Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

Đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới hiện nay

Ngày nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi cơ hội để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Chúng đưa ra các luận điệu sai trái nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng ta để làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành quản lý của Nhà nước. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đây là sự nghiệp cách mạng đòi hỏi bản lĩnh, sự bền bỉ, kiên quyết, kiên trì, không được chủ quan; đồng thời, phải thường xuyên đổi mới, sáng tạo trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại.

Thực tiễn cách mạng của Đảng ta chỉ rõ, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng luôn đứng ở vị trí hàng đầu trong các mặt công tác của Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội, việc phát tán các quan điểm sai trái, thù địch trở nên rất dễ dàng, vì vậy công tác đấu tranh phản bác các quan điểm này cũng là nhiệm vụ được đặt ngang hàng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chấp hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, trong thời gian qua, đại đa số cán bộ, đảng viên đã góp phần tích cực vào công tác đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái của các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Nhiều đảng viên tham gia chia sẻ, lan tỏa sâu rộng những thông tin tích cực, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, nhận thức của Nhân dân trong việc chấp hành pháp luật, đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, thông tin sai sự thật của các phần tử cơ hội chính trị, phản động; tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Một số cán bộ, đảng viên trở thành “cây bút chiến” viết tin, bài đấu tranh, phản bác có chất lượng. Chính tinh thần trách nhiệm đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần mang lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Tuy nhiên, khi đất nước ngày càng phát triển thì các thế lực thù địch, phản động lại càng tìm mọi cách để chống phá. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ tất yếu chúng ta phải làm và nhất định phải làm thật tốt. Đây thực sự là cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững mối quan hệ mật thiết, bền chặt giữa Đảng với Nhân dân. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trong bối cảnh hiện nay có tầm quan trọng đặc biệt, vừa mang tính trước mắt, thường xuyên, vừa mang tính chiến lược, lâu dài của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó đội ngũ đảng viên phải là lực lượng nòng cốt, tiên phong, gương mẫu đi đầu. Đối với mỗi đảng viên, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một vấn đề thuộc về tiêu chuẩn, tư cách người cộng sản, là trách nhiệm chính trị. Để thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đó, đòi hỏi mỗi đảng viên phải thực hiện tốt những nội dung, biện pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự thống nhất, quyết tâm cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng, gắn với việc phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự giác đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ hai, thường xuyên quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết 35 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05-CT/TW “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”…

Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng, lý luận theo hướng khoa học, thiết thực, kịp thời, hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Coi trọng lấy gương “người tốt, việc tốt”, “điển hình tiên tiến” để tuyên truyền, giáo dục, tạo hiệu ứng tích cực, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm các vi phạm chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đồng thời cổ vũ, biểu dương các tấm gương đạo đức để tạo ảnh hưởng lan tỏa trong Đảng và xã hội.

Thứ tư, không ngừng đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho mọi tầng lớp Nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên nhận rõ mục tiêu sâu xa của các quan điểm sai trái. Tích cực chống lại các luận điệu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhằm phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, nghiên cứu và tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống, bài bản, đi vào chiều sâu.

Thứ năm, chủ động nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng, dư luận xã hội; xử lý kịp thời những vấn đề bức xúc nảy sinh; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Mặt khác, mỗi cơ quan, đơn vị cần duy trì và phát triển lực lượng chuyên trách (LL47) đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”.

Thứ sáu, tăng cường trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; bảo đảm việc học tập các môn lý luận chính trị được tiến hành một cách thực chất, để người học nắm được những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá thấu đáo các vấn đề chính trị – xã hội diễn ra trong đời sống hiện thực. Mặt khác, xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định của Ðảng.

Thực tiễn hơn 93 năm qua đã cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn kiên trì, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, luôn kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Sự kiên trì, kiên định và kiên quyết ấy chính là những bài học kinh nghiệm quý báu cho mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức; mỗi cán bộ, đảng viên khi tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta quán triệt sâu sắc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng đi đến thành công, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

HIỂU VỀ NỀN DÂN CHỦ TƯ SẢN

 

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung cơ bản trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu cao nhất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là thiết lập một xã hội mới tốt đẹp hơn so với chủ nghĩa tư bản, thiết lập một chế độ dân chủ cho đông đảo nhân dân lao động, một nền dân chủ nhân văn, tiến bộ, vì hạnh phúc con người. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải ny sinh từ hư vô, mà được sinh thành và phát triển lên từ chế độ dân chủ tư sảnXét trên tổng thể lịch sử phát triển dân chủ của xã hội loài người thì chế độ dân chủ tư sản được coi như là một nấc thang, một giai đoạn tất yếuhay nói cách khác, nếu không có chế độ dân chủ tư sản thì không có chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chế độ dân chủ tư sản không chỉ là sản phẩm riêng của giai cấp tư sản, mà là thành quả của cuộc đấu tranh, bền bỉ lâu dài của nhân loại tiến bộ, của nhân dân lao động được kết tinh dưới chủ nghĩa tư bản. Dân chủ tư sản về nội dung, cũng như cơ chế, công nghệ dân chủ mang tính chất giai cấp của giai cấp tư sản, nhưng cũng hàm chứa nhiều yếu tố mang tính nhân loại, tính nhân văn mà chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa có thể kế thừa và phát triển.

          Có thể nói, nền dân chủ tư sản đã có những cống hiến hết sức to lớn đối với lịch sử tiến hóa nhân loại, nhưng nó cũng mắc phải những hạn chế rất lớn. Những hạn chế đó xét đến cùng là do nền dân chủ đó được xây dựng trên nền tảng bất di, bất dịch là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, là nguồn gốc của chế độ người bóc lột người. Giai cấp tư sản thường ca ngợi và tuyên truyền cho nền dân chủ của họ là nền “dân chủ thuần tuý”, dân chủ tư sản không có tính chất chuyên chính, không mang tính chất giai cấp nên nó mở rộng vô bờ bến. Ngày nay, giai cấp tư sản càng có thiện tâm thiện ý “đề cao dân chủ, dân quyền”, tuy nhiên, V.I.Lênin đã chỉ ra một sự thật là: Quyền sở hữu về những tư liệu sản xuất và chính quyền mà nằm trong tay bọn bóc lột, thì không thể nào nói đến tự do chân chính, bình đẳng chân chính cho những người bị bóc lột, nghĩa là cho đại đa số nhân dân được.

          Nền dân chủ tư sản là chế độ bảo vệ quyền lực thống trị của giai cấp tư sản đối với toàn thể nhân dân lao động. Bên cạnh đó nó đề cao quyền tự do cá nhân dẫn tới cá nhân cực đoan thực dụng - dẫn đến lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với lợi ích của xã hội. Điều này đã dẫn đến nhiều khuyết tật không thể tránh khỏi đã nảy sinh trong xã hội tư bản như: Sự phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng xã hội, tình trạng thất nghiệp, sự áp bức, bóc lột người lao động, ô nhiễm môi trường... Cho nên, về thực chất có thể thấy dân chủ tư sản vẫn không phải là nhà nước thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân, mà chỉ là nhà nước của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và thực hiện sự thống trị đối với nhân dân lao động. V.I.Lênin cho rằng: Ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng hòa dân chủ tư sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi.

          Giai cấp tư sản cho rằng nền dân chủ của họ là nền “dân chủ thuần tuý”, dân chủ tư sản không có tính chất chuyên chính, nhà nước tư sản với cơ chế tam quyền phân lập mới có thể đảm bảo được dân chủ. Vì vậy, các thế lực thù địch đã đưa ra quan điểm phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cho rằng đó là bộ máy chuyên chính, với cơ chế quyền lực thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì không thể nào đảm bảo dân chủ thực sự được. Đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi thực hiện cơ chế tam quyền phân lập trong bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa...

          Về vấn đề này, khi xem xét dân chủ với tư cách là một phạm trù chính trị gắn với một kiểu nhà nước và một giai cấp cầm quyền thì sẽ không có “dân chủ phi giai cấp”, “dân chủ chung chung”. Trong xã hội có giai cấp, việc thực hiện dân chủ cho những tập đoàn người này đã loại trừ hay hạn chế dân chủ của tập đoàn người khác. Mỗi chế độ dân chủ gắn liền với nhà nước đều mang bản chất của giai cấp thống trị. Vì vậy, như đã phân tích ở trên, dân chủ tư sản không phải là nền dân chủ thuần túy, mà đó là nền chuyên chính của giai cấp tư sản đối với đông đảo nhân dân lao động thông qua nhà nước tư bản chủ nghĩa.

ĐẤU TRANH GIAI CẤP KHÔNG PHẢI LÀ ĐỘNG LỰC DUY NHẤT CỦA TIẾN BỘ XÃ HỘI

 

Tiến bộ xã hội theo tiếng Latinh - Progressus nghĩa là vận động tiến về phía trước, là một kiểu, một khuynh hướng phát triển được đặc trưng bởi bước chuyển từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của xã hội. Vậy đâu sẽ là động lực của sự tiến bộ, của sự phát triển xã hội loài người? Có nhiều luận giải khác nhau về vấn đề này, trong đó có những luận điệu đã cho rằng học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin đã quá đề cao vai trò của đấu tranh giai cấp và cho đó là động lực của mọi xã hội và là động lực duy nhất của sự phát triển xã hội. Đó thực chất là những luận điệu xuyên tạc, cố ý làm ẩn đi bản chất đúng đắn, khách quan của học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Mục tiêu thực chất sau những luận điệu trên là làm cho chúng ta có những cách hiểu sai lệch vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp; từ đó coi nhẹ đấu tranh giai cấp; mất dần niềm tin vào hệ tư tưởng của dân tộc; không tin vào đường lối của Đảng, không tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của đất nước. Vì vậy, cần có cách nhìn đúng đắn, cách hiểu sâu sắc vấn đề trên.

          Như chúng ta biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là công lao của Mác. Trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5-3-1852, Mác viết: "...Tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhau. Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: (1) sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, (2) đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, (3) bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp" (1).

          Như vậy, C.Mác không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp, nên chưa có đấu tranh giai cấp, và sau này trong tương lai khi xã hội không còn phân chia giai cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như C.Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hội.

          Quan điểm khoa học về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn.

          Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động lực khác như sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng, khoa học - kỹ thuật... Vì vậy không nên cường điệu động lực đấu tranh giai cấp.

          Đại hội XIII của Đảng ta đã hoàn thiện quan điểm về động lực phát triển đất nước trong thời kỳ mới: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

          Như vậy, Ðảng ta không phủ nhận đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ đổi mới.

Phát huy giá trị văn hóa quân sự trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Văn hóa quân sự là một bộ phận của nền văn hóa dân tộc, là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình xây dựng, trưởng thành, phát triển của quân đội, đó là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn quân, toàn dân, mang bản sắc, âm hưởng hào hùng của lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng, về đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, viết nên trang sử anh hùng, bất khuất - Bộ đội Cụ Hồ.

Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là làm cho nền văn hoá nước ta hướng tới những giá trị hiện đại, nền văn hoá ấy phải kết tinh được mọi tinh hoa của quá khứ, hoà quyện vào phẩm chất hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Văn hoá tiên tiến của ta phải dựa trên thế giới quan khoa học và hệ tư tưởng tiến bộ của thời đại là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - hệ tư tưởng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam. Đó là nền văn hoá có ý nghĩa hiện thực to lớn bởi nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ, nuôi dưỡng và nâng cao tâm hồn của con người, khẳng định những giá trị chân, thiện, mĩ, loại bỏ những cái lỗi thời, thấp hèn.

Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nhiệm vụ mà toàn xã hội phải tham gia, trong đó có quân đội và các tổ chức quân sự trong nền quốc phòng toàn dân. Bảo vệ, phát triển truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc chính là một trong những nội dung của bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, gắn liền với bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nhân dân... Truyền thống bản sắc văn hoá quân sự cùng với tất cả các di sản văn hoá khác của dân tộc đều là quốc bảo, là tụ điểm sáng chói “chiết xuất” và hội kết tinh hoa dân tộc, luôn trở thành niềm tự hào tất cả những con người có ý thức sâu sắc về cội nguồn dân tộc mình, trở thành động lực tinh thần mạnh mẽ cho sự phát triển trường tồn của các dân tộc. Và chính bản sắc dân tộc của văn hoá quân sự mở ra tầm nhìn rộng lớn, phát huy mọi năng lực con người để tổ chức và hoạt động quân sự theo hướng hiệu quả nhất.

Giá trị văn hóa quân sự trong xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được biểu hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, giá trị của văn hoá quân sự trong xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện ở các chức năng văn hoá con người quân sự.

Thông qua chức năng giáo dục mà văn hoá quân sự định hướng lí tưởng, đạo đức, hành vi của con người quân sự theo những chuẩn mực nhất định, từ đó gắn đời sống văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc với nhiệm vụ chính trị của nền quốc phòng toàn dân. Thông qua chức năng đáp ứng nhu cầu văn hoá, văn hoá quân sự tập trung làm nổi bật được cái đẹp của đời sống quân ngũ, lấy đó làm định hướng để tìm đến cái lành mạnh thay cho những cái không lành mạnh, thiết lập và không ngừng hoàn thiện các dạng hoạt động và cách ứng xử có văn hoá trong tổ chức quân sự, góp phần hoàn thiện văn hoá quân sự theo tiêu chí của cái đẹp thống nhất giữa truyền thống với hiện đại. Văn hoá quân sự còn thông qua chức năng điều chỉnh hành vi nhằm hướng con người quân sự theo những chuẩn mực nhất định, giúp mọi người tự điều chỉnh theo định hướng chung để phát triển lành mạnh, nhân điển hình văn hoá, tạo ra động cơ, thái độ thi đua tích cực phục vụ nhiệm vụ chính trị trung tâm, đồng thời phê phán những biểu hiện lệch lạc, những thói hư tật xấu, hành động vô tổ chức kỉ luật.

Thứ hai, giá trị của văn hoá quân sự Việt Nam trong xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện một cách đặc thù thông qua chức năng bảo tồn, phát huy những di sản văn hoá quân sự

Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá quân sự truyền thống là yêu cầu cơ bản nhằm phát huy vai trò của di sản văn hoá quân sự đối với việc xây dựng xây dựng nền quốc phòng toàn dân phù hợp với sự phát triển của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thực tiễn đã chứng minh văn hoá dân tộc Việt Nam là văn hoá dựng nước đi đôi với giữ nước, là kết quả việc kết nối mạch nguồn dân tộc Việt Nam với nhiều kinh nghiệm quý báu qua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống ngoại xâm mà tổ tiên ta đã để lại. Hiện nay, dựng nước đi đôi với giữ nước còn trở thành nhân tố bảo đảm thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gằn liền với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc để “tiếp tục đà phát triển đất nước nhanh và bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tư tưởng dựng nước đi đôi với giữ nước đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong lịch sử và ngày nay đang đang được nối kết thành định hướng đúng đắn trong tư duy và hoạt động quân sự của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Thứ ba, vai trò của văn hoá quân sự Việt Nam trong xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện ở sự đóng góp của nó giá trị văn hoá Việt Nam hiện đại: hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ”.

Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” là sự tiếp nối truyền thống văn hóa Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Qua nhiều thế hệ, văn hóa yêu nước - nét độc đáo trong giá trị văn hóa truyền thống dân tộc đồng thời cũng là giá trị căn cốt, là sức mạnh nội tại để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách của lịch sử. Đó còn là một trong những giá trị cốt lõi góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam vượt qua mọi gian nguy, mọi khó khăn ngặt nghèo nhất để kết nối quá khứ, hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Kế thừa, phát huy những giá trị độc đáo đó, hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, sự đùm bọc, chở che của nhân dân, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã cùng toàn Đảng, toàn dân viết nên những trang chói lọi trong lịch sử dân tộc, xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”.Từ truyền thống yêu nước, tình đồng bào tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách”, “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”; từ tư tưởng nhân văn, nhân ái, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “trung quân, ái quốc”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy chí nhân mà thắng cường bạo”,… đã được nâng lên một tầm cao mới, tương ứng với đó là hệ giá trị “Bộ đội Cụ Hồ”.

Trong tình hình mới, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ; đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa diễn ra quyết liệt, phức tạp hơn. Để thực hiện được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nước ta là tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy giá trị văn hóa quân sự Việt Nam, tạo động lực thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, giáo dục lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, tinh thần dân tộc, tinh thần chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Tiếp tục “quán triệt sâu sắc các nội dung cơ bản về xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kì mới như: phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tự cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đáp ứng nhu cầu văn hoá để định hướng giá trị thì không thể chỉ ở số lượng các buổi xem phim, đọc báo... mà phải quan tâm đến nhu cầu văn hóa đọc, văn hóa nghe, văn hóa nhìn để định hướng cho phù hợp. Xây dựng và đưa vào đời sống quân sự các giá trị văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc, tạo điều kiện để mọi người sáng tạo văn hoá, xây dựng cảnh quan văn hoá hiện đại nhưng có ý nghĩa bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc.

Đặc biệt, việc quan tâm đến văn hoá thẩm mĩ, nghệ thuật, thể thao, xây dựng đời sống tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ phải luôn được đề cao, một mặt vừa trực tiếp đóng góp nhiều sản phẩm văn hoá có giá trị vào kho tàng văn hoá dân gian, mặt khác, lịch sử văn hoá quân sự Việt Nam từ xưa đến nay vẫn là đề tài bất hủ có sức mạnh gợi cảm hứng sáng tạo rất cao.

Thứ hai, nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa ở các đơn vị cơ sở theo hướng phát huy giá trị văn hóa quân sự truyền thống của dân tộc vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

Xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sở phải xác định rõ hơn, cụ thể hơn nội dung, chương trình, kế hoạch của các cấp bộ đảng, chính quyền ở cơ sở trong việc gìn giữ, phát triển các giá trị văn hóa quân sự truyền thống của dân tộc. Xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sở có mục đích làm lành mạnh hóa các quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong cộng đồng và nâng cao tính văn minh, lịch sự đối với các quan hệ ngoài cộng đồng. Mục đích đó còn phải được bổ sung một nội dung yêu cầu cơ bản là giữ gìn, phát huy được giá trị văn hóa quân sự truyền thống của dân tộc thì mới có ý nghĩa tích cực đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Các chủ thể phải có những chủ trương, biện pháp cụ thể, tích cực nhằm không ngừng tạo dựng và củng cố giá trị văn hóa quân sự truyền thống dân tộc trong môi trường văn hóa mình đang sống để nó trở thành đặc trưng, chuẩn mực ứng xử của mỗi thành viên trong cộng đồng. Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc…bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa…làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng con người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người…”.

Thứ ba, tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước một cách thiết thực.

Phát huy truyền thống văn hóa quân sự trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay là một phong trào có tính thực tiễn trong xu thế mở cửa, giao lưu hội nhâp văn hóa ngày càng sâu rộng. Các phong trào này giúp cho cán bộ, chiến sĩ hiểu biết một cách sâu sắc truyền thống văn hóa quân sự của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước. Trên cơ sở định hướng chung đó cần đa dạng hóa các hình thức để cho tất cả mọi người Việt Nam tham gia một cách sâu rộng. Cần tạo ra nhiều hình thức với các thể loại khác nhau nâng cao tri thức, nâng cao tinh thần yêu nước, và rèn luyện những phẩm chất cần có đối với phát huy truyền thống văn hóa quân sự và các phương diện khác nhau của bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Phân biệt và nhận diện tin giả trên mạng xã hội trong giai đoạn hiện nay.

 

Trên thế giới tin giả đã xuất hiện từ rất lâu, những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là mạng xã hội, tin giả xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành vấn nạn ở nhiều quốc gia, Việt Nam cũng là một trong các nước như vậy.

Để tránh mắc bẫy tin giả, người đọc không nên tin ngay mà cần kiểm tra chéo trên các báo chí chính thống cũng như nguồn tin chia sẻ vì hiện nay có rất nhiều nguồn không rõ căn cứ. Một số kinh nghiệm được nhiều chuyên gia chia sẻ trong việc nhận diện tin giả gồm truy nguồn thông tin, xem tin đó đăng tải ở đâu, tên hiển thị là gì, tên miền là gì, ai là người chia sẻ. Bước tiếp theo, người đọc cần những biện pháp mang tính kỹ thuật hơn như xem thông tin có khách quan, đa chiều không hay chỉ một chiều, viết theo chủ quan của người viết? Các thông tin đưa ra có bằng chứng không, được đơn vị nào có thẩm quyền thẩm định không? để phòng tránh tin giả thì chúng ta nên tập tư duy phản biện và đừng tin vào bất cứ thông tin gì ngay lần đầu đọc nó. Đặc biệt, khi gặp một thông tin trái với dòng chảy thông tin thông thường đang diễn ra thì chúng ta nên bình tĩnh đọc kỹ, suy xét cẩn thận và cuối cùng, khi chia sẻ thông tin gì, hãy nghĩ đến trách nhiệm của bản thân với cộng đồng, nghĩ đến hậu quả nếu đó là tin giả để thận trọng hơn.

Mặc dù pháp luật đã có quy định về hình phạt đối với hành vi phát tán tin giả, phát tán thông tin nhằm mục đích vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức và cũng đã có nhiều người bị xử phạt hành chính, thậm chí bị xử lý hình sự về hành vi này nhưng cho tới nay, câu chuyện tin giả vẫn là một vấn nạn. Điều này cho thấy, không chỉ các cơ quan bảo vệ pháp luật cần có giải pháp hiệu quả hơn với những người cố tình đưa thông tin giả, thông tin độc hại tới cộng đồng mà chính người dùng mạng xã hội nói riêng và người dân nói chung cần có sự tỉnh táo khi tiếp nhận tin từ những nguồn tin không chính thống. 

Để có thể tạo được khả năng miễn dịch đủ mạnh, đủ lớn trong cộng đồng, mỗi người dân tham gia mạng xã hội cần có ý thức trách nhiệm với chính bản thân, với cộng đồng xã hội, phải có sự hiểu biết về pháp luật, xây dựng được ý thức cảnh giác với tin giả, luôn tỉnh táo, thận trọng trong việc đăng và tiếp nhận thông tin, bình luận, luôn coi trọng nguyên tắc và chuẩn mực văn hoá, đạo đức, pháp luật khi tham gia và tiếp nhận thông tin trên không gian mạng. Cần rèn cho mình kỹ năng nhận biết tin giả như kiểm tra xuất xứ thông tin, kiểm tra tựa bài có khớp với nội dung, kiểm tra thời gian thông tin, xem xét nguồn tin trong bài, xem xét độ phủ sóng và xem xét chủ quan bản thân, tự rèn thói quen đọc tin chính thống, kiểm chứng thông tin trước khi ấn like, share hoặc bình luận. 

Nên tìm đọc các chỉ dẫn của các chuyên gia nghiên cứu về tin giả đăng tải trên các tạp chí khoa học, các trang web của các cơ quan đào tạo, nghiên cứu báo chí truyền thông có uy tín để tự mình nhận diện tin thật – tin giả, tránh việc vì thiếu những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà vô tình hoặc bị lợi dụng trở thành người đưa tin giả.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CỦA VIỆT TÂN

Việt Tân là một tổ chức khủng bố có mục đích lật đổ chính quyền Việt Nam hiện tại bằng những hoạt động chính trị, tuyên truyền chống phá thông qua phương tiện truyền thông. Việt Tân đã sử dụng nhiều thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc để "dắt mũi" dư luận và tạo ra sự chia rẽ trong xã hội. Sau đây là một số thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc của Việt Tân:

Lợi dụng thông tin sai lệch để tuyên truyền: Việt Tân thường sử dụng những thông tin sai lệch, không chính xác hoặc bóp méo sự thật để tuyên truyền nhằm "dắt mũi" dư luận. Điều này có thể dẫn đến sự bất ổn định, chia rẽ và kích động trong nhân dân.

Sử dụng những hình ảnh chấn động: Việt Tân thường sử dụng những hình ảnh có tích chất gây chấn động, xúc động để tạo ấn tượng mạnh nhằm ảnh hưởng đến cảm xúc của người dân. Hình ảnh này thường không chính xác và được tạo ra bằng cách cắt ghép và lựa chọn những phân đoạn hình ảnh có ý nghĩa khác nhau.

Lợi dụng lỗ hổng pháp lý để gây rối: Việt Tân thường lợi dụng lỗ hổng pháp lý để gây rối và tạo ra sự bất ổn trong xã hội. Cụ thể là sử dụng các phương tiện truyền thông và mạng xã hội để lan truyền thông tin sai lệch hoặc không có căn cứ.

Đánh giá thái quá về các chính sách của chính phủ: Việt Tân thường đưa ra những ý kiến tiêu cực và không đầy đủ về các chính sách của chính phủ, dẫn đến sự thiếu tin tưởng vào các cơ quan chính phủ và làm giảm uy tín của Chính phủ.

Gây chia rẽ trong xã hội: Việt Tân thường sử dụng các phương tiện truyền thông và mạng xã hội để tuyên truyền những ý kiến được theo chiều hướng ủng các tổ chức, cá nhân có cùng quan điểm với họ. Việt Tân sử dụng các thông tin sai lệch và chủ quan để tạo ra sự chia rẽ.

Tuyên truyền chống lại nhà nước: Việt Tân thường sử dụng các thông tin sai lệch và luận điệu xuyên tạc để tuyên truyền chống lại chính phủ và nhà nước Việt Nam. Họ thường chỉ trích các chính sách của chính phủ, đặc biệt là trong lĩnh vực nhân quyền, dân chủ, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo.

Sử dụng những chiêu trò lừa đảo: Việt Tân thường sử dụng các chiêu trò lừa đảo để thu hút người đọc và lấy được sự chú ý của công chúng. Chẳng hạn như sử dụng các hình ảnh, video hoặc tin tức giả để tạo ra sự quan tâm và sự phản đối từ công chúng.

Tuyên truyền bịa đặt và chủ quan: Việt Tân thường sử dụng các thông tin không chính xác và bịa đặt để tạo ra những luận điệu xuyên tạc. Họ sử dụng các thông tin không chính xác để chỉ trích nhà nước Việt Nam và tạo ra sự phản đối của người dân.

Tuyên truyền khai thác các vấn đề nhạy cảm: Việt Tân thường sử dụng các vấn đề nhạy cảm như đối tượng tôn giáo, tình trạng thất nghiệp, đối tượng người nghèo và vấn đề biên giới để tạo ra sự phản đối của người dân và quốc tế đối với chính phủ Việt Nam.

Để đấu tranh với những luận điệu và thủ đoạn xuyên tạc của Việt Tân, chúng ta cần phải cảnh giác và không bị lừa dối bởi những thông tin không chính xác. Chúng ta cần tìm hiểu kỹ về các vấn đề và xác thực thông tin trước khi tin tưởng hoặc chia sẻ chúng.

Ngoài ra, chúng ta cũng cần khai thác các phương tiện truyền thông và mạng xã hội để đưa ra những thông tin chính xác và giải thích những vấn đề liên quan đến Việt Nam. Chúng ta cần cùng nhau đấu tranh với những thông tin sai lệch và góp phần tạo ra một môi trường thông tin lành mạnh, đúng đắn và chính xác.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 

Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống Nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Thủ đoạn tinh vi, khó lường  

Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, Nhân dân ta.

Thực tế sinh động, minh chứng thuyết phục

Thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội” đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.

Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ... những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.

Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua.