Thứ Ba, 11 tháng 4, 2023

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG “CHIÊU TRÒ” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT

 Nếu như văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là sức mạnh nội sinh của đất nước, thì văn học - nghệ thuật là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân - thiện - mỹ của con người, là một trong những nguồn lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo suốt chiều dài lịch sử, văn học - nghệ thuật đã đồng hành cùng công cuộc trường chinh của dân tộc, khích lệ, cổ vũ tinh thần yêu nước của quân và dân ta, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển đất nước, con người Việt Nam. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch, phản động cùng những phần tử cơ hội thường xuyên lợi dụng để chống phá công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của chúng ta.

Với mục đích tạo ra “mũi đột phá”, “thọc sâu” vào ý thức hệ của Nhân dân, nhằm làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn học - nghệ thuật một cách tinh vi, xảo quyệt cả trực tiếp lẫn gián tiếp trong quá trình sáng tạo, quản lý, truyền bá và lý luận, phê bình văn học - nghệ thuật bằng những vỏ bọc “văn học”, “nghệ thuật”, “những sự kiện có thật”, đánh vào thị hiếu của con người.
Các thế lực thù địch đã truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ, dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền sai lệch về quan điểm, đường lối văn học, nghệ thuật của Đảng, rằng: “đường lối văn nghệ của Đảng là cứng nhắc, ép buộc”; cáo buộc các tác phẩm “phải chịu sự kiểm duyệt chặt chẽ của Nhà nước”, hay vu cáo “sự độc đoán về tư tưởng đã bóp chết văn học, nghệ thuật”...
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tăng cường kích động xu thế “giải thiêng” trong văn học. Xét mặt tích cực, đây là một trong những dấu hiệu thể hiện sự đổi mới trong tư duy, cảm thức, cách tiếp cận và phương thức tự sự lịch sử đương đại. Tuy nhiên, một số cây bút có tư tưởng phản động đã cố tình “cài cắm” luận điệu tự do trong sáng tác và coi đó là “bản lĩnh” của các nhà văn, là một sự “cách tân” trong văn học. Với luận điệu Nổi loạn là bản chất của sự sáng tạo,... một số tác giả có ý đồ cố tình công bố những tác phẩm xếp vào hàng “đổi mới”, nhưng kỳ thực không có tư tưởng gì mới, mà chỉ bộc lộ những bất mãn, chống đối, xuyên tạc và vô hình làm cho các thế lực thù địch triệt để lợi dụng tung hô, cổ súy. Họ đang mưu toan dấy lên một cuộc gọi là “chấn hưng văn hóa dân tộc” bằng việc đánh giá sai lệch, phiến diện, phủ nhận, cố tình lãng quên thành tựu của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, làm lẫn lộn hoặc cố tình lập lờ về bản chất, tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến; từ đó, gây ra sự hoài nghi, mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng và chế độ. Một số tác phẩm văn học - nghệ thuật lệch lạc, bóp méo, bôi đen lịch sử hoặc dùng những hình tượng mang tính ẩn dụ đen tối nhằm giễu nhại con đường cách mạng của dân tộc mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Một điều dễ nhận thấy là, nội dung chính của những tác phẩm dạng này có tư tưởng khôi phục, giải oan, đề cao các nhân vật lịch sử đã từng có tội với dân tộc.
Một biểu hiện nguy hiểm khác đó là, để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các thế lực thù địch đã tăng cường kích động văn nghệ sĩ phát tán những công trình nghiên cứu, lôi kéo một bộ phận văn nghệ sĩ ngả nghiêng theo các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về Đảng và Nhà nước ta với mục tiêu hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ giá trị văn hóa tư sản. Một số tác phẩm xa rời những vấn đề lớn của đời sống đất nước, lảng tránh những vấn đề đang đặt ra trong sự phát triển; đi vào những cái tầm thường, coi đó là mục tiêu của sáng tạo văn học - nghệ thuật. Nghiêm trọng hơn là trong giới văn nghệ sĩ đã có người phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật.
Chúng còn lợi dụng ảnh hưởng của các nhà văn, nhà thơ lớn nhưng có sự dao động về tư tưởng để dẫn dụ, định hướng dư luận trước những vấn đề bức xúc của xã hội nhằm thổi phồng những nguy cơ, mặt trái của đời sống xã hội để tăng cường chống phá; hoặc “cài cắm” những quan điểm nhầm lẫn giữa cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc chống kẻ thù xâm lược với những cuộc nội chiến phi nghĩa, hao xương tổn máu mà các thế lực phản động quy kết từ đó xuyên tạc chân lý, giễu nhại con đường cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Một số văn nghệ sĩ chỉ chú trọng “phanh phui” mặt tiêu cực, góc tối, cái xấu của xã hội và con người với một giọng điệu đầy ác ý và vô cảm. Họ không nhận ra rằng, điều đó đã góp phần làm xói mòn giá trị chân - thiện - mỹ cao đẹp, đánh mất lòng tự tôn, tự hào dân tộc, coi nhẹ giá trị nhân văn cốt lõi của sáng tạo văn học nghệ thuật. Số lượng “tác phẩm” loại này không nhiều nhưng tác hại lại rất lớn, vì nó đánh phá vào niềm tin của con người; dẫn dụ một bộ phận cán bộ, quần chúng tự tách mình ra khỏi cuộc sống, tự coi mình là vô can để có quyền phủ định, giễu nhại, phán xét.
Mặt khác, một số tác giả hải ngoại đã phát tán nhiều tài liệu, bình luận với dụng ý hạ thấp, bôi nhọ danh dự Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố tình trích dẫn và bình luận dụng ý xấu các cuốn sách, tư liệu đã hội thảo về Bác Hồ, các chí sĩ yêu nước, anh hùng dân tộc. Một số tác giả còn công bố những bài phân tích ca ngợi một chiều các nhân vật cơ hội chính trị, tư tưởng dao động bằng nhiều chi tiết không có thật, lẩn tránh cái nhìn toàn diện, biện chứng và dẫn đến sự cố tình không trung thực trong học thuật.
Chính vì vậy, nhận diện, cảnh giác trước những chiêu trò, âm mưu, thủ đoạn và đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật sẽ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm trong sáng đời sống tinh thần, tư tưởng cho con người và toàn xã hội. Trách nhiệm đó đang đặt lên vai các văn nghệ sĩ chân chính nhằm đưa nền văn học - nghệ thuật Việt Nam nói chung, văn học – nghệ thuật Quảng Trị nói riêng ngày càng tiến bộ, luôn là một phần tinh túy của văn hóa, là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực phát triển đất nước. Mặt khác, hơn lúc nào hết, người tiếp nhận hiện nay cũng cần có cái nhìn khách quan, trung thực, biết gạn đục, khơi trong để không mất thì giờ đối với “những câu chuyện bịa đặt”./.
Minh Huyền

"TÔI LÀ MỘT VỊ TƯỚNG VÀ LÀ MỘT NHÀ BÁO"!

         Trong lịch sử báo chí Cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua, từ Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội như Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,... đều là những người thông tuệ nghề báo. Trong một lần tiếp các nhà báo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tâm sự: “Tôi là một vị tướng và là một nhà báo!”.

Nhà báo - Đại tướng Tổng Tư lệnh
“Làm một số báo cũng giống như tổ chức một trận đánh hiệp đồng. Công việc phải khẩn trương, nắm được ý nguyện của nhân dân, phát hiện được ý đồ, âm mưu lớn nhỏ của kẻ thù. Tất cả nhằm đến phương án tốt nhất trong việc phục vụ công chúng báo chí”. Trong một bài viết tổng kết 15 năm làm báo trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về nghề làm báo như vậy.

Suốt chặng đường cách mạng, đôi vai nặng gánh việc nước, việc quân, hàng chục năm tham gia Bộ Chính trị, đảm nhiệm cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh Quân đội, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn luôn quan tâm, sử dụng báo chí để đem lại hiệu quả lớn lao trong mọi thời kỳ, ở mọi tình huống.

Trả lời câu hỏi của các đồng nghiệp thế hệ sau thời gian làm báo ở tại mặt trận Điện Biên Phủ (1954) về bút danh Chính Nghĩa-tác giả của nhiều bài bình luận mang nội dung nhận định đúng đắn tình hình địch-ta, dự đoán các tình huống chính trị-quân sự phát triển trên các chiến trường mà trực tiếp là Điện Biên Phủ rất chính xác… nhà báo Trần Kư cho biết đó là ông Hoàng Xuân Tùy.

Những bài bình luận có sức hút đối với cán bộ, chiến sĩ tại mặt trận hào hứng đọc và củng cố thêm niềm tin vào chiến thắng, đồng thời mở rộng nhãn quan chiến lược trong chiến đấu. Ông Hoàng Xuân Tùy, nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân (1953-1956) thẳng thắn bày tỏ: “Các bài đó do tôi chấp bút, nhưng tư tưởng, cái hồn của bài viết là của Đại tướng-Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp”.

Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thời điểm ra báo là quan trọng. Khó hơn là làm nghệ thuật. Nghĩa là làm báo phải đúng lúc, chính xác, chặt chẽ, đem lại hiệu quả cho bạn đọc. Những bài chính, phụ, ngắn, dài, nặng, nhẹ phải kết hợp hài hòa như những màu sắc của tác phẩm hội họa. Những chữ lớn, nhỏ, đứng, nghiêng... đều toát lên vai trò và hiệu quả riêng”.

Riêng với các tờ báo của Quân đội, từ khi còn ở chiến khu Việt Bắc thời điểm cách mạng còn trứng nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm chủ bút và chỉ đạo biên tập 5 số đầu tiên (từ ngày 20 tháng 6 đến ngày 5 tháng 8 năm 1945) của báo Nước Nam mới thuộc Khu Giải phóng. Ông viết bài chỉ đạo cho báo Việt Nam Độc lập của Mặt trận Việt Minh khu căn cứ địa. Ông cho ra đời tờ Quân Giải phóng của Việt Nam Giải phóng quân… Khi viết bài cho các tờ báo này, ông thường ký tên là Trí Dũng. Sau hòa bình lập lại (1954) đến mãi sau này, cả lúc tuổi đã cao, sức yếu, Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn đều đặn viết nhiều bài báo...

Báo chí có thể
chuyển biến con người
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người làm báo rất sớm. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thành (1928-2007) khi xuất bản cuốn sách về sự nghiệp báo chí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, từ năm 16 tuổi, cậu học trò Trường Quốc học Huế là Võ Nguyên Giáp đã viết bài báo đầu tiên với tựa đề “Đả đảo tên bạo chúa trường Quốc học” đăng trên báo L’Annau ở Sài Gòn vào tháng 6 năm 1927. Ngay khi đọc bài báo này, luật sư Phan Văn Trường - chủ bút báo khi đó phải thốt lên “Một cây bút mới xuất hiện lần đầu ở bản xứ này, mà có giọng văn sắc sảo như giọng văn Nguyễn Ái Quốc bên Paris”.

Hai năm sau, vì tham gia bãi khóa, phản đối nhà trường đuổi học Nguyễn Chí Diểu nên Võ Nguyên Giáp cũng bị đuổi khỏi Trường Quốc học Huế. Ông xin làm việc tại tòa báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng (tháng 4 năm 1927) và hoạt động báo chí chuyên nghiệp từ đó.

Bài viết khởi đầu trên báo Tiếng Dân ra ngày 28-9-1929, với bút danh Vân Đình, tiêu đề “Vũ trụ và tiến hóa”. Võ Nguyên Giáp phân tích thời cuộc một cách tỉnh táo và nghiêm túc. Ông trở thành một cây bút chính phụ trách chuyên mục “Thế giới thời đàm” trên tờ báo này với 27 bài đăng trên 36 số ký bút danh Vân Đình.

Từ Huế, ra Hà Nội, vừa học vừa đi dạy học tư để học lên, vừa viết báo để tuyên truyền cho cách mạng. Ông nhận thấy trở ngại lớn nhất của báo chí tiếng Việt lúc đó là khó xin cấp phép ra báo. Khi ra được báo rồi lại bị kiểm duyệt ngặt nghèo hoặc nhanh chóng bị đóng cửa. Chính quyền thực dân lúc đó để ngỏ cho báo chí tiếng Pháp được tự do, Võ Nguyên Giáp đã cùng các đồng nghiệp Nguyễn Thế Rục, Phan Tư Nghĩa, Vũ Đình Huỳnh… ra tờ báo bằng tiếng Pháp mang tên Le Travail (Lao Động); tiếp đến là tờ Le Travail ra đời.

Vừa dạy học tư ở trường tư thục Thăng Long, Võ Nguyên Giáp vừa nhận làm mọi công đoạn của tờ báo. Ông viết nhiều thể loại từ xã luận, bình luận, phóng sự đến điều tra. Ông đã đạp xe từ Hà Nội ra khu mỏ Cẩm Phả tỉnh Quảng Yên (nay là tỉnh Quảng Ninh) để viết bài về phong trào đấu tranh của công nhân mỏ. Ông trực tiếp duyệt bài, lên marquette, đọc cả morasse của tờ báo và làm cả phát hành báo mà không hề nhận tiền nhuận bút, tiền phụ cấp. Tại Hội nghị Báo giới Bắc Kỳ, Võ Nguyên Giáp được bầu làm Chủ tịch Hội.

Đều đặn viết báo khi còn công tác cho cả đến khi nghỉ hưu, trước những vấn đề thời sự của đất nước và Quân đội ông vẫn kịp thời có bài viết để thể hiện quan điểm cá nhân của mình. Trong một lần tiếp các nhà báo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tâm sự:

“Tôi với tư cách là một vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, và là một nhà báo, tôi rất vui mừng và cảm động được các nhà báo đến thăm, chúc mừng và nhắc lại một thời làm báo của tôi. Báo chí là một lực lượng mạnh, có thể tạo nên sự chuyển biến con người. Báo chí phải tích cực tham gia vào công tác tư tưởng, xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ, phổ biến kiến thức mới trong nhân dân, trên cơ sở đó xây dựng một nước Việt Nam anh hùng nhưng giàu có”.

Trong một dịp khác, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chia sẻ: “Nghề báo là phải lao tâm, tổn trí, gian khổ. Nhưng được đền bù là người đọc”.
Theo Báo QDND./.


Yêu nước ST.

Lời Bác dạy: Ngày 12/4

 


"Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo. Nếu lòng mình không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo xã hội”.

 Đó là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lớp chỉnh đốn Đảng Trung ương khóa III tổ chức tháng 4 năm 1953.

Xuất phát từ bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân đã được quy định trong Hiến pháp; từ mối quan hệ biện chứng giữa đội ngũ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân. Để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đòi hỏi phải xây dựng được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, vì nhân dân phục vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn; thực sự tiền phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân, lấy tiêu chí sự hài lòng của nhân dân là thước đo kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong toàn quân phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hội đồng quân nhân. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên tiền phong, gương mẫu, có phương pháp, tác phong công tác khoa học; yêu mến, gắn bó với đơn vị, gần gũi với bộ đội, luôn đề cao tự phê bình và phê bình. Tích cực, chủ động, sáng tạo không ngừng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng tốt mối quan hệ đoàn kết trong đơn vị, đoàn kết quân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

MỆNH LỆNH LỊCH SỬ CHO NGÀY TOÀN THẮNG

 Cách đây 48 năm, 9 giờ 30 phút sáng 7/4/1975, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi Điện số 157-HÐKTK cho các đơn vị mệnh lệnh: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng".

Mật lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa là mệnh lệnh, vừa là lời hịch cổ vũ tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ trên chiến trường vào thời điểm vô cùng quan trọng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.
Mệnh lệnh lịch sử
Thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Thắng lợi lịch sử ấy bắt nguồn từ đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần đoàn kết, chiến đấu anh dũng bất khuất của toàn quân, toàn dân, gắn liền với sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh trong quá trình kháng chiến.
Trong những ngày tháng lịch sử đó, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã tập trung trí tuệ, tài năng ra những quyết định, kế hoạch chiến lược, chiến dịch, những mệnh lệnh, chỉ thị cho quân và dân cả nước biến các nghị quyết đúng đắn của Đảng thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trên các chiến trường.
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Tuy nhiên, Mỹ - ngụy ra sức phá họai Hiệp định Paris, đẩy mạnh bình định lấn chiếm, tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Trước tình hình đó, tháng 3/1973, Quân ủy Trung ương đã họp và xác định: trong khi địch dùng biện pháp quân sự để đánh ta, ta cần kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, với pháp lý của Hiệp định Paris, từng bước chuyển sang tiến công chủ yếu bằng chính trị có lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn, nhằm thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên thế có lợi cho ta.
Ngày 30/1/1974, Bộ Chính trị họp mở rộng, bàn kế hoạch nắm bắt thời cơ, thúc đẩy phong trào cách mạng miền Nam.
Sáng 31/3/1975, Bộ Chính trị họp mở rộng và nhận định: “Cách mạng nước ta đang phát triển sôi nổi nhất với nhịp độ một ngày bằng 20 năm. Vì vậy Bộ Chính trị quyết định, nắm vững thời cơ chiến lược với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng tư, không thể chậm”.
Trong hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Ngay sau Hội nghị Bộ Chính trị, tôi suy nghĩ nhiều về trận chiến đấu sẽ diễn ra trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn - Gia Định. Sau khi nghiên cứu, trao đổi với Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh và Cục trưởng Cục Tác chiến Lê Hữu Đức, ngày 1/4, tôi gọi điện vào B2. Đúng như Bộ Chính trị nhận định, chiến tranh cách mạng ở miền Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt. Hiện nay ta đã có đầy đủ lực lượng và khả năng để giành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn hơn dự kiến rất nhiều. Vấn đề quyết định là phải kịp nắm lấy thời cơ, tranh thủ vào trung tuần tháng 4 thì bắt đầu cuộc tấn công quy mô lớn vào Sài Gòn. Làm được như vậy thì thuận lợi nhất, bảo đảm thắng lợi giòn giã nhất. Bất ngờ hiện nay không còn ở phương hướng nữa. Địch biết nhất định ta sẽ đánh vào Sài Gòn nhưng chúng cho rằng ta cần chuẩn bị một hai tháng. Vì vậy, bất ngờ hiện nay chủ yểu là khâu thời gian. Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng, thần tốc, mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động…”.
Trước thời khắc quyết định của dân tộc, cuộc tiến quân lịch sử của Quang Trung - Nguyễn Huệ lại hiện về trong ký ức của Đại tướng. Ngày 4/4, Đại tướng gửi điện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 2 đang hành quân: “… Các đồng chí lên đường làm nhiệm vụ rất vẻ vang. Cần hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.
Ngày 6/4, điện của Quân ủy Trung ương gửi Bộ Tư lệnh Đoàn 559 nêu rõ: “… Cần chú trọng coi công tác bảo đảm chi viện và bảo đảm cơ động lực lượng ta vào B2 là công tác trung tâm số 1. Vì vậy, cần có kế hoạch tổ chức thật tốt công tác này, nhất là bảo đảm việc hành quân của các đơn vị, binh khí kỹ thuật và các nhu cầu đạn dược theo đúng thời gian đã định”.
Bức điện lúc 22 giờ ngày 6/4 của Quân ủy Trung ương gửi đồng chí Đồng Sỹ Nguyên và Thường vụ Đảng ủy 559 nhấn mạnh: “… Yêu cầu của mặt trận hết sức gấp, từng ngày, từng giờ. Thời gian lúc này là lực lượng, là sức mạnh. Các đồng chí dùng mọi biện pháp tổ chức và đôn đốc các đơn vị hành quân hết sức nhanh, chi viện hết sức gấp, hoàn thành xuất sắc chiến dịch chi viện thần tốc này”.
Ngày 7/4/1975, tại Tổng hành dinh Sở Chỉ huy chiến dịch - Nhà D67, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tự tay thảo Bức điện 157/ĐK gửi các cánh quân:
"1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.
2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ".
Bên dưới ký một chữ Văn.
Bức điện lập tức được giao ban cơ yếu mã hóa. Đồng chí Nguyễn Bá Líu - chiến sĩ báo vụ Lữ đoàn 25 là người trực tiếp được truyền tải bức điện đó tới chỉ huy các cánh quân tham gia giải phóng miền Nam.
Chỉ với 40 từ, vô cùng ngắn gọn nhưng Bản Mệnh lệnh đã xác định rõ mục tiêu phải đạt được, đồng thời chỉ rõ phương châm hành động để đạt được mục tiêu đó: Đã thần tốc rồi, cần thần tốc hơn nữa! Đã táo bạo rồi cần táo bạn hơn!
Thần tốc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Bức điện khẩn “Thần tốc, thần tốc hơn nữa...” do tự tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ký tên được Ban Cơ yếu lập tức truyền đi khắp các mặt trận trên toàn miền Nam như một lời “hịch tướng sĩ”.
Mệnh lệnh đã truyền đạt quyết tâm cao nhất của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tới các cấp lãnh đạo và chỉ huy chiến trường, tới mỗi đảng viên, chiến sĩ để chủ động sáng tạo, thừa thắng, xốc tới, hướng mọi hành động theo phương châm thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Và cả dân tộc đã ra quân với khí thế ấy.
Trong đêm 7/4, các cánh quân của ta đã tăng tốc độ hành quân cả đêm và ngày đến vị trí tập kết chiến dịch đúng quy định.
Ngày 9/4, Quân đoàn 4 bắt đầu tiến công địch trong thị xã Xuân Lộc; địch phản kích quyết liệt, buộc các đơn vị của ta phải thay đổi chiến thuật, rút khỏi Xuân Lộc, đánh vòng ngoài, diệt địch ở Túc Trưng, Kiệm Tân, theo đường 20 phát triển đánh địch ở ngã ba Dầu Giây, cắt đường số 1 về Sài Gòn.
Ngày 14/4, cánh quân hướng Đông tiến công vào tuyến phòng thủ Phan Rang đến ngày 16 chiếm thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn, diệt và bắt toàn bộ quân địch ở đây, giải phóng tỉnh Ninh Thuận.
Cũng trong ngày 14/4, Bộ Chính trị đặt tên cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn là Chiến dịch Hồ Chí Minh, do Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy.
Ngày 19/4, Quân đoàn 2 giải phóng Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận, thần tốc tiến vào Long Khánh, phối hợp với Quân đoàn 4 giải phóng Xuân Lộc. Trên các hướng Bắc, Tây Bắc, Đông và Tây Nam, quân ta dồn dập tiến công tiêu diệt các sư đoàn chủ lực địch phòng thủ vòng ngoài, áp sát lực lượng vào vùng ven đô.
Ngày 22/4, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, điện chỉ đạo Bộ Chỉ huy chiến dịch: “Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày, kịp thời phát động tiến công địch trên các hướng, không để chậm. Nếu để chậm thì không có lợi về quân sự chính trị. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nắm vững thời cơ lớn chúng ta nhất định toàn thắng”.
Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn - Gia Định trước ngày 30/4/1975.
5 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch ra lệnh tổng công kích, đánh chiếm 5 mục tiêu then chốt: Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc Lập, Tổng nha cảnh sát đô thành và Biệt khu thủ đô. Từ bốn hướng Đông, Bắc và Tây Bắc, Tây Nam, quân ta đồng loạt tiến công vào Sài Gòn phối hợp với quần chúng nhân dân nổi dậy, đến 11 giờ 30 phút ta làm chủ các mục tiêu và cắm cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng lên Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Cùng với cuộc tổng tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định, quân ta đánh chiếm, giải phóng các đảo và quần đảo ở ven biển miền Trung và Trường Sa. Quân và dân các tỉnh miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long tiến công, nổi dậy diệt và làm tan rã Quân đoàn 4 ngụy, giải phóng các tỉnh Long An, Bình Dương, Tây Ninh, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu, đảo Phú Quốc, Bà Rịa-Vũng Tàu.
Ngày 1/5, ta tiếp tục giải phóng các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Vĩnh Long, Chương Thiện, Cà Mau, Long Xuyên, Châu Đốc, Kiến Tường, Sa Đéc, Côn Đảo.
Đến ngày 1/5/1975, toàn bộ các tỉnh, thành phố trên đất liền và các đảo, quần đảo ở biển Đông trên toàn miền Nam Việt Nam được giải phóng.
48 năm đã trôi qua kể từ đại thắng Mùa Xuân năm 1975, nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, đã tiến những bước dài trong công cuộc xây dựng đất nước. Song lời mệnh lệnh lịch sử “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa…” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn còn nguyên giá trị, mãi mãi là niềm tự hào và quyết tâm sắt đá của cả một dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển./.
ST


Lời Bác dạy: Ngày 11/4

 


“Không động viên được dân thì kế hoạch hay mấy cũng hỏng, lúc nào mọi kế hoạch đến tận dân, dân thực hiện, lúc đó mới thật là tổng động viên”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn như vậy trong phần kết luận Phiên họp của Hội đồng Chính phủ thảo luận về tình hình thế giới, tình hình quân sự, việc thực hiện chương trình ba tháng đầu năm và ra Nghị quyết về công tác ngoại giao, giáo dục, cải tổ bộ máy tư pháp, giao thông công chính, nội vụ, tổ chức ngày 11-4-1950.

Thực hiện chỉ huấn của Người, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đoàn kết, tập hợp và động viên không chỉ sức mạnh toàn dân tộc mà còn quy tụ được sự ủng hộ của kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thành sức mạnh tổng hợp để chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập, thống nhất nước nhà. Thành tựu của hơn 30 năm đổi mới, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những kết quả bước đầu của các phong trào: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quốc gia khởi nghiệp”… những năm qua là một minh chứng về sức mạnh to lớn của các chủ trương, đường lối đúng đắn, hợp lòng dân và được nhân dân đồng tình ủng hộ, đúng như Bác đã khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…”.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ quân đội thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, tích cực làm tốt công tác dân vận, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; tuyên truyền sâu rộng về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nhân dân hiểu, tin và thực hiện, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.

Thấu triệt lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy cơ quan, đơn vị các cấp trong toàn quân chú trọng làm tốt việc nghiên cứu, điều tra, khảo sát thấu đáo đặc điểm, tình hình của đơn vị, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tâm tư, nguyện vọng và khả năng của bộ đội để ban hành nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện kiêu ngạo, tham ô, lãng phí, quan liêu, xa rời quần chúng, độc đoán, gia trưởng, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Lời Bác dạy: Ngày 10/4

 


 “…Chi bộ là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chứ không phải là một tổ chức hành chính”. 

Đó là lời được trích trong bài viết“Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Nhân Dân số 176 ra từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 4 năm 1954, nêu lên nhiệm vụ phát huy vai trò “chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan” để đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất thắng lợi.

Nhận rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chi bộ theo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm cụ thể hóa và không ngừng bổ sung, phát triển chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng phù hợp với từng loại hình, qua các kỳ Đại hội. Điều 27, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII xác định: “Chi bộ là nơi trực tiếp nối liền Đảng với quần chúng, được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên. Chi bộ có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công và kiểm tra công tác của đảng viên, kết nạp đảng viên mới và thi hành kỷ luật đảng viên, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi đơn vị”.


Với chức năng là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chi bộ phải có trách nhiệm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị; tiến hành tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông qua thực tiễn lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, chi bộ lắng nghe những kiến nghị, góp ý, phản ánh và tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng về đường lối, chính sách đã ban hành để Đảng nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách cho đúng đắn, phù hợp. Chi bộ tuyệt đối không làm thay, lấn sang các công việc điều hành, quản lý của chính quyền, của đoàn thể.


Học tập và làm theo lời Bác dạy về phát huy đúng chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chi bộ trong Quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trọng tâm là chất lượng sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo; thực hiện quy chế dân chủ, công khai; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát... thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong cơ quan, đơn vị.

TỰ HÀO PHỤ NỮ VIỆT NAM

 Đó là câu chuyện đầy xúc động của những cô gái tuổi đôi mươi lái xe Zin130, Gaz 51, Gaz 69... Trước khi trở thành dũng sĩ lái xe, họ là thanh niên xung phong (TNXP), y tá, nuôi quân... đã tình nguyện nhận một nhiệm vụ lịch sử: vượt tuyến lửa Trường Sơn vào chiến trường.

Ngày ấy chiến trường đang ác liệt, những chuyến xe vượt Trường Sơn ít khi trở về. Tiền tuyến kêu gọi, một trung đội nữ gồm 40 cô gái tuổi đôi mươi đã tình nguyện nhận nhiệm vụ lịch sử: ôm vô-lăng băng mình qua tuyến lửa để chở đạn dược, hàng hóa ra chiến trường và tải thương binh về hậu cứ. Đó là trung đội vận tải cơ giới nữ duy nhất trong những tháng năm chống Mỹ.
Quyết định thành lập trung đội nữ lái xe tải phục vụ chiến trường đang trong giai đoạn ác liệt khi đó được xem là một quyết định đầy táo bạo và vô cùng nguy hiểm. Bởi các cô gái đều xuất thân là tay ngang, người đang là TNXP mở đường, người là y tá, người là chị nuôi tại các kho trạm... Tất cả gặp nhau ở tinh thần xung phong tình nguyện và được binh đoàn tuyển chọn để đưa đi đào tạo lái xe cấp tốc chỉ trong vòng 45 ngày”.
Các cô bảo nhau rằng chiến trường đang khẩn cấp, thể hiện lòng yêu nước là phải vượt qua chính khó khăn ban đầu này. Kết quả sau 45 ngày học tập, 40 cô gái trẻ đều đạt kết quả xuất sắc và được đưa vào binh trạm 12 đoàn 559 đóng ở vùng rừng núi tỉnh Quảng Bình để chính thức thành lập trung đội nữ lái xe chuyên chở hàng hóa chi viện cho chiến trường dọc theo con đường huyết mạch Trường Sơn./.
ST


Lời Bác dạy: Ngày 9/4

 

“… Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không có sai lầm mà thôi. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không…"

Đó là đoạn trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị tổng kết công tác bình dân học vụ toàn miền Bắc năm 1956. Sau những sai lầm về cải cách ruộng đất, uy tín của Đảng ta phần nào bị giảm sút, Bác Hồ đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội. Nước mắt Người đã rơi trước những khuyết điểm do chủ quan, thiếu lắng nghe nhân dân, thiếu sâu sát thực tiễn cơ sở. Trước quốc dân đồng bào, Người không ngần ngại công khai khuyết điểm của Đảng, của Bác với tư cách người lãnh đạo cao nhất.

Quan điểm của Bác là cần công khai khuyết điểm, công khai để nhận lỗi, thêm quyết tâm sửa lỗi. Lịch sử đã chứng minh: Đảng ta ngày một lớn mạnh sau những lần công khai thừa nhận khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm, để đề ra được những quyết sách lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên, giành được những thắng lợi mới.

Đối với mỗi người, nhất là đối với người cán bộ, đảng viên, nếu có trách nhiệm với tổ chức, gia đình, bản thân thì trách nhiệm đó phải được biểu hiện bằng chính việc làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình những trọng trách cụ thể, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không thể né tránh, thoái thác. Ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân là sự tự ý thức về các công việc phải làm, “nhận rõ phải, trái, đúng sai”, tự mình xác định việc cần làm. Trên cơ sở có ý thức đúng đắn, tự giác, tích cực thực hiện trách nhiệm của mình là “có tinh thần trách nhiệm cao”. Phải dũng cảm, kiên quyết bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái tích cực; dũng cảm đấu tranh với những cái sai, khuyết điểm, cái tiêu cực; nghiêm khắc tự phê bình, phê bình, thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của cá nhân và tổ chức mình, cầu thị, tích cực sửa chữa hạn chế, khuyết điểm. Xây dựng, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, phấn đấu vì cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn phát huy tinh thần, trách nhiệm, ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ, chuyên môn, triệt để chấp hành điều lệnh, điều lệ, không ngừng rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và tác phong chính quy, thực hiện làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh. Trong tổ chức thực hiện, phải luôn đề cao và phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, lấy hiệu quả công việc làm căn cứ quan trọng, là thước đo đánh giá trình độ, năng lực, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân.


Lời Bác dạy: Ngày 8/4


“… Thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng”.

Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của thanh niên và có nhiều nghị quyết, chỉ thị, chính sách tạo điều kiện để phát triển toàn diện thanh niên Việt Nam. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hun đúc nên truyền thống vẻ vang; được Đảng, Nhà nước ghi nhận, xã hội đánh giá cao; xứng đáng là trường học XHCN của tuổi trẻ, là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tiếp nối truyền thống của lớp lớp thế hệ cha anh đi trước, thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, tình nguyện vì cộng đồng, đến những nơi khó khăn, đảm nhận những việc mới, việc khó, tiên phong trong ứng dụng khoa học-công nghệ, xung kích trong xây dựng xã hội học tập, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Là một bộ phận quan trọng của thanh niên Việt Nam, thanh niên quân đội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị. Do đó, sức mạnh tổng hợp, trình độ SSCĐ, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của quân đội liên quan mật thiết đến chất lượng và khả năng tập hợp, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên quân đội. Muốn vậy, tổ chức đoàn phải tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp; quan tâm, chăm lo đến nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của thanh niên; tạo điều kiện để thanh niên có cơ hội cống hiến và trưởng thành. Ban Chấp hành Đoàn, đội ngũ cán bộ, đoàn viên, thanh niên quân đội nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, phẩm chất, đạo đức, lối sống trong sáng, động cơ, thái độ, trách nhiệm đúng đắn; có tri thức, trình độ kỹ chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ và sức khỏe tốt, thực sự là lực lượng xung kích, nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Lời Bác dạy: Ngày 7/4

 


"Phải coi nhân tố con người là vấn đề số một"Ngày 7-4-1965, với bút danh Lê Nông, Bác Hồ viết bài “Chúng ta có thể đạt hơn 5 tấn thóc cả năm/một héc-ta” đăng trên Báo Nhân Dân, để biểu dương một số hợp tác xã đã đạt chỉ tiêu này"

Bác cũng khẳng định có thể đạt năng suất cao hơn nữa, nếu quan tâm đến việc cải tiến khoa học, kỹ thuật, thực hành cần, kiệm trong xây dựng và tự lực cánh sinh; chi bộ lãnh đạo chặt chẽ, đảng viên gương mẫu xung phong, xã viên đoàn kết nhất trí.

Tôn trọng và phát huy sức mạnh của nhân tố con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của lịch sử luôn là bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta. Bác luôn coi trọng việc giáo dục về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là nguồn sức mạnh tinh thần, vật chất to lớn để giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng quân sự của Bác với triết lý “người trước, súng sau” đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, chiến sĩ quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bên cạnh việc đầu tư mới vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn đặt lên hàng đầu việc xây dựng nhân tố con người, coi đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta.

DÂN TA GAN DẠ ANH HÙNG

 Hỡi quốc dân! Hỡi đồng bào!

Có gươm, có súng, có dao hãy dùng
Quyết kháng chiến đến cùng cứu nước!
Toàn dân trông phía trước, tiến lên!
Nửa đêm vang tiếng lệnh truyền
Phố giăng chiến luỹ, đường xuyên chiến hào
Hồn Nước dựng thành cao muôn trượng
Tay Đảng rèn lực lượng muôn dân
Chín năm kháng chiến thánh thần
Gậy tầm vông đánh tan quân bạo tàn!
Một dân tộc hai bàn tay trắng
Đồng tâm là chiến thắng thành công
Dân ta gan dạ anh hùng:
Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn
Chân toạc máu, chân dồn đuổi giặc
Tay chém thù, tay sắc như gươm!
Củ khoai, củ sắn thay cơm
Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng
Hớp ngụm nước suối trong đỡ khát
Trông trời cao mà mát tâm can!
Chín năm nắng núi mưa ngàn
Nắng mưa có Đảng, cơ hàn có nhau
Nhớ những lúc hầm sâu địch hậu
Nhớ những đêm theo dấu đường đây
Giặc lùng, giặc quét, giặc vây
Có dân, có Đảng đêm này vẫn vui.
Làng kháng chiến không lui một bước
Nhổ sạch đồn cho nước ta yên
Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng!
Trích trong “Ba mươi năm đời ta có Đảng” của Tố Hữu./.
ST


Lời Bác dạy: Ngày 6/4

 


"Về lãnh đạo, cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện”.

Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân, do Trung ương phát động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang ngày 6-4-1961.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị quyết được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỉ mỉ, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”.

Thực hiện lời Bác dạy, hơn 80 năm qua, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng, tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…

Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng nói chung, trong Đảng bộ Quân đội nói riêng, luôn gương mẫu đi đầu thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên phải có tác phong dân chủ, quần chúng, sâu sát, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình.

BÁC HỒ PHONG TƯỚNG: THẮNG ĐẾN ĐÂU, LÊN HÀM ĐẾN ĐÓ

 Phóng viên: Tại sao ông Võ Nguyễn Giáp chưa qua một trường đạo tạo sỹ quan chính quy nào, chưa qua một học viện đào tạo quân sự nào lại được phong Đại Tướng?

Bác Hồ cười mà nói rằng: Thế thì Ngài thử xem những lãnh đạo của quân đội Pháp cầm quân ở Đông Dương thì đã qua các học viện quân sự nào chưa?
Phóng viên: Tất cả các vị Tướng được cử sang cầm quân ở Việt Nam và Đông Dương đều đã qua đào tạo tại các học viện quân sự lớn tại Pháp và nhiều nước khác.
Bác nói: Vậy thì các Tướng ấy cầm quân đ.ánh trận ở Việt Nam đều thua ông Giáp thì ông Giáp phải trên họ một bậc chứ.
Đầu tiên là Tướng 4 sao Phillipe Leclerc, nhậm chức tháng 8 – 1945, đến tháng 6 năm 1946 thì bị triệu hồi về Pháp do thất bại trước Tướng Giáp tại Việt Nam trong chiến lược đ.ánh nhanh, thắng nhanh.
Thứ 2 là Tướng 4 sao Jean Etienne Valluy nhưng đến tháng 5 – 1948 lại bị triệu hồi về nước vì thất bại trước Tướng Giáp trong chiến dịch Thu – Đông 1947.
Thứ 3, đến lượt Tướng 4 sao C.Blaijat sang thay nhưng được một năm, đến tháng 9 – 1949 lại bị triệu hồi về Pháp vì thất bại trước Đại Tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến lược “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đ.ánh Việt".
Số 4 là Tướng 4 sao M.Corgente sang thay, lại bị Tướng Giáp gi.áng một đ.òn đau bất ngờ trong chiến dịch Biên Giới.
Số 5, tháng 12 – 1950 được thay bằng Tướng Delattre De Tassigny – đây là vị Tướng 5 sao, người tài nhất của nước Pháp. Nhưng cũng chỉ được 1 năm, vì bị Tướng Giáp o.ánh cho thua trận ở khắp nơi.
Số 6 là Tướng Raul Salan sang thay, vị Tướng 4 sao này trụ được từ tháng 12 – 1951 đến tháng 5 – 1953 thì lại bị thay vì thua Tướng Giáp trong chiến dịch Hòa Bình và các mặt trận ở toàn Đông Dương.
Số 7, Tướng 4 sao Henri Navarre, ông này bị thua đậm nhất ở khắp các chiến trường Đông Dương mà đ.au nhất là ở Điện Biên Phủ, ông từng thách Tướng Giáp o.ánh Điện Biên và cuối cùng bị Tướng Giáp và QĐND Việt Nam o.ánh cho không trượt phát nào trong chiến thắng Điện Biên Phủ - lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Số 8, tháng 6 – 1954 tướng Ely sang thay, ông này may mắn hơn vì một tháng sau hiệp định Giơ-ne-vơ đã ký nên Ely chỉ làm nhiệm vụ thu quân rồi cuốn cờ về nước.
Ngoài ra, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân Đội Mỹ đã 4 lần thay Tổng Tư Lệnh, bị ch.ế.t 12 Tướng, 8 Tướng khác bị th.ư.ơng khi đối đầu với Tướng Giáp và QĐND Việt Nam./.
ST


Đừng “bẻ cong” tình hình tự do báo chí Việt Nam

 Mới đây trên trang Rfavietnam.com đăng tải bài viết “Tự do báo chí: Việt Nam “cá biệt trong nhóm cá biệt” của Andreas Harsono. Đây lại là chiêu trò cố tình xuyên tạc hòng “bẻ cong” tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Bởi, những nhận xét, đánh giá trong bài viết của Andreas Harsono không phản ánh thực chất, khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam.

Thứ nhất, Việt Nam đã tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân; trong đó, có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân ở Việt Nam đãđược quy định toàn diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống. Năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí: Điều 13 luật này nêu rõ “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”. 

Thứ hai, thực tiễn minh chứng: trong tiến trình phát triển của nhân loại, chưa bao giờ có “tự do báo chí tuyệt đối” hay “tự do báo chí không giới hạn”. Nếu ai đó tin rằng có tự do báo chí tuyệt đối, tự do báo chí cho mọi người thì hoặc là họ ngây thơ về chính trị, hoặc cố tình phủ nhận sự thật. Bởi, trên thực tế, hầu hết các quốc gia tuy có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ bản này để xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã hội. Việc báo chí đi quá giới hạn tự do cho phép đã phải trả giá rất đắt, như: tháng 7/2011, tờ News of the World (Tin tức thế giới) của nước Anh đã phải đình bản vĩnh viễn sau 168 năm hoạt động vì bị công chúng cáo buộc nhiều phóng viên bản báo này đã đột nhập điện thoại của hàng nghìn người dân để “săn tin”. Điều này cho thấy: tự do báo chí, tự do ngôn luận không được phép “đứng trên, đứng ngoài” luật pháp và xâm hại đến an ninh quốc gia. Nếu vi phạm điều này, báo chí sẽ bị công chúng tẩy chay và bị và bị những chế tài xử lý thích hợp.

Vì thế, những luận điệu của Andreas Harsono chỉ là sự quy chụp, xuyên tạc nhằm “bẻ cong” tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, mưu đồ hòng phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền báo chí cách mạng Việt Nam. Do vậy, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.

NTT st

Lời Bác dạy: Ngày 5/4

 


Trong thư gửi “Quân nhân học báo”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn, mới là quân nhân hoàn toàn. Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”.

“Quân nhân học báo” là tập san chuyên hướng dẫn bộ đội ta học tập văn hoá, được xuất bản tại Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ. Hưởng ứng và thực hiện lời kêu gọi của Người, các đơn vị bộ đội đã phát động phong trào bộ đội tích cực học tập, xóa nạn mù chữ, với tinh thần người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, người biết nhiều, dạy cho người biết ít, giúp các binh sĩ đều biết đọc, biết viết để diệt giặc dốt, để phục vụ quân đội, phục vụ kháng chiến. Theo Bác, địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch ngoại xâm dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội, cùng với việc học chữ, còn phải tích cực học tập quân sự, nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, rèn luyện thể lực để đủ sức khỏe, bản lĩnh chiến đấu, chiến thắng địch.

Lời động viên, khen ngợi của Bác đã kịp thời cổ vũ, động viên tinh thần tích cực học tập văn hóa của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, đồng thời thể hiện tư tưởng, chỉ đạo, phương châm giáo dục: Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn với chiến trường, quân sự gắn với chính trị. Theo Bác: “Một quân đội văn hay võ giỏi là một quân đội vô địch”.

Lời Bác dạy vẫn còn nguyên giá trị để cán bộ, chiến sĩ quân đội không ngừng tích cực học tập, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, quán triệt sâu sắc và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Luôn đề cao và thực hành tự học; tích cực rèn luyện thân thể để có đủ trí, lực đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Lời Bác dạy: Ngày 4/4

 


 “Chúng tôi là những kẻ chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường của chúng tôi được học thuyết vĩ đại của Chủ nghĩa Mác - Lê nin soi sáng”.

Đó là lời được trích trong bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Bọn đế quốc cướp nước không bao giờ có thể nô dịch dân tộc Việt Nam anh dũng”, gửi tạp chí “Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân” -  cơ quan ngôn luận của Cục Thông tin quốc tế.

Sự bắt gặp giữa yêu cầu giải phóng dân tộc, giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam với Chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết cách mạng của thời đại, đỉnh cao của tư tưởng xã hội loài người, là cuộc gặp gỡ lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin và những tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười thông qua vai trò của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đến với dân tộc Việt Nam, chấm dứt giai đoạn khủng hoảng về đường lối, đưa cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi.

Mặc dù chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã thoái trào, nhưng không ai có thể phủ định bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin; cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta, soi đường cho cách mạng Việt Nam tiếp tục giành những thắng lợi mới trên con đường tiến tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trước tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Đảng thì vấn đề căn bản nhất, sâu xa nhất, là Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn trên những nguyên tắc thật sự mác-xít - Lê-nin-nít, phải kiên quyết chống tha hóa biến chất, chống quan liêu, tham nhũng dưới mọi hình thức, ở tất cả các cấp, không để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng phải thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, gắn bó máu thịt với Nhân dân, được Nhân dân tin yêu, mới đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi nguy cơ thử thách để giành những thắng lợi mới.


Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự của Đảng, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có trí tuệ, tinh thông kỹ thuật, chiến thuật, luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, có lòng yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản cao cả; luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Hiện nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách, mọi thủ đoạn hòng “phi chính trị hóa” Quân đội ta. Tình hình đó, đòi hỏi phải không ngừng củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quân đội, tăng cường sự nhất trí về chính trị, tư tưởng, tổ chức, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch về chính trị, tư tưởng.

BỨC TƯỢNG ĐẠI TÁ PHI CÔNG ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BẢY

 Cuộc đời ông như một huyền thoại với những con số 7

Quy luật muôn đời đã khiến ông ra đi ở tuổi 84, nhưng tên tuổi của Đại tá phi công, Anh hùng LLVT Nguyễn Văn Bảy vẫn sống mãi trong lòng thế hệ hôm nay và mai sau bởi sự rực rỡ của những chiến công “thần thánh”./.
ST


Lời Bác dạy: Ngày 3/4

 


"Giúp nhân dân nước bạn là tự giúp mình.Đó là lời của Bác được trích trong thư gửi các đơn vị bộ đội có nhiệm vụ tác chiến ở Thượng Lào ngày 3-4-1953: Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”.

Thực hiện tuyên bố chung “Đoàn kết Việt-Miên-Lào chống Pháp”, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho Quân đội ta nhiệm vụ vừa giúp bạn tổ chức, xây dựng lực lượng, vừa cùng quân và dân nước bạn trực tiếp chiến đấu chống quân xâm lược. Người căn dặn cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta tham gia làm nhiệm vụ quốc tế, phải coi việc giúp đỡ bạn là tự giúp mình.

Thực hiện lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam luôn sát cánh, gắn bó, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh để giúp đỡ quân đội và nhân dân nước bạn trên tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, trong sáng và vô tư; cùng nhau đánh thắng kẻ thù chung, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân, xây dựng và phát triển đất nước.

Mối quan hệ, tình đoàn kết đặc biệt Việt-Lào mãi mãi là niềm tự hào của hai dân tộc. Đó là mối quan hệ mẫu mực hiếm có, trong sáng, hết mực thủy chung, được xây đắp trên tinh thần quốc tế vô sản, tạo nên một sức mạnh giúp nhân dân hai nước vượt qua mọi khó khăn, giành được thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.

Ngày nay, mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào vẫn được Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước không ngừng củng cố và tăng cường. Hợp tác chính trị ngày càng bền chặt, hợp tác quốc phòng, an ninh được giữ vững; hợp tác kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội ngày càng đa dạng… mang lại hiệu quả và lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt-Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”.

Quán triệt và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, tích cực giúp bạn, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.