Thứ Năm, 26 tháng 1, 2023

LỜI BÁC HỒ DẠY


“Phải có một quân đội đánh giỏi và một hậu phương vững chắc", “Mỗi một người công nhân, mỗi một người nông dân đều phải biết đánh giặc”.“Tẩt cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết "Lênin dạy", đăng trên Báo Nhân dân, số 161, từ ngày 21 đến ngày 25-1-1954. Đây là thời điểm quân và dân ta đang mở các chiến dịch lớn tiến công địch trên các chiến trường toàn quốc; kế hoạch Na-va của thực dân Pháp đang trên đà phá sản; cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của nhân dân ta tiến đến giai đoạn quyết định, cần phải có sức mạnh tổng lực của lực lượng quân sự hùng mạnh và nguồn hậu cần tiếp tế hùng hậu, để đáp ứng yêu cầu của cuộc quyết chiến chiến lược giành thắng lợi.
Trong bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lại cho mọi người thấy rõ quan điểm lý luận của Lênin về tính tất yếu phải xây dựng một quân đội của giai cấp công nhân, cùng với hậu phương vững chắc, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Qua đó, Người chủ trương tập trung củng cố, tăng cường sức mạnh cho quân đội; cả nước họp sức, dồn lực, xây dựng hậu phương vững chắc, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy, đã trở thành định hướng chiến lược về xây dựng sức mạnh lực lượng cách mạng; được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hưởng ứng tích cực; khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, ý chí quyết tâm giành độc lập dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp tham gia xây dựng quân đội và bảo đảm hậu phương cho tuyền tuyến, giành thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ lung lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Chủ trương đó, tiếp tục được Đảng, Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn, cùng quân dân miền Nam thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
Quán triệt sâu sắc quan điểm của Lênin và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chăm lo giáo dục, rèn luyện, nâng cao sức mạnh tổng hợp, trình độ chiến đấu của quân đội, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, làm cho quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, xây dựng hậu phương vững chắc, tạo tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, gắn với thế trận an ninh nhân dân để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

234 NĂM NGÀY VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH Ở NGỌC HỒI - ĐỐNG ĐA, ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC ANH HÙNG CHI HỮU CHỦ!

 


Vua Càn Long nhà Thanh vốn tự cho mình là đế vương tài ba nhất, tự huyễn hoặc bản thân mình về cái gọi là "thập đại võ công", cổ kim không ai sánh bằng. Càn Long tự hào về việc mang quân chinh phạt các quốc gia nhỏ bé ở phía bắc, phía tây. Gặp lúc Lê Chiêu Thống sang cầu cứu, Càn Long đế sai Tôn Sĩ Nghị mang 29 vạn quân sang xâm lược nước ta. Người Mãn Thanh luôn tự đại và kiêu ngạo. Lúc quân Thanh vừa sang, Ngô Thì Nhậm đã cho quân đội lùi vào phòng thủ ở tuyến Tam Điệp - Biện Sơn. Đây là diệu kế của Ngô Thì Nhậm. Một mặt làm cho giặc chủ quan, khinh thường chúng ta, mặt khác cấp báo về Phú Xuân và đợi hợp binh cùng quân Tây Sơn từ Nam ra. Theo Ngô Thì Nhậm thì hãy cứ để cho quân Thanh ngủ nhờ một đêm, sau đó quân Tây Sơn sẽ một trận mà lấy lại núi sông.
Nghe tin cấp báo, từ Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lập đàn tế lễ lên ngôi vua, lấy niên hiệu Quang Trung để có thể hiệu triệu muôn dân cùng đồng lòng tiến quân ra Bắc diệt giặc ngoại xâm. Trong chiếu lên ngôi vua có đoạn:
"Nước Việt ta từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần gầy dựng cho đến ngày nay, thánh minh dấy lên không phải là một họ, nhưng thịnh suy, dài ngắn, vận mệnh do trời, không phải sức người tạo ra được. Trước đây Nhà Lê mất triều chính, họ Trịnh và cựu Nguyễn chia bờ cõi. Hơn hai trăm năm nay, kỷ cương rối loạn, vua Lê chỉ là hư vị, cường thần tự ý vun trồng, giềng mối của trời đất một phen rơi xuống không nâng lên được, chưa có lúc nào hư hỏng quá như lúc này vậy. Vả lại mấy năm gần dây, Nam Bắc gây việc binh đao, người dân rơi vào chốn bùn than. Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào trẫm"...
Chiêu mộ binh sĩ, tích trữ quân lương, cắt đặt các đạo binh, vua Quang Trung xuống lịnh tiến quân thần tốc ra Bắc. Đêm 30 Tết từ Tam Điệp, sau khi đã cho quân lính ăn Tết sớm, vua Quang Trung truyền lệnh tấn công và hẹn cùng ba quân sẽ ca khúc khải hoàn tại Thăng Long thành vào mồng Bảy Tết. Hịch của vua Quang Trung vang vọng núi sông "Đánh cho chúng chích luân bất phản, đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn, đánh cho để sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ".
Đại binh Tây Sơn chỉ có quân số khoảng 10 vạn quân, ít hơn quân Thanh và quân của Lê Chiêu Thống khoảng 3 lần nhưng lần lượt giành những chiến thắng liệt oanh, từ trận diệt đồn Gián Khẩu, Hà Hồi, Ngọc Hồi cho đến Khương Thượng, tức chiến thắng Đống Đa, buộc tướng Sầm Nghi Đống của quân Thanh phải treo cổ tự vẫn vì thất thủ. Đến Mồng Năm Tết, vua Quang Trung đã vào đến thành Thăng Long, sớm hơn dự định cả hai ngày. Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân phải cuống cuồng, hỗn loạn, cởi bỏ cả ấn tín, tháo chạy về phương Bắc.
Vua quan nhà Lê cũng tìm đường bôn tẩu, chạy theo về Tàu. Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa ghi thêm vào trang sử Việt về ý chí chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn bờ cõi của những bậc tiền nhân. Voi và hoả khí của Tây Sơn làm cho ngựa chiến và binh lính nhà Thanh khiếp vía, kinh hồn. Nhà thơ nổi tiếng đương thời là Ngô Ngọc Du đã khắc họa khung cảnh tưng bừng, náo nhiệt của Nhân dân kinh thành Thăng Long khi quân Tây Sơn toàn thắng:
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa
Chen vai thích cánh cùng nhau nói:
Cố đô vẫn thuộc núi sông ta.
Vua Quang Trung không may mất sớm khi sự nghiệp thống nhất sơn hà còn dở dang. Vua Cảnh Thịnh kế vị còn nhỏ tuổi, lại chỉ tin dùng cậu ruột là Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Những kẻ sĩ như Ngô Thì Nhậm, vị quân sư đại tài mà sinh thời Vua Quang Trung rất trọng dụng...lại không được Cảnh Thịnh tin dùng. Các tướng lĩnh của nhà Tây Sơn bất hoà quay ra đánh giết hoặc không ứng cứu lẫn nhau khi lâm trận. Đó là nguồn cơn dẫn đến việc nhà Tây Sơn mất nước vào tay Nguyễn Ánh, kẻ cỏng rắn cắn gà nhà
Vua Quang Trung là nhà chính trị, quân sự đại tài, cổ kim xưa nay hiếm; anh hùng dân tộc ta, người đã đánh cho quân Thanh phải "chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn; đánh cho sử tri Nam quốc Anh hùng chi hữu chủ" bằng chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa năm Kỷ Dậu 1789. Đánh cho quân Xiêm La biết thế nào là uy vũ của cọp Tây Sơn, tiêu diệt chúng ở Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785.
Kỷ niệm 234 năm ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh, nhân dân ta tưởng nhớ đến Vua Quang Trung với lòng thành kính, tri ân, cảm phục và xen lẫn tiếc nuối về một tài năng tuyệt thế, tiếc vì mặt trời không may phải "lặn giữa lúc sáng chói nhất". Nếu ông sống thêm khoảng 10 năm thì có thể lịch sử nước ta bước sang một trang khải hoàn. Xin mượn mấy câu thơ của tướng Võ Văn Dũng, một trong những Tây Sơn thất hùng, viếng vua Quang Trung năm nào để tưởng nhớ đến người Anh hùng của dân tộc ta và cũng để kết thúc bài viết:
"Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng".
ST
Không có mô tả ảnh.


LẦN CUỐI CÙNG ĐỐI ĐẦU VỚI NHÀ NGOẠI GIAO LÊ ĐỨC THỌ, HENRY KISSINGER VẪN KHÔNG THỂ CHIẾN THẮNG


Ai cũng đã biết về chi tiết nhà ngoại giao Lê Đức Thọ từ chối nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình vào năm 1973. Cách đây khoảng 2 tuần, Viện Nghiên cứu Hòa bình Oslo đã công bố một số văn bản giải mật về sự kiện đầy tranh cãi này.
Giáo sư Bjoern Vangen cho biết hai nhà ngoại giao Lê Đức Thọ và Henry Kissinger được đề cử giải Nobel chỉ 2 ngày sau khi Hiệp định Paris được ký kết bởi học giả lịch sử, chính trị, nổi tiếng nhất Na Uy bấy giờ là John Sanness.
Ban đầu, Henry Kissinger rất hào hứng với giải thưởng này và chuẩn bị sẵn một bài phát biểu dài hơn ngàn từ để đọc tại lễ nhận giải. Tờ TIME cho biết Kissinger đã thực sự rất vui mừng, còn Nixon mạnh dạn tuyên bố giải Nobel Hòa Bình lần này là “công nhận xứng đáng cho chính nghệ thuật đàm phán trong quá trình chấm dứt chiến tranh và đặt nền móng cho hòa bình”.
Nhưng, Kissinger không ngờ rằng ông Lê Đức Thọ đã biến giải Nobel Hòa Bình năm 1973 thành cuộc đối đầu cuối cùng mà Kissinger lại tiếp tục thất bại thêm một lần nữa.
Hội đồng trao thưởng không ngờ rằng ông Lê Đức Thọ lại từ chối một giải thưởng mà mọi người trên thế giới đều mơ ước được chạm đến. Có nhiều lý do được chính ông Lê Đức Thọ đưa ra cũng như báo giới phán đoán, như là hòa bình chưa lặp lại thực sự ở Việt Nam, hoặc mặc dù coi nhau là bạn nhưng ông Thọ cho rằng ông và Kissinger không thể đứng ngang hàng. Hay một lý do khác, đó là việc chiến thắng ở Paris là chiến thắng của cả một dân tộc chứ không phải là một cá nhân. Hành động của ông Thọ khiến cho Kissinger bất ngờ, từ chỗ tự hào, Kissinger bị đưa vào thế bí.
Các tờ báo nổi tiếng như NYTimes, TIME, The Washington Post đều có những bài viết cà khịa rằng sẽ là một sự xấu hổ nếu như chỉ có một mình Kissinger nhận giải. Vì hành động ông Thọ từ chối giải Nobel truyền đi một thông điệp rằng ông đang tiếp đấu tranh cho hòa bình thực sự, Kissinger nhận giải tức là Kissinger sẽ “ngừng đấu tranh”. Cuối cùng, từ sự hào hứng chuyển thành sự thất vọng, Kissinger không đến nhận giải vào tháng 12/1973.
Tuy nhiên, Kissinger vẫn nung nấu ý định nhận giải khi biết lá thư của ông Lê Đức Thọ gửi đến Na Uy có ghi: “Khi hiệp định Paris về Việt Nam được tôn trọng, tiếng súng im bặt và hòa bình thực sự lập lại ở miền Nam Việt Nam, tôi sẽ xem xét việc nhận giải thưởng này”. Tức là nếu Việt Nam thực sự chấm dứt chiến tranh, có thể hai người sẽ cùng nhận giải thưởng này, dù muộn.
Tuy nhiên, dự tính đợi ông Lê Đức Thọ nhận giải của của Henry Kissinger không thành hiện thực vì chính ông Henry Kissinger đã chấp nhận từ bỏ giải thưởng này ngay sau khi Việt Nam thống nhất như là một động thái chấp nhận thua cuộc cuối cùng. Ngày 01/05/1975, ông Henry Kissinger đã gửi điện đến Ủy ban Nobel Na Uy và đề xuất trả lại giải thưởng. Nhưng, Ủy ban Nobel Na Uy không chấp nhận và giải Nobel Hòa Bình năm 1973 chỉ có một người nhận giải và ai cũng biết rằng đây là một vết nhơ không thể quên với cuộc đời ngoại giao của Henry Kissinger.
Giải Nobel Hòa Bình như là một ước mơ của mọi nhà ngoại giao, hoạt động chính trị và dĩ nhiên, với Henry Kissinger cũng không là ngoại lệ. Nhưng trước đối thủ là nhà ngoại giao Lê Đức Thọ, Henry Kissinger đành phải chấp nhận một giải thưởng mà “có cũng như không”.
Mới đây, khi Reuters gửi những câu hỏi đến nhà ngoại giao Henry Kissinger, ông từ chối trả lời như khá nhiều lần trước đó.
ST
Có thể là hình ảnh đen trắng về 2 người và mọi người đang đứng

LỜI BÁC HỒ DẠY NĂM XƯA


“Để thực hiện từng bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, nhằm đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cán bộ và công nhân ngành công nghiệp phải có quyết tâm hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 1961, làm đà cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Nói chuyện tại Hội Nghị công nghiệp toàn miền Bắc ngày 26-1-1961, đăng trên Báo Nhân dân, số 2505, ngày 27-1-1961; trong thời điểm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đang năm đầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ III.
Trong buổi nói chuyện, Hồ Chí Minh mong muốn phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ, công nhân công nghiệp có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng trong sáng, có năng lực sáng tạo, ý chí quyết tâm vượt mọi khó khăn, vươn lên hoàn thành tốt chỉ tiêu, kế hoạch công nghiệp hóa đã đề ra. Người còn chỉ ra cho cán bộ dự hội nghị những biện pháp cách mạng cụ thể, nhất là tăng cường giáo dục nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm, giữ gìn kỷ luật trong công việc, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của công nhân.
Lời của Người năm ấy được các đại biểu dự hội nghị tiếp thu nghiêm túc và nhanh chóng phổ biến, tuyên truyền rộng rãi đến mọi ngành, mọi lĩnh lao động sản xuất; đặc biệt ngành công nghiệp đã chỉ đạo đẩy mạnh phong trào thi đua, tập trung đào tào, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, nâng cao trình độ, năng lực tổ chức, quản lý, tạo nguồn lực xây dựng, phát triển ngành công nghiệp, đóng góp quan trọng vào thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.
Hiện nay, lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm ấy vẫn đang được cán bộ, công nhân Việt Nam nghiên cứu học tập, vận dụng, phù hợp với yêu cầu phát triển ngành công nghiệp trong điều kiện mới; tập trung cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng hiện đại; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực công nghiệp có kỹ năng, có kỹ luật và năng lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới.
Quán triệt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng ngành công nghiệp, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp quân đội đã và đang tập trung củng cố nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động sản xuất; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân vững vàng về chính trị, tư tưởng, giỏi về khoa học kỹ thuật; tâm huyết, chủ động, sáng tạo, tích cực nghiên cứu, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; làm cơ sở bảo đảm nguồn lực mạnh phục vụ ngành công nghiệp quốc phòng giữ vững vị thế xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân và sự phát triển chung của đất nước. /.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

ĐẠO ĐỨC GIẢ.


Chúng ta hãy điểm lại thời điểm mà những người Anglo Saxon đổ bộ lên bắc Mỹ, hình thành nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, nguyên là vùng đất của những người da đỏ bản địa. Chỉ tính từ năm 1813 đến năm 1871, thì người Mỹ da trắng đã giết chết 3.494 người da đỏ, trong đó không thiếu gì phụ nữ và trẻ em. Người thì bị giết chết, tài nguyên của đất nước thì rơi vào tay những gia tộc da trắng.
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, cả thế giới ai cũng biết. Với chiêu bài ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản tràn xuống Đông Nam Á, Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh này một cách rất tàn bạo. Chỉ còn thiếu bom nguyên tử chứ tất cả các vũ khí hiện đại đều đã được Mỹ xử dụng tại chiến trường Việt Nam rồi. Nhưng vô phúc cho chính quyền Mỹ thời đó, gặp ngay phải dân tộc Việt Nam luôn giành chiến thắng trước quân xâm lược. Gần sáu mươi ngàn lính Mỹ tử trận đâu có phải do người Việt Nam đem quân sang Mỹ để giết bọn họ đâu. Họ đi xâm lược rồi bị giết chết đó thôi. Việt Nam đã chiến thắng nhưng lại sống hòa hợp với các nước Đông Nam Á.
Đến các cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Dưới chiêu bài tiêu diệt bọn khủng bố quốc tế, Mỹ đã đem quân sang Iraq, Lybia, Syria để tiêu diệt bọn IS, Mỹ đã không biết ngượng là gì, đã ngụy tạo những bằng chứng giả để tiến hành chiến tranh. Rốt cuộc, IS vẫn không bị tiêu diệt (nếu không muốn nói chúng đang bành trướng sang cả châu Á), nhưng khi người dân nhìn lại thì các mỏ dầu của đất nước họ đã bị Mỹ chiếm mất rồi.
Ngay từ tháng Hai, 2014, Mỹ đã chuẩn bị cho cuộc chiến với Nga, dùng người Ukraine chống lại người Nga với vũ khí và tiền bạc đến từ Mỹ và phương Tây. Mỹ hoàn toàn không bất ngờ về CDQSĐB của Nga, mà ngay từ tháng Hai năm 2022, tức là một tháng trước Mỹ đã làm sống lại đạo luật Lend-Lease (Cho mượn-Cho thuê) để mở đường đưa vũ khí vào Ukraine.
Bằng đạo luật này, Mỹ đã từng buộc các nước châu Âu phải trả nợ cho Mỹ sau khi chiến thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Nay nó lại được đưa ra áp dụng cho cuộc chiến ở Ukraine. Anh diễn viên hài càng kêu gào Mỹ cung cấp tiền và vũ khí, thì Mỹ càng vui. Vì, một là các nhà tài phiệt Mỹ bội thu trong thương vụ bán vũ khí; và hai là cuộc chiến kéo dài sẽ làm suy yếu nước Nga.
Như bài trước tôi đã viết, chẳng riêng gì Ukraine và Nga bị thiệt, mà cả các nước châu Âu đi theo Mỹ cũng bị thiệt vì phải mua vũ khí Mỹ để bổ sung vào sự thiếu hụt sau khi đã chuyển giao cho Ukraine. Nếu như Nga thắng trong cuộc chiến này thì Ukraine sẽ phải gồng mình lên mà trả nợ, có khi hàng trăm năm chưa hết.
Có người bảo, các chính quyền châu Âu có vui gì khi phải chịu khoản nợ của Mỹ. Xin thưa rằng, chỉ có người dân châu Âu không vui thôi, chứ các nhà lãnh đạo châu Âu vẫn vui lắm. Vì sao? Vì họ là những nhà tư bản. Chủ nghĩa tư bản không phải và không có nghĩa vụ làm lợi cho người dân, mà chủ yếu là làm giàu cho những nhà tư bản.
Vậy, nếu cuộc chiến tại Ukraine có thể đem đến thắng lợi cho người Nga và nước Nga không? Chắc chắn rồi. Nga sẽ thắng, nhất là ngày nay Nga không bị cô đơn, bên cạnh đó có Trung quốc, có Iran và một số nước đang làm chủ nguồn dầu mỏ thế giới.
Hình trong bài: Chỉ một cái lọ đựng thứ bột trắng vô hại, Mỹ đã giết cả nguyên thủ quốc gia của người ta.
Ph. T. Kh.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết '"There are no secrets to success. It is the result of preparation, hard work, and learning from failure." Colin Powell'

QUYẾT ĐÁNH, QUYẾT THẮNG QUÂN THANH, Ý CHÍ, TINH THẦN NGHĨA QUÂN TÂY SƠN BẤT DIỆT

 

Cách đây 234 năm, vào ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ đã làm nên chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, ghi dấu ấn sâu đậm vào trang sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Đúng vậy! Hơn hai thế kỷ trước đây, trong hoàn cảnh nước ta có nhiều biến loạn, ở Đàng Ngoài chúa Trịnh lấn át vua Lê; ở Đàng Trong, chúa Nguyễn suy tàn, gian thần lộng hành, nhũng nhiễu; đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, lầm than. Lợi dụng tình cảnh ấy, nhà Thanh từ phương Bắc ào ạt đưa 29 vạn quân tràn sang nước ta hòng xâm chiếm đất đai, đồng hóa dân tộc, biến dân ta thành dân nước họ, biến nước ta thành một quận, huyện của họ.
Trong bối cảnh “nước mất nhà tan”, “triều đình phong kiến suy tàn”, lại bị nguy cơ đồng hóa, Nguyễn Huệ đã làm lễ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, đã nhanh chóng rời Phú Xuân - Bình Định, tiến công ra Bắc. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân, tức 15-1-1789, đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình.
Dưới sự chỉ huy của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, nghĩa quân Tây Sơn chia làm 5 đạo quân, từ căn cứ Tam Điệp, đêm 30 Tết năm Kỷ Dậu 1789 đã thần tốc, táo bạo, dũng mãnh tiến công về Thăng Long. Vào lúc rạng sáng - canh Năm, ngày mùng 5 Tết. Quang Trung ra lệnh mở màn và trực tiếp chỉ huy trận đánh vỗ mặt dữ dội vào đại đồn Ngọc Hồi. Với khí thế như chẻ tre, nghĩa quân Tây Sơn tiến thẳng vào Thăng Long, đánh phá “long trời lở đất” đạo quân chốt giữ “xứ Đống Đa” và “đồn Đống Đa”, buộc thái thú Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử; đội thân binh tinh nhuệ và trung thành của họ Sầm cũng tự sát theo chủ... Trưa mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, Hoàng đế Quang Trung ngự trên lưng voi, dẫn đầu đại quân vào Kinh thành trong sự đón chào hoan hỷ của nhân dân Thăng Long.
Những kẻ xâm lược bị tiêu diệt, chiến dịch giải phóng Thăng Long đã đại thắng. Nghĩa quân Tây Sơn đã đánh tan hàng vạn quân Thanh xâm lược, đập tan các thế lực ngoại xâm, sự nhu nhược và hèn yếu của các thế lực phong kiến, tay sai; giành lại giang sơn gấm vóc; đem lại hòa bình, độc lập, tự do cho nhân dân; thống nhất đất nước; mở ra một chương mới trong lịch sử phát triển của dân tộc.
Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã hoàn thành sứ mệnh đánh đuổi quân xâm lược, cứu giống nòi, giành lại giang sơn gấm vóc. Các thủ lĩnh Tây Sơn, đứng đầu là Quang Trung - Nguyễn Huệ đã được các tầng lớp nhân dân hết lòng ủng hộ, các anh hùng, hào kiệt và sĩ phu yêu nước nhiệt tình hưởng ứng; “trên thì thuận theo ý trời, dưới thì hợp lòng dân” nên cuộc khởi nghĩa mang đậm tính nhân văn, nhân đạo và chính nghĩa. Nhờ đó, nó đã nhanh chóng phát triển thành phong trào giải phóng dân tộc; đã dạy cho quân địch bài học nhớ đời: “đem quân xâm lược Việt Nam sẽ bị trừng trị đích đáng”.
234 năm đã đi qua nhưng trong sâu thẳm trái tim cán bộ, chiến sĩ Quân đội và hàng triệu người dân Việt Nam yêu nước đều tự hào và hướng về Gò Đống Đa - nơi chiến tích đồ sộ ghi rõ chiến công hiển hách với nét vàng son độc đáo: “Chiến thắng của lòng dân, sức nước”. Nó mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc, đọng lại nơi lòng dân đất Việt; cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta vì nó khởi đầu năm mới với sự tinh túy nhất của hồn thiêng sông núi, linh khí khôn thiêng của mùa xuân, tiêu biểu cho ý chí quật cường, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, lòng quả cảm và sự sáng tạo của nhân dân ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tỏa sáng chiến lược quân sự tài tình: bí mật, thần tốc, dũng mãnh, bất ngờ của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy trực tiếp của người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Đồng thời, khẳng định nghệ thuật quân sự đặc sắc, độc đáo của những người lính Tây Sơn. Đó là nghệ thuật chuyển quân thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc; là nghệ thuật tác chiến, chiến lược trong từng trận đánh, tiến tới tổng công kích, đập tan mộng xâm lược của quân Thanh, giữ vững nền độc lập dân tộc.
Nguồn: Sưu tầm
Có thể là hình ảnh về ngoài trời và tượng đài

Những con “cà cuống”?


“Kỷ niệm” 50 năm ngày ký Hiệp định Paris, ngày 26/1 vừa qua, RFA tương lên mạng bài viết “50 năm Hiệp định Paris: thắng lợi vĩ đại hay hòa bình cay đắng” của Tường An.
50 năm sau một sự kiện ngoại giao góp phần quan trọng kết thúc chiến tranh Việt Nam – cuộc chiến khốc liệt bậc nhất lịch sử nhân loại, mọi việc tưởng đã tỏ tưởng, minh định, vậy mà qua bài viết, ngoài tác giả, có hai nhân vật vẫn cố tình nhào nặn, biến báo bênh vực chế độ Việt Nam Cộng hòa (VNCH), xuyên tạc và xúc phạm lịch sử dân tộc.
Người thứ nhất, là ông Từ Thức – được giới thiệu là “Có mặt trong phái đoàn báo chí phía Việt Nam Cộng Hòa suốt quá trình đàm phán”.
Gạt ra cái sự “đầy nhàm chán” thể hiện sự cay cú của ông Từ Thức, vẫn phải ghi nhận rằng, ông nhà báo “ngụy” này có phần đúng khi viết rằng “ Theo chủ nghĩa của cộng sản là “vừa đánh vừa đàm”. Bày ra chuyện hội nghị, nhưng sự thật vẫn tiếp tục đánh ở miền Nam và chuyện đánh miền Nam mới là chuyện quan trọng”.
Có điều, đó là “cái đúng ấu trĩ”.
Ấu trĩ bởi “bày ra chuyện hội nghị” đâu phải bởi Hà Nội? Lịch sử đã chứng minh, khi tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân miền Bắc Việt Nam, trước sự lên án của dư luận quốc tế và trong nước, Mỹ là bên đã đánh tiếng “đàm phán không điều kiện” với hàm ý đàm phán trong khi vẫn tiếp tục ném bom bắn phá miền Bắc.
Tất nhiên, Hà Nội sao có thể chấp nhận sự ngang ngược đó?
Ấu trĩ bởi Hội nghị Paris diễn ra, chiến trường miền Nam Việt Nam vẫn nóng bỏng; câu chuyện trên bàn đàm phán phản ảnh tương quan chiến trường. Về mối liên hệ giữa nó, Hà Nội nhận ra từ lâu rồi, thể hiện qua câu nói sinh động của ông Hồ Chí Minh: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”. Lỳ lợm, cậy thế súng đạn như Mỹ, nếu đối phương không thắng trên chiến trường thì còn khuya mới buộc họ ngồi vào bàn đàm phán.
Trong thực tế, Hội nghị Paris đã chỉ diễn ra từ tháng 5/1968 sau tiếng “chiêng” vang dội làm rung chuyển Nhà trắng và cả thế giới là cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Tiếng “chiêng” đó khiến Mỹ giật mình nhận ra rằng, họ không thể thắng nổi một dân tộc gan góc sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh như Việt Nam…
Thậm chí, ngay khi Hiệp định đã được thỏa thuận, Mỹ còn làm cú lật lọng, bất ngờ mở cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng nhằm gây sức ép cho đối phương. Tuy nhiên, cuộc tập kích thảm bại, thiệt hại nặng nề, Mỹ mới chịu khuất phục hoàn toàn, nối lại đàm phán. Hiệp định được ký tắt ngày 27/1/1973 với nội dung như đã thỏa thuận, trong đó nêu rõ: Hoa Kỳ và các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam…
Nội dung mà người Mỹ buộc phải thừa nhận đó bác bỏ hoàn toàn điều mà ông Từ Thức nêu trên; đồng thời, bác bỏ luôn sự xuyên tạc lịch sử trắng trợn tiếp theo của ông: “Tất cả các tài liệu chính thức cũng như bán chính thức trên mọi cấp của Cộng sản đều coi việc thôn tính miền Nam là một nghĩa vụ thiêng liêng…”
Người thứ hai, là ông Luật sư Lâm Chấn Thọ.
Tường An và RFA giới thiệu ông Lâm Chấn Thọ là một luật sư về thương mại đang hành nghề tại Quebec, Canada. Nhưng với nhiều người, ông ta được biết nhiều hơn qua những chuyện trớ trêu và nực cười. Ví như năm 2010, ông cùng cùng hai cựu thiếu tướng quân đội Sài Gòn Lý Tòng Bá, Nguyễn Văn Chức trong cái nhóm gọi là “chính phủ VNCH” (!) (do Nguyễn Bá Cẩn, cựu thủ tướng VNCH – đã từ chức cuối tháng 4/1975, nặn ra ở Mỹ sau này) cùng một số nhân vật theo đóm ăn tàn, tổ chức một buổi họp báo đề nghị quốc tế phải yêu cầu Nhà nước Việt Nam thi hành Hiệp định Paris (?!), bởi: Nếu chiếu theo điều 76 Hiến chương Liên Hiệp Quốc, thì VNCH vẫn tồn tại”.
Tất nhiên, đó là “lý” của họ và với họ, trong đó có ông Lâm Chấn Thọ. Còn viện vào nó mà đòi hỏi quốc tế thi hành, có mà quốc tế người ta cười cho thối mũi…
Với “uy tín chính trị” của ông Lâm Chấn Thọ như thế, lẽ ra phải tránh đi cho lành, thì nhà báo Tường An lại dại dột mò tới phỏng vấn. Hệ quả là, nội dung trả lời chỉ càng khiến thiên hạ vừa buồn cười vừa chán hơn nữa “cái mặt không chơi được” của ông Lâm Chấn Thọ.
Buồn cười vì 50 năm sau Hiệp định Paris, ông Lâm Chấn Thọ vẫn không phân biệt nổi chính nghĩa và phi nghĩa, đòi kẻ xâm lược phải được “bình đẳng” với người chống xâm lược qua việc gào lên rằng: “Cộng sản Việt Nam đã vi phạm điều 7 (Hiệp định)…; họ vẫn tung vô bao nhiêu là đoàn xe của Cộng sản Việt Nam đi trên con đường Hồ Chí Minh để tiến vào miền Nam của chúng ta”.
Chẳng thể có cái gọi là “miền Nam của chúng ta” như ông nói, thưa ông Thọ. Chỉ có một Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ…mà người Mỹ, bướng bỉnh đến thế, cũng buộc phải thừa nhận và ghi vào Hiệp định.
Là người Việt Nam, vậy mà chua chát thay, ông Lâm Chấn Thọ hóa ra không bằng người ngoài. Chính ông Henry Kissinger, trong chuyến thăm Hà Nội tháng 3/1973, đến thăm đền Ngọc Sơn, khi được giải thích bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt khắc trên đền, trong đó có câu: “Nam quốc sơn hà nam đế cư …”, đã phải thốt lên: đây chính là Điều 1 trong Chương I của Hiệp định Paris : “Hoa Kỳ và các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam”. Hẳn ông cố vấn của Nhà trắng khi đó cay đắng lắm? Cay đắng vì đã không biết trước để nước Mỹ tránh được một cuộc chiến tranh sai lầm hao người tốn của kèm theo di chứng lâu dài sau khi đã kết thúc.
Buồn cười nữa vì, như một hệ quả: cái sai này tất yếu dẫn tới cái sai khác. Lập luận về nội hàm “nước ngoài” trong Hiệp định, ông Lâm Chấn Thọ nói: “Họ dùng chữ “nước ngoài” tức là không thuộc miền Nam Việt Nam. Tức là Hoa Kỳ là một nước ngoài, cũng như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng là một nước ngoài đối với miền Nam Việt Nam…”.
Chán thêm cho mớ lý lẽ…cùn của “Lâm luật sư”. Cùn vì theo ông, hóa ra “có một “nước ngoài” trong một quốc gia”?
Đến Mỹ, ban đầu khăng khăng, nhưng thua đau trên chiến trường cũng như không đấu nổi lý lẽ dựa trên cơ sở lịch sử và pháp lý vững chắc của Hà Nội, đã phải từ bỏ đòi hỏi vô lý “hai bên cùng rút” (Mỹ rút, Bắc việt cũng phải rút quân ra khỏi miền Nam, vì Bắc việt là “nước ngoài”) cơ mà? Vậy mà nửa thế kỷ sau, ông Lâm Chấn Thọ vẫn còn cay cú: “Quân đội của Cộng sản Việt Nam coi họ như là một nước ngoài, nhưng họ vẫn còn có thể ở lại trong miền Nam Việt Nam trong lúc đó thì quân đội Hoa Kỳ và quân đội đồng minh của Hoa Kỳ phải rút đi. Đó là điều bất công.”
Bất công, nếu có, chỉ với ông và nhóm lác đác những người như ông còn vương lại!
Bất công, nếu có, có thể bao gồm luôn khoảng 20 người Việt, ngày 14/1/2023, bất chấp thời tiết giá lạnh, “đã tới số 17 Avenue Cambaceres, nơi bà Nguyễn Thị Bình lưu trú trước đây, để biểu tình. Ông Sơn Hà (thành viên Nhóm Tinh Thần Việt Nam Cộng Hòa) giải thích lý do ông kêu gọi biểu tình:“Thứ nhất là để tố cáo Cộng sản Việt Nam vi phạm Hiệp định Paris” – mà ông Tường An cố tình trưng ra trong bài viết như một thực chứng (?) cho cái gọi là “bất công” ấy.
Còn với dân tộc Việt Nam, việc Mỹ và quân đội đồng minh phải rút đi là điều tiên quyết, không thể nhân nhượng bởi đó là chân lý.
“Cà cuống chết đến đít còn cay”. VNCH thành thây ma chính trị đã non nửa thế kỳ, vậy mà những Tường An, Từ Thức, Lâm Chấn Thọ vẫn còn xót xa cho nó?
Chẳng trách, có người mới cho rằng: xét về sự ngoan cố, bảo thủ, cố chấp, cay cú…, ba nhân vật trên xem ra còn quá…con cà cuống vậy?
Hà Yên
Có thể là hình ảnh về 7 người và văn bản cho biết 'erfa Châu Tự Do ngay Ngày 27 tháng năm 1973 đănh doumôt bước ngoặt lịch quyet đ»nh sá‘ phận của miền Nam Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trên bàn Hội nat- Hiệp định Hòa bình Paris được ký kết vớ›i hy vọng mang lại hòa bình cho ViệtA om nhưng nó đã bpvrpham.nghiêm nghiêm trọng và hòa binh đạt được không như #RFAVGetnamese #parisaccord #VietnamWar RFA.ORG 50 năm Hiệp định Paris: Thắng lợi vĩ đại hay hòa bình cay đắng? Ngày 27 tháng năm 1973 đá¡nh dấu một bước ngoặt lịch sử, quyết đ»nh số phận của miền N...'