chương trình mục tiêu quốc gia có tính chất tổng thể nhằm chấn hưng văn hóa. Trong thời gian tới, nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, mang lại ý nghĩa quan trọng để các bộ, ngành, địa phương cùng ngành văn hóa xem xét, nhìn nhận sâu sắc các vấn đề văn hóa, vai trò, vị trí, về sự cần thiết phải quan tâm, đầu tư cho văn hóa một cách đồng bộ, toàn diện và đặt mức tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho văn hóa theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống chính sách, điều chỉnh xây dựng “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó đặt trọng tâm nâng cao năng lực cạnh tranh, hội nhập của thị trường văn hóa. Về cơ bản, các giải pháp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Cạnh tranh, nhằm tạo hành lang pháp lý có hiệu quả và bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế hoạt động trên thị trường văn hóa Việt Nam. Triển khai nhóm giải pháp hoàn thiện thị trường văn hóa, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa có thế mạnh hội nhập quốc tế. Chú trọng phát triển thị trường văn hóa trên không gian mạng. Tăng cường đầu tư đào tạo nguồn nhân lực và thực hiện các giải pháp linh hoạt về quản lý nhân sự trong cơ chế thị trường và các nhóm giải pháp khác. Hình thành cấu trúc ngành có trọng tâm, trọng điểm, có tầm nhìn.

Thứ tư, xây dựng Bộ chỉ số quốc gia về phát triển văn hóa. Xây dựng bộ chỉ số tổng hợp và triển khai ứng dụng định kỳ để đo lường, đánh giá và giám sát sự đóng góp và tăng trưởng của lĩnh vực văn hóa trong tổng thể phát triển quốc gia; đồng thời, cung cấp các bằng cứ xác thực cho việc xây dựng thể chế, hoạch định chính sách và các chương trình can thiệp. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội về vai trò, vị thế và sự đóng góp của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước và sự cần thiết phải xây dựng Bộ chỉ số quốc gia về phát triển văn hóa.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Từng bước cân đối cơ cấu nguồn lực cán bộ (về tuổi, giới tính, địa bàn công tác ở các tuyến Trung ương, tỉnh/thành phố, quận/huyện và xã/phường/thị trấn) cho phù hợp. Có chính sách phát hiện, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, trọng dụng nhân tài. Ưu đãi văn nghệ sĩ có quá trình cống hiến, có nhiều tác phẩm tốt, ảnh hưởng tích cực trong xã hội. Điều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù. Xây dựng chế độ khen thưởng cả về vật chất và tinh thần phù hợp với những người có thành tích, cống hiến.

Thứ sáu, xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, huy động nguồn lực cho nghiên cứu, đẩy mạnh phát triển công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Cần có các chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu văn hóa, phát triển hạ tầng công nghệ đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê của ngành; hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, nghệ thuật; ứng dụng công nghệ GIS (hệ thống thông tin địa lý) trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học về văn hóa, nghệ thuật với các tổ chức nghiên cứu khoa học nước ngoài; đẩy mạnh công bố quốc tế các công trình khoa học về văn hóa, nghệ thuật. Hoàn thiện các chính sách văn hóa đối ngoại, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa, tăng khả năng phát huy tính chủ động hội nhập,  tạo sự lan tỏa mạnh mẽ của giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới./.

Xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, bảo đảm phục vụ tốt hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận

 Trong những năm gần đây, hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội trên không gian mạng đang có những thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ, với những bước đi mang tính chiến lược. Một số giải pháp nhằm xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, bảo đảm phục vụ tốt hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội như sau:

Thứ nhất, củng cố và tăng cường thông tin, tuyên truyền về hệ tư tưởng chủ đạo, củng cố quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, củng cố nền tảng tư tưởng chung cho sự đoàn kết, xây dựng và phát triển đất nước của toàn Đảng, toàn dân. Hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội cần khơi dậy những mặt tích cực của đời sống xã hội, khuyến khích việc rèn luyện và thực hành các giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội; nắm bắt thời điểm, mức độ và tầm ảnh hưởng của việc thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội trên không gian mạng, để làm cho môi trường không gian mạng được an toàn, lành mạnh, phục vụ sự phát triển của xã hội.

Thứ hai, tăng cường xây dựng các nội dung thông tin lành mạnh, đúng đắn. Đổi mới các đơn vị sản xuất thông tin, nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện công khai trên không gian mạng. Đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên không gian mạng, tuyệt đối không được thờ ơ, cho qua những luồng thông tin, tư tưởng chệch hướng, đi ngược sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, lợi ích của dân tộc; phải kiên quyết đấu tranh chống lại sự tấn công của các tin đồn ác ý, các thông tin bôi nhọ, hạ thấp uy tín cá nhân và lãnh đạo các cấp. Các cơ quan của Đảng, Nhà nước và cán bộ lãnh đạo các cấp phải sử dụng thông thạo internet để tìm hiểu dư luận và triển khai công việc, ứng dụng internet như một nền tảng mới để đảng viên và cán bộ lãnh đạo giao tiếp với quần chúng nhân dân, hiểu nhân dân, gần gũi nhân dân, giải quyết những vấn đề còn khúc mắc, bất cập trong đời sống nhân dân; đồng thời, cần đưa không gian mạng thành một kênh mới để tăng cường giám sát của nhân dân.

Thứ ba, thiết lập và cải tiến hệ thống quản lý mạng toàn diện. Tôn trọng quyền trao đổi ý kiến, bày tỏ ý chí của cư dân mạng, đồng thời với xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh theo pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cư dân mạng được bảo đảm. Nâng cao khả năng quản trị mạng và thiết lập cơ quan quản trị mạng toàn diện với sự tham gia của các chủ thể liên quan, tạo ra một hệ thống mới về đồng quản lý và tương tác tích cực trên tinh thần tuân thủ pháp luật phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; rà soát để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật và các quy định về dịch vụ thông tin mạng, bảo vệ an ninh mạng, quản lý xã hội mạng...; tích hợp chức năng của các cơ quan liên quan trong quản lý nội dung, quản lý ngành và cơ chế liên kết, phối hợp trong phòng, chống tội phạm mạng; xây dựng cơ chế xử lý phù hợp, đủ sức răn đe; thường xuyên “làm sạch internet” để tạo ra một môi trường mạng an toàn và văn minh.

Thứ tư, thúc đẩy tích hợp truyền thông, thông tin phát triển theo chiều sâu. Tích hợp, tối ưu hóa quy trình và tái cấu trúc nền tảng thông tin để thực hiện tích hợp có hiệu quả các nguồn lực truyền thông với các yếu tố sản xuất khác nhau. Đồng thời, thực hiện tích hợp và kết hợp các yếu tố như nội dung thông tin, ứng dụng công nghệ, phương pháp quản lý nhằm thúc đẩy sự thay đổi về chất, mở rộng hiệu quả tích hợp, tạo ra một nhóm phương tiện truyền thông chính thống mới có sức ảnh hưởng và khả năng cạnh tranh mạnh mẽ để tiến hành thông tin và định hướng dư luận xã hội trên không gian mạng hiệu quả. Tăng cường thúc đẩy sáng tạo, đổi mới các công nghệ cốt lõi quan trọng để tạo ra những đột phá trong công nghệ thông tin, truyền thông;  ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong thu thập tin tức, sản xuất, phân phối, tiếp nhận và phản hồi thông tin. Phối hợp giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phương tiện truyền thông truyền thống và phương tiện truyền thông mới, phương tiện truyền thông trung ương và phương tiện truyền thông địa phương, phương tiện truyền thông đại chúng và phương tiện truyền thông chuyên biệt. Thiết lập hệ thống truyền thông đa phương tiện với các nguồn lực chuyên sâu, cấu trúc hợp lý, phối hợp hiệu quả.

Để thực hiện có hiệu quả những giải pháp trên, đòi hỏi nhận thức sâu sắc về việc tạo dựng một không gian mạng lành mạnh, an toàn là ưu tiên hàng đầu hiện nay. Cần phải luôn bám sát đường lối chính trị của Đảng, định hướng dư luận xã hội và giữ vững những giá trị tốt đẹp của xã hội; đưa không gian mạng thành nơi giao tiếp, thông tin với quần chúng, hướng dẫn quần chúng, phục vụ quần chúng; tập trung chiếm lĩnh không gian mạng bằng các lý luận khoa học, văn hóa tiên tiến và các giá trị truyền thống tốt đẹp; quản lý mạng văn minh, sử dụng và truy cập internet một cách có hiểu biết; xây dựng các “hàng rào xanh” và “rào chắn an ninh” vững chắc nhằm tạo ra một không gian mạng lành mạnh, an toàn, phục vụ lợi ích của nhân dân và sự phát triển toàn diện của đất nước.

Hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội trên không gian mạng hiện nay

 Không gian mạng đang ảnh hưởng ngày càng lớn đối với hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội. Việc bảo đảm cho không gian mạng trở nên lành mạnh, an toàn đã trở thành yêu cầu cấp bách hiện nay. Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu với sự ra đời của vô số mạng xã hội, hệ sinh thái của thông tin và dư luận xã hội đều đang có những thay đổi sâu sắc, thì các văn bản quy phạm pháp luật, quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động diễn ra trên không gian mạng vẫn còn những nội dung chưa theo kịp. Vì vậy, cần chủ động nắm bắt “mặt trận” tư tưởng và định hướng dư luận xã hội càng sớm càng tốt; phải xác định hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội trên không gian mạng là nhiệm vụ trọng tâm, cần được ưu tiên trong công tác tư tưởng của Đảng.

Trước hết, hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội trên không gian mạng phải bảo đảm lập trường rõ ràng theo đường lối chính trị, định hướng tuyên truyền và định hướng giá trị đúng đắn; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; lấy trọng tâm, trọng điểm là phục vụ sự phát triển của đất nước, gìn giữ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân; đồng thời, tăng cường đối thoại nhằm bóc trần và phản bác những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch với âm mưu chống phá đất nước ta.

Cụ thể, hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận trên không gian mạng cần đáp ứng các nội dung sau:

Một là, tuân thủ sự lãnh đạo đúng đắn, xuyên suốt của Đảng đối với công tác tư tưởng nói chung và hoạt động thông tin, tuyên truyền nói riêng, nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Dù bối cảnh truyền thông phát triển và có thay đổi như thế nào thì vai trò lãnh đạo cũng như các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với công tác thông tin, tuyên truyền cũng không thay đổi. Đặc biệt, về chính trị, phải đặt đường lối chính trị của Đảng lên hàng đầu, kiên định quan điểm báo chí - truyền thông của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định nguyên tắc tích cực tuyên truyền, định hướng đối với dư luận xã hội, thống nhất “ý Đảng” với “lòng dân”, đưa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng thành hành động có ý thức của nhân dân; kịp thời phản ánh thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội đất nước; đi sâu và làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân.

Hai là, tuân thủ định hướng đúng đắn của Đảng đối với công tác dư luận xã hội. Lịch sử và thực tiễn cho thấy, không được đánh giá thấp sức mạnh của dư luận xã hội, nhất là trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Dư luận xã hội trên không gian mạng tốt có thể trở thành “mảnh đất” nuôi dưỡng những tư tưởng tốt đẹp, là “lực đẩy” của đạo đức xã hội, là “chất keo” gắn kết cộng đồng, là “bàn đạp” của sự phát triển. Ở chiều ngược lại, nó có thể là “con dao sắc” sẵn sàng “giết chết” đời sống tinh thần của người dân và có thể biến thành “chất xúc tác” cho tình trạng bất ổn xã hội, thậm chí có thể biến thành nơi “tập hợp lực lượng” cho những cuộc biểu tình, bạo loạn, lật đổ, thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”... của các thế lực thù địch. Do vậy, công tác dư luận xã hội trên không gian mạng cần tuyệt đối tuân thủ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc và duy trì sự hài hòa, ổn định và phát triển của xã hội.

Ba là, kiên trì giữ vững mục tiêu đoàn kết, ổn định chính trị - xã hội; đồng thời, khuyến khích sự tham gia tích cực của quần chúng trong hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội theo chủ trương, đường lối của Đảng. Lấy việc đoàn kết và đồng thuận xã hội, ổn định chính trị - xã hội làm mục tiêu chính; đồng thời, tập trung phản ánh bản chất tích cực và lành mạnh của xã hội, thể hiện một cách khách quan bức tranh toàn cảnh về sự phát triển và tiến bộ trên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội đất nước. Một mặt, phản ánh mặt tích cực của xã hội; mặt khác, vẫn phải đối diện với những vấn đề còn hạn chế, bất cập trong đời sống xã hội, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, giải quyết những khúc mắc, bức xúc của người dân một cách kịp thời và định hướng dư luận lành mạnh, tích cực cho người dân.

Bốn là, coi trọng việc đổi mới hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội. Cần thích ứng với tình hình mới, nhất là thích ứng với sự tiến bộ không ngừng của quá trình thông tin hóa xã hội và công nghệ thông tin tích hợp trên không gian mạng; đẩy mạnh phát triển các loại phương tiện truyền thông, bao gồm các phương tiện truyền thông truyền thống và các phương tiện truyền thông mới; tận dụng tối đa các ứng dụng công nghệ mới để đổi mới phương thức thông tin, truyền thông cũng như hoạt động của báo chí và chiếm lĩnh những đỉnh cao của truyền thông thông tin. 

Trên đây là những yêu cầu, mục tiêu cần hướng tới trong việc thông tin, truyền thông, báo chí trên môi trường không gian mạng, nhằm xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, bảo đảm phục vụ tốt hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội.

Không gian mạng với đời sống văn hóa, tư tưởng

 Không gian mạng là một sản phẩm của công nghệ thông tin và các ứng dụng của internet, đang phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ; công nghệ mạng đã tích hợp vào đời sống tinh thần và vật chất của xã hội, không tách rời sản xuất xã hội, làm thay đổi sâu sắc mô hình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh toàn cầu. Không gian mạng mang lại nhiều cơ hội phát triển cũng như những thách thức cho mọi lĩnh vực đời sống xã hội của các quốc gia. Tại Việt Nam, các hoạt động thông tin, tuyên truyền và định hướng dư luận xã hội được xem là một trong những lĩnh vực đầu tiên chịu sự tác động của không gian mạng. 

Không gian mạng đối có những vai trò gắn kết với đời sống văn hóa, tư tưởng, thể hiện trên những vấn đề sau:

Thứ nhất, không gian mạng có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng hệ tư tưởng chủ đạo của đất nước.  Thống kê cho thấy, không gian mạng đang được phần lớn người dân Việt Nam yêu thích và thực hiện các hoạt động giao tiếp xã hội. Không gian mạng cũng là “không gian dư luận” khổng lồ mà ở đó thông tin là sợi dây vô hình liên kết tất cả các thành viên tham gia. Đó là một “ngôi nhà” chung, một “sân chơi” chung, một cộng đồng chung, đồng thời cũng là một không gian riêng mà ở đó, yếu tố cá nhân được thể hiện. Không gian mạng làm cho tính chất nguy hiểm tiềm tàng cũng như phức tạp trên mặt trận tư tưởng được thể hiện sâu sắc và diễn biến ngày càng khó lường.

Đối với mỗi quốc gia, nắm vững đời sống tư tưởng trên không gian mạng là một nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ chủ quyền và sức mạnh chính trị của đất nước. Ở nước ta hiện nay, việc xác lập hệ tư tưởng chủ đạo là một nhiệm vụ to lớn, nặng nề mà không gian mạng, với lượng người tham gia đông đảo, chiếm phần lớn dân số của cả nước, là địa chỉ cần ưu tiên triển khai thực hiện. Cần biến không gian mạng thành “mảnh đất màu mỡ” để nuôi dưỡng các “hạt giống” tư tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa nhân văn, tiến bộ, hòa bình; thành “mảnh đất vững chắc” để xây đắp, củng cố nền tảng tư tưởng do chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nòng cốt; thành “khu vườn tươi tốt” để những “bông hoa” tư tưởng sáng tạo khoe sắc và phụng sự cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với vị thế chiếm lĩnh như hiện nay, không gian mạng cần được sử dụng, tận dụng và phát huy một cách mạnh mẽ trong xây dựng hệ tư tưởng chủ đạo của đất nước, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng.

Thứ hai, không gian mạng góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa, tư tưởng. Việc trao đổi và hội nhập các luồng tư tưởng và các giá trị văn hóa đa dạng vừa làm phong phú thêm đời sống tư tưởng, văn hóa, mở rộng tầm nhìn, vừa thúc đẩy việc tu dưỡng nhân cách và nâng cao trí tuệ con người. Không gian mạng là một nền tảng lớn cho thông tin và dư luận xã hội, trong đó hàng tỷ cư dân mạng được cung cấp thông tin và trao đổi thông tin. Điều này có tác động quan trọng đến cách tìm kiếm tri thức, cách suy nghĩ, cách nhìn nhận về cuộc sống và hoạt động xã hội của họ, đặc biệt là thế hệ trẻ. Do vậy, để xây dựng một quốc gia có không gian mạng thật sự lành mạnh, tích cực, an toàn và phát triển, chúng ta phải có một nền tảng tư tưởng vững chắc, một nền văn hóa đầy sức sống. Chỉ khi đó, mới đủ “sức đề kháng” và phản bác lại các thông tin xuyên tạc, sai trái, hoặc những luồng tư tưởng lệch lạc, phản động; những biểu hiện suy đồi về văn hóa đang được lan truyền, phổ biến trên không gian mạng, gây hoang mang và làm mất lòng tin trong quần chúng nhân dân, làm suy yếu nền văn hóa và hệ tư tưởng chính thống, làm thay đổi các giá trị truyền thống văn hóa, tín ngưỡng, lịch sử của dân tộc, đất nước.

Thứ ba, không gian mạng liên quan đến lợi ích của nhân dân và sự ổn định, phát triển của xã hội. Không gian mạng là nền tảng có tác dụng to lớn, góp phần hỗ trợ và nâng cấp, mở rộng lượng thông tin cần xử lý và lưu trữ, làm tăng tốc độ xử lý, trao đổi thông tin, nâng cao khả năng truy cập đến các nguồn tài nguyên thông tin. Xét về mặt quản lý nhà nước, không gian mạng giúp nâng cao tính linh hoạt trong hoạt động quản lý nhà nước, nâng cao khả năng cơ động của hệ thống bảo đảm cốt yếu cho quốc gia. Tuy nhiên, đi kèm với những ưu thế đó, không gian mạng luôn tiềm ẩn các nguy cơ vô cùng to lớn, đó là: 1- Nguy cơ phá hoại chức năng quản lý nhà nước; 2- Nguy cơ phá vỡ tổ chức và vô hiệu hóa các hệ thống bảo đảm cốt yếu của quốc gia; 3- Nguy cơ định hướng lại ý thức xã hội. 

Thứ tư, không gian mạng đi tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Nhiều tình huống mới và vấn đề mới trong lĩnh vực tư tưởng nảy sinh và gia tăng trên không gian mạng; nhiều quan điểm sai trái, thù địch, tư tưởng phản động, cực đoan cũng được tạo ra và “lên men” trong môi trường không gian này. Ở Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch ở trong nước và nước ngoài đang ra sức sử dụng không gian mạng để bôi nhọ hình ảnh và làm suy giảm vị thế đất nước cũng như hệ thống chính trị nước ta. Nhiều cuộc tấn công mạng và những hành vi gây rối, phá hoại an ninh truyền thống và phi truyền thống trên không gian mạng ngày càng gia tăng với những thủ đoạn vô cùng tinh vi, nguy hiểm, gây thiệt hại nghiêm trọng.

Không gian mạng đã trở thành “vùng lãnh thổ đặc biệt” thứ năm thuộc lãnh thổ quốc gia bên cạnh đất liền, hải đảo, vùng biển, vùng trời của một quốc gia. Có thể nói, nếu không bảo đảm được an ninh không gian mạng thì không thể có an ninh quốc gia; sự an toàn của không gian mạng liên quan trực tiếp đến an ninh tư tưởng và an ninh chính trị của đất nước. Do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia từ sớm, từ xa, việc bảo đảm an ninh không gian mạng cần được ưu tiên quan tâm. Đặc biệt, hoạt động thông tin, tuyên truyền, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phản động, bóp méo sự thật, chống phá Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch trên không gian mạng phải được coi là trọng tâm tiên phong trong cuộc đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay.