Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 20 THÁNG 01 NĂM 1947!

         "Khi thắng không kiêu, khi lui không nản! Các anh em quyết kháng chiến cho đến thắng lợi"!
     Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài "Gửi các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, tự vệ và dân quân toàn quốc", được viết vào tháng một năm 1947, trong thời điểm thực dân Pháp vừa phong tỏa, lùng sục, vừa đẩy mạnh sử dụng lực lượng Việt gian chỉ điểm để đánh úp lực lượng vũ trang ở các địa phương. Song các lực lượng Vệ quốc đoàn, tự vệ và dân quân trong cả nước đã không ngại hiểm nguy, gian lao, ăn gió nằm sương, máu trôi, lửa cháy, mưa đạn rừng bom; thi đua xưng phong hãm trận, giết giặc lập công, "càng đánh càng mạnh, kinh nghiệm càng nhiều".
     Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ vẻ vang và thành tích oanh liệt của các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc trong năm đầu chống thực dân Pháp xâm lược; Người chi rõ: "Khi thắng không kiêu, khi lui không nản! Các anh em quyết kháng chiến cho đến thắng lợi. Mặc kệ tàu bay, thiết giáp, các anh cứ tiến lên, cứ xông vào! Anh dũng thay! Lòng quyết thắng của anh em. Các chiến sĩ là đàn con anh hùng của Tổ quốc. Các chiến sĩ quyết đem xương máu đế giữ vững non nước Lạc Hồng!"
     Lời của Hồ Chí Minh tạo khí thế hào hùng, tinh thần lạc quan, tin tưởng vào cuộc kháng chiến sẻ giành thắng lợi. Dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng, quân và dân ta đã tổ chức nhiều trận chiến đấu anh dũng "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", kìm chân và tiêu hao lực lượng địch; đồng thời, tập trung phát triển chiến tranh du kích rộng khắp, với lối đánh tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch, thực hiện phá hoại đường sá, cầu và nhà kiên cố, làm vườn không nhà trống, nhằm cản bước tiến của địch và duy trì sức chiến đấu lâu dài của quân và dân ta; tại điều kiện tổng di chuyển, ổn định nơi ở và làm việc của cơ quan lãnh đạo kháng chiến lên An toàn khu ở Việt Bắc; làm cơ sở xây dựng lực lượng vũ trang hùng hậu gồm ba thứ quân (quân chủ lực, bộ đội địa phương, và dân quân du kích), động viên toàn dân tham gia cuộc kháng chiến thắng lợi cuối cùng.
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, tự vệ và dân quân toàn quốc năm ấy, đã ghi sâu vào tiềm thức của mỗi cán bộ, chiến sĩ và đã trở thành một trong những phẩm chất truyền thống tiêu biểu được kết thành 10 Lời thề danh dự của quân nhân; là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên thôi thúc các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ vững, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, kiên cường, bất khuất, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hơn 70 năm đã trôi qua, nhưng phẩm chất tiêu biểu "...thắng không kiêu, bại không nản...” của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được tỏa sáng trong mọi hoạt động chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học... và sẽ vang vọng mãi mãi cho đến mai sau./.
Yêu nước ST.

Coi chừng bóc lịch vì thói ưa làm "thẩm phán" mạng xã hội

 

"Tay nhanh hơn não" là câu để nói về những người "like dạo" trên mạng xã hội, hoặc chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng, thậm chí bình luận, chửi bới một cá nhân, tổ chức mà bản thân không biết được thực hư.


Ngày 14.1, Cơ quan điều tra hình sự Quân khu 7 công bố quyết định khởi tố vụ án hình sự các đối tượng đưa thông tin sai sự thật qua việc phát tán clip cho rằng "sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TPHCM (HUFLIT) đang học giáo dục quốc phòng - an ninh tại Trường Quân sự Quân khu 7 nhảy lầu tự tử do bị xâm hại".

Cơ quan điều tra xác định có dấu hiệu tội phạm “Tội đưa trái phép thông tin mạng máy tính” quy định tại khoản 1, Điều 288 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 36; Điều 143; khoản 1 Điều 153; Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự - quyết định khởi tố vụ án hình sự "Tội đưa tin trái phép thông tin mạng máy tính".

Người quay và đưa clip có thể vô tình, nhưng cắt ghép, chỉnh sửa vì mục đích xấu là chuyện khác.

Về vụ phát tán clip nêu trên, cơ quan chức năng đã xác định được các đối tượng trực tiếp chỉnh sửa, đăng tải, phát tán các clip chưa được kiểm chứng trên các nền tảng mạng xã hội.

Ngay sau khi clip được chỉnh sửa có chủ ý lan truyền, nhiều người xem và tin ngay đó là sự thực, không cần kiểm chứng, nhảy vào like, tiếp tục phát tán, có người làm "thẩm phán" kết luận hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức liên quan, bất chấp sự thật khách quan.

Đã có nhiều vụ việc cá nhân, tổ chức bị dựng chuyện trên mạng xã hội, lập tức vô số "thẩm phán" xuất hiện chửi bới, luận tội, kết tội. Nạn nhân phải chịu những búa rìu dư luận, không biết kêu ai, không ai bảo vệ.

Có nhiều vụ việc, nạn nhân là doanh nghiệp, sản phẩm của họ bị "vu oan giá họa", mất khách hàng, thậm chí bị tẩy chay, thiệt hại rất lớn. Ngay cả khi minh oan được rồi thì cũng không thể vực dậy nổi vì dư luận đã nhấn chìm thương hiệu. Không ai bảo vệ, không ai chịu trách nhiệm, không ai bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp bị tấn công oan khuất trên mạng xã hội.

Cho nên, đã đến lúc phải bảo vệ công dân, cá nhân, tổ chức trước những rủi ro trên mạng xã hội. Việt Nam có đủ hệ thống luật pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, không thể để cho bất cứ ai xúc phạm danh dự, nhân phẩm, ngay cả trên các nền tảng mạng xã hội.

Cũng đã đến lúc, cộng đồng cần nhận thức, phải chấp hành các quy định của pháp luật khi tham gia mạng xã hội. Đó không chỉ là tự bảo vệ mình mà là thái độ ứng xử văn minh, nhân văn của mỗi công dân.

Làm "thẩm phán" mạng xã hội có ngày trở thành bị cáo thiệt, không ảo đâu.

Cơ sở khoa học-thực tiễn để bác bỏ luận điệu “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng”

 

Thời gian qua, trên một số diễn đàn, mạng xã hội và trang tin điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí nước ngoài, có ý kiến vẫn cố tình cho rằng, “tương lai thế giới này không có chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội là hoang tưởng”, "chủ nghĩa xã hội-đường đi không đến đích", “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng”.

Những ý kiến trên mang hàm ý hoài nghi về tính hiện thực của lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nhân loại đang hướng tới và có dụng ý phủ nhận con đường XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đang xây dựng và đạt được nhiều thành tựu to lớn.

Xu hướng xã hội hóa, dân chủ hóa là tất yếu

Theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, CNXH trước hết và tiêu biểu là sự vận động của đời sống hiện thực theo xu hướng xã hội hóa. Nó đối lập với xu hướng tư nhân hóa của xã hội hiện tồn.

Vậy, biểu hiện của “xu hướng xã hội hóa trên thực tế” là như thế nào?  

Đó là xu hướng ngày càng tăng lên các mối liên kết xã hội trong sản xuất như hợp tác, liên kết, phối hợp, phân công trong sản xuất hoặc dịch vụ. Thực tiễn sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội hóa thì cách tổ chức quản lý xã hội cũng buộc ngày càng phải dân chủ hóa. Theo C.Mác, đây là những xu hướng hiện thực cơ bản cho sự ra đời của CNXH. Lý tưởng về xây dựng một xã hội trên các nguyên tắc: Công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... cũng được xây dựng và hiện thực hóa từ những xu hướng này.      

Thế nhưng, phải đến thế kỷ 19 thì những nhân tố cho việc định hình xu hướng xã hội hóa trên thực tiễn mới rõ ràng. Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa hoặc các cuộc cách mạng công nghiệp là biểu hiện thực tế tiêu biểu nhất cho xu hướng này.

Cùng với sự trưởng thành của phong trào công nhân, sự hình thành các đảng cộng sản, cuộc đấu tranh cho lý tưởng công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... đã có thêm sự dẫn đường của lý luận CNXH khoa học. Cái tất yếu và cái tự giác hòa quyện với nhau cùng nâng tầm nhận thức và hiệu quả hành động cho nhân loại. 

Tính hiện thực của CNXH thể hiện ở nhiều cấp độ

Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra các cấp độ hiện thực hóa của CNXH như sau:  

Cấp độ thứ nhất, tính hiện thực của CNXH được thể hiện qua những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa ngay trong thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản. Điển hình là sự phổ biến phương thức sản xuất công nghiệp, sự tăng lên các mối liên kết của nhân loại trong sản xuất, dịch vụ và sự định hình hệ thống pháp luật-công pháp quốc tế để cùng nhau giải quyết một cách công bằng, bình đẳng những vấn đề của phát triển hiện đại.      

Cấp độ thứ hai, tính hiện thực của CNXH thể hiện ở những phong trào, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... Thực chất là những xu hướng vận động, những cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội với các mục tiêu hòa bình, độc lập, cùng phát triển trong dân chủ, công bằng và bền vững.      

Cấp độ thứ ba là thông qua các cuộc cách mạng xã hội, xác lập chế độ dân chủ XHCN, thông qua đó xác lập quyền làm chủ của nhân dân, chế độ kinh tế XHCN trên cơ sở công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động... Đặc trưng chính trị của chế độ XHCN là giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thông qua vai trò cầm quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua nhà nước XHCN.

Cấp độ thứ tư là sự xác lập trên thực tế hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa-chủ nghĩa cộng sản. Một xã hội mới phát triển ở trình độ rất cao cả về sản xuất dịch vụ và tổ chức quản lý, được xây dựng trên nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”, con người được phát triển tự do, xã hội không còn giai cấp, không còn nhà nước, môi trường thiên nhiên được bảo vệ bền vững; hòa bình và hữu nghị trở thành quan hệ phổ biến và tất định trong quan hệ quốc tế. Loài người trên trái đất này bước vào một giai đoạn phát triển với trình độ mới: Xã hội cộng sản văn minh.

Phản ánh các cấp độ phát triển của CNXH hiện thực là lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Hiện thực hóa lý luận này tiêu biểu nhất là quá trình xây dựng CNXH hiện thực trên thế giới mà khởi đầu là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và các xu hướng đi lên CNXH hơn 100 năm qua. Trải qua khá nhiều thăng trầm, tính hiện thực của CNXH vẫn được thể hiện trên nhiều phương diện và cấp độ.                 

CNXH hiện diện ở nhiều quốc gia là minh chứng khách quan

Ở cấp độ là những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp đang nối tiếp nhu cầu thúc đẩy xu hướng này, khiến cho sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng ngày càng gắn bó. Cùng với đó là các biểu hiện mới của xã hội hóa hiện đại, như: Toàn cầu hóa, phân công và hợp tác lao động quốc tế, sự hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất, kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng. Các liên kết hợp tác, đồng thuận giữa nhiều nước trong quản trị để giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Tất cả xác định rằng, xu thế xã hội hóa hiện nay đang rất mạnh mẽ.

Ở cấp độ là những xu hướng, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... mà biểu hiện cụ thể là tìm tới một mô hình tổ chức xã hội khác với chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phủ định kiểu tổ chức xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”-như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

 Hiện nay, mô hình phát triển này đang là thực tiễn ở nhiều nước Bắc Âu và một số quốc gia phát triển khác. Ở những nước này, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuy vẫn còn là chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng khá nhiều giá trị XHCN, nhân tố XHCN đã và đang được tích lũy. Giá trị xã hội, lợi ích xã hội, mục tiêu xã hội, ý nghĩa xã hội của các hoạt động rất được xem trọng và được coi như những nhân tố hữu cơ của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Những thành quả ấy trước hết là kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân nhưng mặt khác, cũng cần thấy rằng, chính quy luật của cuộc sống-ở đây là xu thế xã hội hóa, đã thúc đẩy những tiến bộ xã hội ấy.

Ở cấp độ là chế độ XHCN, sau cuộc khủng hoảng của một mô hình xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô (1989-1991), nhiều nước vẫn giữ vững chế độ XHCN, tiến hành cải cách đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. CNXH hiện thực đang là thực tế ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba... Ở những quốc gia này, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã và đang gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhà nước XHCN, quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân đều là những thực tế không thể phủ nhận. Đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH trong cải cách đổi mới ở các nước XHCN hiện nay không chỉ xác nhận xu thế đi lên CNXH ở cấp độ quốc gia mà còn cống hiến những con đường, biện pháp mới mẻ để xây dựng CNXH. Những cống hiến đó đã được các đảng cộng sản và đảng công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới thừa nhận như những giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh, xu thế thời đại ngày nay.

Những “mảnh ghép” tốt đẹp đang định hình xã hội tương lai

Điều khá thú vị là, một số “mảnh ghép” của xã hội tương lai-chủ nghĩa cộng sản, cũng đang dần xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hiện nay. Chế độ tự quản của các cộng đồng dân cư, cái mà C.Mác cho rằng sẽ thay thế cho nhà nước trong xã hội cộng sản, hiện nay cũng đã xuất hiện ở nhiều nước trong một số lĩnh vực quản trị xã hội. Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh thế thế giới và cũng là tác giả của khái niệm “cách mạng công nghiệp 4.0” nhận định rằng: Hiện nay chúng ta đã có chủ nghĩa cộng sản về thông tin! Hàm ý của ông phản ánh một thực tế là hiện nay, nếu bạn có phương tiện nối mạng, nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu, chỉ cần tra một từ khóa vào công cụ tìm kiếm, sẽ có ngay hàng triệu thông tin và gần như hoàn toàn miễn phí! Ngay ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều hành động thiện nguyện tự giác cũng phản ánh lối tư duy và hành động của con người trong xã hội tương lai: “Bánh mì miễn phí”, “nước uống miễn phí”, “dịch vụ sửa xe miễn phí”...

Chúng ta có thể coi những ví dụ trên là những “mảnh ghép” của hiện thực đang định hình cho xã hội tương lai-xã hội cộng sản chủ nghĩa.           

Như vậy, với một cách nhìn khoa học, chúng ta có thể khẳng định CNXH vẫn đang là một thực tế với nhiều cấp độ trên thế giới hiện nay. Thực tế đó đang biểu hiện rất sinh động, có sức hấp dẫn mạnh mẽ với nhân loại. Thế giới đang đi lên CNXH với nhiều con đường, cách thức khác nhau. Như lời C.Mác và Ph.Ăng-ghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”(1).    

PGS, TS NGUYỄN AN NINH

(Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.51

Ông Tân giờ đã nhận ra...

 

Ông Tân có hai người con trai đi lao động, định cư ở nước ngoài và một người con gái lấy chồng xa. Cách đây chừng nửa tháng, hai anh con trai về chơi trong kỳ nghỉ Tết Dương lịch.

Ông hào hứng tuyên bố với hàng xóm rằng, nhà mình là cấp tiến nên chỉ ăn Tết tây. Lúc bấy giờ, ông gọi cho con gái cùng chồng con về ăn Tết thì cô con gái bảo chỉ được nghỉ hai ngày nên không về. Ông Tân cho là con gái không nghe lời cha nên đã trách mắng, giận dỗi.

Giờ càng cận Tết Nguyên đán Quý Mão, thấy các gia đình sốt sắng mua sắm, tấp nập cháu con, ông Tân thấy buồn. Ngồi phụ gói bánh chưng với nhà hàng xóm, ông đem chuyện ra tâm sự. Người bạn già ôn tồn:

- Tôi đã nói với ông rồi, người Việt là phải ăn Tết cổ truyền của dân tộc. Tôi biết gia đình ông con cháu ở xa, song không thể bỏ Tết truyền thống được ông ạ. Đây mới là dịp để đoàn tụ gia đình.

- Giờ ông nói, tôi thấy ân hận quá. Tôi đọc trên mạng, người ta bảo ăn Tết Dương lịch cho gọn. Với cả đúng dịp hai cháu nó ở nước ngoài về nên tôi định kết hợp làm một lần. Bấy giờ, tôi gọi con Thủy Tiên về ăn Tết tây, con bé cũng nói như ông mà tôi không nghe, còn mắng nó. Giờ tôi không biết phải làm thế nào.

- Hóa ra, do ông nghe luận điệu của những kẻ xa rời truyền thống, thậm chí âm mưu của bọn phản động nhằm xóa bỏ văn hóa dân tộc ta, thời gian qua nó thường xúi giục trên mạng xã hội mà ông sinh ra ý định bỏ Tết ta à?

- Thì tôi cũng tưởng thế là văn minh, là theo kịp thời đại. Với lại cả hai con trai tôi đang ở nước ngoài nó cũng ủng hộ nên tôi mới nghe theo ông ạ.

- Ông ơi, đã là người Việt thì phải trân trọng Tết cổ truyền. Đó cũng chính là giữ gìn văn hóa dân tộc. Tôi nghĩ, ông cũng nên nói với hai anh con trai như vậy, chứ không thể mang văn hóa tây về mà “đè” văn hóa ta được. Hiện nay, có những đối tượng xấu đang xúi giục thanh niên không ăn Tết cổ truyền, nếu được nghỉ Tết Nguyên đán thì đi chơi với bạn bè, ra nước ngoài du lịch. Âm mưu của chúng là muốn lớp trẻ dần bỏ bê truyền thống gia đình, xa rời văn hóa dân tộc, sính ngoại, xa hơn là rũ bỏ trách nhiệm với gia đình, quê hương, đất nước đấy ông ạ. Chúng ta trưởng thành, sống có trách nhiệm với gia đình, quê hương, đất nước, gắn kết với nhau bao năm qua cũng là từ truyền thống văn hóa dân tộc mà điển hình nhất là Tết cổ truyền, dịp để sum vầy, báo hiếu, tri ân, tạo động lực cho mọi người phấn đấu. Ông thấy có đúng không?

Nghe người bạn già phân tích, ông Tân càng hối hận. Giá mà ông không vội tin vào mạng xã hội, giá mà ông suy nghĩ sâu sắc, kín kẽ hơn thì bây giờ gia đình ông cũng đang gói bánh chưng, sum vầy đón Tết... Nghĩ đến đây, ông rưng rưng và bấm điện thoại gọi cho con gái...    

TRẦN ANH

Hiệp định Paris - dấu mốc quan trọng đi tới hòa bình, thống nhất đất nước

(ĐCSVN) - Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam - là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên, toàn diện nhất, đầy đủ nhất ghi nhận các quyền cơ bản của Nhân dân Việt Nam; là sự công nhận chính thức của quốc tế đối với nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Tìm hiểu về sự kiện ký kết Hiệp định Paris cách đây 50 năm - một dấu mốc quan trọng trên con đường đi tới hòa bình, thống nhất đất nước càng cho ta thấy rõ hơn ý nghĩa của sự kiện lịch sử này.

Ngược dòng lịch sử, thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam Tết Mậu Thân 1968 đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, là “một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ”. Chính trong tình hình đó, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn đã tuyên bố: Hy vọng đi tới hội nghị hòa bình với tinh thần “tìm kiếm một nền hòa bình trong danh dự”. Ngày 3/4/1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ. Tuy nhiên phải mất 30 ngày sau, hai bên mới thỏa thuận, thống nhất được địa điểm họp ở Paris theo sáng kiến của ta. Tiếp theo là hành trình gần 5 năm để đi đến kết quả Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

1. Hội nghị Paris có thời gian đàm phán dài nhất trên thế giới, 4 năm 8 tháng 16 ngày - bắt đầu ngày 13/5/1968 và Hiệp định được ký ngày 27/01/1973. Quá trình Hội nghị gồm 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1000 cuộc phỏng vấn và nhiều phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp thế giới. Hiệp định có 9 chương 23 điều, gồm 4 loại điều khoản chính: (i) Các điều khoản chính trị ghi các cam kết của Hoa Kỳ: tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, tôn trọng quyền tự quyết của Nhân dân miền Nam Việt Nam; Hoa Kỳ không tiếp tục dính líu quân sự, không can thiệp công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. (ii) Các điều khoản về quân sự: ngừng bắn, Hoa Kỳ rút hết quân trong 60 ngày; chấm dứt bắn phá miền Bắc; nhận tháo gỡ mìn do Hoa Kỳ đã rải ở miền Bắc. (iii) Các điều khoản về nội bộ miền Nam: nguyên tắc hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do, thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần để tổ chức tổng tuyển cử. (iv) Các điều khoản về thống nhất Việt Nam, về Lào và Campuchia, về cơ cấu thi hành Hiệp định Ủy ban liên hợp và Ủy ban quốc tế; về Hội nghị quốc tế xác nhận Hiệp định và điều khoản về việc Hoa Kỳ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hòa. 

2. Quá trình đàm phán Hiệp định Paris cho thấy diễn biến đấu trí giằng co, thể hiện sự bản lĩnh, trí tuệ và sách lược đối ngoại mềm dẻo của Đảng trên nguyên tắc vì lợi ích cao nhất của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày 13/5/1968, Hội nghị Paris giữa phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, phố Kléber. Trưởng đoàn VNDCCH là ông Xuân Thủy. Lập trường của Mỹ thời kỳ đầu đàm phán là: cần có sự tham gia của phái đoàn Chính phủ Sài Gòn; Bắc Việt Nam không vi phạm khu phi quân sự, không bắn pháo hay tên lửa vào các thành phố lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Phía VNDCCH phản đối những đòi hỏi đó và đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tham gia hội đàm. Đến ngày 25/01/1969, lần đầu tiên diễn ra đàm phán giữa bốn bên tham chiến để giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam; Hội nghị bốn bên gồm đại diện của VNDCCH, MTDTGPMNVN, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa long trọng khai mạc. Trưởng đoàn MTDTGPMNVN là ông Trần Bửu Kiếm. Ngày 08/5/1969, đoàn MTDTGPMNVN đưa ra tuyên bố của Mặt trận về “Những nguyên tắc và nội dung chủ yếu của giải pháp toàn bộ về vấn đề miền Nam Việt Nam, góp phần lập lại hòa bình ở Việt Nam”, sau đó thường gọi tắt là “Giải pháp toàn bộ 10 điểm”. Bản đề nghị này nêu quan điểm tổng quát của Việt Nam về tất cả các mặt của một giải pháp cho cuộc chiến tranh, nhưng tập trung vào hai nội dung chính: Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam vô điều kiện; công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam do nhân dân miền Nam Việt Nam tự giải quyết, lập Chính phủ liên hiệp lâm thời để tổ chức Tổng Tuyển cử tự do. Đây là lần đầu tiên một bên tham gia đàm phán đưa ra một giải pháp toàn diện, tổng thể về vấn đề Việt Nam.

Ngày 12/6/1969, đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) tham dự phiên họp đầu tiên tại Hội nghị với tư cách là những người đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời, thay thế cho Mặt trận. Bộ trưởng Ngoại giao CPCMLTCHMNVN Nguyễn Thị Bình là Trưởng đoàn. Trong thời gian này, nhiệm vụ chủ yếu của đấu tranh ngoại giao là thúc đẩy Mỹ xuống thang, đơn phương rút quân Mỹ. Ngay trong tháng 6/1969, Tổng thống Mỹ Nixon công bố đợt rút quân đầu tiên. Tuy nhiên, tại cuộc gặp riêng với Trưởng đoàn đàm phán VNDCCH Xuân Thủy ngày 31/5/1971, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Kissinger đưa ra đề nghị “cuối cùng” 7 điểm, đòi tách riêng vấn đề quân sự và vấn đề chính trị, mặc dù trước đây Mỹ định bàn cả hai. Để tăng sức ép với Mỹ và hỗ trợ đấu tranh quân sự và chính trị, ngày 26/6/1971, trong cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ - Kissinger, phía Việt Nam đưa ra “Sáng kiến hòa bình 9 điểm” tập trung vào việc đòi Mỹ thay Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 01/7/1971, trong phiên họp thứ 119 của Hội nghị bốn bên, bà Nguyễn Thị Bình trình bày “Sáng kiến mới gồm 7 điểm, nhằm giải quyết hòa bình vấn đề miền Nam Việt Nam”, đây là đề nghị quan trọng thứ hai (sau đề nghị 10 điểm tháng 5/1969) được đưa ra tại bàn đàm phán; được dư luận rộng rãi đồng tình và chính giới Mỹ quan tâm. Sáng kiến “9 điểm” và “7 điểm” gần như có cùng một nội dung là đòi Mỹ định thời hạn rút hết quân và lập ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu.

Ngày 16/8/1971, Kissinger đưa ra “Đề nghị 8 điểm”. Về cơ bản Mỹ vẫn giữ lập trường cũ: không muốn giải quyết toàn bộ mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự để lấy được tù binh về. Ngày 02/2/1972, để tăng sức ép với Mỹ và phối hợp với các hoạt động quân sự đang được chuẩn bị, CPCMLTCHMNVN ra tuyên bố “Hai điểm nói rõ thêm” trong giải pháp 7 điểm ngày 01/7/1971. Ngày 24/3/1972, Mỹ đơn phương tuyên bố ngừng họp Hội nghị Paris vô thời hạn.

3. Hiệp định Paris khẳng định sức mạnh tổng hợp của mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, cho thấy sự hiệu quả của chiến lược “vừa đánh vừa đàm”. Trong thế trận đàm phán giằng co hết sức căng thẳng, có lúc đi vào bế tắc, để tiếp tục làm tiêu hao sinh lực địch, làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, tiếp tục “vừa đánh vừa đàm”, phá thế bế tắc của Hội nghị Paris, ngày 30/3/1972, quân và dân Việt Nam thực hiện cuộc Tổng tấn công chiến lược Xuân - Hè, đánh địch trên 5 mặt trận lớn từ Trị Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long. Thắng lợi của đợt tấn công chiến lược Xuân - Hè 1972 đã phục vụ tích cực cho đấu tranh chính trị và ngoại giao, nhất là thúc đẩy đưa đàm phán Paris đi vào thực chất. Ngày 13/7/1972, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên ở Paris.

Từ tháng 7 đến tháng 9/1972, qua ba tháng thương lượng, tranh cãi gay gắt, đàm phán đạt một số thỏa thuận: Mỹ nhận rút hết quân trong ba tháng, thực hiện ngừng bắn tại chỗ ở miền Nam, cam kết chấm dứt dính líu về quân sự, nhận lập ủy ban hòa giải để tổ chức Tổng Tuyển cử. Tại phiên họp ngày 08/10/1972 - phiên họp bước ngoặt của diễn đàn đàm phán bí mật - Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam”. Sức mạnh tấn công, tháo gỡ bế tắc của bản dự thảo Hiệp định 8/10/1972 là ở chỗ tạm gác nhiều vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, “giải quyết theo hai bước”, không đòi xóa chính quyền Sài Gòn và gạt Thiệu. Ngay trong chiều 09/10/1972, phía Mỹ đưa ra một phản đề nghị dưới dạng dự thảo hiệp định, trong đó chấp nhận nhiều điều khoản và vấn đề đoàn Việt Nam đã nêu. Dự thảo hiệp định 8/10 là một bước có ý nghĩa đột phá trong đàm phán, làm lập trường của hai bên gần nhau và chuyển từ đàm phán khung giải pháp sang đàm phán thẳng các điều khoản của Hiệp định, buộc Mỹ không thể lẩn tránh. Tuy nhiên, cuộc đàm phán vẫn diễn ra gay gắt và kéo dài. Ngày 20/10/1972, hai bên đạt được thỏa thuận cuối cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Việt Nam đã đạt được các mục tiêu đề ra là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Nhưng đó vẫn chỉ là dự định! Tuy Kissinger tuyên bố “Hòa bình trong tầm tay”, nhưng ngay sau khi Nixon trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai, phía Mỹ lại nêu ra nhiều trở ngại để trì hoãn việc ký Hiệp định. Với việc Việt Nam phê phán thái độ không nghiêm túc của chính quyền Mỹ lúc bấy giờ và dưới sức ép của dư luận quốc tế, đợt đàm phán mới bắt đầu từ ngày 20/11/1972. Ngay phiên đầu tiên, Mỹ đã đòi sửa 69 điểm trong văn bản đã thỏa thuận ngày 20/10/1972, tức là hầu hết các chương của Hiệp định bao gồm nhiều vấn đề thực chất. Ta phê phán gay gắt các đề nghị của Mỹ, khẳng định những vấn đề nguyên tắc không thể sửa đổi như tên CPCMLTCHMNVN, vùng kiểm soát của mỗi bên, vấn đề quân miền Bắc... Phiên họp ngày 12-13/12/1972 của Hội nghị Paris gặp bế tắc.

Sau đó, như chúng ta đã biết, ngày 18/12/1972, chính quyền Nixon tổ chức chiến dịch đánh phá bằng máy bay chiến lược B52 với quy mô chưa từng có trong lịch sử chiến tranh không quân ở miền Bắc Việt Nam nhằm gây tổn thất lớn nhất có thể, ép VNDCCH chấp nhận điều kiện của Mỹ tại bàn đàm phán Paris. Quân và dân Việt Nam kiên quyết giáng trả, đập tan cuộc tập kích bằng không quân chiến lược 12 ngày đêm của Mỹ, làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. Bị thất bại nặng nề, ngày 30/12/1972, Mỹ buộc phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ bắc vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris.

Ngày 08/01/1973, vòng đàm phán cuối cùng diễn ra tại Paris. Ngày 13/01/1973, các bên hoàn thành văn bản của Hiệp định; những đợt gặp riêng giữa Lê Đức Thọ - Xuân Thủy và Kissinger kết thúc. Ngày 23/01/1973, Mỹ chấp nhận ký Hiệp định Paris không điều kiện; Lê Đức Thọ và Kissinger tiến hành ký tắt Hiệp định và 4 Nghị định thư. Về cơ bản, Hiệp định mới không khác nhiều so với văn bản ngày 20/10/1972. Việt Nam đã bảo vệ được các nguyên tắc và nội dung cơ bản: Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút quân trong 2 tháng; giữ nguyên trạng về chính trị; Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc 3 thành phần; hoàn toàn không đề cập vấn đề quân đội miền Bắc.

Ngày 27/01/1973, Bộ trưởng Ngoại giao bốn bên dự Hội nghị Paris là Nguyễn Duy Trinh (VNDCCH), Nguyễn Thị Bình (CPCMLTCHMNVN), W. Rogers (Hoa Kỳ) và Nguyễn Văn Lắm (chính quyền Sài Gòn) đã chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam; và bốn Nghị định thư liên quan. Ngày 28/01/1973, ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris chính thức được thi hành. Hiệp định Paris buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam và mở đường cho sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn.

4. Hiệp định Paris là một bước ngoặt lịch sử, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn sáng suốt của Đảng, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp trên các mặt trận ngoại giao, chính trị, quân sự, kết hợp thành công sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo ra thế và lực mới cho cuộc chiến đấu kháng chiến của dân tộc ta, tạo thế xoay chuyển có lợi cho cách mạng, đi đến Đại thắng mùa xuân 1975. Với thế giới, Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì độc lập, tự do; vì hòa bình, công lý; củng cố niềm tin của Nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa.

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta những bài học sâu sắc, có ý nghĩa to lớn trong tình hình hiện nay. Thứ nhất, là bài học về sự kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris. Thứ hai, là bài học về tầm quan trọng của thực lực, của ý chí tự lực tự cường. Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách tạo sức mạnh tổng hợp cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi.

Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, phát huy nội lực kết hợp ngoại lực, như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Nước ta từ phá thế bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Cho đến nay, chúng ta đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với tất cả các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, từ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của quốc tế đối với công cuộc đổi mới của Nhân dân ta.

Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 191 trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện”. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Nếu cách đây 30 năm, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD, gấp khoảng 120 lần so với những năm đầu của thời kỳ đổi mới...

Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu. Trong đó, Đảng ta đã có quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia và tham gia tích cực tại nhiều diễn đàn nghị viện quốc tế quan trọng. Hoạt động đối ngoại của Chính phủ trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hoá - xã hội được đẩy mạnh, góp phần tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối tác. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức hữu nghị của Nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị với Nhân dân các nước, quảng bá sâu rộng công cuộc đổi mới, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới.

Tiếp tục “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, ngoại giao phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, tiếp tục quán triệt, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả đường lối đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng…/.

Ths. Nguyễn Thị Ánh

50 năm Hiệp định Paris: Ý nghĩa lịch sử và Bài học kinh nghiệm

 (ĐCSVN) - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn khẳng định những bài học quý báu từ Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vẫn còn vẹn nguyên giá trị và cần được vận dụng hiệu quả trong triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII.

Ngày 16/1/2023 tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Quốc phòng đồng tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “50 năm Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam: Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm”.

Hội thảo là diễn đàn để các nhà nghiên cứu, những nhân chứng lịch sử trao đổi sâu về Hiệp định Paris năm 1973, làm rõ giá trị bước ngoặt của sự kiện này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Hội thảo cũng nhằm nhìn lại các bài học lớn rút ra từ mốc son chói lọi này của ngoại giao Việt Nam và ý nghĩa của các bài học đó với sự nghiệp đối ngoại của đất nước hiện nay.

Tham dự Hội thảo có khoảng 350 đại biểu là Lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các Bộ, Ban, Ngành Trung ương và Thành phố Hà Nội; các nhân chứng lịch sử, đại diện thành viên hai đoàn đàm phán, các cán bộ lão thành; các nhà khoa học, chuyên gia đến từ các cơ quan nghiên cứu và trường đại học.

Phát biểu khai mạc và dẫn đề tại Hội thảo, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhấn mạnh tầm quan trọng của Hội thảo trong năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng chí Nguyễn Xuân Thẳng chỉ đạo Hội thảo tập trung làm rõ ý nghĩa to lớn của Hiệp định Paris đối với tiến trình cách mạng Việt Nam, đúc rút và chắt lọc những bài học kinh nghiệm quý báu để vận dụng trong tình hình mới.

Trình bày tham luận tại phiên khai mạc, đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng công tác tuyên truyền trong nước và tuyên truyền đối ngoại là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên thắng lợi của Hiệp định Paris khi hiệu triệu tinh thần dân tộc ở cả miền Nam tiền tuyến thành đồng và miền Bắc hậu phương xã hội chủ nghĩa. Công tác thông tin tuyên truyền song hành với đối ngoại nhân dân đã làm sáng tỏ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến cứu nước, thúc đẩy hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam và phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh.

Thảo luận về ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm từ quá trình đàm phán, ký kết, thi hành Hiệp định Paris, các đại biểu nhất trí khẳng định thắng lợi của Hiệp định Paris là kết quả của sự vận dụng nhuần nhuyễn và xuyên suốt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đánh dấu sự trưởng thành của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam hiện đại. Đỉnh cao của quá trình đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định Paris là sự phối hợp linh hoạt, sáng tạo và biện chứng giữa ba mặt trận đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, tạo nên thế trận “vừa đánh, vừa đàm”. Hiệp định Paris cũng là kết tinh của sự phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước với đối ngoại nhân dân, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hiệp định Paris đã tạo ra bước ngoặt về cục diện và tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng Việt Nam, tiến tới thống nhất hoàn toàn đất nước vào năm 1975.

Cuộc đàm phán Paris để lại nhiều bài học quý báu cho các thế hệ hôm nay. Trong đó quan trọng hơn cả là việc kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm cơ sở cho đường lối và quyết sách; bài học về sự tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng, lấy đại đoàn kết toàn dân tộc làm nòng cốt, chủ động, sáng tạo trong đấu tranh ngoại giao để tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ các nguồn lực và xu hướng tiến bộ trên thế giới. Trong tình hình thế giới biến động phức tạp hiện nay, việc xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng, tài đức vẹn toàn, phấn đấu vì lợi ích quốc gia – dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn là nhiệm vụ hết sức cần thiết.

Phát biểu tổng kết và bế mạc Hội thảo, đồng chí Bùi Thanh Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khẳng định Hiệp định Paris là minh chứng lịch sử sống động cho khát vọng hòa bình và truyền thống ngoại giao hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, là tiền đề quan trọng của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa trong thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn 35 năm qua. Những bài học quý báu từ cuộc đàm phán lịch sử này vẫn còn vẹn nguyên giá trị và cần được vận dụng hiệu quả trong triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIII. Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng nhấn mạnh ngành Ngoại giao sẽ tiếp tục đoàn kết, sáng tạo, bản lĩnh, thực hiện kỷ cương vượt mọi thách thức, phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập môi trường hòa bình, ổn định phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, bảo vệ Tổ quốc và nâng cao vị thế của đất nước trong giai đoạn mới.

Qua hai phiên thảo luận với nhiều ý kiến sâu sắc, Hội thảo đã thực sự làm sống lại một mốc son chói lọi của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Hội thảo là diễn đàn học thuật quan trọng trong chuỗi các hoạt động kỷ niệm 50 năm ký kết Hiệp định Paris, được tổ chức thành công trước thềm xuân Quý Mão 2023./.

PV

Khen đúng việc, thưởng đúng người

 (ĐCSVN) – Để phong trào thi đua, khen thưởng thực sự trở thành động lực cho sự phát triển, thiết nghĩ, việc triển khai cần có mục tiêu thiết thực, cụ thể, không hô hào suông mà phải gắn với thực tiễn cuộc sống. Đặc biệt, khen thưởng phải kịp thời, chính xác, khen đúng việc, thưởng đúng người…

Cứ vào dịp cuối năm, các cơ quan, đơn vị lại tổ chức tổng kết, trong đó có mục bình bầu thi đua khen thưởng. Việc khen thưởng để ghi nhận, tôn vinh những giá trị lao động đã cống hiến trong một năm làm việc, tạo động lực khuyến khích các cá nhân, tập thể tiếp tục phát huy khả năng của mình cho nhiệm vụ của năm tới.

Mục tiêu của khen thưởng cũng chính là phát huy được sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho phong trào thi đua thực sự phát triển sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, trở thành động lực cách mạng to lớn, hướng phong trào thi đua đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước.

Trong công tác khen thưởng, một trong những nguyên tắc quan trọng là “đúng người, đúng việc”, thành tích đến đâu, khen thưởng đến đó. Luật Thi đua, khen thưởng đã xác định chú trọng khen thưởng cá nhân là người trực tiếp lao động, công tác, chiến đấu (công nhân, nông dân, chiến sĩ…) và cá nhân có nhiều sáng tạo trong lao động, công tác.

Vậy mà theo Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, dù có nhiều thành tích nhưng công tác khen thưởng có lúc, có việc chưa kịp thời; khen thưởng cho công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp chưa nhiều; tính tiêu biểu, nêu gương và lan tỏa trong công tác khen thưởng có lúc còn hạn chế.

Đặc biệt tại nhiều nơi, khen thưởng như là một món quà mà chưa thực chất. Có khi còn như một sự phân chia, ban phát, quay vòng…

Tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ ra, công tác thi đua - khen thưởng cũng còn một số hạn chế, nhất là còn nhiều mô hình, gương điển hình tiên tiến ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa được phát hiện, bồi dưỡng kịp thời và nhân rộng có hiệu quả… Tính tiêu biểu, nêu gương và lan tỏa trong công tác khen thưởng có lúc còn hạn chế.

Thực tế tại các đơn vị, công tác khen thưởng nhiều lúc vẫn còn hình thức và “khen lãnh đạo nhiều quá”. Hiếm khi công nhân, nông dân, chiến sĩ và nhân viên trong các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp “chạm” được vào các hình thức khen thưởng như huân chương hay bằng khen của Thủ tướng. Trong các đơn vị, việc khen thưởng chủ yếu thuộc về lãnh đạo cấp phòng, ban trở lên. Bởi theo thống kê, tỷ lệ người lao động được khen thưởng chiếm chưa đầy… 2% tổng số cá nhân được đề nghị khen thưởng. Đây là một thực tế thật đáng suy ngẫm.

Thực tiễn này đang đòi hỏi có sự thay đổi, trước hết là từ nhận thức của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng cho rằng, trong xét thi đua - khen thưởng thì trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị là rất quan trọng. Cùng với ban thi đua - khen thưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải bảo đảm khen thưởng chính xác, công khai, minh bạch; chú trọng khen thưởng người trực tiếp lao động, sản xuất. “Khen thưởng phải phù hợp với thành tích và kết quả đạt được. Thi đua là để đào tạo, rèn luyện và xây dựng con người mới. Tránh hình thức” -Tổng Bí thư nói.

Do đó, yêu cầu đặt ra phải làm sao khen thưởng chấm dứt hình thức, đi vào thực chất, cần tránh thái độ ban ơn, ban phát hoặc trao thưởng cho “người của mình” mà gạt những người xứng đáng khác sang một bên. Việc thi đua, khen thưởng phải gắn với nâng cao đạo đức, thái độ trách nhiệm thực thi công vụ.

Muốn thế, người đứng đầu đơn vị phải thực hiện đúng quy định pháp luật về công tác thi đua - khen thưởng và có tâm trong sáng, công minh; không vun vén, “gom” khen thưởng cho cá nhân để thăng tiến, và cũng không lấy khen thưởng là “món quà” dành cho quan hệ riêng tư hoặc thờ ơ, hời hợt, không quan tâm. Bởi chính cách hành xử ấy dẫn đến việc không công bằng trong tập thể, khiến các phong trào thi đua mất sức sống.

Đáng ngại hơn là việc bầu chọn danh hiệu thi đua từ cơ sở không đúng, cứ giới thiệu dần lên các cấp trên, cuối cùng là “điển hình giả” không có giá trị nêu gương, nhân rộng phong trào thi đua, không lan tỏa năng lượng tích cực trong cơ quan, đơn vị, bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”; và "Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước"...

Để phong trào thi đua, khen thưởng thực sự trở thành động lực cho sự phát triển, thiết nghĩ, việc triển khai cần có mục tiêu thiết thực, cụ thể, không hô hào suông mà phải gắn với thực tiễn cuộc sống. Đặc biệt, khen thưởng phải kịp thời, chính xác, khen đúng việc, thưởng đúng người, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, tác động đến đời sống người dân làm thước đo khen thưởng.../.

Trung Anh

Để “rời ghế” không còn là "chuyện hiếm"

 (ĐCSVN) - Nghị quyết số 28-NQ/TW nêu rõ: Khuyến khích cán bộ từ chức khi có khuyết điểm; kịp thời thay thế cán bộ bị kỷ luật, cán bộ năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm; kiên trì thực hiện “có vào, có ra, có lên, có xuống” trong công tác cán bộ.

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Đây là 1 trong 5 nội dung lớn, quan trọng đã được Hội nghị Trung ương 6 thảo luận, thống nhất ban hành nghị quyết.

Theo đó, Nghị quyết 28 khẳng định: Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng phải kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; làm rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với nêu cao trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu; giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm nguyên tắc quyền lực đi đôi với trách nhiệm, mọi cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, nguyên tắc và kỷ luật của Đảng.

Về công tác cán bộ, Trung ương Đảng yêu cầu bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Đảng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, xem xét, phân công, giới thiệu cán bộ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và thông qua đội ngũ cán bộ để lãnh đạo thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng lựa chọn, bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn để bầu vào cấp ủy, chức danh lãnh đạo của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội các cấp; lãnh đạo việc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, điều lệ của các tổ chức.

Đồng thời hoàn thiện quy định lựa chọn, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ của các cấp ủy, tổ chức đảng theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện quy định…Tiếp tục hoàn thiện các quy định về cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cán bộ, nhất là trong đánh giá, giới thiệu, bổ nhiệm cán bộ.

Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, tuyển dụng nhân tài vào làm việc trong hệ thống chính trị; thể chế chủ trương của Đảng về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; sửa đổi chính sách, pháp luật để liên thông cán bộ từ cấp xã tới cấp huyện, cấp tỉnh.

Nghị quyết 28 cũng nêu rõ, khuyến khích cán bộ từ chức khi có khuyết điểm; kịp thời thay thế cán bộ bị kỷ luật, cán bộ năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm. Đặc biệt, Nghị quyết số 28-NQ/TW một lần nữa khẳng định việc kiên trì thực hiện “có vào, có ra, có lên, có xuống” trong công tác cán bộ như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập. Tổ chức thực hiện nghiêm kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ sau khi bị kỷ luật, góp phần bảo đảm kỷ cương, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Trước đó, ngày 8/9/2022, Thông báo kết luận số 20-TB/TW của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật của Bộ Chính trị cũng đã thể hiện quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, liêm chính khi khuyến khích cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Theo Kết luận 20, việc bố trí công tác đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật nhằm thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và Quy định của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, thực hiện phương châm "có vào, có ra, có lên, có xuống" trong công tác cán bộ. Điểm nhấn Thông báo 20 nêu rõ: “Khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Nếu không tự nguyện xin từ chức thì cấp có thẩm quyền xem xét miễn nhiệm theo quy định”.

Trước nữa, ngày 6/7/2022, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 69-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Theo đó, Quy định 69 nêu rõ, về nguyên tắc xử lý kỷ luật: Tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời. Đáng chú ý, kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để kỷ luật đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu; không điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, phong, thăng quân hàm, phong, tặng, công nhận các danh hiệu của Đảng, Nhà nước với đảng viên đang bị tổ chức đảng xem xét xử lý kỷ luật…

Các nghị quyết, quy định, chỉ thị khác như Quy định 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định 41 -QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; Quy định số 65-QĐ/TW ngày 28/4/2022 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử…, Nghị quyết số 28-NQ/TW là sự hoàn thiện, tiếp tục đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đặc biệt là với công tác cán bộ hiện nay.

Một số chuyên gia xây dựng Đảng cho rằng, thực tế, thời gian qua, không ít cán bộ khi thực hiện nhiệm vụ, giải quyết công việc đã không đáp ứng yêu cầu do trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế... dẫn đến đánh giá không đúng tình hình, thiếu biện pháp xử lý kịp thời. Những yếu kém về trình độ, năng lực chuyên môn của những cán bộ này không chỉ làm ảnh hưởng tới chất lượng công việc của từng cá nhân, từng bộ phận công tác mà còn làm giảm chất lượng hoạt động của cả hệ thống chính trị.

Mặt khác một số cán bộ sau khi bị kỷ luật vẫn được điều chuyển sang cơ quan khác để làm lãnh đạo thì rất khó điều hành công việc, khó cho bản thân cán bộ đó và khó cho cả cấp dưới, nhất là khó cho tổ chức... Vì vậy, việc khuyến khích cán bộ từ chức khi có khuyết điểm; kịp thời thay thế cán bộ bị kỷ luật, cán bộ năng lực hạn chế, uy tín giảm sút mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm là đúng đắn. Và khi việc từ chức chưa thành tiền lệ, chưa trở thành văn hóa thì không nên chỉ dựa vào ý thức tự giác mà cần có sự vào cuộc của cấp ủy, cơ quan, của những người làm công tác tổ chức cán bộ theo tinh thần của Nghị quyết 20.

Mỗi cán bộ, đảng viên trước hết phải thấy được ý nghĩa của Nghị quyết để có nhận thức đúng đắn trong cách hành xử. Nếu không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, không hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng giao thì cần phải dừng lại để “rời ghế”, “nhường ghế” cho người xứng đáng không còn là "chuyện hiếm". Điều này một mặt thể hiện sự dũng cảm, tự trọng của người đảng viên. Mặt khác, việc từ chức còn thể hiện sự tự trọng, tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân khi không đủ điều kiện, không đủ khả năng, không đủ uy tín để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ...

Chúng ta có quyền hi vọng rằng, Nghị quyết 28 cùng với một loạt các nghị quyết, quy định, chỉ thị được ban hành từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay sẽ tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện của Đảng trong giai đoạn mới.../.

Không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn

Nghị quyết 28-NQ/TW yêu cầu tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng trong kiểm tra, giám sát các hoạt động thuộc lĩnh vực được giao. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra của Nhà nước. Thường xuyên kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong công tác cán bộ và vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Thực hiện giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những nơi dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức xúc, dư luận quan tâm, các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm. Xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời tổ chức đảng, đảng viên sai phạm.

Bên cạnh đó phải nghiên cứu quy định phân cấp thẩm quyền kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng, ủy ban kiểm tra các cấp. Xây dựng cơ chế chỉ đạo, điều phối, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp, hình thức, kém hiệu quả trong các hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán. Thực hiện tốt việc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

 Thu Hà

Gần 400 người bệnh được về quê đón Tết trên những “Chuyến xe yêu thương”

 (ĐCSVN) - Chiều ngày 18/01, tại Bệnh viên K (cơ sở Tân Triều), gần 400 người bệnh đã được trở về quê đón Tết trên hành trình những “Chuyến xe yêu thương” miễn phí với niềm vui hân hoan.

Đây là hoạt động thường niên được tổ chức trong 6 năm qua mà Bệnh viện K và Quỹ Hỗ trợ bệnh nhân ung thư Ngày mai tươi sáng thực hiện. Đây là sự quan tâm thiết thực với người bệnh và gia đình bởi họ không còn phải lo lắng trước tình hình quá tải của các bến xe trong các dịp Tết Nguyên đán, sự mệt mỏi vì chờ đợi được vơi bớt, khó khăn trong đi lại và kinh phí đều đã được sẻ chia với sự đồng hành của các nhà hảo tâm trên hành trình gần 30 chuyến xe về các tỉnh: Hải Dương – Hải Phòng; Thái Bình – Nam Định; Phú Thọ - Tuyên Quang; Thái Nguyên – Bắc Cạn; Hòa Bình – Sơn La; Yên Bái – Lào Cai; Bắc Ninh – Bắc Giang – Lạng Sơn; Ninh Bình – Thanh Hóa; Nghệ An – Hà Tĩnh.

Trước đó ngày 13/01, Bệnh viện đã tổ chức Cơm tất niên cho hơn 1.000 người bệnh và đưa hơn 200 người bệnh về quê trên hành trình “Chuyến xe yêu thương” đợt 1.

Sau những chuyến xe đầu tiên vào ngày 22 tháng Chạp tại “bến xe” đặc biệt ngày hôm nay (18/1), người điều phối, hướng dẫn các bác, các cô, những em nhỏ lên xe không ai khác vẫn là những bóng dáng áo blouse trắng. Còn gì xúc động hơn khi tập thể cán bộ y bác sỹ của Bệnh viện K – những người quá đỗi thân thuộc với người bệnh đọc tên từng tuyến xe, hướng dẫn từng vị trí ngồi và sắp xếp cho người bệnh cùng với những bao lì xì đỏ thắm chúc mừng năm mới bình an đến tất cả người bệnh và gia đình.

GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế và đoàn công tác Bộ Y tế cùng Ban Lãnh đạo Bệnh viện đã có cuộc gặp gỡ, chia sẻ đầy xúc động với các bệnh nhân, gửi lời chúc sức khỏe và chúc mừng năm mới tới những người bệnh chuẩn bị lên đường về quê ăn Tết và cán bộ y tế bệnh viện.

GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế chia sẻ: ““Chuyến xe yêu thương” là món quà Tết đặc biệt và ý nghĩa mà các đơn vị tổ chức muốn trao cho mỗi bệnh nhân. Người bệnh vốn ở các tỉnh xa, điều trị bệnh đã ốm yếu, trong khi xe đò lại quá tải, tôi hy vọng rằng những “Chuyến xe yêu thương” ấy sẽ giúp các bệnh nhân yên tâm, ấm lòng khi trở về quê ăn đón Tết bên những người thân yêu”.

Như vậy qua 02 đợt, gần 30 chuyến xe đưa hơn 500 người về quê đã lăn bánh trong sự hân hoan, xúc động của người bệnh và gia đình.

Bệnh viện K hy vọng rằng sẽ cùng các đơn vị nối dài những hành trình ý nghĩa như vậy với người bệnh điều trị ở khắp nơi trên cả nước, sẻ chia nỗi đau mà họ phải chống chọi sau mỗi đợt điều trị. “Chuyến xe yêu thương” đưa người bệnh về quê đón Tết sẽ thắp lên trong họ những tia hy vọng mới khi năm Quý Mão đã ở rất gần./.