Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN VỚI NGƯỜI ĐẦY TỚ TRUNG THÀNH CỦA MÌNH


Chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến quyền của quần chúng nhân dân với những người lãnh đạo của mình.
Theo quan điểm của Lênin, nhân dân có quyền cử ra cũng như có quyền thay đổi và kiểm tra, hiểu rõ về các hoạt động của những người lãnh đạo. Lênin từng chỉ rõ: “Quần chúng phải có quyền được tự mình cử ra những người lãnh đạo có trách nhiệm. Quần chúng phải có quyền được thay đổi những người lãnh đạo của mình, phải có quyền được hiểu rõ và kiểm tra mỗi một bước nhỏ nhất trong hoạt động của những người đó”.
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định “Đảng là người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Tư tưởng ấy xuyên suốt quá trình ra đời, trưởng thành, phát triển, lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam của Đảng cũng như hệ thống chính trị.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào – đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Người chỉ rõ: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân”. Ngày 24 – 1 – 1947, trong Thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Ai cũng biết rằng; trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ làng xã đến toàn quốc những người chức trách đều do dân cử ra. Dân tin cậy ai thì người ấy trúng cử và bổn phận những người trúng cử là làm đầy tớ công cộng cho dân chứ không phải làm quan phát tài”.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: để Đảng, Chính phủ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình với nhân dân thì các tổ chức Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước phải thật sự vì nhân dân phục vụ. Nói chuyện với anh em công chức Thủ đô vào ngày 30 – 11 – 1954, Người nhấn mạnh: “Bất kỳ ở địa vị nào, làm công việc gì, chúng ta đều là đầy tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm như vậy, chúng ta cần phải cố gắng thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính”. Tháng 3 – 1947, khi viết về Đời sống mới, Hồ Chủ tịch yêu cầu: “Cán bộ của làng phải là người trong sạch, công bình, thạo việc, có thể làm gương cho dân làng; có thể hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung”.
Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước phải luôn trung thực với nhân dân, không được giấu giếm nhân dân, phải để nhân dân hưởng quyền được biết về công việc của Đảng, của Chính phủ, quyền kiểm tra giám sát, thụ hưởng theo đúng quy định của Đảng, của Nhà nước, của pháp luật. Đây phải thật sự là việc cần thiết, sự cầu thị của Đảng, Nhà nước với nhân dân. Ngày 10 – 10 – 1954, trong Lời kêu gọi nhân dân Thủ đô giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nguyện vọng của Chính phủ là rất mong được nhân dân giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình, là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến quyền của công dân trong việc tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới được thành lập và trong bối cảnh kháng chiến toàn quốc cam go, ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thẳng thắn nêu rõ vấn đề người dân có quyền giám sát cán bộ để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Ngày 10 – 1 – 1946, phát biểu trước nông dân và điền chủ tỉnh Hưng Yên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nước ta thời Pháp thuộc, thực dân Pháp lấy tiền quỹ để đắp đê, nhưng chúng chỉ bỏ vào việc đắp đê rất ít, còn bỏ vào túi chúng. Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ mà là của tất cả mọi quốc dân. Dân chúng có quyền kiểm soát việc làm để đề phòng những việc nhũng lạm có thể xảy tới”. Khi bàn về vấn đề Cần kiệm liêm chính, vào khoảng tháng 6 – 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Quan tham vì dân dại. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm cũng phải hóa ra LIÊM. Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên yêu cầu, động viên nhân dân cần phải thực hiện tốt quyền của mình đối với Đảng, Nhà nước. Người nhắc nhở nhân dân phải thực hiện đồng bộ, hiệu quả mối quan hệ hữu cơ giữa quyền và nghĩa vụ, quyền phải đi liền với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. Trong bài báo Đạo đức công dân đăng trên Báo Nhân Dân ngày 15 – 1 – 1954, Người viết: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”. Người chỉ rõ: công dân phải tuân theo pháp luật Nhà nước, kỷ luật lao động, giữ gìn trật tự chung; phải đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số để xây dựng lợi ích chung. Đồng thời công dân phải hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ tài sản công cộng và bảo vệ Tổ quốc.
Những tư tưởng trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị quán triệt, triển khai thực hiện tích cực, hiệu quả trên thực tế lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Qua đó, Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng như cán bộ, đảng viên đã ngày càng phấn đấu rèn luyện để xứng đáng là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Trong khi đó thì thật là vô lý khi các thế lực thù địch, thế lực xấu trắng trợn chống phá mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân và nhân dân với Đảng của mình. Chúng xuyên tạc rằng Đảng độc tài, bóp nghẹt mọi quyền lợi của người dân; Đảng chỉ lo lợi ích của Đảng, bỏ mặc nhân dân đói khổ; nhân dân bất bình, mất hết niềm tin vào Đảng. Tháng 3 – 2023 vừa qua, một đối tượng xấu lu loa rằng sở dĩ ở Việt Nam chưa đoàn kết được là: “vì những quyết định tự tung tự hứng” của Đảng “mà tình trạng chia rẽ, mất đoàn kết giữa dân và Đảng mở rộng…” và “càng sống lâu, Đảng càng chia rẽ dân tộc và gây ra đổ vỡ, tụt hậu cho đất nước”…
Sự chống phá trên của các thế lực thù địch, thế lực xấu không đánh lừa được ai và chỉ làm cho dư luận hiểu rõ thêm bản chất xấu độc của những thông tin chúng đưa ra, đồng thời củng cố, tăng cường quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chúng mà thôi.
Trong tình hình mới của cách mạng nước ta hiện nay, quyền của nhân dân càng được Đảng, Nhà nước quan tâm. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Nghị quyết Trung ương năm, khóa XIII, đề ra nội dung rất cụ thể: “Xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa tổ chức cơ sở đảng, đảng viên với nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, cán bộ, đảng viên”.
Thực tế cách mạng Việt Nam thời gian qua cho thấy: những nội dung quan trọng liên quan đến quyền, nghĩa vụ của nhân dân đã luôn được tiến hành tích cực, có hiệu quả từ hai phía, nhân dân tự nguyện, tự giác và Đảng, Nhà nước tạo thuận lợi để nhân dân thực hành tốt quyền và nghĩa vụ của mình. Mỗi người chúng ta hãy tin tưởng, chờ đợi và tích cực cùng “Người đầy tớ trung thành của nhân dân” thực hiện tốt nhất phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Q አተድቢ XÂY DỰNG ĐẢNG TA THẬT SỰ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH "LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH"'

MẤY YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TÁC GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

 Trong những năm tới, công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đi vào chiều

sâu, với những diễn biến khó khăn hơn, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan

và chủ quan, bên trong và bên ngoài,... đan xen một cách phức tạp. Đặc biệt là sự gia

tăng những âm mưu, thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch

đối với cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Tình hình đó đặt ra

những yêu cầu cơ bản, cấp thiết đối với cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên

tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta trong giai đoạn

cách mạng hiện nay.

Cần phải tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của hệ thống chính trị đối với

sự nguy hại của những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa đổi mới

kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Vì sự nghiệp đổi mới càng được

đẩy mạnh, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trở thành mối quan

hệ lớn phải được nhận thức và xử lý đúng đắn hơn để tạo động lực trực tiếp cho sự

phát triển đất nước. Đảng ta chỉ rõ: “Đổi mới càng đi vào chiều sâu, trên quy mô rộng

lớn, việc nhận thức đúng và xử lý tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính

trị càng trở nên quan trọng và bức thiết. Giai đoạn tới, cần đặt đúng vị trí vấn đề đổi

mới chính trị và đổi mới kinh tế phải đồng bộ, phù hợp, có bước đi thích hợp để thúc

đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững”.

Trong khi đó, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, đấu tranh phản bác

những quan điểm xuyên tạc mối quan hệ này nói riêng là một hoạt động khó khăn, rất

nhạy cảm, do đó, cần được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ trên cơ sở

nhận thức đầy đủ, sâu sắc của mọi tổ chức, lực lượng. Chỉ có trên cơ sở tạo sự chuyển

biến sâu sắc về nhận thức mới làm cho các tổ chức, các lực lượng xã hội có thái độ

đúng, ủng hộ, đồng thuận với Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, thao túng và phát huy

đầy đủ trách nhiệm trong tham gia vào cuộc đấu tranh phản bác, từ đó mới bảo đảm

cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có chất lượng và mang


lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tránh không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác; nhưng

không tuyệt đối hóa, chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Tăng cường bồi dưỡng nâng cao

trình độ và năng lực của lực lượng chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung,

phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính

trị ở Việt Nam nói riêng.

Tiếp tục có những đột phá mới trong tư duy lý luận của Đảng về giải quyết mối

quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo

đó, vấn đề đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định nhất là Đảng Cộng sản Việt

Nam phải tích cực nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thường xuyên tổng kết thực tiễn công

cuộc đổi mới; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khu

vực; bám sát sự vận động, biến đổi của tình hình trong nước, quốc tế để từng bước

nhận thức đầy đủ, sáng tỏ. Tức là, những vấn đề trên đây đã, đang đòi hỏi ở Đảng ta

một tư duy lý luận không chỉ mang tính sáng tạo, độc đáo mà còn có khả năng đột phá

và mang lại hiệu quả cao hơn nữa trong việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa

đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đây không chỉ là phương thức hữu hiệu nhất để

đấu tranh phê phán, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực

thù địch chung quanh mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước

ta, mà còn trở thành tiền đề trực tiếp, cơ sở khoa học, kim chỉ nam dẫn dắt cho thành

công của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị

ở nước ta nói riêng trong thời gian tới và những năm tiếp theo.

Đảng cần tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ và năng lực của lực lượng

chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, phản bác các luận điệu xuyên tạc mối

quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng. Tham gia vào

cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, chứ không chỉ là

công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Tuy nhiên, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời,

nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh đòi hỏi phải xây dựng một lực lượng chuyên

trách giữ vai trò nòng cốt, xung kích. Trong điều kiện hiện nay, cần tích cực bồi dưỡng

nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ mọi mặt của lực lượng này. Bởi thực tiễn đã cho

thấy, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào đều không

thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái, các luận điệu

xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam với một bản

lĩnh chính trị non yếu và trên một nền tảng lý luận nghèo nàn; một hệ thống tri thức

không đầy đủ, xa rời những vấn đề thực tiễn đang diễn ra trong cuộc sống.

Chính vì vậy, chúng ta cần đặt ra một số vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa cơ

bản lâu dài là cần tiếp tục hơn nữa bồi dưỡng lực lượng chuyên trách đấu tranh tư

tưởng, lý luận một cách toàn diện, trước tiên phải bồi dưỡng họ trở thành những

người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ tư duy lý luận sâu sắc, có phương

pháp đấu tranh nhạy bén, sắc sảo; thậm chí là những chuyên gia giỏi cả về lý luận lẫn

chuyên môn, nghiệp vụ, những cây bút chiến sắc bén, để tham gia tích cực vào cuộc

đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ thành quả

của cách mạng trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.

BẢN CHẤT GIỮA DÂN CHỦ VỚI NHÂN QUYỀN CẦN TỈNH TÁO VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ CỦA KẺ ĐỊCH

 Nói đến dân chủ và nhân quyền, đây là hai chế định gắn bó chặt chẽ với nhau.

Nhân quyền vừa là nền tảng, vừa là lý tưởng của dân chủ; ngược lại dân chủ là điều

kiện để thực thi nhân quyền, là thể chế chính trị bảo đảm và thực thi quyền con người.

Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh tiến bộ về quyền con người, dân chủ phát triển

càng cao thì quyền con người càng được khẳng định. Nhân quyền là một phạm trù

chính trị, lịch sử, pháp lý, xã hội và là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nên luôn có các

cách hiểu khác nhau, từ khái niệm, nội hàm đến cách thức thực hiện. Với việc thông

qua Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, lần đầu tiên

trong lịch sử nhân loại, quyền con người được thừa nhận và bảo vệ một cách rộng rãi.

Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thì: “Quyền con

người là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm

chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự

được phép và tự do cơ bản của con người”. Luật Nhân quyền quốc tế cũng chỉ ra

nghĩa vụ của quốc gia và các chủ thể nghĩa vụ khác phải có trách nhiệm thực thi việc

bảo đảm và ngăn ngừa sự vi phạm. Như vậy, Liên hợp quốc chủ yếu đề cập đến khía

cạnh pháp lý của quyền con người, đó là những bảo đảm về pháp lý trong bảo vệ các

quyền tự do cơ bản của con người. Các quan điểm theo lập trường tư sản thì nhấn

mạnh thái quá khía cạnh quyền con người là quyền tự nhiên, “bẩm sinh”, nghĩa là con

người sinh ra đã có các quyền; quyền con người là những nhu cầu cơ bản của con

người, xuất phát từ phẩm giá vốn có của mỗi người; con người sở dĩ có các quyền và

tự do đơn giản chỉ vì họ có những phẩm chất tự nhiên của con người. Như vậy, quan

điểm tư sản cho rằng quyền con người là quyền vốn có được trao cho mỗi cá nhân mà

không dựa trên bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn

giáo, chính kiến, dân tộc, xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác. Với quan

điểm như vậy, các nước phương Tây đã tuyệt đối hóa tính phổ biến của nhân quyền,

coi nhân quyền là cao nhất, là không có thời gian, không gian, biên giới. Cho nên, ở

đâu họ cho là có vi phạm nhân quyền thì ở đó họ sẽ tiến hành các hoạt động can thiệp.

Xét theo quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin thì quyền con người là quyền

của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người được pháp luật

ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực pháp luật, quyền con người được phân thành 2

nhóm chính, đó là nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã

hội, văn hóa. Nhân quyền được hình thành từ hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội.

Quyền con người mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhưng không phải tự nhiên

mà có, mà đó là thành quả của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội, lịch sử

phát triển loài người. Nhân quyền có các đặc trưng: là sản phẩm của sự phát triển lịch

sử; là những giá trị gắn với con người với tư cách cá nhân, đồng thời với tư cách là

thành viên của cộng đồng, xã hội; được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống


pháp luật quốc gia và quốc tế; là tổng thể các quyền mặc nhiên cơ bản của con người,

thể hiện nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người.

Còn Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản,

phổ biến của con người được nêu ra trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948

và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người. Nhà nước Việt

Nam luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây

dựng đất nước, là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ

quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi

sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ

quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con

người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công

dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”.

Việt Nam quan niệm quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát

vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có

tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Trong một thế giới ngày càng đa dạng,

khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực,

nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính

trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của

mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị,

kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác. Các quyền và tự do của mỗi cá

nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung

của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Việc chỉ ưu tiên hoặc

tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan

tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cả cộng

đồng là cách đề cập phiến diện, thiếu khách quan. Vì sự khác biệt về hoàn cảnh lịch

sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, nên mỗi quốc gia

có cách tiếp cận khác nhau về quyền con người. Không nước nào có quyền sử dụng,

lợi dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các

quốc gia khác, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm

điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác.

Trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng hiện nay, nhân quyền luôn bị các thế

lực thù địch lợi dụng, chính trị hóa để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước

khác, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch sử dụng chính sách “ngoại giao

nhân quyền” để áp đặt tiêu chuẩn, “xuất khẩu” nhân quyền phương Tây trên phạm vi

toàn cầu thông qua luận điểm về “giá trị phổ quát” của nhân quyền. Họ thường áp đặt

các giá trị dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cho các nước khác trên tất cả các

lĩnh vực, như xây dựng, thực thi pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển “xã

hội dân sự” nhằm tạo đối trọng với chính phủ.

Các thế lực phản động luôn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá

Việt Nam; là một trong những hoạt động nguy hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa

bình” của chúng; với chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “an ninh con người

cao hơn an ninh quốc gia”, “nhân quyền không có biên giới quốc gia”, “tam quyền


phân lập”, “xã hội dân sự”. Do đó, dân chủ, nhân quyền đang là “cái cớ”, “vỏ bọc”

cho các hành động can thiệp, gây sức ép thúc đẩy sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt

Nam của chúng; đồng thời là một khẩu hiệu, ngọn cờ để tuyên truyền, xuyên tạc, kích

động, tạo ra các khuynh hướng dân chủ cực đoan, tập hợp lực lượng chống đối, biểu

tình, tiến tới các hoạt động khủng bố, bạo loạn, lật đổ. Thực tế diễn biến chính trị ở

một số nước trên thế giới trong những năm qua cho thấy, phần lớn sự mất ổn định

chính trị, xã hội đều xuất phát từ nhận thức lệch lạc về dân chủ, nhân quyền và âm

mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, hiểu đúng về dân chủ, nhân

quyền và bản chất của việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền, sẽ giúp chúng ta nâng cao

cảnh giác cách mạng, đồng thời có cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để đấu tranh

không khoan nhượng với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên

lĩnh vực dân chủ, nhân quyền./.

NHỮNG CÁI NHÌN SAI LỆCH VỀ NGÀY 30-4-1975


Cách đây 48 năm, vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm (1954 - 1975). Kể từ đó, ngày 30-4 hằng năm trở thành ngày lễ chính thức của nhân dân Việt Nam, được đặt tên là Ngày Chiến thắng, hoặc Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Gần nửa thế kỷ qua, ngày 30-4 đã trở thành ngày hội thống nhất non sông gấm vóc, ngày tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng với các thế lực thù địch và một số đối tượng cơ hội chính trị thì ngày 30-4 lại là ngày “hằn học”, ngày “bực tức”, ngày “thù hận”. Đã thành thông lệ từ nhiều năm nay, cứ gần đến ngày lễ Chiến thắng, một số đối tượng chống cộng cực đoan ở hải ngoại lại tung ra các bài viết, trả lời phỏng vấn với cách nhìn sai lệch, xuyên tạc lịch sử về ngày 30-4-1975. Họ gọi cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là “cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc”; gọi ngày 30-4-1975 là “Ngày quốc hận” và tháng 4-1975 là “Tháng tư đen”…
Năm nay, vẫn “trung thành” với các âm mưu thâm độc, nhưng các thế lực thù địch và một số phần tử cơ hội chính trị có vẻ “đổi mới” hơn về phương thức chống phá, chúng lợi dụng mạng xã hội, mạng Internet để đưa những thông tin sai lệnh, xuyên tạc sự thật lịch sử, “vẽ” ra viễn cảnh “nếu không có ngày 30-4-1975”… Nguy hiểm hơn, một số đối tượng còn xúi giục những người trẻ tuổi ở Việt Nam đấu tranh “đòi tự do dân chủ” theo viễn tưởng phương Tây, từ đó làm giảm niềm tin vào chế độ, đòi “đa nguyên, đa đảng”…
Có lẽ chúng không biết hoặc cố tính không muốn biết sự thật lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX. Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (tháng 5-1954), thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Genevơ. Theo nội dung Hiệp định, vĩ tuyến 17 được coi là ranh giới tạm thời chia đôi đất nước ta. Ranh giới ấy lẽ ra đã được xóa bỏ, hai miền Nam-Bắc ruột thịt có thể đã được thống nhất chỉ sau hai năm bằng một cuộc Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu vào tháng 7-1956. Thế nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu muốn thế chân thực dân Pháp ở miền Nam đã phá đi cơ hội thống nhất non sông lúc ấy. Chính quyền Ngô Đình Diệm-tay sai của đế quốc Mỹ biết không thể có cơ hội chiến thắng một cách đàng hoàng, hợp pháp qua cuộc Tổng tuyển cử trên cả nước trước Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được lòng dân. Vì thế, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã giành quyền thống trị miền Nam bằng vũ lực, súng đạn, máy chém, sát hại dã man hàng vạn đồng bào, tạo ra những cuộc bắt bớ, giết hại tín đồ Phật giáo, gây mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo. Với việc dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, Mỹ đã thi hành ở Việt Nam chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Khi nhận thấy Ngô Đình Diệm không còn phù hợp với chính sách của mình, Mỹ lập tức dàn xếp một cuộc đảo chính, tiêu diệt cả hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, dựng lên tại miền Nam Việt Nam một chính thể khác phục vụ trung thành hơn cho lợi ích của Mỹ tại Việt Nam.
Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, cùng với quân Mỹ, quân đội ngụy quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều chiến dịch thảm sát đồng bào miền Nam. Kể cả khi Mỹ đưa quân trực tiếp tham chiến, hay sau khi quân Mỹ phải rút phần lớn lực lượng khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris vào năm 1973 thì bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn không thay đổi. Tại Việt Nam từ năm 1954 đến 1975, thực chất chỉ có một Nhà nước chính danh của dân tộc Việt Nam tồn tại, đó là Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được khai sinh ngày 2-9-1945 sau cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Bộ máy quản lý Nhà nước đó đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu chọn. Các đại biểu Quốc hội khóa I được cử tri cả nước tín nhiệm bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Còn cái gọi là “Chính phủ Việt Nam cộng hòa” không phải là một chính quyền hợp pháp, hợp đạo lý, hợp lòng dân mà chỉ là tay sai cho đế quốc Mỹ.
Đến đầu năm 1973, sau khi thua đau trên chiến trường, chịu sức ép của dư luận trong nước và quốc tế bởi đang thực hiện một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi nước ta. Nhưng Mỹ vẫn để lại một đội ngũ cố vấn hùng hậu, vẫn viện trợ quân sự để tiếp tục biến chính quyền “Việt Nam cộng hòa” thành con rối trong tay Mỹ. Như thế, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta không phải là một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam-Bắc của Việt Nam như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Mà đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa của toàn thể dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trước sự xâm lược của đế quốc Mỹ và đánh đổ bè lũ tay sai của Mỹ, kết thúc thắng lợi bằng Chiến thắng 30-4-1975.
Chiến thắng 30-4-1975 là thắng lợi to lớn nhất, trọn vẹn nhất, vĩ đại nhất trong hành trình thực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc. Nếu không có Chiến thắng 30-4-1975, chúng ta không thể có công cuộc đổi mới hiện nay, không có điều kiện để tập trung tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 50 năm qua./.
st
Có thể là hình ảnh về 8 người, mọi người đang đứng và ngoài trời

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG TA

 Trên thực tế, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã diễn ra trên tất cả các lĩnh

vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại,...

trong một tổng thể thống nhất. Mặc dù, bước đi của đổi mới là vấn đề vô cùng nhạy

cảm và hệ trọng. Theo đó, quan điểm của Đảng ta là đổi mới toàn diện, nhưng đặt

trọng tâm vào đâu, lĩnh vực nào đi trước, lĩnh vực nào đi sau,... để bảo đảm cho đổi

mới vận hành đúng hướng, giành thắng lợi, đòi hỏi một tư duy lý luận sâu sắc và nghệ

thuật lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Đứng vững trên lập trường, quan điểm của chủ

nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đã cân nhắc cẩn trọng, lựa chọn và ưu tiên tập trung giải

quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đảm bảo, xuyên suốt

quá trình đó, Đảng ta luôn nhấn mạnh, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính

trị là một “nội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của

Đảng ta từ khi đổi mới đến nay”.

Trên phương diện tổng thể, “Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về

tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại.

Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác”. Mặt khác, Đảng cũng

nhấn mạnh: “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chính

là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho công cuộc đổi mới nói chung đi tới

thắng lợi”. Đó còn là ban hành Hiến pháp mới (năm 1992 và năm 2013), hàng trăm

đạo luật, pháp lệnh bảo đảm cho đổi mới kinh tế; đổi mới tổ chức và hoạt động của

Nhà nước, cả về lập pháp, hành pháp và tư pháp; phát huy tốt hơn vai trò của nhân

dân, thực hành dân chủ về chính trị, huy động nhân dân vào công tác quản lý nhà

nước, giám sát và phản biện xã hội. Những đổi mới đó chính là đổi mới chính trị.

Không có những đổi mới chính trị đồng bộ đó thì không thể có thành tựu đổi mới kinh

tế như ngày nay. Song, đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị

xã hội chủ nghĩa, đúng như Đảng ta đã xác định rõ: “Đổi mới tổ chức và phương thức

hoạt động của hệ thống chính trị không phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó,

mà là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước,

phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng

định trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương

Đảng khóa XI (tháng 1-2015): Đổi mới chính trị không phải là làm thay đổi chế độ

chính trị, thay đổi bản chất của Đảng ta, Nhà nước ta mà là đổi mới cơ chế, chính

sách, tổ chức bộ máy, kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương

thức công tác, lề lối làm việc, cải cách hành chính, chống tệ quan liêu, lãng phí, tham

nhũng gây phiền hà cho dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan trong hệ

thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng,

an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc.

Suy cho cùng, thực chất của đổi mới chính trị là đổi mới tư duy nhận thức lý

luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đổi mới

cơ chế, chính sách mà hạt nhân cơ bản là giải quyết hợp lý, hài hòa quan hệ lợi ích;

đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị để xây dựng chế độ


xã hội chủ nghĩa ngày càng tươi đẹp, thực hiện tốt nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm

phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản Việt Nam. Điều đó một lần nữa khẳng định, công cuộc đổi mới ở Việt Nam

vừa có đổi mới kinh tế, vừa kết hợp đổi mới chính trị.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã minh chứng, xét về mặt kinh tế, không hề có cơ

sở để nảy sinh chế độ chính trị đa nguyên. Vì, trong các thành phần kinh tế ở nước ta,

kinh tế tư bản (nhất là kinh tế tư bản tư nhân) chưa bao giờ giữ được vị trí thống trị.

Chế độ phong kiến ở Việt Nam tồn tại hàng nghìn năm cũng không tạo ra được thành

phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong lòng nó. Kinh tế tư bản chủ nghĩa kiểu thực dân ở

nước ta được du nhập cùng với chế độ thuộc địa trước đây. Do đó, những nhà tư sản

đầu tiên là tư sản Pháp, sau đó dần dần mới xuất hiện các nhà tư sản người Việt. Tuy

nhiên, giai cấp tư sản này ngay khi mới hình thành đã bị tư sản Pháp chèn ép, cùng

với đó là hoàn cảnh của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nên giai cấp tư sản Việt

Nam bị phân hóa thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc.

Sau hơn 35 năm đổi mới, gắn với nền kinh tế nhiều thành phần, ở Việt Nam đã

và đang định hình khu vực kinh tế tư nhân ngày càng lớn mạnh, được Đảng và Nhà

nước tôn trọng, khuyến khích phát triển, đem lại nhiều kết quả ích nước, lợi nhà, nhưng

phần lớn vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Đội ngũ doanh nhân ngày

càng đông đảo, có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước. Chúng ta cần thấy

rằng, trong điều kiện có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, chính quyền của nhân

dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì mối quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp (kể cả quan

hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp tư nhân) không

giống như trong chế độ do giai cấp bóc lột nắm chính quyền. Bằng hàng loạt các công

cụ trong tay của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ hệ thống pháp luật, chính

sách (quy hoạch, thuế, tín dụng, thương mại, đầu tư...), kinh tế nhà nước gắn với nguồn

lực nhà nước (đất đai, đầu tư công, vốn trong doanh nghiệp nhà nước) đến các biện

pháp hành chính, tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân,... bảo đảm phát huy mặt

tích cực, giảm thiểu mặt tiêu cực của kinh tế tư nhân, giữ vững định hướng đóng vai trò

quyết định bảo đảm cho sự thắng thế của yếu tố xã hội chủ nghĩa đối với yếu tố phi xã

hội chủ nghĩa, trong đó có yếu tố tư bản chủ nghĩa, vốn vẫn tồn tại trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh rất khó khăn, phức tạp.

Một lần nữa, cần khẳng định rằng, chúng ta thực hiện đổi mới nhưng kiên trì

mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực. Đổi mới để có chủ nghĩa xã hội nhiều

hơn chứ không phải quay lại chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường tự do, nhà nước

pháp quyền (tư sản) và đa nguyên chính trị là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản

hiện đại. Chúng ta không đi theo hướng đó vì nó không phù hợp và không đáp ứng

nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta thực hiện kinh tế thị trường theo

định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt

Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn

với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Với những cơ sở

lý luận và thực tiễn sinh động, đầy thuyết phục, có thể nhất quán khẳng định rằng,


chúng ta thực hiện kinh tế đa thành phần nhưng vẫn bảo đảm nhất nguyên về chính

trị, giữ vững vai trò và sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn

toàn hợp lý và là bước đi đúng đắn.

Hơn một phần 3 thế kỷ, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng “Chúng ta đã đạt

được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so

với những năm trước đổi mới. Như lời đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã

từng nói: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế

như ngày nay”. Thành tựu đó là kết quả của nhiều nguyên nhân, nhiều nhân tố, nhưng

giữ vai trò chủ đạo, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của

Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự sáng tạo và độc đáo của Đảng về

giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định trong quá trình nhận thức và giải

quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, song nếu chỉ nhìn

phiến diện một chiều vào những khiếm khuyết (mặt thứ yếu, không cơ bản) của vấn đề

này mà lại vội vàng quy chụp cho rằng, ở Việt Nam chỉ có đổi mới kinh tế, không có đổi

mới chính trị; hoặc đổi mới chính trị “lệch pha” so với đổi mới kinh tế,... thì quả là một

sự “quy chụp” lố bịch; một sự xuyên tạc, bóp méo trắng trợn, thô thiển thiếu khách quan

của các thế lực thù địch. Bởi vì, sự kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa đổi mới kinh tế

với đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị

là nét “độc đáo” riêng có của Việt Nam, hoàn toàn khác với Liên Xô, với các nước xã

hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây, và Trung Quốc hiện nay.

Ngay trong bước đầu của cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm phải những

sai lầm, đi vào cải tổ chính trị vô nguyên tắc, nêu ra “dân chủ hóa”, “công khai hóa”,

thúc đẩy vô chính phủ, làm xuất hiện các lực lượng đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của

Đảng Cộng sản, tách Đảng khỏi Nhà nước, tách Nhà nước ra khỏi Đảng. Xét đến

cùng, đây là sự vô hiệu hóa Đảng, nên đã dẫn đến tan vỡ Đảng, sụp đổ chế độ xã hội

chủ nghĩa và sự tan rã của Liên bang Xô-viết. 

Còn đối với chúng ta, ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới cũng như trong quá

trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta xác định: “Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải

từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị”; “Kết hợp

chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị”; “Đổi mới chính trị phải đồng

bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp”... Điều đó có nghĩa, ở Việt Nam, đổi mới

kinh tế không phải là đổi mới một cách tùy tiện, vô nguyên tắc mà theo một định hướng

chính trị nhất định, một cơ sở khoa học đầy đủ. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị vừa

là cơ sở của nhau, vừa là điều kiện để triển khai sâu rộng và vững chắc công cuộc đổi

mới trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đối ngoại, quốc phòng - an ninh,... Đổi mới, phát

triển kinh tế tạo ra môi trường và điều kiện để củng cố cơ sở kinh tế cho đổi mới chính

trị, là nhân tố suy đến cùng quyết định sự ổn định chính trị - xã hội. Ngược lại, đổi mới

chính trị tạo ra cơ sở chính trị - pháp lý cho sự phát triển kinh tế; đồng thời, tạo động lực

và gia tăng sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế.

Bằng những luận cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên đã minh chứng một

cách rõ ràng rằng, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam luôn song hành, hỗ


trợ, bổ sung cho nhau; làm cơ sở, tiền đề, điều kiện của nhau; giữa hai mặt luôn có

mối quan hệ biện chứng và thống nhất hữu cơ với nhau, không như các luận điệu

xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 07/4


"Phải coi nhân tố con người là vấn đề số một"
Ngày 7 tháng 4 năm 1965, với bút danh Lê Nông, Bác Hồ viết bài “Chúng ta có thể đạt hơn 5 tấn thóc cả năm/một hec ta” đăng trên Báo Nhân Dân, để biểu dương một số hợp tác xã đã đạt chỉ tiêu này. Bác cũng khẳng định có thể đạt năng suất cao hơn nữa, nếu quan tâm đến việc cải tiến khoa học, kỹ thuật, thực hành cần, kiệm trong xây dựng và tự lực cánh sinh; chi bộ lãnh đạo chặt chẽ, đảng viên gương mẫu xung phong, xã viên đoàn kết nhất trí.
Tôn trọng và phát huy sức mạnh của nhân tố con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của lịch sử luôn là bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta. Bác luôn coi trọng việc giáo dục về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là nguồn sức mạnh tinh thần, vật chất to lớn để giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tư tưởng quân sự của Bác với triết lý “người trước, súng sau” đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, chiến sĩ quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt quan, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bên cạnh việc đầu tư mới vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu việc xây dựng nhân tố con người, coi đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
Tất cả cảm xúc:
14

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

SỢ SAI KHÔNG DÁM LÀM LÀ MỘT KIỂU "TỰ DIỄN BIẾN"

     Theo nhiều chuyên gia tâm lý, sợ sai không dám làm là một kiểu “tự diễn biến” mới trong quan niệm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Tư tưởng này không những làm chậm trễ, đình trệ hoạt động công vụ, gây bức xúc trong nhân dân mà còn cản trở động lực phát triển. Vì vậy, bên cạnh việc sớm thể chế hóa chủ trương về bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, quan trọng hơn, mỗi cán bộ, nhất là cán bộ quản lý phải nâng cao trách nhiệm, trình độ, bản lĩnh chính trị trong công tác với ý thức phục vụ nhân dân cao nhất.

Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

 Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh đặc sắc trong văn hóa quân sự, do các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam dày công xây đắp dưới sự tổ chức, giáo dục, huấn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, cần nghiên cứu, luận giải, khơi dậy và lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh và hiện đại.

Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị

Các chiến sĩ giúp nhân dân thu hoạch lúa chạy lũ ở tỉnh Long An - Ảnh: baoquankhu7.vn

1. Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong văn hóa quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh 

“Bộ đội Cụ Hồ” là phần thưởng cao quý, tình cảm, sự yêu mến, niềm tin sâu sắc, sự ghi nhận, tôn vinh của nhân dân dành cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, là giá trị đặc sắc, độc đáo, thiêng liêng trong văn hóa quân sự, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, là niềm vinh dự, tự hào của mỗi quân nhân. “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện tình cảm sâu sắc, sự quan tâm đặc biệt, mối quan hệ bền chặt giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với cán bộ, chiến sĩ; là hình mẫu sáng ngời, biểu tượng lý tưởng cách mạng cao đẹp, đạo đức trong sáng, ý chí quyết tâm, nghị lực phi thường của đội quân cách mạng. 

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” hình thành, phát triển gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội, tiếp nối truyền thống văn hóa đấu tranh dựng nước, giữ nước kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam suốt mấy nghìn năm lịch sử. Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, từ đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Đảng và Chủ tịch Hồ Chủ Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện, nhân dân hết lòng đùm bọc, nuôi dưỡng, cùng toàn dân giành được nhiều chiến công vang dội, lập nên những kỳ tích, ghi vào lịch sử dân tộc những mốc son chói lọi và đã hun đúc, xây đắp nên danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. 

Trong bối cảnh đất nước bị thực dân đô hộ, nhân dân đang chịu “một cổ hai tròng”, phong trào đấu tranh cách mạng sục sôi, với muôn vàn khó khăn chồng chất, chỉ có “áo vải chân không đi lùng giặc đánh”, nhưng các chiến sĩ đã xác định rõ mục tiêu, lý tưởng cách mạng, không quản khó khăn, gian khổ, hy sinh, hăng say học tập chính trị, huấn luyện kỹ chiến thuật quân sự, phát huy chủ nghĩa yêu nước, Quân đội ta đã không ngừng lớn mạnh, cùng toàn dân chiến đấu và giành thắng lợi vang dội trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên những chiến công oanh liệt như Chiến dịch Điện Biên Phủ - Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đưa đất nước hoàn toàn thống nhất, vững bước đi lên CNXH, đồng thời bảo vệ vững chắc biên giới, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. 

Quân đội ta đã kế thừa những giá trị cốt lõi trong bản sắc văn hóa dân tộc, như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo, đoàn kết, bao dung, độ lượng, tương thân, tương ái, đồng cam cộng khổ, chia ngọt, sẻ bùi, khiêm tốn, giản dị, lạc quan…; cùng với những giá trị văn hóa quân sự độc đáo “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy đoản binh để thắng trường trận”, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn”, “lấy chí nhân để thay cường bạo”,… Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng gian khổ, khốc liệt, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã chứng minh sức mạnh tinh thần, ý chí, bản lĩnh, trí tuệ, truyền thống yêu nước Việt Nam, đồng thời, tôi luyện, hun đúc, bổ sung, làm giàu văn hóa dân tộc, văn hóa quân sự, mà kết tinh và biểu hiện sinh động, đặc sắc nhất ở giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời đại Hồ Chí Minh. Đây còn là giá trị văn hóa phản ánh quá trình tu dưỡng, rèn luyện, kiên trì, bền bỉ phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội. 

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện ở những phẩm chất nổi bật, đó là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; luôn thể hiện bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, truyền thống hào hùng của Quân đội, của dân tộc và khát vọng được cống hiến; vững chí, hiên ngang trước gian khổ, khốc liệt của chiến tranh, không lùi bước trước mưa bom, bão đạn của quân thù, không nao núng, do dự trước sự hy sinh xương máu; sẵn sàng “nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”; là đội quân dám đánh, biết đánh, biết thắng mọi quân xâm lược để đem lại độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. 

Trong mọi hoàn cảnh, văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” không ngừng được củng cố, bổ sung, phát triển, lan tỏa sâu rộng trong mọi hoạt động quân sự và đời sống xã hội. Ở nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi khó khăn, cán bộ, chiến sĩ luôn xung kích đi đầu, không quản vất vả, hiểm nguy, hy sinh tính mạng, kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền biên giới, biển đảo, bảo vệ chế độ XHCN, Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Trong đời sống, “Bộ đội Cụ Hồ” luôn xuất hiện kịp thời để giúp dân khắc phục thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, xử lý ô nhiễm môi trường, phòng chống dịch bệnh, bám địa bàn hỗ trợ địa phương xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, xã hội.

Khi đối diện với đại dịch Covid-19, “Chống dịch như chống giặc” được xác định là nhiệm vụ chiến đấu thời bình, “Bộ đội Cụ Hồ” là lực lượng nòng cốt, đi đầu, tham gia phòng, chống dịch bệnh với nhiều hoạt động thiết thực như nhường chỗ ở, căn cứ làm địa điểm cách ly; đi vào tâm dịch, tham gia điều trị, giúp đỡ người bệnh, cung cấp nhu yếu phẩm, lương thực, thực phẩm, đi chợ thay người dân…

Tiếp tục làm giàu giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh thầm lặng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản, giúp nhân dân trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh…. Từ đó, củng cố niềm tin, tình cảm và sự cảm phục sâu sắc của nhân dân đối với Quân đội, làm cho mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội và nhân dân ngày càng bền chặt, “đi dân nhớ, ở dân thương”; thực sự là đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện sâu sắc ở tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, sâu nặng, cùng chung mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Kế thừa giá trị nhân văn của dân tộc trong lịch sử và giá trị văn hóa quân sự Việt Nam như “Phụ tử chi binh”; “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, trong thời đại Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ luôn gắn bó mật thiết, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt, sẻ bùi, giúp đỡ nhau lúc thường cũng như khi ra trận; sẵn sàng nhận về mình những khó khăn, vất vả, nhường thuận lợi cho đồng đội; ham học hỏi, cầu tiến bộ; có ý chí quyết tâm cao, chủ động khắc phục khó khăn, đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thể, hoàn thành nhiệm vụ được giao; kẻ thù nào cũng đánh thắng. 

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện ở tư tưởng, tình cảm, thái độ, hành động của cán bộ, chiến sĩ gắn liền với truyền thống của quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, các cơ quan, đơn vị và toàn quân; đồng thời được thể hiện trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ chiến đấu, công tác, lao động và sản xuất của Quân đội trong thời chiến và thời bình; trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, mệnh lệnh người chỉ huy, tinh thần tự giác, nghiêm minh, ở “10 lời thề”, “12 điều kỷ luật của quân nhân khi quan hệ với nhân dân”, ở lòng tự trọng, danh dự của quân nhân.  Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tôi luyện cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ phẩm chất, văn hóa và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tô thắm lịch sử hào hùng của dân tộc, làm sáng ngời giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” đã đi vào lịch sử, thấm sâu vào tâm thức của mỗi quân nhân và người dân Việt Nam, lan tỏa một cách tự nhiên trong đời sống cộng đồng, trở thành một giá trị văn hóa tiêu biểu...

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện ở tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, phản ánh chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam. Với truyền thống “thương người như thể thương thân”, “giúp bạn là tự giúp mình”, nhiều thế hệ cán bộ chiến sĩ của Quân đội không quản gian khổ, hy sinh, tình nguyện lên đường chiến đấu cùng các chiến sĩ và nhân dân Lào, Campuchia trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Quán triệt quan điểm của Đảng, cán bộ, chiến sĩ đã tham gia đội quân Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bệnh viện dã chiến cấp 2, đội công binh và các nhiệm vụ liên lạc, tham mưu, truyền thông,... Hỗ trợ, giúp đỡ các phái bộ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc hoàn thành sứ mệnh gìn giữ, kiến tạo hòa bình, tái thiết đất nước, giúp đỡ người dân nghèo châu Phi, củng cố hệ thống giao thông, trường học, hướng dẫn họ lao động, sản xuất. Bằng những hành động đó, bộ đội Việt Nam đã có được tình cảm sâu sắc của nhân dân và bạn bè quốc tế, khẳng định, lan tỏa và làm ngời sáng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tôi luyện cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ phẩm chất, văn hóa và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tô thắm lịch sử hào hùng của dân tộc, làm sáng ngời giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” đã đi vào lịch sử, thấm sâu vào tâm thức của mỗi quân nhân và người dân Việt Nam, lan tỏa một cách tự nhiên trong đời sống cộng đồng, trở thành một giá trị văn hóa tiêu biểu, thực sự là “con người đẹp nhất”, “sống hiên ngang bất khuất ở trên đời”. Hiện nay, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” đã và đang góp phần tạo động lực to lớn cùng dân tộc đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, CNH, HĐH, xây dựng và củng cố cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế của đất nước.

Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của Quân đội trong thời kỳ mới đặt ra ngày càng cao, Đảng ta xác định, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội,… tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân,… cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(1), trong đó lấy xây dựng về chính trị là nền tảng. Vì vậy, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là một nguyên tắc cơ bản, vấn đề xuyên suốt, tạo tiền đề để Quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. 

2. Tiếp tục giữ vững, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội 

Trước hết, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, tạo cơ sở để khơi dậy, lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Tập trung bảo vệ, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội trong một chỉnh thể thống nhất chặt chẽ. “Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội… tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm sức mạnh tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”(2)

Lan tỏa sâu rộng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, tiêu biểu về trí tuệ và tổ chức thực tiễn, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Giữ vững nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, quản lý của tổ chức chỉ huy trong thực hiện nhiệm vụ. 

Chuyển hóa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng hệ thống tổ chức chỉ huy, các cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân vững mạnh xuất sắc. Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao và quản lý chặt chẽ chất lượng chính trị của cán bộ, chiến sĩ. Hệ thống cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy cần nắm chắc đặc điểm nhiệm vụ, thực tiễn đơn vị để xây dựng chủ trương, biện pháp lãnh đạo, quản lý đơn vị phù hợp, thiết thực, hiệu quả. 

Thứ hai, gắn kết chặt chẽ đổi mới công tác giáo dục chính trị với nhận thức sâu sắc giá trị văn hóa “Bộ bộ Cụ Hồ”. Thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng cần lồng ghép giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ; giúp họ phát triển toàn diện, ở đó, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” phải thấm sâu trong tâm thức, trở thành phong cách sinh hoạt, học tập, công tác, huấn luyện, rèn luyện hằng ngày của họ.

Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị ở đơn vị sát với đặc điểm, nhiệm vụ và đối tượng cụ thể, bảo đảm đồng bộ, thiết thực, hiệu quả. Trang bị cho cán bộ, chiến sĩ nội dung cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và đơn vị. Nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng của bộ đội, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội…”(3) cho cán bộ, chiến sĩ; bồi đắp cho họ “có phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân”(4)

Tiếp tục giữ vững, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, đơn vị; đề cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng nếp sống chính quy, chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước; chủ động khắc phục khó khăn, “tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao”(5), không ngừng hoàn thiện nhân cách, làm giàu giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Đổi mới nội dung, hình thức công tác đảng, công tác chính trị, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội. Chủ động định hướng cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng tình hình, nắm vững thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn; phân biệt rõ “đối tác”, “đối tượng” theo quan điểm của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác, xử lý tốt mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ. Tập trung thực hiện tốt công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, chính sách, quần chúng; đề cao dân chủ, kỷ cương, kỷ luật; giữ vững đoàn kết nội bộ. 

Đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục chính trị bảo đảm linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả. Coi trọng giáo dục truyền thống, giáo dục trực quan, nhất là tổ chức tái hiện hình ảnh “Bộ độ Cụ Hồ” trong đấu tranh cách mạng để cán bộ, chiến sĩ trẻ nhận thấy bản lĩnh, nghị lực phi thường, ý chí quyết tâm, tinh thần cách mạng, lòng dũng cảm của các thế hệ đi trước đã sống, chiến đấu kiên cường, bất khuất. Gắn kết chặt chẽ giáo dục chính trị với đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, Kết luận số 21-KL/TW, Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chỉ thị 855-CT/QUTW, Nghị quyết 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương. Chú trọng giáo dục thông qua các cuộc vận động, phong trào thi đua quyết thắng, các hình tượng văn học, nghệ thuật; đẩy mạnh các hoạt động, sinh hoạt câu lạc bộ, tọa đàm, diễn đàn, kể chuyện truyền thống… để khẳng định “Bộ đội Cụ Hồ” là hình mẫu con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Coi trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật và kiến thức, năng lực, trình độ trí tuệ, năng lực tổ chức thực tiễn, phương pháp, tác phong công tác thời kỳ mới, thực sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; mẫu mực về trí tuệ, bản lĩnh, phương pháp, tác phong công tác, lời nói, hành động, việc làm; tiên phong về ý chí quyết tâm, nghị lực phi thường, tinh thần vượt qua khó khăn, gian khổ, vươn lên trong học tập, công tác, rèn luyện, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, là tấm gương sáng để lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” cho bộ đội noi theo. Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ “có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(6). Đây vừa là ý thức, nghĩa vụ, bổn phận, vừa là thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ. 

Thường xuyên xây dựng đoàn kết nội bộ tốt, tạo sự thống nhất cao trên nền tảng tình đồng chí, đồng đội và sự giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, thống nhất lợi ích, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt. 

Đề cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, thực sự là tấm gương mẫu mực trong xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị. Đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần bám sát các đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” để tu dưỡng, rèn luyện và nêu gương mọi lúc, mọi nơi, từ nhận thức tới hành động, từ việc lớn đến việc nhỏ, nhất là về phẩm chất đạo đức, lối sống và trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực noi theo”. Trong tâm thức và hành động của đội ngũ cán bộ luôn thấm nhuần tinh thần “vì nhân dân quên mình”, “vì nhân dân hy sinh” - đó là mệnh lệnh của trái tim, là lẽ sống, lý tưởng và là giá trị văn hóa cao đẹp cần hướng tới.

Thứ tư, tổ chức tốt các hoạt động thực tiễn quân sự để lan tỏa sâu rộng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. 

Thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động học tập, huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, các cuộc vận động, phong trào thi đua, lao động, sản xuất, công tác dân vận, tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, xóa đói giảm nghèo và hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc,… 

Đẩy mạnh thi đua huấn luyện giỏi, rèn luyện nghiêm, “vượt nắng, thắng mưa”, say sưa luyện rèn, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người”(7).

Tạo dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, lành mạnh để cán bộ, chiến sĩ có điều kiện phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành và phát huy các giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Tập trung xây dựng hệ thống quan hệ văn hóa tốt đẹp, nhất là quan hệ đồng chí, đồng đội; củng cố hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ, toàn diện, có chiều sâu; tổ chức các hoạt động văn hóa phong phú, thiết thực; xây dựng cảnh quan xanh, sạch, đẹp. 

Tổ chức hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ, đặc thù địa phương để cán bộ, chiến sĩ rèn luyện, phát triển và lan tỏa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân vững chắc”. Cổ vũ, tôn vinh và nhân rộng cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng, nhân văn trong các hoạt động của cán bộ, chiến sĩ.

Thứ năm, chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch và ngăn ngừa những lệch chuẩn giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. 

Lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và mở rộng hợp tác của Việt Nam về quân sự, quốc phòng, các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị tư tưởng rất quyết liệt, tinh vi, nguy hiểm. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quan điểm, chủ trương, phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam; tung ra luận điệu về “quân đội nhà nghề”, “quân đội dân tộc”, “quân đội phải trung lập về chính trị”... 

Trước tình hình đó, cần “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”(8). Phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong củng cố, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước, mục tiêu chiến đấu và nhiệm vụ của Quân đội. Ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nêu cao tinh thần yêu nước, kiên định CNXH, tinh thần quốc tế của giai cấp công nhân. 

Kiên quyết đấu tranh vạch trần các luận điệu sai trái, thù địch. Tích cực ngăn chặn, đẩy lùi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ngăn chặn những nhận thức, hành vi sai trái hòng hạ thấp uy tín, làm giảm giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. 

Như vậy, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự hội tụ những tinh hoa tốt đẹp, phản ánh nét đặc sắc của văn hóa quân sự và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, lắng đọng trong tâm thức, lan tỏa sâu rộng trong học tập, công tác, huấn luyện, rèn luyện, sinh hoạt hàng ngày của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Đây là những giá trị cốt lõi cần được khơi dậy, lan tỏa sâu rộng mọi mọi hoạt động quân sự, nhất là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần tiếp tục củng cố tình cảm, niềm tin, sự ghi nhận của nhân dân và lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(9).

_________________

Ngày nhận bài: 28-12-2022; Ngày bình duyệt: 19-02-2023; Ngày duyệt đăng:19-3-2023. 

 

(1), (2), (3), (7), (8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t. I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.158, 158, 143, 156, 156.

(4), (5), (6) Quân ủy Trung ương: Chuyên đề phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2022, tr.10, 10, 10.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 14, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tr.435.