Một là, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền
tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh. Họ rêu rao, Việt Nam muốn giàu có, thịnh vượng thì phải dũng
cảm từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ con đường XHCN. Trong tư duy, nhận thức
của các thế lực thù địch, phản động thì CNXH là nghèo nàn, lạc hậu; còn tư bản
là văn minh, giàu có. Thực tiễn đã chứng minh rằng, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam chính là thực hiện chủ trương xóa áp bức,
bóc lột, lạc hậu, bất công, nghèo khổ để đưa đất nước trở nên giàu có,
thịnh vượng.
Sau 36 năm đổi mới, với sự nỗ lực của các thành phần kinh tế, sự
đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, đất nước đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Đời sống
nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Công tác xoá
đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật được Liên Hợp Quốc và cộng đồng quốc tế
đánh giá cao. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước chưa bao giờ có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày
nay”.
Hai là, các thế lực thù địch, phản động tập trung phê phán, đả
kích, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước; mưu toan đầu độc tinh thần của các thế hệ trẻ để cuối cùng lật đổ vai
trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Thủ đoạn của
chúng là lợi dụng vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự
kiện đối ngoại quan trọng của Nhà nước ta, trước thềm Đại hội XIII của Đảng tấn
công, đưa ra các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả;
Đảng cầm quyền không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của dân tộc.
Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng internet,
mạng xã hội đăng tin, bài, video ở nước ngoài để tuyên truyền, bôi nhọ, thổi
phồng những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá
nhân cán bộ đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền. Chúng gieo rắc ngờ
vực, nghi kỵ, gây chia rẽ, lục đục nội bộ, hòng gây bất ổn chính trị - xã hội,
làm mất lòng tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ.
Ba là, các thế lực thù địch, phản động rêu rao quan điểm kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là đường đi không có đích đến. Kinh tế
thị trường là thực hiện cơ chế tự điều tiết, mà không cần ai chủ đạo. Đây là
những quan điểm hoặc là phủ nhận sạch trơn những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc thừa nhận đúng một phần, đúng trong quá
khứ, không đúng trong hiện tại. Họ phủ nhận kinh tế thị trường định hướng XHCN,
đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Ở Việt Nam, mục tiêu hàng đầu trong hệ thống mục tiêu xây dựng xã hội XHCN được
xác định là “dân giàu”, “nước mạnh”. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986),
Đảng, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và hệ thống
pháp luật phù hợp để từng bước thực hiện “dân giàu”, “nước mạnh”. Đó chính là
phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy khả năng của mọi thành
phần kinh tế, khuyến khích người dân làm giàu hợp pháp, quan tâm bảo vệ lợi ích
của người lao động, coi trọng xói đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội ngay trong từng bước phát triển kinh tế của đất nước.
Bốn là, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội
chính trị trong và ngoài nước rêu rao quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai
toàn dân ở Việt Nam hiện nay, nhằm mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai
trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai. Họ xuyên tạc cho rằng, chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai thì đó là “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ
thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai. Khi có những tranh chấp, xung đột,
mâu thuẫn về đất đai xảy ra thì nhà nước thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết đúng
đắn, công bằng. Điều đó có nghĩa là phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở
hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng
này. Trên thực tế ở các nước trên thế giới, khi thực hiện chế độ đa sở hữu về
đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp,
xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi nhà
nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết.
Như vậy, với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu
cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta
hiện nay.
Năm là, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của
Đảng và Nhà nước ta. Họ lập luận rằng, thời đại ngày nay là toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ đan xen, phụ thuộc
lẫn nhau, nên Việt Nam duy trì chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo
thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy của thế giới bên
ngoài”. Chính sách đối ngoại đó đã thực sự “lỗi thời, lạc hậu” đang trở thành
lực cản đối với sự phát triển đất nước. Hơn nữa, thể chế chính trị của Việt Nam
là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế; với một Đảng duy
nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế. Từ đó, họ kêu gọi Việt Nam cần
phải thực hiện đa đảng cho phù hợp với xu thế hội nhập.
Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền, biển
đảo để thông tin thất thiệt, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam và
quan hệ hợp tác Việt Nam với các đối tác quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và
châu Á - Thái Bình Dương. Chúng đưa ra một số luận điệu vu cáo lãnh đạo Việt
Nam thỏa hiệp nhượng bộ vô nguyên tắc, bán đất, bán biển cho nước ngoài; kích
động, lôi kéo đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các
nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với
Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền. Đặc biệt, cổ súy lôi kéo
Việt Nam liên minh với nước lớn này để chống nước lớn kia.
Từ rất sớm, tư tưởng độc lập, tự chủ đã trở thành “sợi chỉ đỏ”
xuyên suốt, là nguyên tắc cốt lõi của đường lối, chính sách đối ngoại của Việt
Nam cho đến hiện nay. Độc lập có nghĩa là chúng ta tự “giải quyết mọi công
việc” của mình, “không để bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ” của đất
nước ta. Độc lập, tự chủ phải dựa trên cơ sở nội lực, thực lực của đất nước,
đồng thời cũng dựa vào hợp tác và hội nhập quốc tế./.
VHT.








