Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2023

CHẤN HƯNG VĂN HÓA LỄ HỘI, BẢO TỒN BẢN SẮC DÂN TỘC

 

Các địa phương trong cả nước đang sôi nổi vào mùa lễ hội truyền thống đầu năm mới. Bên cạnh đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa phong tục, tín ngưỡng của đồng bào, lễ hội truyền thống còn là dịp đẩy mạnh quảng bá văn hóa, xúc tiến đầu tư, phát triển du lịch.


Trong khi lễ hội văn hóa truyền thống ngày càng thu hút sự quan tâm của du khách thì các đối tượng có tư tưởng thù địch lại ra sức xăm xoi tìm kẽ hở, hạn chế, bất cập để thổi phồng, xuyên tạc nhằm phá hoại môi trường đầu tư và sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa của Đảng, Nhà nước ta.


Thủ đoạn lấy văn hóa xuyên tạc chính trị


Lễ hội truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống văn hóa tinh thần, nhu cầu tín ngưỡng của các thế hệ người Việt. Nền văn minh lúa nước, văn hóa làng xã của người Việt tích tụ từ hàng nghìn năm đã sản sinh, nuôi dưỡng, bảo tồn, phát triển một hệ thống di sản phong phú, đồ sộ của lễ hội, trải đều khắp đất nước. Theo thống kê của Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, hiện Việt Nam có gần 9.000 lễ hội truyền thống, là một trong những quốc gia có số lượng lễ hội truyền thống nhiều nhất khu vực và châu lục. Lễ hội truyền thống ở nước ta được tổ chức trên khắp các vùng, miền, tỉnh, thành phố và diễn ra sôi động nhất vào mùa xuân, sau Tết Nguyên đán. Nhiều lễ hội lớn đã trở thành thương hiệu văn hóa du lịch, thu hút hàng trăm nghìn lượt du khách, đem về cho địa phương nguồn thu lớn từ các dịch vụ của ngành công nghiệp không khói...


Chính vì số lượng lễ hội nhiều, hình thức lễ hội phong phú, đa dạng nên công tác tổ chức, quản lý, quảng bá... ở các địa phương không thể tránh khỏi những yếu kém, bất cập. Hạn chế phổ biến nhất là sự thương mại hóa trong nhiều phân khúc lễ hội, làm phai nhạt sắc thái phong tục, lợi dụng tín ngưỡng để “buôn thần bán thánh” trục lợi cá nhân, lợi ích nhóm... Những mặt trái, tiêu cực của đời sống xã hội trong nền kinh tế thị trường đã len lỏi, phơi bày trong nhiều phân khúc, thời điểm của văn hóa lễ hội. Những bất cập, tồn tại này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Môi trường văn hóa vẫn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu cực... Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn lúng túng, chậm trễ, nhất là trong việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa... Đặc biệt, trong công tác lãnh đạo, quản lý, chúng ta chưa nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về đường lối văn hóa của Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Phương thức lãnh đạo và quản lý văn hóa chậm được đổi mới, chưa thích ứng kịp thời với sự vận động và phát Từ những đánh giá tổng quan ở tầm vĩ mô, soi rọi trong môi trường văn hóa lễ hội, chúng ta thấy rõ sự thẳng thắn, khách quan, không né tránh hạn chế, khuyết điểm của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Từ những đánh giá tổng quan ở tầm vĩ mô, soi rọi trong môi trường văn hóa lễ hội, chúng ta thấy rõ sự thẳng thắn, khách quan, không né tránh hạn chế, khuyết điểm của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Chính vì vậy, việc bám vào những hạn chế, bất cập trong môi trường tổ chức lễ hội và văn hóa lễ hội để kích động, xuyên tạc, quy chụp... mà nhiều đối tượng có tư tưởng thù địch đã và đang thực hiện là hành vi phản văn hóa. Trên không gian mạng, không ít thành phần bất mãn trong nước và một số đối tượng lưu vong ở nước ngoài lớn tiếng chỉ trích, xuyên tạc, cho rằng văn hóa Việt Nam đang đi “thụt lùi”, “suy đồi”, “mạt hạng”... Đơn cử, Lễ hội tịch điền ở Duy Tiên (Hà Nam) là một lễ hội văn hóa truyền thống thể hiện đặc trưng sắc thái văn hóa nông nghiệp của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ. Bám vào hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày theo sau” mang tính biểu trưng của lễ hội, các đối tượng cực đoan và truyền thông mang tư tưởng thù địch ở hải ngoại lại xuyên tạc, cho rằng người Việt đang “kéo lùi lịch sử”. Họ lập luận rằng, công nghiệp thế giới phát triển như vũ bão mà Việt Nam vẫn tôn vinh, chung thủy với hình thức sản xuất thô sơ, lạc hậu thì bao giờ mới khá lên được?


Nêu một dẫn chứng như vậy để thấy rõ hơn âm mưu đằng sau những luận điệu xuyên tạc về văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa lễ hội nói riêng mà các thế lực thù địch đã và đang ra sức thực hiện. Muốn phản biện, phê phán một vấn đề về văn hóa, phải đứng trên phương diện văn hóa. Lấy văn hóa làm cái cớ để xuyên tạc chính trị, bỉ bai đường lối, chủ trương của Đảng, bôi đen bức tranh thượng tầng kiến trúc của đất nước... là cách làm xấu xa, bắt nguồn từ thái độ ti tiện, phản văn hóa. Chúng ta cần nhận diện thấu đáo để có phương pháp đấu tranh, phản bác kịp thời, hiệu quả, không để những tư tưởng thù địch làm hoen ố môi trường văn hóa lễ hội truyền thống của dân tộc.


"Lấy xây để chống" trong văn hóa lễ hội


Lễ hội truyền thống là bộ phận cấu thành của văn hóa quốc gia, chứa đựng trong đó những giá trị cốt lõi của bản sắc dân tộc. Nó là một lĩnh vực của kiến trúc thượng tầng, được quyết định bởi hạ tầng cơ sở, trực tiếp là đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, tất yếu đời sống văn hóa nói chung, văn hóa lễ hội nói riêng sẽ bị ảnh hưởng, chi phối. Quy luật giao thoa, tiếp biến của văn hóa, bên cạnh việc hấp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới, tất yếu sẽ nảy sinh những nhân tố, yếu tố tiêu cực, phản văn hóa. Những hạn chế, yếu kém, bất cập trong đời sống văn hóa nói chung, văn hóa lễ hội nói riêng đã được Đảng ta đúc kết, chỉ rõ. Dưới góc nhìn biện chứng, khách quan, những bất cập, hạn chế, yếu kém trong hoạt động lễ hội là một thách thức tất yếu. Bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc nào trong môi trường hội nhập quốc tế cũng phải chấp nhận và đương đầu với những thách thức đó. Bản lĩnh, sứ mệnh, trách nhiệm của Đảng cầm quyền là đề ra chủ trương, quyết sách đúng đắn để lãnh đạo đất nước, lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Đại hội lần thứ XIII và Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 của Đảng đã chỉ rõ: Sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng sẽ diễn ra quyết liệt, phức tạp hơn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, xã hội số, văn hóa số... vừa đem lại những cơ hội, vừa tạo ra thách thức mới trong việc xây dựng và phát triển văn hóa. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta xác định, cần quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền, của đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa của thời đại. Hệ thống các lễ hội truyền thống của dân tộc là di sản văn hóa quý báu do tổ tiên, cha ông ta mấy nghìn năm để lại. Chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy.


Chấn hưng văn hóa lễ hội là gột rửa, loại bỏ những thứ đi ngược, làm trái với thuần phong mỹ tục; củng cố, tô đậm hơn những nét đẹp của sắc thái văn hóa vùng, miền, bản sắc văn hóa dân tộc. Tẩy chay, loại bỏ những tư tưởng thù địch; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về văn hóa lễ hội; lật tẩy những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý văn hóa để xuyên tạc chính trị, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng về văn hóa... cũng chính là giải pháp quan trọng để chấn hưng văn hóa, trong đó có văn hóa lễ hội.


Văn hóa là hệ thống những tri thức rộng lớn, vốn sống phong phú. Không ai có thể tự tin cho rằng mình hiểu hết các lĩnh vực của văn hóa lễ hội. Lắng nghe những ý kiến phản biện, vì thế, là một thái độ văn hóa của những người làm văn hóa. Tuy nhiên, làm văn hóa cũng không thể “đẽo cày giữa đường”. Phản biện văn hóa, trước hết phải bắt đầu bằng một thái độ văn hóa. Lấy cớ phản biện để bỉ bai, xuyên tạc, hạ thấp giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc, hạ bệ uy tín của Đảng, Nhà nước... là thái độ thù địch của văn hóa, cần phải đấu tranh thẳng thắn, quyết liệt.


Từ môi trường lễ hội truyền thống, cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ làm văn hóa, quản lý văn hóa ở các cấp, các địa phương cần nhất quán quan điểm “lấy xây để chống” trong tổ chức, quản lý, điều hành, quảng bá, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn hóa. Đừng bàng quan, thờ ơ, né tránh, để cho những tư tưởng cực đoan, phản động có cơ hội sinh sôi, phát triển trong môi trường văn hóa.


Bản chất của lễ hội truyền thống là mỗi người tham gia đều là một thành tố của lễ hội, tìm sự an yên, tốt đẹp cho tâm hồn. Chắc chắn trong thâm tâm, không ai muốn biến mình thành một nhân tố phản văn hóa trong môi trường vốn rất văn hóa ấy. Vậy thì tại sao lại phải giành giật lấy “lộc”, ngửa nón xin những đồng tiền lẻ? Tại sao lại biến mình thành chủ đề cho các thành phần phản nghịch bám vào để bỉ bai, xuyên tạc, chống phá văn hóa đất nước, dân tộc?



KỶ LUẬT CỦA QUÂN ĐỘI LÀ KỶ LUẬT TỰ GIÁC VÀ NGHIÊM MINH

 Hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” in đậm trong lòng Nhân dân được tạo dựng không chỉ từ những chiến công vẻ vang của một quân đội anh hùng mà còn bởi nhiều yếu tố. Một phần quan trọng trong những yếu tố đó chính là ý thức kỷ luật tự giác, nghiêm minh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ được tôi luyện trong suốt chiều dài xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; hun đúc, tạo nền xây dựng nên những phẩm chất tốt đẹp của một đội quân trung hiếu, của người quân nhân cách mạng. 


V.I.Lênin cho rằng: "Trong chiến tranh “kẻ nào có kỹ thuật cao hơn, có trình độ tổ chức và kỷ luật cao hơn… thì kẻ đó sẽ chiến thắng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua"; “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm, vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”.


Xuất phát từ sứ mệnh lịch sử, QĐNDVN mang trong mình dòng máu, bản chất giai cấp công nhân, bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào cũng luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của ĐCS Việt Nam. Do đó, bản chất kỷ luật của QĐNDVN mang bản chất kỷ luật của Đảng và của giai cấp công nhân, đó là "kỷ luật tự giác, nghiêm minh". Tự giác có thể hiểu  là tự mình hiểu mà làm, không cần nhắc nhở, đốc thúc; tự giác không phải là kỹ năng bẩm sinh tự nhiên mà nó đòi hỏi phải có quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện; là sự kết hợp từ phía bản thân và phía bên ngoài, nó biểu hiện ở nhiều góc độ, trong ý nghĩ, hành động, ứng xử với chính mình và với người xung quanh; phải trải qua một quá trình giáo dục lâu dài, liên tục, có chọn lọc, tạo nên những thói quen, trở thành ý thức trong suy nghĩ và hành vi của con người. Nghiêm minh là nghiêm ngặt và rõ ràng, áp dụng cho mọi người, ai cũng như ai và trong mọi trường hợp, sự nghiêm minh không có ngoại lệ, nghiêm minh chính là sự thể hiện thái độ với những nguyên tắc được đặt ra, đối với các cá nhân, tổ chức, khi có sai phạm thì sẽ luôn bị xem xét, xử lý nghiêm minh".


Với bản chất, truyền thống kỷ luật của QĐND  được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ dày công xây dựng, bồi đắp, tuy có tính ổn định, bền vững, song không phải là "nhất thành bất biến", nó luôn vận động phát triển không ngừng, cùng với sự phát triển đi lên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Nếu chúng ta sao nhãng đến xây dựng, tăng cường đoàn kết và tính "kỷ luật tự giác và nghiêm minh" trong quân đội, để tồn tại các "mầm mống" làm nảy sinh vi phạm kỷ luật ở các đơn vị, sẽ trở thành mảnh đất màu mỡ cho các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng chống phá và "biến cái đơn lẻ thành cái bản chất", sẽ gây tổn hại đến hình ảnh cao quý "Bộ đội cụ Hồ".


Việt Nam yêu cầu bỏ thông tin sai sự thật trong phim tài liệu về máy bay MH370

 Chiều 6/4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi liên quan đến thông tin bộ phim tài liệu “MH370: Chiếc máy bay biến mất” được chiếu trên Netflix có nội dung không chính xác, cho rằng Việt Nam không hợp tác trong việc hỗ trợ tìm kiếm MH370. 


Theo đó, Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ: Ngay sau khi xảy ra vụ việc máy bay MH370 của Hãng Hàng không Malaysia Airlines bị mất tích, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã khẩn trương, chủ động lên các phương án ứng phó, tích cực chia sẻ thông tin và phối hợp với phía Malaysia cũng như các quốc gia mong muốn triển khai tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên quy mô lớn, đồng thời hỗ trợ phóng viên nước ngoài tham gia đưa tin.


Những nỗ lực của Việt Nam vào thời điểm đó đã được cộng đồng quốc tế và dư luận báo chí trong và ngoài nước ghi nhận. Cho tới nay, các cơ quan chức năng chưa hề đưa ra bất cứ một kết luận nào về vụ việc mất tích của máy bay MH370. 


Do đó, bộ phim tài liệu “MH370, chiếc máy bay biến mất” đưa ra những nhận định khi chưa có kết luận chính thức của các cơ quan chức năng là sai sự thật, không có cơ sở, không phản ánh đúng nỗ lực của các cơ quan chức năng của Việt Nam và khiến dư luận Việt Nam bất bình. 


Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nhấn mạnh yêu cầu công ty sản xuất và nhà làm phim phản ánh chính xác những đóng góp của Việt Nam trong công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn máy bay MH370 của Malaysia và gỡ bỏ, sửa đổi những nội dung không phù hợp.


LÍNH MŨ NỒI XANH VIỆT NAM

 

Nam Sudan, Châu Phi xa vời vợi

Nơi đất khô cằn, nội chiến triền miên

Lính mũ nồi xanh từ khắp mọi miền

Gìn giữ hòa bình, đem tình thương mến


Có lính Bác Hồ từ Việt Nam đến

Không ngại gian lao ng.uy hi.ểm rập rình

Đêm ngày chăm sóc, cứu chữa thương binh

Biến sa mạc thành hoa, rau xanh mướt


Có những bông hồng dịu dàng tha thướt

Để lại quê hương con nhỏ mẹ già

Coi Nam Sudan như thể quê nhà

Tỏa hương thơm trên cát khô nóng bỏng


Khi chiều tà, hoàng hôn dần khuất bóng

Nhớ con thơ, cô hòa mình dân chúng

Dạy học, hát ca bên ánh lửa bập bùng

Yêu quý thân thương như tình mẫu tử


Lính Việt Nam dạn dày trong khói lửa

Đại sứ hòa bình được bạn yêu thương

Nâng vị trí Việt Nam trên chính trường

Được Quốc tế ngợi ca đầy ngưỡng mộ./. 



QUI CHỤP HIỆN TƯỢNG THÀNH BẢN CHẤT -CHIÊU TRÒ NHAM HIỂM NHẰM HẠ BỆ VAI TRÒ CỦA TUỔI TRẺ!

     Không thể phủ nhận biểu hiện “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” là thực tế tồn tại ở một bộ phận đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) hiện nay.
     Thế nhưng, vin vào biểu hiện đó, thời gian qua, các thế lực thù địch cố tình quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất, hoặc bịa đặt những điều không có trong thực tế. 

Tỉnh táo trước mưu đồ “tẩy não” giới trẻ
     Thực tế cho thấy, lực lượng phản động, thù địch thường xác định giới trẻ là một trong những đối tượng chủ yếu cần mua chuộc, lôi kéo, nhất là trên phương diện tư tưởng, tâm lý. Thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chúng chủ ý bám vào các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và diễn biến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo dòng thời sự chủ lưu để tăng cường các hoạt động chống phá.

Sự quy chụp kệch cỡm
     Những ngày gần đây, tổ chức đoàn các cấp trong cả nước đẩy mạnh hoạt động chào mừng kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26-3-1931 / 26-3-2023), triển khai nhiều nội dung hưởng ứng Tháng thanh niên năm 2023. Lợi dụng sự tập trung theo dõi của giới trẻ đối với các hoạt động truyền thông về Đoàn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tạo cớ đào rộng, khoét sâu, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, nội công ngoại kích, lèo lái dư luận theo ý đồ, kịch bản được vạch sẵn.
     Một sự quy chụp kệch cỡm khi những kẻ cơ hội chính trị ngụy biện cho rằng, Đoàn chỉ là cái vỏ bọc hình thức, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế. Từ luận điệu xuyên tạc ấy, trên cơ sở “dẫn chứng” và cổ xúy một vài thanh niên có lối sống lệch lạc, vi phạm pháp luật, chúng lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện nhằm phủ nhận vai trò của Đoàn đối với thanh niên, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với Đoàn nói riêng và với đất nước nói chung. Bằng các hình thức tọa đàm, phỏng vấn, lấy ý kiến người trẻ, chúng sắp xếp sẵn những đối tượng thanh niên là người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước ta để gieo rắc, truyền tải tư tưởng phản động. Từ ý kiến cá nhân trên một số diễn đàn, chúng đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên.
     Từ việc phủ định thành quả của Đoàn, chúng kêu gọi thanh niên, trí thức trẻ đi theo trào lưu “cấp tiến”, tư tưởng “tự do”, “dân chủ”, tung hô những người trẻ lầm đường lạc lối là những “anh hùng”. Nhiều trang thông tin hải ngoại phát tiếng Việt gọi những đối tượng này bằng những danh xưng ngoa ngôn như “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “nhà phản biện xã hội”... cổ xúy trào lưu lợi dụng tự do ngôn luận để “phản biện”, lôi kéo thanh niên rời Đoàn, bỏ Đảng. Đón trước những hoạt động, sự kiện chính trị của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, thời gian qua, một số đối tượng núp bóng tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các hoạt động từ thiện để tập hợp, lôi kéo thanh niên Việt Nam tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài nhằm “tẩy não”, gieo rắc tư tưởng cực đoan, chống đối Đảng, Nhà nước.
     Rất dễ nhận thấy, lợi dụng chiêu thức té nước theo mưa, chiến dịch công kích, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay đang chĩa mũi nhọn vào thanh niên, vào tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong những ngày tuổi trẻ cả nước hướng tới sinh nhật lần thứ 92 của Đoàn. Các thế lực thù địch lợi dụng những đặc điểm của tâm lý tuổi trẻ là dễ tiếp cận cái mới, thích tự do, khẳng định mình, nhưng nhận thức các vấn đề chính trị-xã hội còn chưa đủ độ chín nên tìm mọi cách tuyên truyền, kích động, mua chuộc, tha hóa nhằm băng hoại lực lượng dự bị hùng hậu này của cách mạng.
     Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi mạnh mẽ phương thức giao tiếp của con người. Đây chính là thời cơ để các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ truyền thông và mạng xã hội để tác động đến tâm lý hòng lôi kéo thế hệ trẻ. Chúng đăng tải nhiều tài liệu có nội dung phản động, thông tin lập lờ, suy diễn, không đúng bản chất, với mưu đồ thâm độc là phủ nhận những thành quả của đất nước, dân tộc cả trong quá khứ, hiện tại cũng như vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo ra các diễn đàn trên mạng để nhiều người trẻ truy cập và định hướng bình luận theo hướng tiêu cực, nhằm gieo rắc sự hoài nghi, chán nản, dẫn tới mất phương hướng chính trị. Chúng tăng cường tán phát các ấn phẩm đồi trụy, bạo lực, cổ xúy lối sống thực dụng làm tha hóa con người, khơi dậy ham muốn bản năng, chạy theo hưởng lạc, không chịu học tập, làm việc và cống hiến.
     Bên cạnh đó, các “nhà dân chủ cấp tiến” tự xưng còn tung ra những thông tin nhằm hạ thấp, bôi nhọ danh dự cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước ta; khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội gần đây để đánh lái dư luận và kích động lớp trẻ tỏ thái độ bất mãn với cái mà chúng gọi là “thảm kịch của đất nước”. Thông qua những phần mềm gián điệp, tán phát các mã độc, đánh cắp thông tin cá nhân, thông tin nội bộ, các thế lực thù địch bịa đặt, tạo kịch bản, tán phát thông tin giả, tung hỏa mù nhằm bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, nói xấu Đảng, Nhà nước và các cán bộ lãnh đạo của ta, tạo cho thanh niên tâm lý hoài nghi, bi quan, khủng hoảng niềm tin, phân vân trong xác định mục tiêu, lý tưởng để phấn đấu. Rồi chúng định hướng lý tưởng sống cho thanh niên Việt Nam bằng những lập luận về “Hành trình tự diễn biến trong giới du học sinh Việt”, với quan điểm chụp mũ rằng, khi tiếp cận với cái văn minh, hiện đại, du học sinh sớm muộn cũng quay lưng với đất nước, một đi không trở lại.
     Chiến lược, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “tẩy não” giới trẻ Việt Nam đã và đang được điều chỉnh, thay đổi ngày càng tinh vi nhằm chuyển hóa tư tưởng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" ở những chủ nhân tương lai của đất nước. Thực tế đó đòi hỏi tổ chức đoàn nói chung, mỗi ĐVTN nói riêng phải tỉnh táo để tránh rơi vào “bẫy suy thoái” được giăng sẵn bởi các phần tử cơ hội.

Hiện tượng không nói lên bản chất
     Trên thực tế, một số bạn trẻ non kém bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin, ăn phải thứ “bánh vẽ” ảo tưởng đã tha hóa về nhân cách, vô hình trung trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch lợi dụng. Đó cũng chính là hệ quả của tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” trong một bộ phận thanh niên. Thế nhưng, cần phải khẳng định, đó chỉ là thiểu số, là hiện tượng chứ không phải bản chất. Lợi dụng những hiện tượng hãn hữu đó, các phần tử theo chủ nghĩa xét lại đã mượn cớ “lập luận logic” để phán rằng, thanh niên Việt Nam ở các giai đoạn của cách mạng đều có những người biết “thức tỉnh” để đi theo tiếng gọi của “dân chủ”, của “cấp tiến”.
     Trước mưu đồ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã phát huy vai trò tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng, định hướng thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là hơn 4.000 fanpage trên mạng xã hội Facebook từ Trung ương tới cơ sở và 2,2 triệu thuê bao kết nối ứng dụng di động “Thanh niên Việt Nam”, cùng nhiều phương thức tuyên truyền khác.
     Để vạch trần âm mưu đen tối, phản bác luận điệu sai trái, chiến dịch truyền thông của Đoàn khẳng định, đưa ra những minh chứng cụ thể đã được lịch sử ghi nhận về vai trò quan trọng của tổ chức đoàn, thành tựu đạt được của thế hệ trẻ Việt Nam trong các giai đoạn cách mạng.
     Công tác tuyên truyền, định hướng dư luận trong thanh niên được tiến hành bài bản, đem lại cái nhìn tổng thể, toàn diện về cả quá trình xây dựng và trưởng thành của Đoàn cùng những cống hiến to lớn của tuổi trẻ. Rõ ràng, lịch sử không thể phủ nhận, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, tiếp nối truyền thống cách mạng hào hùng của dân tộc, lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam luôn nêu cao lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nhìn lại lịch sử gần một thế kỷ xây dựng và trưởng thành của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, chúng ta nhớ đến những cái tên đã trở thành bất tử, thành tượng đài của các thế hệ thanh niên Việt Nam về tinh thần yêu nước, xả thân vì nghĩa lớn. “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, chứ không thể có con đường nào khác”-câu nói bất hủ của anh hùng liệt sĩ Lý Tự Trọng, người đoàn viên đầu tiên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh-đã trở thành lý tưởng sống và vũ khí chiến đấu, "kim chỉ nam" cho hành động của thanh niên Việt Nam trong mọi thời kỳ cách mạng.
     Trong thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, trên mọi mặt trận đã có hàng vạn dũng sĩ và chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng, hàng triệu ĐVTN ưu tú tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, anh dũng hy sinh, cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp cách mạng. Đến thời kỳ kiến thiết đất nước, thanh niên luôn là lực lượng quan trọng với tinh thần xung kích, tình nguyện, ra sức học tập, lao động, rèn luyện để xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.  
     Những năm gần đây, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp có nhiều đổi mới, đột phá về nội dung và phương thức hoạt động. Công tác Đoàn và phong trào thanh niên ngày càng phù hợp, sát với thực tế và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của ĐVTN. Điển hình như các phong trào: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc"; các chương trình: “Đồng hành với thanh niên trong học tập”; “Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần”... Qua đây, nhiều tấm gương tuổi trẻ lập thân, lập nghiệp thành công; nhiều thanh thiếu niên mang vinh quang về cho Tổ quốc trong các lĩnh vực khác nhau. Họ là điểm sáng hình thành một thế hệ thanh niên có nhận thức chính trị, lý tưởng rõ ràng, dám đương đầu với thử thách, khó khăn để lập thân, lập nghiệp, góp phần xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và hùng cường. Minh chứng sinh động là trong nhiệm kỳ 2017-2022, toàn Đoàn đăng tải và chia sẻ được gần 25 triệu tin tốt và câu chuyện đẹp trong thanh niên; Ban Chấp hành Trung ương Đoàn trao tặng 210 Huy hiệu “Tuổi trẻ dũng cảm” và hàng trăm nghìn phần thưởng vinh danh những điển hình tiêu biểu của tuổi trẻ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
     Thực tiễn là lời khẳng định rõ ràng, một bộ phận thanh niên phai nhạt lý tưởng, có lối sống lệch lạc chỉ là vết chấm nhỏ trầm mặc trong bức tranh tổng thể rực sáng tinh thần tận hiến của tuổi trẻ. Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn trong định hướng giáo dục thanh niên: Tránh “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Trong suốt nhiệm kỳ Đại hội XI, lời huấn thị đó của Tổng Bí thư được tổ chức đoàn các cấp quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa bằng nhiều hoạt động, phong trào cụ thể. Phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận: “Thanh niên thực sự đã và đang phát huy được thế mạnh của sức trẻ, tinh thần xung kích, sáng tạo, tình nguyện của mình ở những nơi khó khăn, gian khổ, những việc mới, việc khó, góp sức vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
     Để vạch trần chiêu trò quy chụp, bôi nhọ nhằm mua chuộc, lôi kéo giới trẻ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng tình hình, nhận diện sự thật để đấu tranh kịp thời, hiệu quả. Nội dung này sẽ được chúng tôi làm rõ ở bài viết sau./.
Yêu nước ST.

BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này!

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.

Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh”. 
Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”(1). Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tổ chức UNESCO khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”(2). Nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, các tổ chức tiến bộ trên thế giới đã thừa nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng. Thực tiễn những thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam đạt được nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn cách mạng đã củng cố vững chắc điều này.

Thứ hai, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng.

Một số người có nhận thức lệch lạc khi một mặt họ cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh khác và đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất; mặt khác, họ lại “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp giá trị, vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam.
Hai quan điểm này đều không đúng cả về lịch sử và logic. Về mặt lịch sử, Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nguồn gốc quan trọng dẫn tới hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Về mặt logic, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối lập như suy luận, xuyên tạc của một số người.
Về quan điểm thứ nhất, một số người đã hùa theo các luận điệu xuyên tạc, nhận thức lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh. Luận điệu này đã làm dư luận hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Về quan điểm thứ hai, một số người cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin từng có giá trị nhưng đã bị lịch sử vượt qua. Những người này còn ngụy biện rằng, cho dù chưa bị lịch sử vượt qua thì Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ phù hợp với các nước phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Do đó, họ ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua Chủ nghĩa Mác-Lênin”.
Từ đó họ cho rằng, nên đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là quan điểm nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất nhằm phủ nhận cả Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không còn những đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn như vốn có.
Bên cạnh đó, một số người đã cố tình vin vào cớ hiện nay “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra để thổi phồng những khuyết điểm của một số cán bộ thoái hóa, biến chất mà bỏ qua những ưu điểm mang tính bản chất của đa số cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.
Từ đó, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay cũng đã thoái hóa, biến chất, khác xa với lý tưởng, khát vọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ yêu cầu phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, mang bản chất cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(3).
Vậy mà, khi Đảng kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ nhằm làm trong sạch Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ thì một số người lại có nhận thức lệch lạc, cố tình vu khống, quy kết là Đảng ta “đấu đá nội bộ”, “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực”. Họ làm ra vẻ khách quan khi dùng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu” để đánh giá, phán xét Đảng.
Danh nghĩa là họ đề cao Hồ Chí Minh nhưng thực chất lại đang hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Điều này gây hoang mang, mất niềm tin, chia rẽ nội bộ, đặc biệt, nó có thể làm một bộ phận dân chúng, thậm chí ngay cả một số ít văn nghệ sĩ, trí thức từng tin tưởng và kính trọng Hồ Chí Minh cũng có thể trở nên lung lay tư tưởng, rệu rã niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. 

Thứ ba, phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Một số người đã có nhận thức rất lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít”, “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” vì tư tưởng Hồ Chí Minh không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Những người này ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lý do họ đưa ra là Hồ Chí Minh là bậc thánh nhân trong khi chúng ta là người bình thường; Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.
Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa khổ hạnh và cũng chưa bao giờ tỏ ra mình là bậc thánh nhân, mà Người luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi”(4).
Những người này đã cố tình không hiểu rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tinh thần tinh túy trong tư tưởng, phương pháp, phong cách của Người để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong thực tiễn như sinh thời Người đã học tập, vận dụng sáng tạo thành công Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, chứ không phải học rồi “làm theo” một cách máy móc để cho giống hoặc thành một “Hồ Chí Minh thứ hai”. Do đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là chủ trương đúng đắn của Đảng, hợp với lòng dân và có giá trị thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử đã trở thành một phần của huyền thoại ngay từ khi còn sống. Cho đến nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Giá trị đó không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại; không chỉ được khẳng định trong thế kỷ 20, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Đấu tranh chống các nhận thức lệch lạc, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhằm bảo vệ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.
Để việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự thuyết phục, chúng ta phải có cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử, không được chủ quan, áp đặt, thiên kiến hoặc máy móc trong việc nhận định, đánh giá, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng của Người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”./.
------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.88
(2) Phạm Ngọc Anh, Tư tưởng Hồ Chí Minh-không thể phủ nhận, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2013, tr.60
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.301
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.260./.
Ảnh: Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, tháng 3-1961.
Yêu nước ST.

“DÂN THỤ HƯỞNG” KHÔNG PHẢI LÀ KHẨU HIỆU SUÔNG!

     Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm chủ trương “dân thụ hưởng” vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”!
     Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng...

Cố tình xuyên tạc
với mưu đồ xấu
     Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên.
     Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". 
     Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên...

Sự thật không thể
phủ nhận
     Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó.
     Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.
     Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20-3-2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng.
     Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững.
     Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế...

Động lực
để dân tin Đảng
     Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
     Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn./.
Yêu nước ST.

TINH GIẢN HỘI THI!

         Hằng năm, trên phạm vi cả nước thường diễn ra nhiều cuộc thi, hội thi (viết chung là hội thi) với đủ các loại hình, quy mô, cách thức. Từ hội thi cấp cơ sở đến cấp huyện, cấp tỉnh, rồi cấp toàn ngành, toàn quốc; từ thi trực tiếp đến thi trực tuyến, thi viết, thi thuyết trình...
     Không khó để nhận thấy, những hội thi mang tính kỳ cuộc, “đến hẹn lại lên” ấy diễn ra với tần suất dày đặc, quy mô ngày càng lớn, phạm vi ngày càng rộng, số người tham gia thường là năm sau cao hơn năm trước.
     Tất nhiên, mục đích, ý nghĩa tốt đẹp mà những hội thi mang lại là điều không thể bàn cãi. Thế nhưng, xung quanh chuyện tổ chức, vận hành thì vẫn còn không ít băn khoăn, trăn trở. Có hội thi tổ chức rầm rộ, quy mô hoành tráng, kinh phí đầu tư lớn, nhưng cuối cùng thì cái đạt được vẫn chỉ là việc "điểm thêm" một sự kiện hoạt động để rồi "khi xong xuôi tất cả lại về".
     Đáng bàn là hầu hết hội thi đều tiêu tốn những khoản kinh phí khá lớn. Trong khi, chính hoạt động này đang gây ra nhiều lãng phí không đáng có cả về mặt thời gian, tiền bạc và con người. Ban chỉ đạo, ban tổ chức thì mất thời gian chuẩn bị, huy động nhân lực, vật lực, kinh phí nhằm bảo đảm sự vận hành đạt hiệu quả. Thí sinh tham gia thì buộc phải tạm gác việc chuyên môn, đầu tư thời gian, trí tuệ, công sức luyện tập, bồi dưỡng phương pháp và kinh nghiệm dự thi. Thậm chí, có nơi do tâm lý “kém miếng khó chịu” mà thuê thầy giỏi, chuyên gia hay về hướng dẫn, bồi dưỡng, tìm mọi cách "nuôi gà chọi" hoặc "thuê gà chọi" hòng đi săn giải, giật giải... Cũng bởi thế, nhiều hội thi hiện nay không còn giữ được ý nghĩa cổ vũ, khích lệ phong trào mà đã bị thương mại hóa, trở thành “đấu trường” để cạnh tranh lẫn nhau.
     Tốn kém và lãng phí là vậy, nhưng thành công và ý nghĩa của nhiều hội thi cũng chỉ dừng lại ở sự "tự đánh giá" của những người làm công tác chỉ đạo và tổ chức; hay được minh chứng ở những giải thưởng, chứng nhận và sự vinh danh trong thoáng chốc dành cho các thí sinh. Nhiều kết quả, sản phẩm của hội thi dù được đầu tư công phu, tốn kém nhưng hoàn toàn không có giá trị sử dụng trên thực tế, đành phải xếp gọn vào các ngăn lưu trữ, trưng bày.
     Để mỗi hội thi không rơi vào hình thức, lãng phí, thực sự là sân chơi, diễn đàn bổ ích cho cán bộ, đảng viên, quần chúng thì nhất thiết cấp có thẩm quyền phải tính toán thật kỹ mục đích, ý nghĩa của mỗi hoạt động này. Cơ quan chức năng chỉ nên tổ chức ngày hội tranh tài khi thực sự cần thiết, ở những thời điểm phù hợp, chứ không nên vận hành tràn lan ở mọi cấp, mọi ngành. Đặc biệt, phải bằng mọi giá khắc phục được thực trạng do có quá nhiều hội thi mà gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả và mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị trung tâm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương...
     Thực tế cho thấy, kinh phí bảo đảm cho việc tổ chức các hội thi là không hề nhỏ. Bởi thế, nhiều cán bộ, đảng viên cho rằng: Nếu quyết liệt "tinh giản hội thi" và hạn chế sự lãng phí trong công tác tổ chức thì chắc chắn Trung ương và cơ quan chức năng liên quan sẽ tiết kiệm được một nguồn kinh phí rất lớn phục vụ công cuộc phát triển đất nước, hoặc chi cho các hoạt động có ý nghĩa thiết thực hơn./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 4 NĂM 1951!

     Sinh thời, Bác Hồ luôn dành tình cảm đặc biệt và sự quan tâm ân cần đến sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam. Bác đã dành rất nhiều tâm huyết cho việc tổ chức, dẫn dắt các thế hệ thanh niên đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Trong thư gửi Thanh niên Việt Nam, tháng 4 năm 1951 Bác viết: “…Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng”!
     Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước luôn đề cao vai trò của thanh niên Việt Nam và có nhiều nghị quyết, chỉ thị, chính sách tạo điều kiện để phát triển toàn diện thanh niên Việt Nam. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hun đúc nên truyền thống vẻ vang, được Đảng, Nhà nước ghi nhận, xã hội đánh giá cao, xứng đáng là trường học xã hội chủ nghĩa của tuổi trẻ, là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam.
     Tiếp nối truyền thống của lớp lớp các thế hệ cha anh đi trước, thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay luôn trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi khó khăn, đảm nhận những việc mới, việc khó, tiên phong trong ứng dụng khoa học - công nghệ, xung kích trong xây dựng xã hội học tập, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
     Là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam, thanh niên Quân đội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị. Do đó, sức mạnh tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của Quân đội liên quan mật thiết đến chất lượng và khả năng tập hợp, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội. Muốn vậy, tổ chức Đoàn phải tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp; quan tâm, chăm lo đến nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của thanh niên; tạo điều kiện để thanh niên có cơ hội cống hiến và trưởng thành. Ban Chấp hành Đoàn, đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên Quân đội cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, phẩm chất, đạo đức, lối ống trong sáng, động cơ, thái độ, trách nhiệm đúng đắn; có tri thức, trình độ kỹ chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ và sức khoẻ tốt, thực sự là lực lượng xung kích, nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

Môi trường (Yn) ST.

Thủ đoạn xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam

 

          Có một thực tiễn ở Việt Nam không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.

          Vì cái nhìn hằn học, tâm địa đen tối, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vậy mà mỗi khi Đảng ta kỷ luật một số cán bộ cao cấp trong bộ máy Đảng, Nhà nước có vi phạm, trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”, cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”, v.v.. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

          Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngày càng cấp thiết. Điều đó càng đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Do vậy, không thể có chuyện việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta là “giật gấu vá vai” như ai đó đã từng rao giảng. Thực tiễn đã chứng minh, càng làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảngbao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

          Những thành quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảngthời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.

Chia rẽ khối đoàn kết tôn giáo - Thủ đoạn không mới

 

          Xúi giục, kích động mâu thuẫn, gây xung đột về tôn giáo là những thủ đoạn được các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng nhằm chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định trật tự xã hội, hòng làm suy yếu đất nước ta. Thực tế này đòi hỏi các tổ chức tôn giáo cũng như mọi người dân trong xã hội phải luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác để không bị lôi kéo vào các hoạt động phi pháp, gây tổn hại đến khối đoàn kết dân tộc.

          Kể từ khi giành được độc lập, Ðảng và Nhà nước ta luôn chú trọng giữ gìn đoàn kết tôn giáo, chủ động tập hợp, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, huy động nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Ðiều 3, Luật Tín ngưỡng Tôn giáo 2016 quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như sau: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân; Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.

          Thực tế cho thấy, trải qua nhiều biến cố của lịch sử, các tôn giáo ở Việt Nam luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nổi bật trong thời gian qua là sự đồng hành, tham gia tích cực của lực lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong công tác xã hội, phòng, chống dịch, thiện nguyện, xây dựng nếp sống mới… góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước, thắt chặt khối đại đoàn kết dân tộc. Tại Việt Nam, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước nghiêm cấm các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Mặt khác, các lãnh đạo Ðảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đến tất cả hoạt động, sự kiện tôn giáo lớn trong cả nước.

          Để chống lại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta, cần chú ý đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo; xây dựng được một lực lượng làm công tác tôn giáo có năng lực, nhạy bén và tinh tế trong việc xử lý những điểm nóng về mâu thuẫn, mất đoàn kết tôn giáo. Không những vậy, họ phải là những cán bộ có ảnh hưởng xã hội, có tiếng nói, biết tập hợp, đoàn kết các tôn giáo cùng hiệp lực để đương đầu, giải quyết các khó khăn, thách thức nảy sinh trong cuộc sống.

          Quan trọng hơn cả, các tôn giáo cần tiếp tục gìn giữ truyền thống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau vốn đã tồn tại xuyên suốt trong nhiều thế kỷ ở nước ta. Bởi, chỉ khi các tôn giáo duy trì và phát huy lẽ sống "tốt đời, đẹp đạo", gắn bó với dân tộc, đồng hành cùng đất nước, khối đoàn kết tôn giáo mới thật sự là tấm khiên vững chắc trước sự tấn công của giặc ngoại xâm cho đến các tổ chức thù địch, chống phá./.

Tại sao phải thực hiện sở hữu toàn dân về đất đai?

 

          Chủ trương lấy ý kiến toàn dân về Luật đất đai là một chủ trương vô cùng hợp lòng dân. Vậy nhưng những kẻ vô tức đã lợi dụng để rêu rao, bôi nhọ về chủ trương đó, chúng cho rằng đất đai không thể là sở hữu toàn dân. Điều đó hoàn toàn sai trái. Vì:

          Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm của Nhà nước ta là "tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân", thì nhân dân phải là chủ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của quốc gia là đất đai. Ðất đai là thành quả của sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài của cả dân tộc, là thành quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ, không thể để cho một số người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu. Ðất đai của quốc gia dân tộc phải thuộc sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của toàn dân tộc, của nhân dân.

          Thứ hai, sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện để những người lao động tiếp cận đất đai tự do. Phải tạo cơ chế công bằng ngay từ gốc, tức là người lao động phải có tư liệu sản xuất, trong đó có đất đai, để lao động mưu sinh.

          Thứ ba, trong điều kiện nước ta, việc thiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội. Bởi vì, trong chế độ sở hữu tư nhân đất đai, không ai có quyền ngăn cản người chủ đất sử dụng đất theo ý họ, vì đất là tài sản riêng của họ. Lý do này còn khiến đất đai có xu hướng được sử dụng không hiệu quả, chỉ bảo vệ lợi ích của chủ đất mà không quan tâm tới lợi ích sinh tồn của phần lớn dân cư, khi cần xây dựng những công trình công cộng thì sở hữu tư nhân về đất đai sẽ gây ra những trở lực lớn. Sở hữu tư nhân đất đai còn dẫn đến kết quả không mong muốn là tập trung đất đai trong tay một số người có nhiều tiền, hệ quả là có người sở hữu quá nhiều đất, người lại không có tấc đất cắm dùi. Điều này sẽ gây bất ổn xã hội. Với việc quy định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp, khi phần lớn công dân bị bất lợi trong phân chia lợi ích từ đất đai, thì Nhà nước có thể sửa Luật Ðất đai phục vụ mục đích chung của công dân, sửa chữa những mất công bằng trong phân phối lợi ích từ đất đai do cơ chế thị trường đem lại. Nếu Hiến pháp tuyên bố sở hữu tư nhân về đất đai thì nhân danh quyền chủ sở hữu, bộ phận nhỏ dân cư sở hữu nhiều đất đai sẽ không cho phép phần lớn còn lại thay đổi chế độ phân phối lợi ích từ đất đai.

          Thứ tư, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tránh cho xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng bất ổn do một số người có thể đòi hỏi xem xét lại các quyết định lịch sử về đất đai. Nếu thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai hoặc đa sở hữu về đất đai, sẽ diễn ra các cuộc tranh chấp đòi lại quyền sở hữu nhà, đất trong quá khứ mà không cần tính đến các yếu tố lịch sử và hiện trạng, như vậy xã hội dễ lâm vào tình trạng bất ổn.

          Thứ năm, nếu thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai và cho phép người nước ngoài thỏa thuận mua bán đất với tư nhân thì nguy cơ mất chủ quyền lãnh thổ từ hệ lụy của nền kinh tế thị trường sẽ thành hiện thực. Đã có nhiều bài học nhãn tiền của một số nước trên thế giới về vấn đề này..

          Như vậy, sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, không cần bàn cãi, trnah luận.

Tham nhũng, suy thoái không phải là phổ biến, là bản chất

 

          Tham nhũng, suy thoái xuất hiện ở bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ đảng lãnh đạo nào, không phải là bản chất của một Đảng nào, càng không phải là bản chất của Đảng Cộng sản.

          Điều đó xuất phát từ bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của Nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam và bản chất của Nhà nước ta là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, Đảng cũng quy định rõ trách nhiệm của người đảng viên: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân”. Do đó, mọi cán bộ, đảng viên đều gắn bó mật thiết với Nhân dân, vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ trung thành của Nhân dân, một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, suy thoái thời gian qua chỉ là cá biệt, thiểu số, có thể khắc phục.         Tổng kết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực 10 năm giai đoạn 2012–2022 cho thấy có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, trong đó có hơn 170 cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý. Nguyên nhân chính là do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, do lòng tham, không biết sợ, cộng với thiếu sự kiểm soát, kiểm tra, giám sát của cấp trên, dẫn đến tự đánh mất mình trước những cám dỗ quyền lực, tiền bạc, vật chất. Những con sâu tham nhũng, suy thoái đó chỉ là số ít trong tổng số hơn 5,2 triệu đảng viên cả nước nhưng đã làm hoen ố danh dự người cộng sản, cần phải loại trừ để hàng ngũ cán bộ trong sạch hơn, Đảng mạnh hơn, giữ vững niềm tin trong Nhân dân. Đồng chí Tổng Bí thư cũng đã chỉ rõ: “Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “gặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu tranh giữa các “phe cánh”, hay “đấu đá nội bộ” như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”.

          Đảng ta luôn xác định phòng, chống tham nhũng, suy thoái là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thời gian qua, Nhà nước cũng đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đồng thời tham gia và ký kết nhiều văn bản quốc tế về phòng, chống các tệ nạn này. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc chiến chống tham nhũng, suy thoái chưa bao giờ diễn ra quyết liệt như hiện nay, thể hiện chủ trương: không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không kể cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, tham nhũng vật chất hay tham nhũng quyền lực.

          Rõ ràng, mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận cuộc đấu tranh chống tham nhũng “không có vùng cấm” của Đảng ta đều là bịa đặt, mang tính thù địch.

Chính sách quan tâm, bảo hộ người lao động ở nước ngoài của Việt Nam

 

          Chủ trương của Nhà nước Việt Nam là không đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bằng mọi giá, mà phải có chính sách bảo đảm hỗ trợ, tạo điều kiện để người lao động ra nước ngoài làm việc cũng như sau khi về nước có vị trí làm việc phù hợp. Đây là một chính sách vô cùng đúng đắn và phù hợp của Đảng ta.

          Từ hơn 10 năm trước, ngày 8-5-2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI ban hành Chỉ thị số 16-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” xác định: Việc đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

          Từ trong nước, người lao động được tự do lựa chọn hình thức làm việc phù hợp, không bị ép buộc phải làm việc trái ý muốn. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài thi hành mọi biện pháp để công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích theo pháp luật nước tiếp nhận, điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó ký kết hoặc tham gia, hoặc theo tập quán quốc tế. Khi các quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam bị xâm phạm, cơ quan đại diện có nghĩa vụ thi hành mọi biện pháp để khôi phục những quyền và lợi ích chính đáng đó. Trách nhiệm Nhà nước trong việc thực hiện mọi biện pháp cần thiết phù hợp với pháp luật sở tại, luật pháp và thông lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam bảo hộ quyền và lợi ích của công dân Việt Nam ở nước ngoài được quy định tại hầu hết văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

          Đối với tình huống cần phải bảo hộ công dân thì nhiều biện pháp nghiệp vụ đã được các cơ quan đại diện chủ động tích cực triển khai, tiến hành hiệu quả. Trong đó có các hoạt động như: Trao đổi với cơ quan chức năng nước sở tại tạo thuận lợi cho công dân Việt Nam sinh sống, học tập, làm ăn hợp pháp; hỗ trợ, giúp đỡ đối với trường hợp gặp khó khăn; vận động hội đoàn người Việt Nam hỗ trợ tích cực cho công tác bảo hộ công dân; cử cán bộ tham dự các phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho người lao động và yêu cầu phía người sử dụng lao động, công ty bảo hiểm bồi thường cho công dân khi gặp tai nạn lao động; đưa tin khuyến cáo công dân và cử cán bộ trực điện thoại đường dây nóng 24/7 kịp thời hỗ trợ trong những tình huống khủng hoảng.

          Những năm qua, Việt Nam từng tổ chức nhiều phương án, biện pháp thiết thực trợ giúp đồng bào ở nước ngoài trước những tình thế khó khăn, trở ngại. Điều đó chúng tỏ, chính sách quan tâm, bảo hộ người lao động ở nước ngoài của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp nguyện vọng của nhân dân.

Suy thoái - căn bệnh nguy hiểm cần phải ngăn chặn

 

          Bệnh suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống là căn bệnh vô cùng nguy hiểm, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, với phương châm lấy xây để chống, phòng bệnh hơn chữa bệnh, ngăn chặn sự lây lan, phát triển của căn bệnh suy thoái đang đặt ra những yêu cầu, thách thức mới...

          Gần đây trên không gian mạng, nhiều đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài thường xuyên lên mạng xã hội tung tin xuyên tạc, nói xấu đất nước, xúc phạm danh dự lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh chính trị. Điều đáng bàn ở đây là đại đa số những đối tượng phản động này đều ở trong nước. Trước khi quay lưng, phản bội Tổ quốc, họ từng là những công dân Việt Nam, từng có thời gian là công chức, viên chức, công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị ở một số địa phương. Do bất mãn với tổ chức, non kém về tư tưởng chính trị, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, họ đã bị căn bệnh suy thoái tấn công. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, biến mình trở thành những con rối cho các thế lực thù địch ở hải ngoại giật dây. Sau khi ra nước ngoài sống lưu vong, chúng trở thành những kẻ phản bội, càng ngày càng điên cuồng thực hiện các hành vi phản quốc.

          Dù chỉ là những thành phần cá biệt, nhưng thực trạng này cho thấy khi căn bệnh suy thoái, mức độ nguy hiểm đối với môi trường chính trị và đời sống xã hội là vô cùng lớn. Hằng ngày, hằng giờ, chúng ra rả các luận điệu phản động trên không gian mạng làm cho một bộ phận công dân Việt Nam trong nước bị tác động, ảnh hưởng bởi tư tưởng thù địch, dẫn đến dao động, bi quan, phai nhạt niềm tin. Nhìn rộng ra, sâu hơn những vụ án tham nhũng lớn được đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, chúng ta thấy hành vi tham nhũng, suy thoái đều liên quan đến những cán bộ có chức quyền.

          Biểu hiện phổ biến của tình trạng suy thoái là sự thờ ơ, bàng quan với lợi ích dân tộc, chỉ tập trung lo kiếm tiền, không quan tâm đến các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, không thiết tha vào Đảng. Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thì đó là biểu hiện né tránh đấu tranh, dĩ hòa vi quý, mũ ni che tai, tư tưởng cầu an, lười học chính trị, lười nghiên cứu nghị quyết... Khi một người bị hổng kiến thức lý luận chính trị, không được bồi đắp tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đến nơi đến chốn thì đến lúc anh ta giàu lên, rất dễ trở thành những “trọc phú” thời đại mới. Khi những “trọc phú” ấy tìm cách “chui” vào hệ thống chính trị để thăng tiến thì nguy hại cho tổ chức đảng, cho vận mệnh chính trị của đất nước là rất khó lường.

          Cán bộ có chức quyền càng to, ảnh hưởng của suy thoái càng lớn. Tuy nhiên, để đến lúc phải điều tra, xử lý thì đó là giải pháp “trị bệnh”. Làm sao để cán bộ, đảng viên không “nhúng chàm” thì phải coi trọng “phòng bệnh”, ngăn ngừa các mầm mống dẫn đến suy thoái.  Do vậy, cần cảnh giác thật cao và đấu tranh triệt để với căn bệnh này.

Thủ đoạn xúi giục, kích động nhằm vào lớp trẻ

 

          Trong những ngày tháng Ba, là dịp tuổi trẻ cả nước tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn gia tăng chống phá với các luận điệu, như: “Đảng, Nhà nước chà đạp lên tự do, dân chủ của thanh niên”; "nhiệm vụ của thanh niên là phải đứng lên đấu tranh chống độc tài, đòi tự do, dân chủ”...

          Rõ ràng là, âm mưu lợi dụng “tự do, dân chủ” để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là vấn đề không mới. Tuy nhiên, dịp này, các thế lực phản động tập trung hướng vào kêu gọi, kích động đối tượng thanh niên càng cho thấy dã tâm và sự nham hiểm của chúng. Nếu những người trẻ tuổi thiếu hiểu biết và bản lĩnh sẽ dẫn tới hoài nghi, dao động, phai nhạt lý tưởng, bị kẻ xấu kích động, lôi kéo.

          Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do, dân chủ, chăm lo cho lợi ích, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, trong suốt quá trình cách mạng, Đảng, Nhà nước luôn đặt niềm tin và đánh giá cao vai trò, vị trí, sứ mệnh to lớn của thanh niên; xác định thanh niên là rường cột của nước nhà, Đoàn Thanh niên là cánh tay đắc lực, là đội hậu bị tin cậy của Đảng. Cả hệ thống chính trị quan tâm, chăm lo cho thanh niên và tổ chức đoàn, phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện cho thanh niên có đại diện của mình trong các cơ quan Nhà nước, đồng thời ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát huy quyền làm chủ và lắng nghe ý kiến của thanh niên... Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm, tin tưởng giao nhiệm vụ, thử thách, cổ vũ, động viên thanh niên và các tổ chức của thanh niên thực hiện những chương trình, dự án, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh... tạo thuận lợi để thanh niên trưởng thành, đảm trách những vị trí ngày càng quan trọng trong hệ thống chính trị.
          Những thực tế đó là không ai có thể phủ nhận. Qua đó càng cho thấy, luận điệu quy chụp “Đảng, Nhà nước chà đạp lên tự do, dân chủ của thanh niên” là hoàn toàn sai trái. Âm mưu xúi giục, kích động thanh niên "đứng lên đòi tự do, dân chủ, chống độc tài” của các thế lực thù địch là hết sức phản động, thâm độc. Do vậy, mỗi người dân nói chung, thanh niên nói riêng cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để không rơi vào cái bẫy nham hiểm của những kẻ dã tâm chống phá đất nước, luôn tìm mọi cách "chọc gậy bánh xe", gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ nước ta./.

Thủ đoạn lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá đất nước

 

          Gần đây trên không gian mạng, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước thường xuyên móc nối với các tổ chức phản động, chống phá ở nước ngoài, tìm kiếm sự can thiệp, tạo áp lực nhằm mục đích đòi xóa bỏ một số điều luật, trong đó có Ðiều 331 Bộ luật Hình sự về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".

          Tại Ðiều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác". Trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Ðiều 331 quy định về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" là sự cụ thể hóa Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; giúp điều chỉnh, ngăn chặn, có chế tài đối với các hành vi vi phạm, lệch chuẩn trong các quan hệ xã hội, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

          Ở Việt Nam ngày nay, công dân Việt Nam có đầy đủ các quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền đó. Việc mỗi tổ chức và cá nhân thông qua nhiều hình thức đa dạng để bày tỏ ý kiến cá nhân, nổi lên thời gian qua là việc thiết lập và sử dụng tài khoản mạng xã hội như là xu thế tất yếu trong bối cảnh của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 hiện nay. Pháp luật Việt Nam  luôn tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân khi đưa lên công khai trên phương tiện truyền thông, trên mạng xã hội nếu phù hợp với tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc. Ðồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân sử dụng mạng xã hội với mục đích xấu, động cơ không trong sáng, núp dưới danh nghĩa bảo vệ quyền tự do dân chủ mà thực chất là có những hành vi chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác, xâm phạm đến Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng.

          Ðể đảm bảo một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh với những hành vi nêu trên nhất thiết phải chịu những chế tài xử lý nghiêm khắc. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền kiến thức pháp luật và nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong cộng đồng cũng cần được quan tâm. Bởi đó là cách thức bền vững và hữu hiệu để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội cho mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng, cũng như góp phần tăng cường ý thức, trách nhiệm của công dân đối với xã hội, đất nước./.

Sự xuyên tạc về khẩu hiệu “Dân thụ hưởng”

 

          Đã từ lâu, trong Nhân dân và cả hệ thống chính trị, khẩu hiệu “Dân thụ hưởng” đã được sử dụng phổ biến để nói về mục đích cao cả của những chủ trương, đường lối của Đảng, những chính sách và luật pháp của Nhà nước Việt Nam ta. Không chỉ dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên.
          Chủ trương “Dân thụ hưởng” Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng...

          Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên.

          Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để mức độ người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ngày càng cao hơn.