(ĐCSVN) - Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam - là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên, toàn diện nhất, đầy đủ nhất ghi nhận các quyền cơ bản của Nhân dân Việt Nam; là sự công nhận chính thức của quốc tế đối với nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Tìm hiểu về sự kiện ký kết Hiệp định Paris cách đây 50 năm - một
dấu mốc quan trọng trên con đường đi tới hòa bình, thống nhất đất nước càng cho
ta thấy rõ hơn ý nghĩa của sự kiện lịch sử này.
Ngược dòng lịch sử, thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam Tết Mậu Thân 1968 đã làm lung lay ý
chí xâm lược của đế quốc Mỹ, là “một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ”.
Chính trong tình hình đó, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn đã tuyên bố: Hy
vọng đi tới hội nghị hòa bình với tinh thần “tìm kiếm một nền hòa bình trong
danh dự”. Ngày 3/4/1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố sẵn
sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ. Tuy nhiên phải mất 30 ngày sau, hai bên mới
thỏa thuận, thống nhất được địa điểm họp ở Paris theo sáng kiến của ta. Tiếp
theo là hành trình gần 5 năm để đi đến kết quả Hiệp định Paris về chấm dứt
chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
1. Hội nghị Paris có thời gian đàm phán dài nhất trên thế giới,
4 năm 8 tháng 16 ngày - bắt đầu ngày 13/5/1968 và Hiệp định được ký ngày
27/01/1973. Quá trình Hội nghị gồm 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng
giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1000 cuộc phỏng vấn và nhiều phong
trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp thế giới. Hiệp định có 9 chương 23
điều, gồm 4 loại điều khoản chính: (i) Các điều khoản chính trị ghi các cam kết
của Hoa Kỳ: tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, tôn trọng quyền tự quyết của
Nhân dân miền Nam Việt Nam; Hoa Kỳ không tiếp tục dính líu quân sự, không can
thiệp công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. (ii) Các điều khoản về quân sự: ngừng
bắn, Hoa Kỳ rút hết quân trong 60 ngày; chấm dứt bắn phá miền Bắc; nhận tháo gỡ
mìn do Hoa Kỳ đã rải ở miền Bắc. (iii) Các điều khoản về nội bộ miền Nam:
nguyên tắc hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do,
thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần để tổ
chức tổng tuyển cử. (iv) Các điều khoản về thống nhất Việt Nam, về Lào và
Campuchia, về cơ cấu thi hành Hiệp định Ủy ban liên hợp và Ủy ban quốc tế; về
Hội nghị quốc tế xác nhận Hiệp định và điều khoản về việc Hoa Kỳ đóng góp hàn
gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hòa.
2. Quá trình đàm phán Hiệp định Paris cho thấy diễn biến đấu trí
giằng co, thể hiện sự bản lĩnh, trí tuệ và sách lược đối ngoại mềm dẻo của Đảng
trên nguyên tắc vì lợi ích cao nhất của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước. Ngày 13/5/1968, Hội nghị Paris giữa phái đoàn Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Hoa Kỳ chính thức bắt đầu tại Trung tâm Hội nghị quốc
tế, phố Kléber. Trưởng đoàn VNDCCH là ông Xuân Thủy. Lập trường của Mỹ thời kỳ
đầu đàm phán là: cần có sự tham gia của phái đoàn Chính phủ Sài Gòn; Bắc Việt
Nam không vi phạm khu phi quân sự, không bắn pháo hay tên lửa vào các thành phố
lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Phía VNDCCH phản đối những đòi hỏi đó
và đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và để Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) tham gia hội đàm. Đến ngày 25/01/1969, lần
đầu tiên diễn ra đàm phán giữa bốn bên tham chiến để giải quyết vấn đề miền Nam
Việt Nam; Hội nghị bốn bên gồm đại diện của VNDCCH, MTDTGPMNVN, Hoa Kỳ và Việt
Nam Cộng hòa long trọng khai mạc. Trưởng đoàn MTDTGPMNVN là ông Trần Bửu Kiếm.
Ngày 08/5/1969, đoàn MTDTGPMNVN đưa ra tuyên bố của Mặt trận về “Những nguyên
tắc và nội dung chủ yếu của giải pháp toàn bộ về vấn đề miền Nam Việt Nam, góp
phần lập lại hòa bình ở Việt Nam”, sau đó thường gọi tắt là “Giải pháp toàn bộ
10 điểm”. Bản đề nghị này nêu quan điểm tổng quát của Việt Nam về tất cả các
mặt của một giải pháp cho cuộc chiến tranh, nhưng tập trung vào hai nội dung
chính: Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam vô điều
kiện; công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam do nhân dân miền Nam Việt Nam tự
giải quyết, lập Chính phủ liên hiệp lâm thời để tổ chức Tổng Tuyển cử tự do.
Đây là lần đầu tiên một bên tham gia đàm phán đưa ra một giải pháp toàn diện,
tổng thể về vấn đề Việt Nam.
Ngày 12/6/1969, đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) tham dự phiên họp đầu tiên tại Hội nghị
với tư cách là những người đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời, thay thế
cho Mặt trận. Bộ trưởng Ngoại giao CPCMLTCHMNVN Nguyễn Thị Bình là Trưởng đoàn.
Trong thời gian này, nhiệm vụ chủ yếu của đấu tranh ngoại giao là thúc đẩy Mỹ
xuống thang, đơn phương rút quân Mỹ. Ngay trong tháng 6/1969, Tổng thống Mỹ
Nixon công bố đợt rút quân đầu tiên. Tuy nhiên, tại cuộc gặp riêng với Trưởng
đoàn đàm phán VNDCCH Xuân Thủy ngày 31/5/1971, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ
Kissinger đưa ra đề nghị “cuối cùng” 7 điểm, đòi tách riêng vấn đề quân sự và
vấn đề chính trị, mặc dù trước đây Mỹ định bàn cả hai. Để tăng sức ép với Mỹ và
hỗ trợ đấu tranh quân sự và chính trị, ngày 26/6/1971, trong cuộc gặp riêng Lê
Đức Thọ - Kissinger, phía Việt Nam đưa ra “Sáng kiến hòa bình 9 điểm” tập trung
vào việc đòi Mỹ thay Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 01/7/1971, trong phiên họp thứ 119
của Hội nghị bốn bên, bà Nguyễn Thị Bình trình bày “Sáng kiến mới gồm 7 điểm,
nhằm giải quyết hòa bình vấn đề miền Nam Việt Nam”, đây là đề nghị quan trọng
thứ hai (sau đề nghị 10 điểm tháng 5/1969) được đưa ra tại bàn đàm phán; được
dư luận rộng rãi đồng tình và chính giới Mỹ quan tâm. Sáng kiến “9 điểm” và “7
điểm” gần như có cùng một nội dung là đòi Mỹ định thời hạn rút hết quân và lập
ở Sài Gòn một chính quyền không có Thiệu.
Ngày 16/8/1971, Kissinger đưa ra “Đề nghị 8 điểm”. Về cơ bản Mỹ
vẫn giữ lập trường cũ: không muốn giải quyết toàn bộ mà chỉ muốn giải quyết vấn
đề quân sự để lấy được tù binh về. Ngày 02/2/1972, để tăng sức ép với Mỹ và
phối hợp với các hoạt động quân sự đang được chuẩn bị, CPCMLTCHMNVN ra tuyên bố
“Hai điểm nói rõ thêm” trong giải pháp 7 điểm ngày 01/7/1971. Ngày 24/3/1972,
Mỹ đơn phương tuyên bố ngừng họp Hội nghị Paris vô thời hạn.
3. Hiệp định Paris khẳng định sức mạnh tổng hợp của mặt trận
chính trị, quân sự và ngoại giao, cho thấy sự hiệu quả của chiến lược “vừa đánh
vừa đàm”. Trong thế trận đàm phán giằng co hết sức căng thẳng, có lúc đi vào bế
tắc, để tiếp tục làm tiêu hao sinh lực địch, làm thất bại chiến lược “Việt Nam
hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, tiếp tục “vừa đánh vừa đàm”, phá thế bế tắc
của Hội nghị Paris, ngày 30/3/1972, quân và dân Việt Nam thực hiện cuộc Tổng
tấn công chiến lược Xuân - Hè, đánh địch trên 5 mặt trận lớn từ Trị Thiên đến
đồng bằng sông Cửu Long. Thắng lợi của đợt tấn công chiến lược Xuân - Hè 1972
đã phục vụ tích cực cho đấu tranh chính trị và ngoại giao, nhất là thúc đẩy đưa
đàm phán Paris đi vào thực chất. Ngày 13/7/1972, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị
toàn thể bốn bên ở Paris.
Từ tháng 7 đến tháng 9/1972, qua ba tháng thương lượng, tranh
cãi gay gắt, đàm phán đạt một số thỏa thuận: Mỹ nhận rút hết quân trong ba
tháng, thực hiện ngừng bắn tại chỗ ở miền Nam, cam kết chấm dứt dính líu về
quân sự, nhận lập ủy ban hòa giải để tổ chức Tổng Tuyển cử. Tại phiên họp ngày
08/10/1972 - phiên họp bước ngoặt của diễn đàn đàm phán bí mật - Cố vấn đặc
biệt Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa
bình ở Việt Nam” và dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền
Nam”. Sức mạnh tấn công, tháo gỡ bế tắc của bản dự thảo Hiệp định 8/10/1972 là
ở chỗ tạm gác nhiều vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, “giải quyết theo hai
bước”, không đòi xóa chính quyền Sài Gòn và gạt Thiệu. Ngay trong chiều
09/10/1972, phía Mỹ đưa ra một phản đề nghị dưới dạng dự thảo hiệp định, trong
đó chấp nhận nhiều điều khoản và vấn đề đoàn Việt Nam đã nêu. Dự thảo hiệp định
8/10 là một bước có ý nghĩa đột phá trong đàm phán, làm lập trường của hai bên
gần nhau và chuyển từ đàm phán khung giải pháp sang đàm phán thẳng các điều
khoản của Hiệp định, buộc Mỹ không thể lẩn tránh. Tuy nhiên, cuộc đàm phán vẫn
diễn ra gay gắt và kéo dài. Ngày 20/10/1972, hai bên đạt được thỏa thuận cuối
cùng, dự định ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Việt Nam đã đạt được các mục tiêu
đề ra là Mỹ chấm dứt chiến tranh và rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam.
Nhưng đó vẫn chỉ là dự định! Tuy Kissinger tuyên bố “Hòa bình
trong tầm tay”, nhưng ngay sau khi Nixon trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai,
phía Mỹ lại nêu ra nhiều trở ngại để trì hoãn việc ký Hiệp định. Với việc Việt
Nam phê phán thái độ không nghiêm túc của chính quyền Mỹ lúc bấy giờ và dưới
sức ép của dư luận quốc tế, đợt đàm phán mới bắt đầu từ ngày 20/11/1972. Ngay
phiên đầu tiên, Mỹ đã đòi sửa 69 điểm trong văn bản đã thỏa thuận ngày
20/10/1972, tức là hầu hết các chương của Hiệp định bao gồm nhiều vấn đề thực
chất. Ta phê phán gay gắt các đề nghị của Mỹ, khẳng định những vấn đề nguyên
tắc không thể sửa đổi như tên CPCMLTCHMNVN, vùng kiểm soát của mỗi bên, vấn đề
quân miền Bắc... Phiên họp ngày 12-13/12/1972 của Hội nghị Paris gặp bế tắc.
Sau đó, như chúng ta đã biết, ngày 18/12/1972, chính quyền Nixon
tổ chức chiến dịch đánh phá bằng máy bay chiến lược B52 với quy mô chưa từng có
trong lịch sử chiến tranh không quân ở miền Bắc Việt Nam nhằm gây tổn thất lớn
nhất có thể, ép VNDCCH chấp nhận điều kiện của Mỹ tại bàn đàm phán Paris. Quân
và dân Việt Nam kiên quyết giáng trả, đập tan cuộc tập kích bằng không quân
chiến lược 12 ngày đêm của Mỹ, làm nên chiến thắng lịch sử “Hà Nội - Điện Biên
Phủ trên không”. Bị thất bại nặng nề, ngày 30/12/1972, Mỹ buộc phải đơn phương
tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ bắc vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại
đàm phán ở Paris.
Ngày 08/01/1973, vòng đàm phán cuối cùng diễn ra tại Paris. Ngày
13/01/1973, các bên hoàn thành văn bản của Hiệp định; những đợt gặp riêng giữa
Lê Đức Thọ - Xuân Thủy và Kissinger kết thúc. Ngày 23/01/1973, Mỹ chấp nhận ký
Hiệp định Paris không điều kiện; Lê Đức Thọ và Kissinger tiến hành ký tắt Hiệp
định và 4 Nghị định thư. Về cơ bản, Hiệp định mới không khác nhiều so với văn
bản ngày 20/10/1972. Việt Nam đã bảo vệ được các nguyên tắc và nội dung cơ bản:
Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút quân trong 2 tháng; giữ nguyên trạng về chính trị;
Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc 3 thành phần; hoàn toàn không đề cập vấn đề
quân đội miền Bắc.
Ngày 27/01/1973, Bộ trưởng Ngoại giao bốn bên dự Hội nghị Paris
là Nguyễn Duy Trinh (VNDCCH), Nguyễn Thị Bình (CPCMLTCHMNVN), W. Rogers (Hoa
Kỳ) và Nguyễn Văn Lắm (chính quyền Sài Gòn) đã chính thức ký Hiệp định Paris về
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam; và bốn Nghị định thư liên
quan. Ngày 28/01/1973, ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris
chính thức được thi hành. Hiệp định Paris buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam và mở
đường cho sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn.
4. Hiệp định Paris là một bước ngoặt lịch sử, khẳng định sự lãnh
đạo đúng đắn sáng suốt của Đảng, phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp trên các mặt
trận ngoại giao, chính trị, quân sự, kết hợp thành công sức mạnh của dân tộc
với sức mạnh thời đại, tạo ra thế và lực mới cho cuộc chiến đấu kháng chiến của
dân tộc ta, tạo thế xoay chuyển có lợi cho cách mạng, đi đến Đại thắng mùa xuân
1975. Với thế giới, Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung
của nhân loại vì độc lập, tự do; vì hòa bình, công lý; củng cố niềm tin của
Nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự
nghiệp đấu tranh chính nghĩa.
Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta những bài
học sâu sắc, có ý nghĩa to lớn trong tình hình hiện nay. Thứ nhất, là bài học
về sự kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân
tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn
biến”, tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết
thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn,
đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến
của nhân dân ta để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris. Thứ hai, là bài học về
tầm quan trọng của thực lực, của ý chí tự lực tự cường. Bác Hồ dạy: “Thực lực
là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Thắng
lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự
lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân
tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh
từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa
đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Để vượt qua những thách thức
lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại là phương cách tạo sức mạnh tổng hợp cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng
lợi.
Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, phát huy nội lực kết hợp ngoại
lực, như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định “đất nước ta chưa bao giờ có được
cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Nước ta từ phá thế bị
bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện
đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, thuận lợi cho công cuộc đổi mới.
Cho đến nay, chúng ta đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với tất cả các
nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống,
từ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của quốc tế đối với công
cuộc đổi mới của Nhân dân ta.
Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 191 trong tổng số
193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”,
17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện”. Trên bình diện đa
phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức,
diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Nếu
cách đây 30 năm, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước
và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 nước và
vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD,
gấp khoảng 120 lần so với những năm đầu của thời kỳ đổi mới...
Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân và đối
ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ
động, tích cực và đi vào chiều sâu. Trong đó, Đảng ta đã có quan hệ với 247
chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 Đảng Cộng sản và công nhân quốc
tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng. Quốc hội có quan hệ
với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia và tham gia tích cực tại nhiều
diễn đàn nghị viện quốc tế quan trọng. Hoạt động đối ngoại của Chính phủ trên
các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hoá - xã hội được đẩy
mạnh, góp phần tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối
tác. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức hữu nghị của Nhân dân cũng đã triển khai
đối ngoại thiết thực, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị với Nhân dân các nước,
quảng bá sâu rộng công cuộc đổi mới, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra
thế giới.
Tiếp tục “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan
hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp
tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin
cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
Trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, ngoại giao phải tiếp tục là
mặt trận quan trọng góp phần xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc,
tiếp tục quán triệt, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả đường lối đối
ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần thực hiện thắng
lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng…/.
Ths. Nguyễn Thị Ánh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét