Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2023

Một số giải pháp khắc phục biểu hiện đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác.


Thứ nhất, tiếp tục nhận diện những biểu hiện mới, biến tướng mới cũng như tác hại và nguyên của bệnh đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác trong đội ngũ cán bộ các cấp và không ngừng đấu tranh phê phán và có chế tài đủ mạnh để phòng, ngừa những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác chui vào nội bộ ta.

Thứ hai, thường xuyên quán triệt và triển khai sâu rộng Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương “Về những điều đảng viên không được làm”, đặc biệt là nội dung: Đảng viên không được quan liêu, thiếu trách nhiệm; đảng viên không được “biết mà không báo cáo, phản ảnh, xử lý các hành vi tham nhũng; không thực hiện các quy định về bảo vệ người chống tham nhũng”…, đảng viên không được lợi dụng chức vụ để bổ nhiệm, đề cử, ứng cử trái quy định; không được can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được “đề cử, ứng cử”…, “không được lợi dụng chức vụ để giúp người thân và để người thân ra nước ngoài khi chưa có phép của cơ quan có thẩm quyền”…

Thứ ba, đẩy mạnh tổ chức quán triệt và cụ thể hóa theo thẩm quyền để thực hiện nghiêm Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” (thay thế Quy định số 205-QĐ/TW). Quy định 114-QĐ/TW thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, đã liệt kê cụ thể 8 hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn; 6 hành vi “chạy chức, chạy quyền” và 5 hành vi tiêu cực khác. Thực hiện tốt trách nhiệm kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo, “người được giao chức vụ, quyền hạn phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa; đồng thời, phải tăng cường giám sát, kiểm soát có hiệu quả việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần tự giác, tự nguyện, tự chỉ trích, lòng tự trọng và biết liêm sỉ, biết đặt quyền lợi của Đảng, của dân, của nước lên trên hết, trước hết.

Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn 2021 - 2030. Một trong 10 nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là: “Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”.

Thứ tư, tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại gắn với chế độ công vụ. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng nền hành chính nhà nước của dân, do dân, vì dân. Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng Luật về đạo đức công vụ và thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức. Thực hiện “cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc; khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”; tạo động lực để cán bộ, đảng viên cống hiến, ngăn ngừa tiêu cực trong thi hành công vụ, xây dựng niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ./.

Nhận diện những biểu hiện và tính nguy hại của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác


Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ những biểu hiện của một số cán bộ có “tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh”.

Trong đó, đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác của cán bộ, đảng viên có những biểu hiện hết sức đa dạng, tinh vi, với nhiều hình thức khác nhau nhưng không có nghĩa là “bí ẩn” không nhận diện được. Có thể nêu một số biểu hiện chính như sau:

Một là, dùng mọi thủ đoạn mua chuộc để đoạt được quyền lực

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”. Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta đang phải đối mặt với những lực cản, trong đó nổi bật là biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân - thực chất là biến quyền lực tập thể thành quyền lực cá nhân; đây là quyền lực bị tha hóa, khi quyền lực của nhân dân rơi vào tay những kẻ đam mê quyền lực; biến sức mạnh của tập thể thành quyền lực cá nhân.

Người đam mê quyền lực thường có biểu hiện theo kiểu dân túy, thông qua những tuyên bố gây sốc với những hành vi đánh bóng tên tuổi để “mị dân” - lấy lòng đám đông trong giải quyết mối quan hệ và những vấn đề nóng, dễ gây bức xúc trong xã hội, chạm vào “trái tim” của một bộ phận người dân với những lợi ích trước mắt họ, lại có truyền thông hậu thuẫn và tung hô xuất hiện dày đặc trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thậm chí, họ tìm cách mua chuộc quần chúng, nhất là cấp dưới để tăng tín nhiệm, thuận lợi cho việc giới thiệu mình theo quy trình vào diện quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm chức vụ... Họ luôn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi, lấy lòng mọi người, từ đồng nghiệp đến những người có tiếng nói, uy tín trong cơ quan, đơn vị, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm. Họ sẵn sàng dùng tiền để lấy lòng mọi người nhằm tạo dựng mối quan hệ với lãnh đạo cấp trên…

Một số ít cán bộ chủ chốt khi được luân chuyển về bộ, ngành, địa phương khác, thay vì sâu sát cơ sở, bám nắm tình hình nội bộ, tình hình mọi mặt của bộ, ngành, địa phương để xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ, nhất là trong nội bộ cấp ủy lại tranh thủ “gặp gỡ” các doanh nghiệp, sốt sắng xây dựng cánh hẩu, sân sau; cũng có trường hợp đi cơ sở và tranh thủ phát biểu, “động viên” tinh thần cấp dưới, với giọng “dân túy” để đánh vào tâm lý vốn đang bức xúc của một bộ phận người dân, doanh nghiệp nhằm vận động hành lang tranh thủ sự ủng hộ…; mị dân, tạo uy tín giả và để khỏa lấp đi những hạn chế về phẩm chất, năng lực cũng như những sai phạm trước đó của bản thân…

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc ngành Tổ chức xây dựng Đảng ngày 26/3/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Cứ vào Đại hội, cứ chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm lại râm ran chuyện vận động, mời nhau ăn uống, cho tiền, tặng quà. Có cái gì luồn vào trong cái tình cảm ấy?”. Tổng Bí thư thẳng thắn chỉ rõ: Hiện nay, trong dư luận xã hội vẫn râm ran chuyện chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy luân chuyển... Từ đó, Tổng Bí thư cảnh báo, nếu có thì chúng ta phải sửa, phải rút kinh nghiệm; nếu không có thì chúng ta cũng phải trả lời rõ ràng, sòng phẳng, chỉ ra ai chạy, chạy ai?”.

Hai là, tìm mọi cách xây dựng “cánh hẩu” để củng cố quyền lực

Biểu hiện về cán bộ có đam mê quyền lực là luôn tìm mọi cách để củng cố quyền lực thông qua việc dùng ảnh hưởng và tác động để đưa người thân, người quen vào diện quy hoạch và sau đó là bổ nhiệm vào các chức vụ. Họ luôn tìm mọi cách, mọi cơ hội để đưa người thân, người quen, cánh hẩu được vào ê kíp để củng cố quyền lực của mình ngày thêm vững chắc. Khi có quyền lực, một mặt, họ sẽ tìm cách thao túng, phá “thủng” nguyên tắc tổ chức và quản lý để đặc quyền, đặc lợi. Mặt khác, tìm mọi cách để kiềm chế, triệt hạ những người thẳng thắn, những người “không theo dây” hay nhóm lợi ích tiêu cực do mình là chủ trò tiếp tục đưa những kẻ nịnh nọt, chạy chức, chạy quyền vào bộ máy nhà nước.

Theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, người được bổ nhiệm nắm giữ chức vụ không phải là vô hạn về không gian, thời gian mà có thời hạn, nhiệm kỳ. Hết nhiệm kỳ, cán bộ lãnh đạo phải được cấp có thẩm quyền gia hạn, bổ nhiệm lại (nếu còn tuổi, năng lực, đủ phẩm chất, tiêu chuẩn), hoặc không làm quản lý, lãnh đạo, sẽ làm chuyên môn thuần túy, hoặc nghỉ hưu. Đó là nguyên tắc công tác tổ chức cán bộ. Nhìn chung, cán bộ có đam mê quyền lực đều ý thức rất rõ về nhiệm kỳ. “Tư duy nhiệm kỳ” như một căn bệnh, tệ nạn trong xã hội xuất hiện với mức độ, hình thức, biểu hiện trong đánh giá, nhận xét, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ….

Ê kíp, “cánh hẩu” là tình trạng ở một số cơ quan, địa phương, đơn vị khi lãnh đạo có người “say mê quyền lực” chủ động nâng đỡ “đàn em”, con cháu “không trong sáng” thông qua việc đề bạt quá nhanh, quá nhiều, bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện theo kiểu “9C” (con cháu các cụ cả, chiếu cố các cháu). Do vậy, nhân dân gọi những người được đề bạt, bổ nhiệm sai là tầng lớp “5C4Đ” (con cháu các cụ cả, đừng được động đến). Đây không chỉ là tư tưởng dễ dãi, xuê xoa trong công tác cán bộ mà là hiện tượng kéo bè, kéo cánh, xây dựng ê kíp mới sẽ tạo ra “chân rết” là một nhóm lợi ích tiêu cực nhằm kéo dài bòn rút, đục khoét tài sản nhà nước và nhân dân.

Ba là, tìm mọi cách mua chức, đoạn quyền

Điểm chung của những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí là luôn thực hiện cái gọi là phương châm “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Vì vậy, họ luôn có nhiều mưu mô nhằm đoạt cho được quyền lực; sẵn sàng vung tiền, quà biếu, tặng bằng vật chất hối lộ cấp trên thoái hóa, biến chất và đi kèm với đó là những lời nịnh hót, xin xỏ, thậm chí mặc cả về chức vị của mình.

Những bài học chạy chức quyền, chạy luân chuyển cán bộ thời gian qua cho thấy rõ biểu hiện này khi mà nhiều cán bộ dù năng lực yếu kém, thiếu tiêu chuẩn, bằng cấp, nhưng nếu có tiền, vật chất hối lộ, và biết đưa hối lộ thì vẫn được sếp để mắt tới, được bố trí vào những vị trí có nhiều “màu mè”, lợi ích...

Bốn là, kén chọn vị trí công tác.

Những cán bộ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực khi đã được quy hoạch, bổ nhiệm lại “kén cá chọn canh”, chọn vị trí công tác mà họ cho là “ngon”; chọn việc dễ, tránh việc khó; chọn nơi gần, tránh nơi xa; chọn nơi có nhiều lợi ích, bổng lộc. Những con người này chỉ thích được phân công tại những nơi có nhiều “màu mỡ”, thích công tác bên chính quyền, doanh nghiệp lớn ở thành phố lớn, vùng đô thị…, không thích công tác ở khối Đảng, Mặt trận, đoàn thể bởi ở những nơi này không có “màu mỡ”, khó kiếm chác.

Có những trường hợp mặc dù đã được tổ chức Đảng phân công vị trí công tác mới, nhưng với những mánh khóe, thủ đoạn sẵn có là hối lộ, kẻ có tham vọng chức quyền, đam mê quyền lực tư lợi, vun vén cá nhân vẫn “lội ngược dòng” vào “phút bù giờ” để về công tác tại những vị trí có nhiều màu mỡ, bổng lộc.

Vì tư tưởng cục bộ, bản vị, vì “lợi ích nhóm tiêu cực” một số cán bộ chủ chốt nhân danh sự tín nhiệm của nhân dân địa phương đối với mình, tìm mọi cách để “kéo dài” vị trí công tác ở địa phương nhằm mục đích đưa người nhà, người thân vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp hay trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Không những vậy, họ tìm mọi cách để gây khó khăn hay cản trở cán bộ từ địa phương, ban, ngành và đơn vị khác được các cấp có thẩm quyền điều động đến. Có cán bộ chủ trì nhân danh tập thể hoặc là áp đặt ý kiến của cá nhân bắt tập thể phải thông qua các quyết định thiếu dân chủ về công tác cán bộ. Vì vậy, trong các kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với các vụ việc nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vừa qua đều chỉ ra khuyết điểm chung là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của cán bộ chủ chốt và cấp ủy.

Không để các thế lực lợi dụng tôn giáo để chống phá đất nước

 Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá với những thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn. Do vậy, việc chủ động đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài và là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị; trong đó, cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt, cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp năm 2013. Thực hiện tốt chức năng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo tại các địa bàn trọng điểm, phức tạp; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý ngay tại cơ sở các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật gây bức xúc trong xã hội.

2. Nắm chắc tình hình, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng: “dân chủ”, “quyền con người”, “tôn giáo” chống phá Việt Nam để có đối sách giải quyết phù hợp, hiệu quả, đúng pháp luật. Kịp thời phát hiện và ngăn chặn việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các tôn giáo, gây rối trật tự, xâm phạm an ninh quốc gia. Chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, vạch trần “chân tướng” các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo; phản bác các luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”.

3. Những biện pháp đấu tranh ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Việt Nam cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành để có sự hỗ trợ đồng bộ, hạn chế sơ hở để thế lực xấu lợi dụng chống phá.

4. Thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm, có biện pháp khắc phục những thiếu sót, tồn tại để đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân, làm cho nhân dân thực sự tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; là chất keo kết dính giữa Nhân dân với Đảng, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch.

5. Làm tốt công tác tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin về kết quả, thành tựu nhân quyền trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam; đồng thời, thực hiện tốt hoạt động đối thoại tôn giáo, hướng dẫn các chức sắc, tín đồ hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.

 03.8

Không thể phủ nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

 Trước hết cần khẳng định: Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đảm bảo trên thực tiễn và cụ thể bằng văn bản pháp luật, như: Sắc lệnh số 234/SL, ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, xác định: “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý để các tôn giáo hoạt động hiệu quả, như: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH 11, ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XI) về tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị số 1940/CT-TTg, ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; ngày 09/3/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ra mắt Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, v.v. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tập trung đầu tư phát triển kinh tế ở vùng đồng bào có đạo, thể hiện sự quan tâm đặc biệt sâu sắc đến nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, làm cho tín đồ và chức sắc tôn giáo yên tâm, phấn khởi tích cực thực hiện tốt cả “việc đạo, việc đời”.

Việt Nam luôn tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ các tôn giáo hoạt động theo pháp luật; chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay! Số lượng tín đồ ngày càng đông, được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức, 06 tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc; thì đến năm 2021, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 26 triệu tín đồ, 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phong phú, đa dạng; nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo thu hút hàng vạn tín đồ tham dự, như: Giáo hội Tin lành đã tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành (tháng 12/2017); Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa minh thế giới tại Đồng Nai (tháng 7/2019), với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại chùa Tam Chúc, tỉnh Hà Nam (tháng 5/2019) với sự tham dự của trên 3.000 đại biểu chính thức (trong đó có 570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ), v.v. Với quy mô hoạt động tôn giáo hàng vạn người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về các phương án đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng, chống cháy nổ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm,... để nhân dân được tự do hành lễ, thỏa mãn nhu cầu đời sống tâm linh. Điều đó đã khẳng định chính sách nhất quán của nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi, nếu không có chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thì các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo không thể tổ chức đa dạng, phong phú như trên được.

03.8

Cảnh giác trước luận điệu “Việt Nam không có tự do tôn giáo"

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, với nhiều hình thức tôn giáo khác nhau, từ các hình thức tôn giáo sơ khai như: Tô tem giáo, Ma thuật giáo, Saman giáo đến các tôn giáo của thời hiện đại, có tổ chức chặt chẽ như: Công giáo, Phật giáo, đạo Tin Lành, Hồi giáo,… cùng tồn tại và bình đẳng với nhau, không có tôn giáo nào giữ vai trò chủ đạo, không phân biệt những tôn giáo có nguồn gốc du nhập từ bên ngoài hay những tôn giáo nội sinh. Cùng với sự đa dạng về tôn giáo, tại Việt Nam còn có sự đa dạng các loại hình tổ chức tôn giáo; trong đó, có những tôn giáo chỉ có một tổ chức duy nhất (Phật giáo, Công giáo) và cũng có những tôn giáo có rất nhiều tổ chức khác nhau (đạo Tin Lành, đạo Cao Đài), v.v.

Các tôn giáo ở Việt Nam đều có đóng góp tích cực cho đất nước trên nhiều phương diện của đời sống xã hội; đồng thời, là một nhân tố xã hội và văn hóa tích cực góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Việt Nam là đất nước ôn hòa trong quan hệ giữa các tôn giáo; có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước. Việc chung sống hòa bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tính nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: phong phú, đan xen lẫn nhau. Ở Việt Nam ngày nay, sự đồng thuận giữa các tôn giáo và Nhà nước được thể hiện rõ ở khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết các tôn giáo, tạo nguồn sức mạnh và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây là thực tiễn khách quan sinh động, phản bác luận điệu cho rằng: ở Việt Nam “không có tự do tôn giáo”.

03.8

Phản bác sự nhìn nhận sai lệch về tình hình tôn giáo ở Việt Nam

 Hiện nay, cùng với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, vấn đề dân chủ, nhân quyền, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đang có nhiều quan điểm khác nhau. Theo đó, một số nước tự cho cho mình “cái quyền” là “người bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, dùng nhiều chiêu bài để đưa ra nhận xét về tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo kiểu quy chụp, thiếu khách quan, thậm chí vu cáo nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, trong đó có Việt Nam. Đây là thủ đoạn không mới nhưng rất nguy hiểm cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Trong số các nước tự cho mình “cái quyền nhận xét” về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở các nước, trong đó có Việt Nam, Hoa Kỳ là quốc gia ban hành nhiều đạo luật quy định các chế tài chống lại các nước mà họ cho là “vi phạm tự do tôn giáo”. Nhiều chính khách Hoa Kỳ và một số tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí khi tiếp xúc với cơ quan chức năng của Việt Nam luôn đặt vấn đề “cải thiện quyền con người”, đòi “tự do tôn giáo”, xin “phục hồi các tổ chức tôn giáo cũ” và đưa ra quan điểm, nhận định thiếu khách quan, xuyên tạc chính sách, pháp luật tôn giáo của Việt Nam. Họ cho rằng: Việt Nam chưa tiếp cận luật pháp quốc tế về “quyền con người”; chính quyền cơ sở gây khó khăn trong việc chấp thuận đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo, v.v. Mới đây, ngày 15/5/2023, Ủy ban tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ công bố Báo cáo thường niên về tình hình tôn giáo thế giới năm 2022 đã tiếp tục kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo” (CPC). Như thường lệ, Ủy ban này vẫn đưa ra những nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam.

Đồng điệu với những nhận định thiếu khách quan đó, các thế lực thù địch vẫn ngày đêm lợi dụng, xuyên tạc trắng trợn về chính sách, pháp luật và tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Chúng móc nối số phần tử cơ hội bất mãn chế độ và số chức sắc cực đoan trong các tôn giáo để kích động các hoạt động tôn giáo thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước; tuyên truyền phủ nhận các văn bản pháp luật về tôn giáo của Nhà nước ta; tâng bốc, ca ngợi “quyền” tự do tôn giáo của các nước tư bản. Chúng tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và tán phát các tài liệu có nội dung bịa đặt để tuyên truyền, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Lợi dụng những vấn đề phức tạp trong xã hội, như: thu hồi đất đai, đền bù, giải tỏa; vấn đề ô nhiễm môi trường,... để lôi kéo, kích động những người nhẹ dạ, cả tin, đặc biệt là một bộ phận tín đồ “cuồng đạo” tham gia tuần hành và khuếch tán các hoạt động chống phá trên mạng xã hội, v.v. Những hành động, việc làm đó đã tác động xấu đến xã hội, gây chia rẽ nội bộ trong tổ chức tôn giáo và gây mất đoàn kết tôn giáo, v.v.

03.8

Đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị”

 Để đấu tranh có hiệu quả với những kẻ “cơ hội chính trị”, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nói chung, các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng nói riêng cần nhận thức đúng những biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” và tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống kẻ “cơ hội chính trị” hiện nay. Từ đó, chủ động, kịp thời, kiên quyết thực hiện những biện pháp, bước đi thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, không thỏa hiệp với những tư tưởng, biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” ở mọi nơi, mọi lúc. Đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không cho chúng có cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhân dân ta.

Cùng với đó, thực hiện kiên quyết, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phải quán triệt, cụ thể hóa các nội dung Nghị quyết thành các văn bản pháp luật, thành kế hoạch, đề án cụ thể; đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì trong nêu gương thực hiện Nghị quyết, nêu gương trong lời nói, hành động, công việc, đời sống riêng và thực hiện nghiêm chế tài giám sát, kiểm soát sự nêu gương ấy. Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-201 của Bộ Chính trị về “Việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Trong đó, kiên quyết xử lý nghiêm, không có vùng cấm đối với các hành vi chạy chức, chạy quyền và hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

Xây dựng các tổ chức đảng TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự vững mạnh, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất đoàn kết. Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo chuyển biến rõ rệt về ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và phong cách công tác của cán bộ, đảng viên. Thực hiện có nền nếp và chất lượng việc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chủ động ngăn chặn, ngăn ngừa xu hướng cơ hội chính trị. Đặc biệt, thường xuyên nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng để tạo sức “đề kháng” trước sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với kẻ cơ hội chính trị, những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trọng nội bộ.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ của các lực lượng tạo thành thế trận vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, chống chủ nghĩa cơ hội nói riêng. Nâng cao tính chuyên sâu của các cơ quan, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành, của các lực lượng và tính kịp thời, đa dạng, phong phú của các cơ quan thông tấn, báo chí trong đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị”, góp phần xây dựng các tổ chức đảng TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD.

03.8

Nhận diện những kẻ “cơ hội chính trị”

 “Cơ hội chính trị” là một bộ phận không nhỏ những kẻ cơ hội, thiếu lý tưởng cộng sản, tìm cách chui vào Đảng, mang danh cán bộ, đảng viên cộng sản để tìm cơ hội “thăng quan tiến chức”. Bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, họ tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc để đạt danh vọng, làm giàu cho bản thân và gia đình. Họ say mê quyền lực, địa vị, coi như một thứ có thể mua bán, tiến thân, từ đó mà khéo luồn lách, xun xoe, nịnh bợ cấp trên; đe nẹt, chèn ép cấp dưới. Họ kéo bè kết cánh, móc ngoặc trên dưới, trong ngoài, dựa vào các mối quan hệ thân thiết, tiền bạc để tìm cách chạy chức, chạy quyền, chạy danh, chạy lợi, chạy chỗ, chạy bằng cấp, chạy tuổi... Họ lợi dụng việc tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển cán bộ để trục lợi cá nhân, tìm mọi cách đưa người “cùng cánh” vào nắm những chức vụ quan trọng trong cơ quan, đơn vị mà không chịu chọn những người có đức, có tài, đủ tâm, đủ tầm vào vị trí xứng đáng, thậm chí họ sẵn sàng “dìm” người khác để nâng mình lên, vì lợi ích cá nhân mà bất chấp lợi ích tập thể; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; không gương mẫu trong công tác; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó. Từ đó, họ dần từ bỏ trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, không còn là “công bộc” của dân, trở thành những “ông quan” cách mạng, đục khoét tiền bạc, của cải của nước, của dân.

Ngoài những kẻ cơ hội trên thì còn phải kể đến những đối tượng cơ hội chính trị cực đoan. Nhóm này thường bộc lộ công khai tư tưởng bất mãn, chống đối. Họ triệt để khai thác các khiếm khuyết của cơ chế, chính sách, lợi dụng những người có địa vị, uy tín cá nhân nhưng bất mãn hoặc đã từng bị xử lý, nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng, công kích chính diện vào chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của chế độ ta với động cơ và mục đích không lành mạnh, gieo rắc tâm trạng hoài nghi, tư tưởng bất mãn, chống đối, phục vụ cho mưu đồ bạo loạn, lật đổ khi có đủ các điều kiện. Hay có những đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận thông tin từ những kênh không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng, đứng trước các sự kiện phức tạp về chính trị xã hội thường tỏ ra dao động, thiếu tự chủ, mất niềm tin, mất phương hướng, hành động lệch chuẩn, gián tiếp tiếp tay cho các thế lực thù địch. Bộ phận khác do “công thần”, sống vụ lợi ích kỷ, thiếu tu dưỡng rèn luyện, khi lợi ích cá nhân không được đáp ứng, thể hiện và biểu lộ công khai quan điểm bất mãn. Họ thường nói và là trái với quan điểm của Đảng, gây xáo trộn và phân tâm trong xã hội, tạo môi trường xấu…

Có thể khẳng định, những kẻ cơ hội chính trị có nhiều cấp độ biểu hiện, có nhiều dạng và tồn tại ở nhiều vị trí khác nhau, nó là những con “sâu”, con “mọt” đang ngày đêm đục khoét phá hoại Đảng ta và chế độ XHCN ở nước ta, làm suy yếu sức mạnh của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây ra thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, nhận diện và đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị” là một trong những nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn trong giai đoạn hiện nay.

03.8

Không để hiện tượng cá biệt làm ảnh hưởng bản chất truyền thống

 

Trước những sự việc sai phạm của một số cán bộ cao cấp trong quân đội xảy ra thời gian qua, từng có ý kiến đây đó trong dư luận đặt câu hỏi có hay không sự gia tăng tham nhũng, tiêu cực trong quân đội, trong lực lượng vũ trang. Có hay không sự suy thoái đến mức phổ biến, làm suy giảm sức chiến đấu, làm suy giảm niềm tin của nhân dân?

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, cùng với sự đau xót, nghiêm khắc rút ra những bài học đắt giá, chúng ta phải khẳng định một số sai phạm đó chỉ là những hiện tượng cá biệt. Việc xử lý nghiêm minh, kịp thời chính là sự thanh lọc, đẩy lùi những sai phạm cá biệt để Quân đội ta luôn trong sạch, vững mạnh, luôn xứng đáng với niềm tin cậy, yêu mến tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trước những tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, hiện tượng cán bộ có chức có quyền, kể cả cán bộ LLVT rơi vào một số sai phạm kinh tế, lợi ích nhóm là một thực tế đã xảy ra. Đây cũng là điều không tránh khỏi đối với quân đội ở nhiều quốc gia trên thế giới những năm gần đây. Nhiều năm nay, Trung Quốc là quốc gia rất quyết liệt trong chống tham nhũng trong quân đội với rất nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp bị xử lý. Năm ngoái, Tổng thống Philippines sa thải 20 sĩ quan cao cấp do tham nhũng. Ở nước Nga, Tổng thống Nga Vladimir Putin gần 10 năm qua luôn mạnh tay chống tham nhũng. Nhiều công ty thuộc quyền kiểm soát của Bộ Quốc phòng Nga đã bị kiểm tra, xử lý và nhiều lãnh đạo cấp cao, trong đó từng có 4 cán bộ cấp lãnh đạo bộ bị thôi chức do tham nhũng… Tại Ukraine, năm 2016, hai quan chức cấp cao trong Bộ Quốc phòng đã bị bắt vì tội biển thủ công quỹ liên quan đến mua sắm quốc phòng. Tại Mỹ, quốc gia được coi là có hệ thống pháp luật và cơ chế kiểm soát quyền lực nghiêm ngặt trong phòng ngừa tham nhũng, nhưng gần đây vẫn xảy ra nhiều vụ tham nhũng trong quân đội, điển hình là vụ một sĩ quan cao cấp trong lực lượng hải quân bị kết án 78 tháng tù vì tham nhũng, thừa nhận đã “nhận quà” của một nhà thầu quốc phòng nước ngoài để đổi lấy thông tin mật của hải quân Mỹ.

Đối với Quân đội ta, ngay từ những ngày đầu còn non trẻ, nhiều khó khăn, thiếu thốn, cũng đã có bài học đau xót, như vụ án Trần Dụ Châu. Trong khi bữa cơm của Bác Hồ và các chiến sĩ thời chống Pháp rất kham khổ thì Trần Dụ Châu và một số sĩ quan biến chất lại sống như những ông hoàng. Chính vì thế, ngay từ ngày đó, quan điểm của Đảng và Bác Hồ là phải xử lý rất nghiêm minh để làm gương. Ngày 5-9-1950 ở thị xã Thái Nguyên-thủ đô kháng chiến, Tòa án binh tối cao mở phiên tòa đặc biệt với 3 bị cáo hầu tòa là nguyên Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu và đồng bọn can tội “biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến”. Cửa vào phòng xử án có một bảng khẩu hiệu: “Nêu cao ánh sáng công lý trong quân đội”. Trong phòng xử án, trên tường có hai khẩu hiệu: “Quân pháp vô thân” và “Trừng trị để giáo huấn”. Phiên tòa xét xử công khai, bộ đội và nhân dân đến dự đông kín. Kết thúc phiên tòa, Trần Dụ Châu bị tuyên án tử hình, hai đồng phạm mỗi tên lãnh án 10 năm tù. Chỉ một ngày sau, Trần Dụ Châu bị thi hành án tử hình.

Ngay từ các khẩu hiệu của phiên tòa đã thể hiện quan điểm, tinh thần chống tham nhũng, tiêu cực trong Quân đội ta từ trước đến nay. Thông tin vụ án cũng được công khai kịp thời trên báo chí. Báo Cứu quốc đã có nhiều bài phản ánh về vụ án. Ngày 27-5-1950, báo đăng bài xã luận cho biết vụ án đã cho Chính phủ, Đoàn thể (Đảng) nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng, giáo dục và kiểm soát cán bộ để phục vụ tốt cho kháng chiến, kiến quốc... mặc dù có người e ngại, vì nếu công khai vụ án này sẽ làm cho dân chúng chê trách, kẻ địch lợi dụng để phản tuyên truyền, lợi ít, hại nhiều...

Nhìn từ vụ án Trần Dụ Châu, chúng ta càng thấm thía quan điểm sâu xa của Đảng, Bác Hồ trong giáo dục, rèn luyện Quân đội ta. Bác từng chỉ rõ: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua”. Lo ngại sự sa ngã của những cán bộ liên quan tới quản lý kinh tế trong quân đội, Bác từng căn dặn: “Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải, phải đi thẳng đến chiến sĩ”.

Từ đó đến nay, các vụ việc liên quan tới tham nhũng, tiêu cực trong quân đội đều được xử lý nghiêm minh. Trong 33 số Báo Quân đội nhân dânxuất bản tại Mặt trận Điện Biên Phủ, có nhiều bài báo tường thuật việc tòa án binh mặt trận xét xử công khai cán bộ sai phạm và đăng thông tin ngay trên trang nhất.

Chính sự nghiêm minh đó càng làm cho quân đội giữ được niềm tin yêu trọn vẹn của nhân dân, coi quân đội là trường học lớn, là lực lượng mẫu mực với những con người được tôi luyện trong một môi trường nghiêm ngặt, tiêu biểu về bản lĩnh, đạo đức, ít lòng ham muốn vật chất, chấp nhận thiệt thòi, khó khăn, gian khổ, thậm chí sẵn sàng xả thân, hy sinh cho Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ LLVT phần lớn ở nơi "đầu sóng ngọn gió", nơi tiền phương của Tổ quốc, nơi biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; miệt mài với gian khổ hy sinh trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Bộ phận tham gia làm kinh tế, quản lý kinh tế chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ và những hiện tượng vi phạm như vừa qua cũng chỉ là cá biệt. Quân đội vẫn là đội quân tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng, trước nhân dân; là thanh bảo kiếm, là nòng cốt, là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng và chế độ XHCN.

03.8

Bệnh “Công thần”

 

 Theo từ điển Tiếng việt, về danh từ, công thần là những quan có công lớn với triều chính. Bệnh công thần là những người có tư tưởng dựa vào công lao đóng góp của mình mà sinh ra kiêu ngạo và đòi hỏi đãi ngộ quá đáng. Đây là căn bệnh đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ lâu. Khi nhắc đến bệnh công thần, Người đã từng phân tích bệnh công thần là: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng. Rồi đòi địa vị, đòi danh vọng. Việc to không làm được, việc nhỏ không muốn làm”.

Hiện nay, một số cán bộ đảng viên và quần chúng dựa vào chút công lao đóng góp ít ỏi thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm của mình cho mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương trong quá trình chiến đấu, lao động, công tác... nhưng có lối sống thực dụng, kiêu ngạo, hay đòi hỏi đãi ngộ quá đáng, nếu không được đáp ứng thì lập tức có những phản ứng cực đoan để rồi nói, làm, viết trái với chủ trương, đường lối của Đảng; pháp luật của Nhà nước, thậm chí coi thường kỷ cương, kỷ luật Đảng, bất chấp pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy định của địa phương.

Đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đều ý thức được rằng, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Do đó, việc đem trí tuệ, sức lực, thậm chí sinh mạng để lao động, sáng tạo, phấn đấu là hiển nhiên, thể hiện sâu sắc quyền, nghĩa vụ đã được hiến pháp quy định. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít cán bộ, đảng viên và quần chúng có tư tưởng, hành động so đo, xét lại từ lối sống thực dụng. Coi chút thành tích, công trạng của mình là to lớn, hơn người mà tỏ ra huênh hoang; coi thường tổ chức, coi thường người khác. Thậm chí, vì những quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quy chế của cơ quan, đơn vị mà tổ chức không thể đãi ngộ thỏa đáng thì tỏ ra tiêu cực, chống đối, coi thường, thù hằn và có những hành động nói, làm, viết trái với quan điểm, đường lối của Đảng. Đương nhiên, họ không tự biết mình đang nhiễm căn bệnh “công thần, kiêu ngạo” và tự đánh mất mình.

Bệnh “công thần” là loại “siêu vi rút” ẩn nấp, luồn lách khắp nơi trong cuộc sống của chúng ta. Tuy vậy, những người “mắc bệnh” thường có những biểu hiện rất dễ nhận biết. Đối với cán bộ, đảng viên thì biểu hiện đầu tiên là kiêu ngạo, sa vào lối sống thực dụng, sa sút ý chí phấn đấu; giảm sút niềm tin vào Đảng; phai nhạt lý tưởng cộng sản, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Lâu dần trong quá trình tự thúc đẩy từ bên trong của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiến đến viển vông chủ nghĩa, so đo, đố kị, không còn ý thức rèn luyện, phấn đấu, tách mình ra khỏi tổ chức, coi thường tổ chức, thực hiện nói, viết và làm trái với cương lĩnh, xa rời nền tảng tư tưởng của Đảng. Đấu tranh đòi hỏi quyền lợi, chế độ một cách vô lý, không có trong quyền và nghĩa vụ chính đáng mình được hưởng.

Để đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ bệnh “công thần”, trước tiên, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là cán bộ, chiến sĩ trong Quân chủng cần tự soi, tự sửa để xem mình và những người xung quanh mình đã nhiễm “căn bệnh” đó chưa để có biện pháp kịp thời “chữa trị”. Đi đôi với đó, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường quan tâm chăm lo xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Để làm được như vậy, cần đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”... Thông qua đó, tạo sự chuyển biến thành hành động cho mỗi cán bộ, đảng viên, tại mỗi tổ chức cơ sở đảng bằng cách gắn thực hành đạo đức cách mạng với phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phát huy cái tích cực, đẩy lùi tiêu cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu,góp phần quan trọng xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Điều không kém phần quan trọng để đẩy lùi, ngăn chặn bệnh “công thần” là cần kiên quyết đấu tranh phòng chống lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đôi với làm gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước...

03.8

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt, là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam


Sự kiện Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã đã trở thành “thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX” (1). Một trong những nguyên nhân chủ yếu được chỉ ra, đó là Đảng Cộng sản Liên Xô đã coi nhẹ công tác xây dựng đảng, không xác lập đúng đắn sự lãnh đạo của mình. Trong đó, mấu chốt nhất là việc buông lỏng, đi đến từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây là nguyên nhân làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô từ một đảng chính trị hùng mạnh, dần trở thành một khối bàng quan, lỏng lẻo và tê liệt sức chiến đấu. Điều đó cho thấy, mọi sự chủ quan, dễ dãi trong thực hiện nguyên tắc sinh hoạt đảng đều sẽ dẫn tới sự tan rã, cho dù đảng đó có vị thế, vai trò và tầm cỡ tới đâu.

Thực tiễn lịch sử ghi nhận, từ năm 1952 Đảng Cộng sản Liên Xô đã xuất hiện các biểu hiện buông lỏng nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đoàn Chủ tịch Đại hội XIX gồm 25 người, nhưng gần như mọi quyết định đều do Stalin cùng một, hai người định đoạt. Tình trạng cá nhân quyết định thay tập thể cũng diễn ra ở tổ chức đảng cấp dưới, bất chấp vai trò của đông đảo đảng viên và quần chúng. Các góp ý không được coi trọng, thậm chí bị trù dập đã làm cho cán bộ, đảng viên thờ ơ trước những vấn đề của Đảng, không còn nhiệt huyết với công tác phê bình.

Đến thời N. Khrushchev, cùng với phát động trào lưu xét lại lịch sử, ông ta mở chiến dịch công kích cá nhân Stalin dưới hình thức phê phán giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô do Stalin lãnh đạo. Sự biến tướng phê bình này đã vấp phải sự phản đối của các đảng viên, các tổ chức trong Đảng về nguy cơ tiềm tàng của nó. Tuy nhiên, trong khí thế của trào lưu xét lại, sự phản kháng này trở nên yếu ớt và không đủ mạnh để ngăn Khrushchev dấn bước với những cải cách sai lầm tiếp theo. Đặc biệt, dưới khẩu hiệu “nhà nước toàn dân”, “đảng toàn dân”, chương trình cải cách của Khrushchev đã vô tình hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Chính điều đó đã tạo cho phương Tây cơ hội tiến hành một cuộc chiến tranh tư tưởng chống phá chủ nghĩa xã hội và Đảng Cộng sản Liên Xô, tạo tiền đề cho cái gọi là “cải tổ 2.0” của M.Gorbachev sau này.

Phê bình là vũ khí đấu tranh làm trong sạch Đảng. Nhưng khi nắm quyền, lợi dụng những sai sót trong bộ máy, Gorbachev ra sức phanh phui và phóng đại những tiêu cực trong Đảng, làm lý do để thẳng tay thay thế những cán bộ dám phê phán cái gọi là “cải tổ” - một kiểu dân chủ trá hình. Bị ru ngủ bởi luận điệu đổi mới để phá bỏ lề lối cũ, tư duy cũ, cách làm cũ, nhiều đảng viên và tổ chức đảng không còn mặn mà với những nguyên tắc sinh hoạt đảng vốn mang tính hành chính. Mặc định các quyết sách của tổ chức đảng đều do người đứng đầu định đoạt. Do đó, thói quen tự phê bình và phê bình lâu dần bị mai một, các đảng viên không còn quan tâm đến những nguy cơ của Đảng.

Đặc biệt, nhiều phiên họp Bộ Chính trị, Gorbachev không cần thảo luận, tự đề ra ý kiến rồi coi đó là chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Hơn thế, bất chấp ý kiến trong và ngoài Đảng, Gorbachev tự ý bổ sung 8 người vào các vị trí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư; cách chức, thay thế hơn 20 bộ trưởng và hàng chục lãnh đạo cấp bộ. Năm 1989, Gorbachev tự quyết định đưa 115 Ủy viên Trung ương ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2)... mà không thông qua ý kiến lãnh đạo tập thể. Tất cả các việc làm vô nguyên tắc, vi phạm Điều lệ Đảng đều không gặp sự phê phán, phản bác của các Ủy viên Trung ương hay Ủy viên Bộ Chính trị. Dùng quyền uy cá nhân để gạt bỏ ý kiến dân chủ, bức hại những người bất đồng ý kiến trong Đảng, Gorbachev đã tước đoạt vũ khí chiến đấu quan trọng nhất của đảng viên và tổ chức đảng, gây ra sự hỗn loạn chưa từng có trong đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, quân đội Liên Xô, làm tổn hại to lớn uy tín của Đảng Cộng sản Liên Xô, khiến đông đảo cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân không tin vào Đảng, lạnh nhạt với cả các chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng. Điều tất yếu phải đến, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đánh mất địa vị cầm quyền sau 74 năm chỉ bằng một tuyên bố cá nhân của Gorbachev, vì một lẽ đơn giản: gần 20 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô đã “buông xuôi” và không có bất cứ một hành động để bảo vệ Đảng của mình.

Cần nhận thấy rằng, Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh nào với chủ nghĩa đế quốc. Có thể thấy, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đều có một nguyên nhân chung nhất, cơ bản nhất và là gốc rễ xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại”. Đó là sự vi phạm trắng trợn các nguyên tắc sinh hoạt đảng và sự từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình - nói cách khác là từ bỏ vũ khí chiến đấu. Điều đó làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô không còn là một tổ chức thống nhất về ý chí và hành động; không còn là một tổ chức chiến đấu cho lợi ích của giai cấp mình và cũng không thể tự bảo vệ mình. Đây là bài học kinh nghiệm đắt giá cho các Đảng Cộng sản nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng trong vấn đề phải kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình./.

Một số giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

 

Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.

Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm, không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” trong giai đoạn hiện nay

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” trong giai đoạn hiện nay

Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược “diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia khác hệ tư tưởng, đối địch.

Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị; (4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa; (5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để “vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến hành.

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn tiếp tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới bất cứ hình thức nào.

Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch.

03.8


Thứ Năm, 3 tháng 8, 2023

THÀNH QUẢ NỬA NHIỆM KỲ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG: DẤU ẤN ĐỔI MỚI TRONG CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG

 

Từ sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng đến nay, một trong những dấu ấn, kết quả nổi bật trong công tác lãnh đạo của Đảng là ngành tuyên giáo đã sáng tạo, đổi mới, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.

Công tác tư tưởng “đi trước, đón đầu”

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và phát huy truyền thống “đi trước, mở đường”, ngành tuyên giáo các cấp đã có nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ, góp phần quan trọng, trực tiếp vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là định hướng và ổn định tình hình tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Có thể thấy, hiện nay, tại nhiều địa phương, khi xuất hiện các vướng mắc, bất cập chưa kịp thời giải quyết thỏa đáng thì dư luận tiêu cực, trái với quy luật tâm lý xã hội nhanh chóng bùng lên. Lợi dụng tâm lý này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tập trung tung tin đồn, tin giả... dẫn dắt dư luận, dẫn đến tư tưởng, tâm lý xã hội bất ổn và gián tiếp tạo ra những nguy cơ gây mất an toàn chính trị-xã hội. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, quần chúng đã vô tình tiếp tay cho những “cơn sóng tiêu cực” trong dư luận. Thông qua internet, các nền tảng mạng xã hội, nhiều người vô tình chia sẻ những bài viết mang màu sắc tiêu cực, thông tin sai sự thật, gây bất lợi cho nỗ lực của chính quyền và nhân dân.

Trước những chiêu trò ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch, các cấp ủy, chính quyền, nhất là ngành tuyên giáo các cấp đã có nhiều biện pháp hiệu quả; chủ động đi trước, đón đầu trong công tác tư tưởng nhằm dự báo sớm, nhận diện đúng và có phương pháp đấu tranh hợp lý. Một trong những giải pháp quan trọng được cấp ủy nhiều địa phương quán triệt ngành tuyên giáo triển khai và vận hành triệt để đó là bám dân, hiểu dân, dựa vào dân.

Theo thông tin từ đội ngũ làm công tác tuyên giáo, nhiều năm qua, trong quá trình tiến hành công tác dự báo và nắm bắt thông tin, cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm đến cả những vấn đề thông tin nhỏ nhất từ quần chúng. Để kịp thời phát hiện, nhận rõ các nguy cơ, dấu hiệu nảy sinh dư luận tiêu cực, hình thành điểm nóng, Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo ngành tuyên giáo các cấp, các ngành và địa phương định kỳ tổ chức những cuộc điều tra dư luận xã hội. Định kỳ hoặc đột xuất, ngành tuyên giáo tiến hành tổng hợp phản ánh tình hình xã hội theo phân cấp, trên cơ sở thu thập, phân tích, tổng hợp từ nhiều nguồn: Phản ánh của nhân dân, dư luận từ cơ sở, hội nghị, hội họp và báo chí...

Tại nhiều địa phương như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Nghệ An... cấp ủy các cấp sớm có chủ trương tạo mọi điều kiện, cơ chế để các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị tăng cường phối hợp, phát huy sức mạnh tham gia vào việc tổng hợp, phân tích tình hình nhân dân chính xác, kịp thời. Ví như tại TP Hà Nội, hiện có rất nhiều cơ quan cùng thực hiện chức năng, nhiệm vụ nắm tình hình nhân dân, như: Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc, LLVT, cấp ủy các cấp, các cơ quan thanh tra, kiểm tra, tổ chức đoàn thể... Theo chức năng, nhiệm vụ và phân công, phân cấp, mỗi cơ quan, đơn vị nắm số liệu, tư liệu liên quan tới tình hình nhân dân ở từng địa bàn, từng lĩnh vực, khu vực. Trên cơ sở đó, tổng hợp, phân tích qua các kênh thông tin của cả hệ thống chính trị làm cơ sở để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thành phố lãnh đạo, chỉ đạo đạt hiệu quả cao hơn.

Còn tại Nghệ An, từ đầu nhiệm kỳ, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã kịp thời tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Đề án về “Nâng cao chất lượng nắm bắt và định hướng dư luận xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2025”. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy kịp thời xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án và coi đây là biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp về vai trò, tầm quan trọng của công tác dư luận xã hội trong lãnh đạo và quản lý; đưa công tác dư luận xã hội trở thành nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội. Nhờ đó, năm 2022, với hơn 2.200 vấn đề dư luận xã hội quan tâm được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổng hợp và có hơn 600 vấn đề được dự báo, kịp thời đề xuất với các cấp có thẩm quyền quan tâm xử lý hiệu quả...

Các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, với sứ mệnh “đi trước mở đường, đi cùng thực hiện, đi sau tổng kết”, ngành tuyên giáo đã bám sát sự lãnh đạo của cấp ủy, chủ động tham mưu dự báo chính xác tình hình, nắm bắt, định hướng tư tưởng, dư luận trong Đảng và trong nhân dân. Công tác tuyên giáo đã gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị của từng địa phương, đơn vị; luôn có mặt kịp thời, đúng lúc ở những thời điểm quan trọng như trong phòng, chống dịch Covid-19, phục hồi kinh tế, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, triển khai các công trình, dự án lớn, những vụ việc nổi cộm phát sinh... Ngành tuyên giáo cũng phối hợp giải quyết những vấn đề phát sinh về tư tưởng, cổ vũ, động viên, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục toàn xã hội tự giác thực hiện. Chủ động đấu tranh tư tưởng với 3 lần phối hợp tổ chức Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị; đồng thời chủ động phối hợp đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước ta; góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường niềm tin, khát vọng phát triển và khối đại đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

Đổi mới việc quán triệt, vận hành nghị quyết của Đảng

Một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng là lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chủ trương lớn trên các lĩnh vực, mà chủ yếu thông qua các nghị quyết. Do đó, công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai nghị quyết của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, là điều kiện tiên quyết đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, trong thời gian qua, ngành tuyên giáo các cấp đã tích cực tham mưu, đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và đạt được nhiều kết quả tích cực; chất lượng, hiệu quả ngày càng được nâng cao.

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng do Ban Bí thư chủ trì (tổ chức ngày 27 và 28-3-2021), với điểm cầu chính tại phòng họp Diên Hồng, tòa nhà Quốc hội ở Thủ đô Hà Nội, tham dự hội nghị có đông đủ các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng... cùng gần 1 triệu cán bộ, đảng viên ở hơn 7.400 điểm cầu từ Trung ương tới cơ sở trên toàn quốc (có cả đảng viên ở ngoài nước). Có thể thấy, đây là hội nghị học tập nghị quyết của Đảng có quy mô lớn nhất đến thời điểm đó. Đây cũng là lần đầu tiên cán bộ, đảng viên ở cấp xã, phường, thị trấn... trong toàn quốc được dự hội nghị học tập nghị quyết của Đảng do Trung ương trực tiếp tổ chức; được nghe báo cáo viên là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị có trình độ, kiến thức chuyên sâu và nhiều năm kinh nghiệm công tác. Đây cũng là lần đầu tiên nội dung, tinh thần của Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng được phổ biến thẳng đến cấp ủy cơ sở, cùng lúc với cấp ủy các cấp và cấp ủy trực thuộc Trung ương.

Từ sau hội nghị trực tuyến này, nhiều hội nghị trực tuyến toàn quốc về học tập, quán triệt, triển khai nghị quyết của Đảng được ngành tuyên giáo triển khai tích cực, hiệu quả. Ví như các hội nghị: Hội nghị văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng (năm 2021); Hội nghị quán triệt, triển khai nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển Vùng đồng bằng sông Hồng (năm 2022); Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (năm 2023)... và nhiều hội nghị quan trọng khác của Trung ương đều do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì quán triệt, chỉ đạo thống nhất công tác triển khai thực hiện. Điểm mới của các hội nghị này là ngay cùng lúc, cả hệ thống chính trị được đồng loạt quán triệt, nhờ đó, cán bộ từ Trung ương đến cơ sở sớm thống nhất về nhận thức; nhiều vấn đề mới, quan trọng, kết hợp chương trình hành động được triển khai, định hướng từ sớm...

Trước đây, việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng thường được tổ chức theo hình thức quán triệt trực tiếp theo phân cấp, sau đó các đồng chí báo cáo viên sẽ tiếp tục thông tin, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Trung ương đến các cấp trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Điều này vô hình trung làm cho nghị quyết được ban hành rất sớm nhưng lại bị tắc nghẽn vì công tác quán triệt, học tập đến công tác triển khai, vận hành ở các cấp. Có trường hợp, việc quán triệt nghị quyết diễn ra trong suốt cả năm, kéo chậm tiến độ triển khai chương trình hành động và các khâu, các bước khác trong lãnh đạo triển khai nghị quyết vào thực tiễn.

Trước thực tế này, Ban Tuyên giáo Trung ương và ngành tuyên giáo các cấp đã tích cực tham mưu, đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết từ trực tiếp sang trực tuyến, từ học tập, quán triệt riêng lẻ ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương sang phương thức học tập trung, trực tuyến toàn quốc từ Trung ương cho đến cơ sở. Nhờ đó, những vấn đề cốt lõi trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng được phổ biến, quán triệt đến tận cấp cơ sở, đến từng cán bộ từ cấp xã, phường, thị trấn...

Hơn nữa, nhờ quán triệt tập trung bằng hình thức trực tuyến góp phần rút ngắn thời gian triển khai thực hiện nghị quyết; qua đó bảo đảm nghị quyết đi vào cuộc sống nhanh nhất, sớm nhất. Cách làm này cũng giúp tránh được những “sai lệch” trong nhận thức, “rơi vãi” nội dung nghị quyết trong quá trình tổ chức học tập qua nhiều cấp; lại tiết kiệm được nguồn kinh phí khi tổ chức cùng lúc nhiều hội nghị học tập nghị quyết ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương. Đây là những yếu tố quan trọng bảo đảm sự thống nhất từ chủ trương cho đến nhận thức, hành động trong toàn hệ thống chính trị; qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các chủ trương của Đảng.

Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, trong nửa nhiệm kỳ qua, ngành tuyên giáo các cấp đã tham mưu học tập quán triệt thực hiện đầy đủ, kịp thời, có chất lượng Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các nghị quyết Hội nghị Trung ương, các chương trình hành động của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, cấp ủy các cấp. Phối hợp chặt chẽ với chính quyền, các ngành, đơn vị liên quan tham mưu cho cấp ủy xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Chủ động phối hợp tham mưu đề xuất, hoạch định những chủ trương, chương trình, kế hoạch công tác của cấp ủy thực hiện nhiệm vụ trong từng giai đoạn.

Những dấu ấn đổi mới trong công tác tư tưởng, tuyên giáo nói chung đã thể hiện rõ vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng của ngành tuyên giáo, qua đó, góp phần giữ vững ổn định tình hình chính trị, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân. Từ kết quả sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng sẽ tạo nền tảng vững chắc để ngành tuyên giáo hoàn thành và hoàn thành tốt các nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ; góp phần quan trọng, trực tiếp vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong cả nhiệm kỳ của các cơ quan, đơn vị, địa phương./.



VẬN DỤNG SÁNG TẠO NỘI DUNG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VÀO NHIỆM VỤ GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO SĨ QUAN QUÂN ĐỘI

 

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” đang thu hút sự quan tâm của đông đảo chuyên gia, học giả, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân.

Đây không chỉ là tài liệu quý đối với Quân đội ta, mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp, các địa phương trong việc quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay sau khi cuốn sách được giới thiệu, ra mắt, cán bộ, giảng viên, học viên Trường Sĩ quan Lục quân 2 đã tích cực tìm đọc để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn giảng dạy, học tập, công tác. Những tư tưởng chỉ đạo, tư duy chiến lược về đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc được nêu bật trong từng bài viết, bài nói, bài phát biểu càng thể hiện giá trị, tầm vóc và trí tuệ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; thấm nhuần đường lối cách mạng của Đảng và sự cụ thể hóa trong công cuộc xây dụng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đọc kỹ những nội dung cốt lõi trong cuốn sách, chúng ta càng thấm nhuần vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, xây dựng quốc phòng, an ninh được Đảng ta xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trong đó, xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại; là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất; đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân… là những vấn đề trọng yếu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó, phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo “Tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng đối với Quân đội.

Với nhiệm vụ “trồng người” trong môi trường quân đội, quán triệt tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thông qua nội dung cuốn sách, các học viện, nhà trường quân đội nói chung, Trường Sĩ quan Lục quân 2 nói riêng tích cực nghiên cứu, bổ sung biên soạn thành tài liệu học tập về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới; chủ động cập nhật vào bài giảng lý luận chính trị, quân sự để trang bị kiến thức, kỹ năng quan trọng, cần thiết cho người học; đồng thời không ngừng đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục-đào tạo, bồi dưỡng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, hướng tới xây dựng nhà trường thông minh; kết hợp chặt chẽ tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận để phát triển nghệ thuật quân sự, văn hóa quân sự Việt Nam…

Trên cơ sở hệ thống lý luận khoa học và thực tiễn sinh động trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ qốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, giảng viên, học viên nhà trường tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội, xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giáo dục-đào tạo những sĩ quan quân đội “vừa hồng, vừa chuyên”./.