Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tách rời Tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lê Nin

 Đại hội XIII của Đảng là sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước phát

triển mới của đất nước và hoạch định những đường lối chiến lược trong tầm nhìn dài

hạn, nhìn lại 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm

1991, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 ( kỷ niệm tròn 100 năm thành

lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (kỷ niệm 100 thành lập

nước).

Với vị trí ý nghĩa đặc biệt quan trọng như vậy, các văn kiện đại hội XIII của Đảng

tiếp tục khẳng định phải kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác –

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong thời gian trước và sau Đại hội XIII

của Đảng các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư

tưởng với những thủ đoạn ngày càng xảo quyệt và nguy hiểm. Chúng tung ra những

luận điệu đều có chung mục đích chống phá Đảng ta, nhưng hình thức thể hiện ngày

càng thay đổi đa dạng.

Có quan điểm công khai trắng trợn, thể hiện rõ sự thù địch, hằn học với chủ nghĩa

Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; có quan điểm thừa nhận lịch sử nhưng lại phủ

nhận giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin... Đặc biệt, những luận điệu cố tình


tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác -

Lênin, từ đó “nâng tầm” một cách giả tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm có tính

ngụy biện dễ làm cho một số người ngộ nhận, tin theo. Thực tế đã và đang khẳng định

bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác -

Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính

xác, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách

mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa chân

chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (1). Theo Người, chủ

nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là

“mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã

hội và chủ nghĩa cộng sản.

Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ con đường Hồ

Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã nghiên cứu, học tập chủ nghĩa

Mác – Lênin và nêu rõ bản chất cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin  một cách cơ bản,

hệ thống. Theo Người: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa.

Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ

“tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng,

mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng

vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Nếu không có chủ

nghĩa Mác - Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp nhận được chủ

nghĩa Mác – Lênin thì tư tưởng Hồ Chí Minh mới thực sự được xác lập và phát triển.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát

triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Chủ

tịch Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản

của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá

tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý

mọi việc. Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và

phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những cống

hiến đó có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống”

trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.

Theo Hồ Chí Minh, mục đích học chủ nghĩa Mác - Lênin là để phụng sự lợi ích

chung, chứ không có gì cao xa, nếu không hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, tự

kiêu, tự đại, tự tư, tự lợi là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ:

“Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ

nghĩa Mác - Lênin được”(3). Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh là khoa học, cách mạng thống nhất biện chứng với nhau. Vì thế, không thể tách

rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; không

thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại.

Cũng không thể đề cao hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như bằng cách

này hay cách khác lại phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin.


Để thực hiện động cơ chính trị đen tối, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tách rời chủ

nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch cho rằng: “Ở Việt

Nam bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng

giá, chỉ cần nói tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Đây là luận điệu không phải là sự ca ngợi, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng

giá trị đích thực, vốn có trong tư tưởng của Người; mà trái lại thực chất các thế lực

phản động muốn cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc lý luận chủ

yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời làm suy yếu và

tiến tới phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này là hết sức nguy hiểm vì đích

cuối cùng luận điểm này hướng đến đó là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận

tư tưởng Hồ Chí Minh; tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của

Đảng, làm suy yếu và đi đến xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ cương lĩnh đầu tiên năm 1930 cho

đến văn kiện Đại hội VI (năm 1986) luôn nhất quán khẳng định chủ nghĩa Mác -

Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt

Nam. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta có sự phát triển, bổ sung trên cơ sở sự vận

động của thực tiễn và khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Đây là biểu

hiện về nhận thức đúng, sâu sắc mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh của Đảng. Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ

nghĩa. Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới và rút ra một số

bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động,

không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

hội, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế

thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng

kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam” (4). Như vậy, Đảng ta xác định rất rõ:

công cuộc đổi mới hiện nay phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên

nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải xa rời

mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành

động cách mạng. Những biểu hiện tư tưởng cố tình tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với

chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách “ra vẻ” đề cao hoặc “nâng tầm” tư tưởng Hồ Chí

Minh là hoàn toàn trái với quan điểm, đường lối của Đảng ta. Vì vậy, cần kiên quyết

đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của

Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt

Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn

luyện, hơn 75 năm qua, luôn là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của

Đảng, Nhà nước và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực

sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Đồng chí


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng khen ngợi Quân đội nhân dân

Việt Nam luôn chủ động, nhạy bén tích cực đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của

Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất

bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa”

Quân đội của các thế lực thù địch. Tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị và bản lĩnh

“Bộ đội Cụ Hồ”, Quân đội ta sẽ tiếp tục xung kích đi đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng

tư tưởng của Đảng trong quân đội; các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị… tiếp tục lãnh

đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, phê phán các quan điểm

sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, luôn hoàn

thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

MỘT TRONG NHỮNG GIẢI PHÁP VÔ HIỆU HOÁ ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

     Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa và tín đồ các tôn giáo. Triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo như: Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc; Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo; Chỉ thị số 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc; Luật tín ngưỡng tôn giáo…

    Khi xảy ra các sự việc phức tạp, cần phải xác định nội dung, phương pháp và thời điểm tuyên truyền cho hợp lý. Kịp thời phổ biến về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và phản bác những luận điệu xuyên tạc, vu cáo đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, tuyên truyền về bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; về lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, tinh thần trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng.

    Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Tiếp tục thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau, chống kỳ thị, chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo; chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cực đoan, tự ti, mặc cảm; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các vùng dân tộc, tôn giáo, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia. Đồng thời, tăng cường phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong vận động, tập hợp quần chúng; tích cực triển khai có hiệu quả việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở từng địa phương; đề phòng và ngăn ngừa những biểu hiện tư tưởng, hành động cực đoan trong giải quyết vấn đề dân tộc...

Xử lý nhiễu loạn thông tin

 Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ cấp bách,

thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, toàn dân nhằm bảo vệ tính cách

mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành quả cách

mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt

được, công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực

thù địch còn có những hạn chế, bất cập. Cấp ủy, người đứng đầu một số địa phương,

cơ quan, tổ chức nhận thức chưa đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác

này nên chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng mức. Một bộ phận cán bộ,

đảng viên lơ là, mất cảnh giác trong nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”,

“tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong đấu tranh, ngăn


chặn thông tin nhiễu loạn còn mang tính hình thức, thụ động. Công tác tuyên truyền

phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa đa dạng, phong phú; nội

dung thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao. Việc thực hiện chủ trương, đường lối

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có địa phương còn sơ hở, thiếu sót;

tình trạng cán bộ cấp cơ sở quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch với người

dân vẫn còn. Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm,

kéo dài, để khiếu nại vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân, v.v. Đây chính là “miếng

mồi ngon”, “mảnh đất màu mỡ” mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên

truyền, xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu

tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin, trước hết, phải đặt

nhiệm vụ này dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, phát

huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách, chuyên sâu.

Triển khai đồng bộ các mặt công tác từ nắm tình hình, phát hiện, phòng ngừa đến các

biện pháp đấu tranh. Thường xuyên tranh thủ sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng

viên và các tầng lớp nhân dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài một

cách thực chất, hiệu quả. Tăng cường công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội,

chủ động xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh; những bức xúc, nổi cộm ngay tại

cơ sở, nhất là ở những địa phương phức tạp về an ninh chính trị; không để phát sinh

“điểm nóng”. Chủ động nghiên cứu, dự báo các phương thức hoạt động tuyên truyền

xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin của các thế lực thù địch, triển khai đồng bộ các

biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và

hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây

dựng văn hóa, con người Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu

phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền

đối nội và đối ngoại làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng

những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng

của nhân dân, nhất là kết quả đạt được trong phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay.

Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng xã hội với xây dựng, chỉnh đốn

Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiền phong,

gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới

nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết

phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận; gắn kết chặt chẽ giữa

“xây và chống”. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ,

đảng viên, nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, bản chất của hoạt động gây nhiễu loạn

thông tin; thấy rõ tác hại của các thông tin phản động, xuyên tạc. Từ đó, thúc đẩy mọi

người tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, có khả năng nhận diện, tự

“miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, nguy hại. Hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân tiếp

cận thông tin chính thống, kịp thời đấu tranh phê phán, phản bác những thông tin

nhiễu loạn, xuyên tạc.


Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an

sinh xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có

cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên

trường quốc tế. Đây là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất để bảo vệ nền

tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, quan tâm

giải quyết thỏa đáng quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Chú ý giải quyết kịp

thời, dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, các vụ đình công, lãn

công,… ngay từ cơ sở, không để kẻ địch lợi dụng chống phá.

Cùng với đó, chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, sử dụng các biện pháp

kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog phản động đăng tải các tin, bài,

video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng,

chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa thông tin tích cực để định hướng dư luận

xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thông tin,

truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội. Nghiên cứu, rà soát xác định những quan

hệ xã hội nảy sinh trên không gian mạng chưa được pháp luật điều chỉnh để cơ quan

chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn

chặn thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả

của công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ TRẮNG TRỢN TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM NHỮNG CHIÊU TRÒ NHÀM CHÁN CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CỰC ĐOAN, THIẾU THIỆN CHÍ

 Nhằm xuyên tạc tình hình, bôi nhọ tự do báo chí Việt Nam là một chiêu trò

luôn được những tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí, nhất là tổ chức Phóng

viên không biên giới (RSF) thường xuyên sử dụng. Gần đây các trang mạng phi pháp

hùa vào đăng tải, kèm theo “bình luận” của một số nhân vật “có uy tín” của RSF.

Trong Bảng xếp hạng này, RSF đã xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn tình hình tự do báo

chí ở Việt Nam, khi cho rằng Việt Nam là “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho

các nhà báo và blogger”. Thực tế cho thấy, bất cứ tổ chức, cá nhân nào tôn trọng sự


thật khách quan đều thấy rõ, ở Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí được Nhà

nước bảo đảm ngày càng tốt hơn. Điều đó được thể hiện trên cả hai phương diện.

Về phương diện pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về

quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn

toàn phù hợp với luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, khẳng định: “Công dân có quyền tự do

ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,…Việc thực hiện các quyền này do pháp

luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Báo chí, Luật An ninh

mạng, Luật Tiếp cận thông tin và các luật, bộ luật có liên quan, quy định rõ về quyền

tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động

báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan

đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.

Trên thực tế, với khung pháp luật khoa học, phù hợp thực tiễn, rõ ràng, được

Nhà nước ủng hộ, tạo điều kiện bảo đảm cho nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh

mẽ. Đến tháng 01/2021, ở Việt Nam có đầy đủ các loại hình báo chí, với 779 cơ quan

báo chí và hơn 21.000 người làm báo đã được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan báo chí

thực sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan ngôn luận

của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,

tổ chức xã hội, diễn đàn của nhân dân. Trong hành nghề, các cơ quan báo chí, nhà báo

luôn tuân thủ đúng pháp luật, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới,

phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân.

Với tôn chỉ, mục đích của mình, các cơ quan báo chí không chỉ tuyên truyền,

phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước, thành tựu trên mọi lĩnh vực của đất nước và thế giới, mà còn

góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu

cầu thông tin, văn hóa lành mạnh của nhân dân; bảo vệ và phát huy truyền thống tốt

đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại

đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng

thời, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn

luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương “người tốt, việc tốt”, nhân tố mới, điển hình

tiên tiến; phòng, chống những hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực


trong xã hội. Không những vậy, báo chí còn góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát

triển tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam; mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau

giữa các nước và các dân tộc; tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa

bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.

Hiện nay, một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử đã được

đưa vào vận hành, hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện kết nối, liên thông

gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Nhiều đơn vị đã áp

dụng chữ ký số cá nhân trong gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi

trường điện tử, như: Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông

tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc,... tạo sự thay

đổi về lề lối làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng như việc cung cấp dịch vụ

công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp.

Cùng với việc đảm bảo ngày càng tốt hơn về quyền tự do ngôn luận, tự do báo

chí, Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết trừng trị những tổ chức, cá nhân lợi dụng

vấn đề này để có những hành vi tung tin xấu độc, xuyên tạc, bôi nhọ, kéo bè, lập phái

chống đối nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ quan chức năng Nhà nước Việt Nam đã

điều tra, bắt giữ, truy tố một số đối tượng vi phạm pháp luật, tự xưng là “Nhà đấu

tranh cho dân chủ”, “nhà báo tự do”,… dưới dạng là bloger chuyên viết bài, làm video

clip,… với nội dung xuyên tạc sự thật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam,… hay là những lời “kêu gọi” lập đảng, lập hội… chống đối chế độ

để tung lên mạng xã hội như (Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,…).

Những việc làm đó đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, gây mất an ninh chính

trị, trật tự, an toàn xã hội, làm cho người dân vô cùng phẫn nộ. Vì thế, bắt giữ, điều

tra, xét xử, truy tố những đối tượng như trên là việc làm cần thiết, vừa đúng quy định

của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, vừa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính

đáng của mọi tổ chức và cá nhân. Việc một số tổ chức, cá nhân cố tình xuyên tạc bóp

méo sự thật và cho rằng Nhà nước Việt Nam điều tra, bắt giữ, truy tố những kẻ trên là

“vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” và trở thành

“một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger” là hết sức phi lý,

xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, chà đạp, bôi nhọ pháp luật


Việt Nam, chuyên bảo kê cho tội phạm, không xứng với tôn chỉ mục đích, danh xưng

mỹ miều “Phóng viên không biên giới”.

Ở Việt Nam nếu còn các nhà báo “dởm, phản động” như Nguyễn Tường Thụy,

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh…thì pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục điều tra, bắt giữ, truy

tố và nhổ tận gốc rễ những kẻ xưng danh nhà báo, nhưng lại không có lương tâm làm

báo, chuyên soi mói, bóp méo sự thật để đạt được mục đích của cá nhân mà thôi./.

 TỈNH TÁO NHẬN DIỆN ĐÚNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.

Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.
Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…
Thủ đoạn tinh vi, khó lường
Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”… Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng…”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”… Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”… Vấn đề xã hội, họ cho rằng: “Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền…”.
Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo… và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI… để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc… để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta.
Thực tế sinh động, minh chứng thuyết phục
Thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(1). Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”(2) đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.
Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ… những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.
Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua.

CẦN NĂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư

luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ;

ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa

dân tộc. Do vậy, cần vạch trần những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và

phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không

gian mạng, qua đó chủ động phòng ngừa, đấu tranh, năng cao cảnh giác cho mỗi cán


bộ đảng viên và quần chúng nhân dân nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm

mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các

thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.   

Trong tình hình hiện nay, khi lĩnh vực truyền thông được hưởng lợi ích từ

những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4., nhiều nước trên thế

giới, trong đó có Việt Nam, lại bị tác động không mong muốn, ngoài sự kiểm soát bởi

“lợi ích phi truyền thống” từ truyền thông đưa lại. Cụ thể, các thế lực thù địch, phản

động và phần tử xấu đã, đang tiếp tục triệt để lợi dụng, khai thác tính lan tỏa nhằm

đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội

nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng, kích động

hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mục tiêu

làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và

giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc

sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, với nhiều thủ đoạn ngày càng

tinh vi sảo quyệt hơn.

Thường lợi dụng trang thông tin điện tử, mạng xã hội để đăng tải, đưa các

thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất thông

tin trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là

thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ trạng thái, bình luận gây hiệu ứng tâm lý

xã hội trước những vấn đề có tính thời sự của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan

tâm, theo dõi của người đọc thì các thế lực thù địch và phần tử xấu sẽ đưa vào những

thông tin giả mạo, xấu độc, lồng ghép với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên

tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế của đất

nước, làm người đọc không phân biệt được những thông tin thật - giả, gây hoang

mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, chúng lợi dụng tiến bộ khoa học của cuộc Cách mạng công nghiệp

lần thứ tư (4.0), ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ trạng thái,

kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc,

thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến

tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh

giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Nguy hiểm hơn nữa, chúng khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng

thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin


giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần

phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết,

hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm

người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác

động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo

lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết,

báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm,

tư tưởng sai trái, phản động.

Nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của không gian mạng; thực hiện

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng

của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Kết luận số 53-KL/TW

ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt

phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội. Các cơ quan, đơn

vị phải thường xuyên quán triệt cho cán bộ chiến sỹ nhận thức đúng đắn tình hình,

nâng cao tinh thần cảnh giác đối với những thủ đoạn mới của các thế lực phản động,

thù địch. Đặc biệt trong thời gian này, khi dịch Covid còn diễn biến hết sức phức tạp

ở nhiều địa phương... Các đơn vị cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện

công tác bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, phát huy tinh thần tự giác cho cán bộ, đảng

viên, công nhân viên chức, trong đơn vị mình về việc phòng, chống thông tin xấu, độc

trên không gian mạng đạt được hiệu quả cao nhất.

THÀNH TỰU TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM SỰ THỰC KHÔNG THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ PHỦ NHẬN

 Thành tựu trong công cuộc đổi mới của Việt Nam gần 40 năm qua không

những được nhân dân ta hào hứng đón nhận, mà còn được cộng động quốc tế đánh giá

cao. Vậy mà, vẫn có một số phần tử xấu cho rằng, đổi mới đến nay đã hết động lực,

vậy nên từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì chính là thay

đổi về chế độ chính trị mà thôi. Luận điệu xuyên tạc này hết sức nguy hiểm, chống

phá trắng trợn của các thế lực thù địch, muốn chèo lái con thuyền Việt Nam đi theo

hướng khác. Nhưng chúng ta có đủ bằng chứng để bác bỏ luận điệu sai trái đó.

Rất tiếc chúng không biết rằng; Mục tiêu nhất quán của Đảng và nhân dân ta là

đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã

hội. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách

mạng Việt Nam kể từ khi có Đảng. Trong gần một thế kỷ đấu tranh, lao động, sáng

tạo, Đảng và nhân dân ta đã từng bước nhận thức đầy đủ hơn, định hình rõ ràng hơn

con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,

công bằng, văn minh”. Chúng ta thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó trong bối cảnh gặp

nhiều khó khăn, thách thức. Song dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng đã

đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khởi xướng đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập với

thế giới mà thành quả to lớn đó thì mọi người dân đều thấy được.

Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng, khoa học, thay cái cũ

bằng cái mới tốt hơn. Không phải bây giờ, mà trong suốt quá trình cách mạng, chúng

ta luôn thực hiện; song, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu


sắc, liên tục, được chuẩn bị bài bản, theo cách thức của ta và cân nhắc kỹ lưỡng từng

bước đi cụ thể. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị, với mục tiêu giữ

vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt

Nam. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong

thế ổn định, theo đúng định hướng và con đường chúng ta đã chọn.

Về động lực, nguồn lực của đổi mới. Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là

những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực của đổi mới bao

gồm nhiều yếu tố mà chúng ta có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng, phát

động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ

nghĩa. Đó là định hướng đúng vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự

chắc chắn và niềm tin tưởng vào đó.

Hai là, những thành quả của sự nghiệp đổi mới gần 40 năm qua tiếp thêm luồng

sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới.

Thế mới, lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, là kết quả

của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp

tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức

khá cao, tạo đà cho giai đoạn tiếp theo. Cả ba vấn đề này mới tạo ra tầm vóc và khả

năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng

lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển mạnh mẽ hơn.

Ba là, động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp

các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn

là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng

hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với

truyền thống văn hóa dân tộc. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá

phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền

thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài là yếu tố quan trọng; nếu biết cách tranh

thủ sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Bao gồm: vốn, kỹ thuật -

công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở

phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu

hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và


chính sách ưu đãi thích hợp, sẽ khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn

hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài

trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa “ý Đảng” và “lòng dân” là động lực mang tính quyết

định đối với sự nghiệp đổi mới của đất nước. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng

tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ quyết đoán, nắm bắt

những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, có chiến lược,

sách lược rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua

thách thức đưa đất nước đi lên giành được nhiều thành tựu quan trọng.

Thành tựu của sự nghiệp trong công cuộc đổi mới đất nước của Việt Nam sáng

tỏ như ban ngày, không thế lực đen tối nào có thể phủ nhận được. Trong công cuộc

đổi mới này; Đảng và nhân dân ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn có ý

nghĩa lịch sử, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú, hết

sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình của sự nghiệp

cách mạng và công cuộc đổi mới phù hợp “ý Đảng” và “lòng dân” đã và đang kết hợp

tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, yếu tố cơ bản

nhất tạo nên những thành tựu mới to lớn hơn nữa thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao cả:

dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã

hội. Những kẻ dân chủ “cuội”, những tổ chức phản động “hèn hạ” đừng hòng xuyên

tạc, bịa đặt hoặc phủ nhận thành tựu to lớn đó của dân tộc Việt Nam. Bởi vì, hơn 90

triệu người dân Việt Nam không nghe những luận điệu xuyên tạc nhảm nhí đó./.

CẦN TỈNH TÁO, CẢNH GIÁC ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BÓP MÉO SỰ THẬT

 Thời gian qua, tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ cho rằng, Việt Nam lợi dụng

phòng, chống dịch Covid - 19 có những hành động vi phạm nhân quyền, quyền tự do

thân thể. Chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, bóp

méo sự thật này. Chúng ta đặt câu hỏi: Tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ họ có đại diện

cho tiếng nói của người Mỹ hay không? Câu trả lời rằng: Xét về bản chất, tổ chức theo

dõi nhân quyền là một tổ chức phi chính phủ, không chính thống, tổ chức hoạt động dựa

trên những quyền lợi về mặt chính trị và kinh tế. Tiếng nói của nhóm người này mang

quan điểm cá nhân, suy diễn một chiều, không đại diện cho nước Mỹ. Chính vì vậy, cách

hành xử thiếu thiện chí theo lối bôi bẩn bức tranh đẹp, vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết

của tổ chức này là một điều dễ hiểu, chỉ nhằm mục đích phục vụ cho những cá nhân,

những tổ chức phá hoại, phản động.

Như chúng ta đã biết, Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất bị tổ chức này

xuyên tạc, bóp méo. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những


luận điệu xuyên tạc này. Họ quy chụp Việt Nam lợi dụng Covid - 19 là một điều nực

cười và thể hiện tầm tư tưởng hẹp hòi, ích kỷ, họ cố tình không hiểu rằng đại dịch

Covid - 19 là một hiểm họa lớn trong lịch sử nhân loại, không quốc gia nào muốn,

không ai muốn Covid - 19 tới, không ai mong nó tồn tại và không ai có nhu cầu lợi

dụng nó làm bàn đạp cho sự ổn định của quốc gia, dân tộc mình.

Trong những đợt dịch bùng phát; Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Nhân dân Việt

Nam đã đoàn kết, đồng lòng, cùng chung một ý chí, quyết tâm đẩy lùi đại dịch Covid

- 19. Để chủ động phòng, chống dịch Covid - 19, Bộ Y tế đã ra thông điệp 5K “Khẩu

trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo y tế”, kêu gọi mọi

người cùng nhau thực hiện việc chung sống an toàn với dịch bệnh. Chính vì thực hiện

tốt thông điệp này, ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến chống dịch bệnh Covid -

19, Việt Nam đã nhanh chóng khống chế, dập tắt dịch bệnh, không để lây lan trong

cộng đồng, như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu: “Có thể nói, chúng ta đã

thắng trong chiến dịch mở màn, giai đoạn đầu của cuộc chiến chống dịch, chúng ta

chưa chiến thắng cả cuộc chiến, nhưng nhất định chúng ta phải chiến thắng”.

Dưới tác động của dịch bệnh, rất nhiều người dân Việt Nam bị ảnh hưởng, bao

gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc hoặc nghỉ luân phiên, giảm giờ làm,

giảm thu nhập. Do đó, hàng triệu người dân Việt Nam đều lo lắng dõi theo bước chân

truy vết những ca lây nhiễm trong cộng đồng, nhất là vào các thời điểm bùng phát của

ổ dịch ở Đà Nẵng đầu tháng 7/2020 hay ở Hải Dương vào cuối tháng 01/2021. Đặc biệt

làn sóng dịch lần thứ tư, tại Bắc Ninh, Bắc Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, tại thời

điểm đó, Đảng, Nhà nước cùng các cơ quan chức năng đã đưa ra những chỉ đạo quyết

liệt và nhanh chóng, làm hết sức mình với khẩu hiệu “Chống dịch như chống giặc”,

“Quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau” nhằm mang lại cuộc sống bình yên cho nhân

dân. Các hành động đã mang hiệu quả tốt đẹp, là nhờ sự phối hợp của các cơ quan chức

năng, cùng ý thức tự giác chi phối hành vi của người dân Việt Nam trong nghiêm túc

thực hiện các quy định pháp luật đồng lòng chống dịch Covid - 19.

Một tờ báo Mỹ dành lời ca ngợi công tác chống dịch nhanh và mạnh mẽ của

Việt Nam, bài báo dẫn lời ông trưởng đại diện Liên hợp quốc tại Việt Nam, theo đó

ba yếu tố được coi là chìa khóa quyết định thành công của Việt Nam đó là truy vết,

xét nghiệm và truyền thông đến từng người dân... Cũng đề cập cuộc chiến chống

Covid - 19 ở Việt Nam tờ báo Nhân Đạo của Pháp nêu: Sự kết hợp phòng, chống


Covid - 19 ở Việt Nam và tăng trưởng kinh tế, bài báo có tiêu đề: Diệt vi rút là động

lực của tăng trưởng, tờ báo này cho rằng Việt Nam đang dựa vào chính thành tích

chống dịch để thúc đẩy kinh tế và phát triển con người.

Việt Nam đã cho thế giới thấy cách chống dịch rất hiệu quả, nhờ sự vào cuộc

sớm và mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, cách chống dịch của Việt Nam rất bài bản

và chia cụ thể theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn Việt Nam chứng minh phương án

của mình hiệu quả bằng những con số ấn tượng. Điều đáng nói là Việt Nam bám rất

sát với thực tế diễn biến dịch và linh hoạt điều chỉnh phương án chống dịch để phù

hợp với hoàn cảnh biến đổi liên tục. Tổ chức y tế thế giới đồng tình với cách làm nới

lỏng từ từ của Chính phủ trên cơ sở đánh giá rủi ro, làm từ từ để lắng nghe kết quả và

hành động quyết liệt khi có biến động mới, và như thế Việt Nam mới không bị vỡ trận

và những người yếu thế sẽ không bị bỏ lại phía sau.

Vậy mà, tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ đã không có được thông tin đầy đủ

về Việt Nam hoặc họ cố tình không tiếp nhận những thông tin đúng về Việt Nam,

thay vào đó họ căn cứ vào các bài viết của các phần tử phản động để suy diễn, bóp

méo Việt Nam vi phạm quyền con người. Theo tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền

năm 1948 quy định rõ: Ai cũng có quyền được sống tự do và an toàn thân thể, đó là

quyền được sống, quyền bảo vệ môi trường sống một cách chính đáng, bất kể cá

nhân, tổ chức nào vi phạm đến quyền được sống, quyền bảo vệ môi trường sống của

số đông thì đều là hành vi vi phạm quyền con người.

Chính vì vậy, những người vi phạm lệnh giãn cách xã hội, trốn cách ly, tụ tập

không theo quy định của Nhà nước, gây nguy hiểm đến sự an toàn cũng như tính

mạng của các cá nhân khác trong cộng đồng mới là vi phạm nhân quyền. Việt Nam

đang tập trung mọi nguồn lực để chống dịch Covid - 19, nhưng một số đối tượng vì

thỏa mãn lợi ích cá nhân, lợi dụng tự do ngôn luận đã tung tin giả, sai sự thật, gây

hoang mang dư luận, bị xử lý theo pháp luật và là hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai

coi thường luật pháp. Việc này không vi phạm tự do ngôn luận, vi phạm tự do cá

nhân. Đây chính là câu trả lời rõ nhất Vì sao Việt Nam đang rất thành công trong

công tác dập dịch, vì Chính phủ Việt Nam có sự đồng thuận và niềm tin của người

dân Việt Nam.

Chống dịch Covid - 19 và đảm bảo quyền con người là hai lĩnh vực không thể

tách rời nhau ở Việt Nam. Là một quốc gia còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng, Chính


phủ và Nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, đồng lòng cùng ý chí xây dựng một đất nước

phồn vinh, một môi trường sống hòa bình và trong lành. Do đó, nói Việt Nam vi

phạm nhân quyền, quyền về tự do thân thể là xúc phạm tới quyết tâm chung của toàn

cầu để phòng, chống sự lây lan của dịch bệnh. Các tổ chức theo dõi nhân quyền ở hải

ngoại dù cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật như thế nào chăng nữa, thì hơn 90 triệu

người dân Việt Nam cũng không quan tâm đến những đánh giá, bình luận nhảm nhí

đó của họ; bởi chúng ta đang làm đúng với lương tâm và trách nhiệm của mình.

Sử dụng nhiều phương thức đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Việc đấu tranh phòng, chống các luận điệu thù địch, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí

Minh (cả ở khía cạnh cá nhân và tư tưởng của Người) là một công việc khó khăn,

phức tạp, đòi hỏi phải thực sự nỗ lực và có nhiều giải pháp đồng bộ. Bởi các thế lực

xấu luôn không từ bất kỳ thủ đoạn nào để công kích, bôi nhọ, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí

Minh bằng những cách thức rất khó dự đoán trước. Trong khi đó, với môi trường


không gian mạng đa chiều, có tính mở rất cao, những thông tin sai trái đó vẫn có thể

âm thầm tồn tại và len lỏi, thâm nhập dần vào một bộ phận người thiếu thông tin

nhưng cả tin, nhất là trong giới trẻ. Nếu không kịp thời và quyết liệt đấu tranh, có thể

sự thẩm thấu, tán phát ngày càng sâu hơn, rộng hơn và hậu quả cũng khó lường hơn.

Đương nhiên, các giải pháp mang tính chất phòng ngừa là rất quan trọng, bởi đó là

cách trang bị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những kiến thức, nhận thức phù hợp và

mang tính nền tảng, đồng thời làm lan tỏa những thông tin đúng đắn, chính xác để tự

nó có thể “đánh bạt” các thông tin sai trái, bịa đặt. Tuy nhiên, các thế lực xấu luôn có

trăm phương ngàn kế để thực hiện âm mưu thâm độc của mình, do đó, không chỉ

phòng mà còn phải chống, chống quyết liệt và thật sự hữu hiệu.

Hiện nay, trong việc đấu tranh các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ

Chí Minh phải gắn với việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư

khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu,

vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình

mới" gắn với Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường

bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù

địch trong tình hình mới”. 

Do đó, cần thực hiện tốt việc quán triệt trong cán bộ, đảng viên về những vấn

đề mang tính nguyên tắc, những thông tin, kiến thức mang tính chính thức liên quan

đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng, tấm gương, đạo đức của Người. Tùy theo đối

tượng mà nên trang bị những nhóm kiến thức phù hợp, có thể bắt đầu từ trong nhà

trường phổ thông với những nội dung và hình thức phù hợp. Quá trình đó, cần khéo

léo dẫn lại những luận điệu sai trái, gợi ý các nội dung và cách thức bác bỏ. Trong

hoạt động thông tin và phản bác cần có cách thức để làm người tiếp nhận có thể hình

thành ý thức tự phản biện và tin tưởng bằng cách luận cứ khoa học, chứ không phải áp

đặt.

Các cơ quan chức năng cần nắm chắc những ý kiến sai trái về Chủ tịch Hồ Chí

Minh, cả về thân thế và sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, truy nguyên

nguồn gốc của thông tin sai trái đó, xác định rõ dụng ý hoặc âm mưu của việc lan

truyền các thông tin sai trái đó là gì, đánh giá mức độ lan tỏa và sự nguy hiểm của

nó… để có phương thức đấu tranh hợp lý. Dĩ nhiên, có những thông tin sai trái không


cần đấu tranh hoặc chưa cần đấu tranh thì không nhất thiết phải nhắc đến, tránh tạo sự

hiếu kỳ mà làm lan rộng thêm đến nhiều người khác.

Bên cạnh đó, với những luận điệu nguy hiểm, có chiều sâu về mặt âm mưu, thủ đoạn,

có sự phức tạp về các luận điểm, luận cứ… thì cần phải được nghiên cứu thấu đáo và

có những cách thức đấu tranh thường xuyên, bằng nhiều hình thức, trên nhiều phương

tiện, lan tỏa đến nhiều đối tượng. Chẳng hạn, việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh rồi

tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc tung hô Hồ Chí Minh

là nhà yêu nước, người theo chủ nghĩa dân tộc thuần túy… nên xem là những luận

điểm cực kỳ nguy hiểm, cần phải đấu tranh triệt để.

Điều quan trọng nữa là cần gắn chặt việc đấu tranh chống các luận điệu sai trái về Hồ

Chí Minh với hoạt động đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch về vai trò

lãnh đạo của Đảng, về các vị lãnh tụ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng… Bởi với

các thế lực xấu, họ luôn có sự gắn kết các vấn đề này với nhau, với logic tư duy là chỉ

cần “bác bỏ” hoặc “bẻ gãy” một điểm thì tự khắc những điểm khác sẽ đổ. Quá trình

đó cần tích cực xử lý các “điểm nóng”, khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong nội

bộ để không còn cớ cho kẻ xấu lợi dụng công kích.

Việc đấu tranh với các quan điểm sai trái về Hồ Chí Minh là một việc quan trọng, cần

được thực hiện thường xuyên, lâu dài, bằng nhiều hình thức, nhiều phương tiện và

nhiều lực lượng. “Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông,

kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng, các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên

trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống

và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn với nhân rộng các gương điển hình tiên tiến

trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa

các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phản động

của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với

đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán

bộ, đảng viên và nhân dân”.

Trong nhiệm vụ này, mỗi đảng viên nên tự đặt cho mình trách nhiệm, cả trong ghi

nhận, nắm bắt các thông tin sai trái, phản ánh đến cơ quan, tổ chức có trách nhiệm

(trước hết là với chi bộ) và trong những điều kiện cụ thể có thể tham gia phản bác,

đấu tranh bằng những hình thức phù hợp. Từ các đảng viên, tinh thần chủ động và

tích cực đấu tranh nên tiếp tục được lan tỏa đến quần chúng nơi công tác, nơi cư trú,


người thân và những người xung quanh khác để mỗi khi một thông tin sai trái về Chủ

tịch Hồ Chí Minh nói riêng, về các vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng nói chung thì

phải được phản ánh và đấu tranh chứ không có sự thờ ơ hoặc vô tình tiếp tay làm

thông tin đó lan truyền rộng rãi.

Một số vấn đề đặt ra trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc

độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân

tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh,

trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất

nước” (5) . Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch,

phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc

biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên

không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh

thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân,

nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại

của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Trên thực tế, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch

tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động

thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền

tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận,

sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên

không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình


trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng

của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các

quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu

tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung,

đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa

công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức

rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các đối

tượng.  

Hai là, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm

phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Thời gian qua, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia

trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động,

cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu

cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm

an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm tốt công

tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động

xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của

toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm

phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội ngũ, lực lượng

nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các

loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.      

Ba là, phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra.

Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng

kiến nhiều hoạt động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt

Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần

thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay

các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn

trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến

tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng

cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia

trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự,

mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông

tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an

ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên

không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng xảy ra.   


Bốn là, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian

mạng.

Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng

công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức

về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động

phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các

loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà

nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan,

tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm

2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung

cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm

mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng

bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Năm là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số

lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị

và dịch vụ mạng.

Việt Nam có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng

làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có

năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý

là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu,

đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược

đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng,

có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ

tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển

giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng,

cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng./.

PHÒNG CHỐNG PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Trong giờ phút thiêng liêng được kết nạp vào Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều thề trước cờ Đảng và hình ảnh lãnh tụ, suốt đời đấu tranh phấn đấu theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành và nghiêm chỉnh thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ gìn kỷ luật Đảng và phẩm chất, đạo đức của người cách mạng. Đó là lời thề danh dự định hướng rèn luyện, hành động của mỗi đảng viên, cán bộ.
Suốt các thời kỳ đấu tranh cách mạng, tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ đã thực hiện trọn vẹn lời thề đó, điều này có ý nghĩa quyết định sức chiến đấu, danh dự và uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Sự phấn đấu, hy sinh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, đảng viên đã cổ vũ, đoàn kết toàn dân tộc: giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của lịch sử dân tộc; đi tới toàn thắng trong các cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân, đế quốc vì hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc; thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
"Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng".
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có những thành công căn bản và quan trọng, bảo đảm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Song công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhất là một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
"Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc".
Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (10/2016). Biểu hiện hàng đầu của sự suy thoái đó là: "Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".
Không chỉ phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mà một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện "Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái" và những biểu hiện sai trái khác. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị là căn bản và có ý nghĩa quyết định bảo đảm bản chất cách mạng, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng là điều nguy hiểm nhất với sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Vì vậy, phải đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh đó càng đòi hỏi sự trong sạch trong nội bộ Đảng, phải ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
Cách mạng và dân tộc Việt Nam từ năm 1930 đến nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã và đang phát triển trên con đường đúng đắn với những thắng lợi và thành tựu to lớn. Vì sao với hiện thực rõ ràng như vậy vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội? Cần thiết phải làm rõ nguyên nhân.
Có những người bị chi phối bởi quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho rằng sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự thật là, đó là sự tan vỡ của một mô hình với những hạn chế và khuyết điểm hoàn toàn có thể điều chỉnh, sửa chữa được.
Chính sự phản bội và nhân danh tư duy chính trị mới đã phủ nhận thành quả vĩ đại của chủ nghĩa xã hội, đưa các nước đó rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã sửa chữa những khuyết điểm của mô hình cũ bằng đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và đổi mới thành công đã làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã tổng kết điều đó. Đặc biệt, tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam công bố năm 2021 là sự phát triển quan trọng nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần phải quán triệt và nhận thức sâu sắc những tổng kết có giá trị khoa học và hiện thực của Đảng trong từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đó là điều có vai trò quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý luận, tư tưởng đó quyết định bản chất cách mạng, khoa học, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của Đảng và cũng quyết định ý chí, lý tưởng cách mạng và phẩm chất chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng nhiều lần nhấn mạnh, học tập, nghiên cứu nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là thuộc lòng câu chữ mà phải nắm vững giá trị mang tính quy luật, phương pháp luận khoa học để vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển.
Bộ Chính trị khóa XII chủ trương tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán, bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Qua cuộc đấu tranh đó để toàn Đảng và nhân dân cảnh giác và góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng, lý luận, tăng sức đề kháng trong Đảng và toàn xã hội. Những người phai nhạt lý tưởng, dao động, giảm sút niềm tin, hoặc bị ảnh hưởng từ những luận điệu sai trái, thù địch, cố tình phụ họa, tiếp tay cho kẻ địch, hoặc do trình độ nhận thức hạn chế, bản lĩnh chính trị không vững vàng, ít chịu học tập, rèn luyện, tu dưỡng và cả sự chủ quan, kiêu ngạo, cố tình quay lưng lại với sự thật.
Vì vậy phải chú trọng công tác giáo dục, học tập, nghiên cứu lý luận chính trị một cách căn bản, sâu sắc, có hệ thống. Giáo dục sâu sắc, thiết thực lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng củng cố sức mạnh của Đảng về tư tưởng, chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Phòng ngừa sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện tính tiên phong, đức hy sinh và phẩm chất đạo đức cách mạng. Hiểu biết sâu sắc đất nước, dân tộc mình, tự hào, tự tôn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng và dân tộc và không ngừng học tập. Học tập để nâng cao trình độ trí tuệ, hiểu biết lý luận, nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để hành động tự giác, có hiệu quả.
Lý tưởng, mục tiêu của Đảng rất rõ ràng là độc lập dân tộc và xây dựng Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Là cán bộ, đảng viên của Đảng phải tuyệt đối trung thành và phấn đấu vì lý tưởng cao cả đó. Làm sao để trong Đảng không có những đảng viên phai nhạt lý tưởng, càng không thể có đảng viên xa rời tôn chỉ mục đích của Đảng. Hãy luôn luôn ghi nhớ lời thề khi gia nhập Đảng./.
Theo Báo Nhân dân
Có thể là hình ảnh về 1 người

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BÔI NHỌ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

 Thời gian qua các tổ chức và cá nhân phản động thường tung thông tin xuyên

tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản

động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi

chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị,

chống cộng, đi đầu trong âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; những phần tử cơ hội, cực

đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,

suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực

thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt

“phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt


lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội

của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con

đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ

đoạn, từ đó xây dựng hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù

địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng,

củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai

trò đặc biệt quan trọng. 

Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà

tư tưởng. Để thực hiện âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, “hạ bệ thần

tượng”, các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị dùng nhiều

chiêu trò, cách thức khác nhau. Họ xuất phát từ quan niệm học thuật phương Tây,

cường điệu hóa, tán dương những nhà tư tưởng, triết học tư sản, từ đó cho rằng “Hồ

Chí Minh không phải là nhà tư tưởng”.

Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của

Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý

nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân

tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập

dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh

thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận

và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác

- Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí

Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân

tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là

một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng

Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy

vật biện chứng nhất quán, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình

thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện

thực.

Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ

nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh có quan điểm

sâu sắc về giải phóng dân tộc, nhưng hoàn toàn không có tư tưởng về chủ nghĩa xã

hội. Họ xảo biện rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo tập

trung cho giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Những luận điệu xuyên tạc trên

không chỉ bài bác tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nham hiểm tách biệt tư tưởng Hồ

Chí Minh với bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. 


Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách

mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh

xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý

tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa

thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng

Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn

duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức

phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã

hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải

phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách

mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho

kỳ được độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự

do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Muốn có độc lập, tự do thực sự thì phải xây

dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa

nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng

chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp

bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Về lý luận xây dựng chủ

nghĩa xã hội trong di sản Hồ Chí Minh, Giáo sư Shingo Shibata viết: “Một trong

những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là

đã đề ra lý luận về chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân

dân. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng

mác xít trên thế giới áp dụng lý luận này”.

Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn

vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất.

Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ

Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa

được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế

thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ

và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.

Sự thực là, Quyển 1 của Nghị quyết trong Tập biên bản của Đại hội đồng

UNESCO Khóa họp 24 tại Pari, ngày 20-10 - 20-11-1987 có đầy đủ nội dung liên

quan đến việc tổ chức kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tôn vinh

Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”. Quyển 1

Nghị quyết được xuất bản bằng 6 thứ tiếng, có kích thước khổ giấy A4 (20cm x

30cm), bìa màu xanh lá cây đậm, dày 220 trang. Năm 2010, liên quan đến sự kiện


Nghị quyết của UNESCO, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã

phát biểu tại lễ mít-tinh tại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp: “Năm 2010 là dịp kỷ niệm

lần thứ 120 Ngày sinh của Người, và đây cũng là dịp để chúng ta ôn lại sự kiện cách

đây hơn 20 năm, vào năm 1987, tổ chức UNESCO đã quyết định kỷ niệm 100 năm

Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1990) như một trong những nhân vật quan

trọng và kiệt xuất của lịch sử”.

Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi

thời”, không còn phù hợp.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường,

hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những

quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”,

“khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại...

Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức

sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính

những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước

thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt

Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong

toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trải qua hơn 91 năm từ ngày thành lập

đến nay, Đảng ta luôn “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -

Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh;... là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép

ai được ngả nghiêng, dao động”.

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng

sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp

của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng

xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của

nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới

về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc.

Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những giá trị về

tư tưởng, lương tri và phẩm giá làm người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Giá

trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp

hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước

chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển

của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung,

trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân

loại.


Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh

thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của

nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình,

độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình

thế giới, ông Romesh Chandra viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó

có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa

bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ

đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí

Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao” (18) .

Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là

phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng

thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa

Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm

cho học thuyết khoa học và cách mạng của chúng ta luôn tỏa sáng./.

MỘT SỐ TRỌNG TÂM CHỦ YẾU ĐẶT RA NHẰM BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN MÔI TRƯỜNG KHÔNG GIAN MẠNG

 Như chúng ta đã biết, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển

mạnh mẽ trên toàn cầu, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa

học - kỹ thuật để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt

động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó,

để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Trong văn kiện Đại hội XIII của

Đảng đã khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,

thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng,

Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã

hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Để thực hiện

thắng lợi Nghị quyết của Đảng, chúng ta cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho

nhân dân, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa

bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường không gian

mạng. Các hoạt động của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền

tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi đó, số

lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến

thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không

nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các

thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị

các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm thù địch, sai trái. Để mỗi người dân

có thể “miễn dịch” với các loại vi rút này cao hơn và có thể trở thành chiến sĩ kiên

trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn

nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận

thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm đến an ninh quốc gia trên không gian mạng mà

các đối tượng phản động luôn rình dập chống phá.  

Thứ hai, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi

xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thời gian gần đây, xuất hiện ngày

càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt

động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội

phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Chính vì lẽ đó, yêu cầu làm tốt công tác

phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên

không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ. Cần làm tốt công tác quản

lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm

phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn

dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an

ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng lực lượng nòng cốt có chuyên

môn giỏi, tinh nhuệ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm công nghệ cao xâm

phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng thật sự có hiệu quả.      

Thứ ba, làm tốt công tác phòng ngừa không để xảy ra chiến tranh mạng. Để

đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải


pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương

nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh

thông tin, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Tăng cường

quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh

vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng

yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh

vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, lực

lượng tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên

không gian mạng, sẵn sàng ứng phó trong mọi tình huống chiến tranh mạng xảy ra.   

Thứ tư, làm tốt công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian

mạng. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch,

phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập,

chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia,

lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn

thông tin mạng ban hành năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà

nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn,

xử lý kịp thời các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước,

thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các

hành vi trái pháp luật.

Thứ năm, tăng cường xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng

cao, đủ về số lượng và chất lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, chủ động về công

nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng. Chúng ta có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công

nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn

hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra

ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu

về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng.

Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ

cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, nhằm đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu

của nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới./.