Thứ Ba, 22 tháng 8, 2023

SỰ THẬT LỊCH SỬ VỀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

 

Gần đến kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9, trên các trang mạng tung ra một số bài của những người khác chính kiến phê phán Cách mạng tháng Tám, cho rằng, “không có cuộc cách mạng này, nước Việt Nam vẫn thống nhất”. Có bài viết “đề nghị lấy ngày 11/3/1945, ngày Chính phủ Nhật dựng lên Chính phủ Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại đứng đầu làm ngày Quốc khánh của Việt Nam, thay cho ngày 2/9/1945?”. Có bài viết so sánh nhiều nước ở Đông Nam Á có tiến hành Cách mạng tháng Tám đâu mà nước họ vẫn phát triển hơn Việt Nam, như Thái Lan, Singapore, Indonesia, .… Những luận điệu sai trái trên đây cần phải được phê phán vì nó phản ánh sai trái lịch sử. Việc lấy ngày 11/3/1945 làm ngày Quốc khánh của Việt Nam thay cho ngày 2/9/1945 thật là phi lý, vì chính quyền bù nhìn Bảo Đại có còn nữa đâu, cái thây ma đã ruỗng nát từ lâu rồi.

Chúng ta biết rằng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra ở Việt Nam là một cuộc Cách mạng mang tính thời đại và tinh thần dân tộc mãnh liệt, mở ra trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Nó đã đập tan chính quyền của thực dân và phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa nhân dân ta từ người nô lệ thành người chủ thực sự của đất nước, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến thành một nước độc lập và dân chủ nhân dân; đưa Đảng ta từ một đảng hoạt động không hợp pháp, thành một đảng hoạt động hợp pháp, nắm chính quyền trong cả nước; đưa dân tộc ta tiến lên hàng đầu các dân tộc tiên phong trên thế giới. Rõ ràng, Cách mạng tháng Tám đã mở ra trang sử mới cho nhân dân Việt Nam, trang  sử hào hùng của dân tộc.

Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở một nước thuộc địa và nửa phong kiến, góp phần mở ra một thời kỳ sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thế giới. Cách mạng tháng Tám thành công chứng tỏ rằng, trong thời đại ngày nay, một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân và đội tiên phong là Đảng Cộng sản lãnh đạo, hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa bị ách thực dân, đế quốc thống trị xâm lược. Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã đánh thẳng vào dinh lũy của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, làm đứt tung một khâu yếu nhất trong chuỗi xích của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, mở đường cho cách mạng giải phóng dân tộc phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước nông nghiệp lạc hậu, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thành công của Cách mạng tháng Tám đánh dấu mốc son chói lọi của nghệ thuật lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng mới 15 tuổi (1930-1945) đã lãnh đạo cách mạng thành công, giành chính quyền trong cả nước; là cuộc khởi nghĩa vĩ đại của nhân dân ta, là sự kết hợp tài tình giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, một cuộc nổi dậy chưa từng có cả ở thành thị lẫn nông thôn mà đòn tiến công quyết định là cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Cách mạng tháng Tám bắt đầu từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, họp từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, tại rừng Khuổi Nậm, thôn Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, tháng 5/1941, do Nguyễn Ái Quốc, đại biểu Quốc tế Cộng sản, chủ trì, với sự tham gia của các đồng chí Trường Chinh, quyền Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt là Ủy viên Thường vụ Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Đông Dương, .… Hội nghị họp vào giữa lúc tình hình chính trị thế giới đầy biến động. Ở những nơi xa xôi như Cao Bằng, các đại biểu dự Hội nghị cũng nhận được những tin tức về việc Đức  ký hòa ước với Anh, lôi kéo Anh – Mỹ vào khối liên minh chống Liên Xô. Tình hình khẩn cấp đến nỗi chỉ một tháng sau đó, phátxít Đức bắt đầu tấn công Liên Xô. Thái độ của Mỹ, Anh lúc đó bộc lộ rất rõ: Nếu Đức thắng, họ sẽ giúp Nga, nếu Nga thắng thì sẽ giúp Đức. Âm mưu của họ là muốn để cho hai nước Đức, Nga chém giết lẫn nhau nhiều chừng nào hay chừng ấy. Điểm nút thắt ở chỗ tập đoàn phát xít – đế quốc muốn cho Liên Xô thất bại, nhằm thủ tiêu chế độ Xô viết. Trước tình hình nghiêm trọng xảy ra trên thế giới như vậy, Hội nghị thảo luận kỹ về tình hình quốc tế. Trung ương nhận định thấy rằng sự giống nhau giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất với Chiến tranh thế giới thứ hai ở chỗ sự xâu xé quyền lợi giữa hai phe đế quốc (Đức, Ý, Nhật – Mỹ, Anh, Pháp), cả hai phe đều tham lam giành giật thuộc địa và thị trường của nhau. Cái chung giống nhau của họ còn thể hiện ở chỗ bắt các nước thuộc địa cung cấp nhân lực, tài lực, phục vụ cho chiến tranh và thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng. Hội nghị nhận định rằng, nếu Chiến tranh thế giới thứ nhất là một tiền đề dẫn đến Cách mạng tháng Mười Nga, thì Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ là một tiền đề dẫn đến thắng lợi của nhiều cuộc cách mạng mới ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Về tình hình Đông Dương, Hội nghị nhận định rằng, từ khi khói lửa Chiến tranh thế giới thứ hai lan rộng, Đông Dương bị Pháp lôi cuốn vào vòng chiến, gây sự đổ nát về kinh tế và rối loạn về xã hội. Mối đe dọa của Pháp đang còn chống chất, thì bàn tay tàn bạo của phát xít Nhật đối với nhân dân Đông Dương ngày càng bóp chặt. Nhật tăng cường lục lượng quân sự trên bán đảo Đông Dương, hòng thôn tính Đông Dương. Chống lại chính sách thực dân, phát xít ở Đông Dương, Nghị quyết của Hội nghị nêu rõ các dân tộc ở Đông Dương chỉ có một con đường đoàn kết chống kẻ thù chung, giành độc lập dân tộc cho mỗi nước. Muốn vậy, các dân tộc Đông Dương phải tập hợp được các lực lượng, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư sản bản xứ, lương, giáo, … bất kỳ ai có lòng yêu nước, thương nòi, cần tập hợp dưới lá cờ cứu nước, đánh đuổi Nhật, Pháp xâm chiếm Đông Dương, giành độc lập cho các dân tộc ở Đông Dương. Riêng đối với dân tộc Việt Nam, sau khi đánh đuổi Pháp, Nhật “sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung của toàn thể dân tộc …”. Dân tộc Việt Nam cần đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc khác trên bán đảo Đông Dương, giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của mỗi nước. Nghị quyết của Hội nghị quyết định khởi nghĩa vũ trang trong toàn thể các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Muốn có đủ lực lượng để khởi nghĩa vũ trang trong toàn quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương phải mở rộng và củng cố các tổ chức cứu nước, vũ trang bằng những phương tiện có thể có để tiêu diệt kẻ thù xâm lược trên bán đảo Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 nhấn mạnh đến vấn đề giữ chính sách dân tộc, đại đoàn kết, vì chính sách ấy “hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, hợp với nguyện vọng của các giai cấp, các dân tộc ở Đông Dương, hợp với cuộc tranh đấu chung của toàn thế giới chống phát xít và xâm lược, cuộc cách mạng Đông Dương mới thành công chắc chắn được”. Để đoàn kết toàn dân đấu tranh, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh vào ngày 19/5/1941 - ngày bế mạc Hội nghị. Hội nghị bầu Ban lãnh đạo mới của Đảng. Ban Thường vụ Trung ương chính thức gồm Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, do Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

Sau Hội nghị Trung ương 8, tháng 5/1941, mọi công tác chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành gấp. Ngày 23/3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp soạn thảo. Tư tưởng chỉ đạo có tính chất bao trùm của Chỉ thị thực chất là chương trình hành động cách mạng của nhân dân ta. Cần hành động ngay, hành động kiên quyết, nhanh chóng, sáng tạo, chủ động, táo bạo, không chịu bó tay khi tình thế biến chuyển thuận lợi, đẩy mạnh cao trào kháng Nhật, cứu nước tiến đến tổng khởi nghĩa, “Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay chúng ta!”. Cùng với Chỉ thị là Hiệu triệu của Việt Minh kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên chống Nhật (sau khi Pháp đã đầu hàng) bằng các hình thức biểu tình, thị oai, bãi công, bãi thị, bãi khóa, phá đường giao thông, kho tàng, đánh đồn, chặn các đội quân tuần tiễu của Nhật, chặn bàn tay của của chúng lại, không để cho chúng tác oai, tác quái. Toàn dân tuốt gươm, chĩa súng, giết giặc, trừ gian, dựng lên một nước Việt Nam độc lập và tự do.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sự chỉ đạo kịp thời của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Tổng Bí thư Trường Chinh, khắp các địa phương đã nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại Việt Nam. “Tuyên ngôn độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và đọc tại Lễ độc lập ở vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, chiều ngày 2/9/1945, đã chính thức tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, ra đời.

Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước phải trải qua 9 năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm chống Mỹ xâm lược, cuối cùng đã giành được độc lập, tự do, giang sơn thu về một mối, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước như ngày hôm nay.

Mọi luận điệu xuyên tạc sự thật lịch sử về Cách mạng tháng Tám nhất định sẽ bị dư luận xã hội lên án./.

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trong Thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống đại đoàn kết càng được kế tục và phát huy cao độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã dày công vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân, từng nói: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch.” Đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi và đoàn kết sẽ đưa đất nước ta tiến đến những đỉnh cao mới của thời đại. Tư tưởng đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Mặc dù ý nghĩa, vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam là vô cùng quan trọng và không thể phủ nhận, song với âm mưu đòi “phi chính trị hóa” quân đội, phá hoại chủ trương xây dựng cũng như sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, tiến tới phá hoại sự ổn định chính trị - xã hội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực chống đối, thù địch vẫn không ngừng sử dụng các thủ đoạn, chiêu trò để xuyên tạc, chống phá, nhất là về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn” (forum) hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch qua các nhóm vấn đề sau: Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng”(!?). Họ sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”. Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”. Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành. Thứ hai, hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội… Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” … Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”! Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân” … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”. Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập” hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”. Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở”. Thứ ba, chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”. Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam! Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội. Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy. Rõ ràng, các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị”. Đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đặt trong bối cảnh lịch sử gần 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải là hoạt động giáo lý khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối "nhai đi nhai lại"; mà ngược lại: “Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của tặng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị”

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SỰ SUY THOÁI.

Ngay từ rất sớm, Đảng ta đã xác định rõ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, hệ thống chính trị là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Và trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái đó, nhân dân đóng một vai trò hết sức quan trọng. Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân chủ động, tích cực, tự giác trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có hiệu quả, ngày 3/10/2017, Ban Bí thư ban hành Quyết định số 99-QĐ/TW về việc hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sau khi Quyết định số 99-QĐ/TW được ban hành, các cấp ủy, tổ chức đảng tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện mạnh mẽ, sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và gặt hái được nhiều thành công với nhiều tấm gương sáng, điển hình tiên tiến và nhiều cách làm hay đã xuất hiện. Cụ thể như cấp ủy, tổ chức đảng tại các tỉnh, thành phố đều đã ban hành các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 99-QĐ/TW cũng như những Chỉ thị, Nghị quyết Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng phù hợp điều kiện thực tiễn. Tại nhiều địa phương như Sơn La, Bắc Ninh, Nghệ An… thông qua nhiều hình thức: Tuyên truyền công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở, qua các hội nghị, sinh hoạt chi bộ hay qua các cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa những người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng với cử tri, nhân dân… các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền tại địa phương đã chủ động thông báo công khai rộng rãi và khuyến khích người dân tham gia đóng góp ý kiến, kiểm tra, giám sát về 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên; những điều đảng viên không được làm; việc tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên… Những ý kiến, góp ý, phản ánh của người dân về các nội dung nêu trên đã kịp thời được các cơ quan chức năng tiếp thu và giải quyết đúng quy định, qua đó khuyến khích nhân dân tích cực, tự giác hơn nữa trong công tác đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên tại địa phương. Nhiều tỉnh, thành phố, thực hiện tốt trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ủy, cơ quan chính quyền trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với nhân dân từ đó nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tiếp thu và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân nhất là về những vấn đề liên quan đến các biểu hiện tiêu cực, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội ở nhiều tỉnh, thành phố bằng những hình thức và cách làm sáng tạo đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức đại diện của mình thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên tại các tổ chức, cơ quan, đơn vị. Cũng chính từ hoạt động giám sát, nhân dân đã phát hiện, tố giác những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, tiêu cực trong tư tưởng, đạo đức, thực thi nhiệm vụ, góp phần không nhỏ giúp các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm. Đánh giá về những thành công đạt được sau 5 năm thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW trên địa bàn cả nước, trong Kết luận số 54-KL/TW, ngày 9/5/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 3/10/2017 của Ban Bí thư về tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ rõ: “Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát huy quyền làm chủ và vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái được nâng lên; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện, đổi mới phương thức hoạt động theo hướng mở rộng dân chủ, công khai để dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát; việc lắng nghe, tiếp thu, giải quyết ý kiến phản ánh của nhân dân có nhiều chuyển biến; phát huy ngày càng tốt hơn quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhân dân tin tưởng, chủ động và tích cực hơn tham gia đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”. Những thành tựu to lớn trong việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đạt được từ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và sự nỗ lực, quyết tâm triển khai thực hiện của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương là minh chứng rõ nét nhất, giúp bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng Đảng ta vi phạm dân chủ, quan liêu, xa dân; Đảng không vì lợi ích của dân, của nước mà chỉ tìm cách thâu tóm quyền lực để phục vụ lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ nên dung túng, bao che cho các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, tiêu cực, có hành vi tham ô, tham nhũng, vi phạm kỷ luật, kỷ cương… Những luận điệu này không có đích đến nào khác ngoài việc xuyên tạc bản chất của Đảng, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, tạo cơ hội cho các thế lực phản động chống phá Đảng, chống phá chế độ. Tuy vậy, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận thực tế, việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thật sự cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW đầy đủ, kịp thời, bám sát thực tiễn, đặc biệt việc tổ chức thực hiện ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất nên chưa đạt hiệu quả cao. Vẫn còn tồn tại tình trạng nể nang, e ngại, ngại va chạm hoặc ngược lại lợi dụng dân chủ vì những mục đích xấu trong phản ánh, góp ý trực tiếp với cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan chức năng về những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Một số kiến nghị, phản ánh của người dân chưa được xem xét thấu đáo, giải quyết kịp thời. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu vẫn còn một số hạn chế, chưa thật sự đáp ứng tốt yêu cầu của công tác xây dựng Đảng… Những hạn chế nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhất là việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những quy định về việc công khai, minh bạch thông tin, quy trình, trách nhiệm trả lời, giải quyết kiến nghị sau giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cũng như việc lấy ý kiến đóng góp, phản ánh, kiến nghị của người dân về mọi vấn đề, nhất là các vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận liên quan các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên còn chưa được bổ sung, hoàn thiện kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Một bộ phận nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền làm chủ và trách nhiệm của mình trong việc tham gia công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị ở các cấp do đó chưa chủ động, tích cực tham gia ý kiến, kiến nghị, góp ý, phản ánh với cấp ủy và chính quyền các cấp, về biểu hiện suy thoái, tiêu cực của cán bộ, đảng viên trong tư tưởng, đạo đức, lối sống và trong thực thi nhiệm vụ; cá biệt còn có trường hợp lợi dụng dân chủ để khiếu nại, tố cáo gây mất đoàn kết trong nội bộ. Ở một số nơi chưa thực hiện tốt cơ chế, chính sách bảo vệ cũng như chưa có sự động viên, khen thưởng kịp thời với những người dân tích cực kiểm tra, giám sát, dũng cảm tố giác những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Trong thời gian tới, để tiếp tục phát huy tốt hơn nữa vai trò to lớn của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong nội bộ cần triển khai đồng bộ một số giải pháp như: Tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là vai trò của người đứng đầu trong việc cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm, có hiệu quả Quyết định số 99-QĐ/TW và Kết luận số 54-KL/TW của Ban Bí thư gắn liền với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII cũng như Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để người dân thật sự thực hiện được quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp, của cán bộ, đảng viên và góp ý, phản ánh đến các cơ quan chức năng để giải quyết, xử lý; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội trong việc vận động nhân dân nhận thức đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân, từ đó kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp nhận, trả lời, giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các phản ánh, kiến nghị chính đáng, những khiếu nại, tố cáo chính xác của người dân. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện các cơ chế, chính sách, pháp luật bảo vệ, động viên, khuyến khích người dân phát hiện, tố giác đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, suy thoái và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

CHỐNG BIỂU HIỆN CƠ HỘI VỀ CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG - NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, THƯỜNG XUYÊN

tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.Cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Các nhà lý luận mác-xít đã chỉ mặt những phần tử cơ hội Ngay từ khi mới ra đời, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã phải đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch được núp bóng dưới mọi hình thức. Trong các tác phẩm của mình, C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin đã chỉ ra một loại kẻ thù hết sức nguy hiểm, đó là những phần tử cơ hội, khoác áo cộng sản nhưng lại ngấm ngầm chống phá Đảng. Đó là những con người chỉ vì lợi ích nhất thời hằng ngày mà quên đi những quan điểm chủ yếu lớn; chạy theo những thành công chốc lát và đấu tranh cho những thành công chốc lát mà không tính đến hậu quả về sau... tất cả những việc ấy có thể xuất phát từ những động cơ “thành thật”. "Nhưng đó là và sẽ vẫn là chủ nghĩa cơ hội, mà chủ nghĩa cơ hội “thành thật” có lẽ lại là thứ chủ nghĩa cơ hội nguy hiểm hơn hết cả” và nguồn gốc sinh ra chủ nghĩa cơ hội ấy từ các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng và lịch sử. V.I.Lênin là người kế tục xuất sắc nhất sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, đã phấn đấu quên mình để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại báo hiệu sự suy sụp của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của cách mạng vô sản, đưa chủ nghĩa Mác lên một bước phát triển mới, thành Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là những năm tháng xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết, trong bài viết “Về vấn đề thanh đảng”, V.I.Lênin vạch rõ mặt những phần tử cơ hội trong đảng, những phần tử giỏi về thủ đoạn “ngoại giao tư sản”, khả năng thích ứng “thay màu đổi sắc để ẩn nấp được dễ dàng hơn, như con thỏ rừng, về mùa đông, thay lông thành màu trắng”. Vì thế, V.I.Lênin yêu cầu, cần phải đuổi ra khỏi đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược. Theo V.I.Lênin, có như vậy sẽ làm cho đảng trở thành một đội tiền phong của giai cấp vô sản vững mạnh hơn. Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống mọi biểu hiện cơ hội trong Đảng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, việc đầu tiên, trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Đảng, Người căn dặn: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Để Đảng Cộng sản là một Đảng thực sự cách mạng, chân chính, tất yếu phải đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội trong Đảng, nhất là cơ hội về chính trị. Trong bối cảnh hết sức khó khăn khi mới thành lập Đảng, nhưng nhiệm vụ đấu tranh chống những phần tử cơ hội trong Đảng luôn đặt ra yêu cầu cấp thiết. Song cũng phải nhận diện rõ và phân loại đối tượng cụ thể để có phương pháp đấu tranh phù hợp. Nghị quyết của toàn thể Hội nghị Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 20 và 30-3-1938 chỉ rõ: “Phải tẩy sạch những phần tử trotsky đã lọt vào trong Đảng”. Do đó, muốn đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị tốt, cần phải nhận diện đúng thực chất “cơ hội về chính trị”. Nhận diện những biểu hiện cơ hội chính trị trong Đảng Từ những nghiên cứu, luận giải trên cho thấy, cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Hơn 90 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhiều lần khẳng định trong các nghị quyết. Trong đó nhấn mạnh: “Hiện nay phải đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự trong sạch của tổ chức đảng, cảnh giác và tỉnh táo không để cho những phần tử cơ hội về chính trị, phản động chui vào hàng ngũ Đảng”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phải: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Nhận diện những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng hiện nay qua 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đối tượng đấu tranh chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng là những cán bộ, đảng viên hiện đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan đoàn thể hoặc đã nghỉ hưu được luật pháp quy định... Biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nhiều cấp độ khác nhau, như: Nhóm đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận những nguồn tin không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng; nhóm đối tượng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, công thần, sống vụ lợi, ích kỷ; nhóm đối tượng công khai bộc lộ tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối và đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng chống đối, tập hợp lực lượng, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam, khi đó từ cơ hội về chính trị đến phản bội Đảng, Tổ quốc và nhân dân là rất gần. Biểu hiện chung nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; tham vọng chức quyền... Kiên quyết và đồng bộ giải pháp phòng, chống biểu hiện cơ hội chính trị Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Phát huy dân chủ, sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên

NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Thời gian qua, các thế lực thù địch đã ra sức công kích, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Việt Nam. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Chúng hàm hồ dự đoán, tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng. Những suy luận vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm vừa nhằm xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vừa nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

Ngoài ra, trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thời gian qua; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các thế lực thù địch còn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và hơn nữa là cổ súy hành động “từ bỏ”  Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

Không chỉ xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị còn công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ đã lên tiếng rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

Những luận điệu xuyên tạc trên vẫn là trò “rượu cũ bình mới” nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Vẫn là những quan điểm dân túy thường thấy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đứng về phía nhân dân để chỉ trích Đảng và Nhà nước nhằm kích động một bộ phận nhân dân chống lại những quy định của Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch. Mục đích sâu xa của chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận chế độ của ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo tình hình Việt Nam, các thế lực thù địch cũng cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng./. 

Tăng cường sức mạh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa

 Rõ ràng, sự xuyên tạc của các thế lực thù địch phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng ta, chúng đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu. Trước hết cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên. Tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./. 

Tác hại khôn lưng của âm mưu phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

 Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./. 

Âm mưu phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

 

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước. Các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này./. 

Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 – Tuyên bố nước Việt Nam “đã thành một nước tự do độc lập”

 Trước khi đưa ra lời tuyên bố, bằng lời lẽ đanh thép, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần bộ mặt dối trá và phản bội của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.

Người đã liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra cho nước ta trong suốt hơn 80 năm đô hộ: về chính trị, “chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào…”; về kinh tế, “chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. chúng cướp không hầm mỏ, ruộng đất, nguyên liệu…”; đồng thời khẳng định sức mạnh đoàn kết của nhân dân cả nước đã “nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đây là kết quả của cả một quá trình đấu tranh đầy gian khổ, khó khăn, đầy máu và nước mắt.

Tiếp theo đó, đại diện cho chính phủ lâm thời của nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” và tin tưởng đồng thời khẳng định “các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.” Tác giả tự hào nêu cao truyền thống anh hùng bất khuất chống thực dân, chống phát xít dân tộc ta và khẳng định: "Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".

Kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập là một lời tuyên bố mang ý nghĩa lịch sử như một lời thề thiêng liêng, thể hiện sâu sắc khát vọng độc lập, tự do của nhân dân ta, biểu thị quyết tâm và sức mạnh Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Bản Tuyên ngôn cũng cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn xa về sự phát triển của lịch sử, có những dự báo thiên tài về tương lai của cách mạng cũng như quá trình hội nhập sâu rộng của cách mạng Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới. Trong suốt 78 năm qua, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Với tinh thần đó, cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã giành được những thành tựu to lớn trong đấu tranh thống nhất đất nước và trong công cuộc đổi mới. Đối với mỗi người dân Việt Nam, Bản Tuyên ngôn độc lập vẫn sống mãi, không chỉ bởi giá trị lịch sử, pháp lí mà còn bởi giá trị nhân văn về quyền con người và quyền dân tộc./. 

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 - giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại

 Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 đã khẳng định quyền dân tộc và quyền con người luôn gắn bó chặt chẽ với nhau bằng việc luận dẫn những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới là có dụng ý sâu sắc. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ ra đời sau khi nước Mỹ đấu tranh giành độc lập thành công. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cũng ra đời trong chiến thắng của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những thị dân và nông dân chống áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản Tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lí và là kết quả của những cuộc cách mạng có tính chất tiên phong của những nước có ảnh hưởng lớn trên thế giới, khiến cho không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng.

Tuy nhiên, nếu như bản tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp chỉ đơn thuần đề cập đến quyền con người như một sự tất yếu của tạo hóa thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã phát triển sáng tạo, đưa ra một mệnh đề không thể phủ nhận về quyền độc lập của mọi dân tộc: “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc./.

 “VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI” CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM 

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược và quân dân ta đã lập nên những chiến công hiển hách; qua đó đã xuất hiện những danh tướng lẫy lừng. Một trong số đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp - “Vị tướng huyền thoại” của dân tộc ta.

Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có viết: Các vị tướng đạt đến bậc “đại danh tướng” trong lịch sử dân tộc, đó là: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Huệ.

Đến thế kỷ 20, trong thời đại Hồ Chí Minh, mẫu mực thứ tư để hợp thành “tứ đại danh tướng Việt Nam” là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu như trong bộ ba nhân tướng thời trung cổ, vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đã được nhân dân suy tôn thành “Đức Thánh Trần” thì ở thế kỷ 20, “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cùng với đại võ công Điện Biên Phủ năm 1954 đã được suy tôn là “Vị tướng huyền thoại”.

Trước hết, từ thầy giáo dạy lịch sử trở thành người chỉ huy quân sự. Có một câu hỏi mà chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh mới lý giải một cách thấu đáo, đó là: Vì sao Người chọn Võ Nguyên Giáp - thầy giáo dạy lịch sử ở Trường Tư thục Thăng Long, về dung mạo thuộc hàng “bạch diện thư sinh” đảm nhiệm việc thành lập tổ chức quân sự và chỉ huy quân sự, trong khi ở thời kỳ đó, có hàng chục học viên Việt Nam tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) được đào tạo cơ bản về quân sự! Và ngay từ lần gặp đầu tiên năm 1940, tại Côn Minh (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy ở Võ Nguyên Giáp những dấu hiệu của một thiên tài quân sự và tin tưởng giao cho Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ chỉ huy quân sự của cách mạng Việt Nam; đồng thời Người căn dặn Võ Nguyên Giáp “Phải tranh thủ học tập về quân sự”, quyết định giao cho Võ Nguyên Giáp việc thành lập và chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22-12-1944. Đây là sự kiện đánh dấu và quyết định đến sự nghiệp chỉ huy quân sự của Võ Nguyên Giáp.

Thứ hai, Võ Nguyên Giáp là vị chỉ huy được phong quân hàm duy nhất chỉ có một lần - cấp hàm Đại tướng. Sau chiến dịch Đông Bắc năm 1947 giành thắng lợi, ngày 20-01-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110-SL phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp - Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ. Đây không chỉ là trọng trách mà Đảng, Nhà nước giao cho mà còn là sự tin tưởng vào tài năng, đức độ, “văn - võ song toàn”, có đầy đủ phẩm chất, nhân cách một người làm “Tướng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”; và “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào trái tim, khối óc và hành động cách mạng suốt cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Thứ ba, trong hơn 30 năm là Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam cùng nhân dân ta đánh thắng các đội quân xâm lược của chủ nghĩa phát xít, thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới quyền chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đánh bại quân xâm lược của phát xít Nhật, để giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau đó, đánh thắng thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ - được đối phương coi là tập đoàn cứ điểm “bất khả xâm phạm”. Điều cần nhấn mạnh là, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra nhiều quyết định quan trọng, trong đó có quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình là chuyển phương châm Chiến dịch Điện Biên Phủ từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ. Chính quyết định ấy đã góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở miền Bắc nước ta.

Hiệp định Geneva ký kết chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp xâm lược nước ta, đặt ách thống trị kiểu thực dân mới, buộc nhân dân ta phải tiếp tục cuộc kháng chiến mới, gay go, ác liệt hơn. Với ý chí quyết tâm “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, được Đảng, Nhà nước, Bác Hồ tiếp tục giao nhiệm vụ chỉ huy Quân đội ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy toàn dân, toàn quân ta lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, đặc biệt là chiến thắng "Điện Biên phủ trên không" năm 1972 và chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã buộc nhiều viên đại tướng của Pháp, Mỹ phải hứng chịu thất bại ở Việt Nam. Đây không chỉ là chiến công lẫy lừng của quân và dân ta mà còn là sự kiện nổi bật trong lịch sử chiến tranh ở thế kỷ 20. 

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dù trên cương vị nào được Đảng, Nhà nước giao cho, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều dồn hết tâm sức, trí tuệ và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Và điều đặc biệt là, Võ Nguyên Giáp được nhân dân vinh danh là "Đại tướng của nhân dân"; được cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân gọi với cái tên trìu mến: “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam - điều hiếm gặp trên thế giới!

Thứ tư, cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã để lại cho quân và dân ta, nhất là các tướng lĩnh, sĩ quan quân đội “cẩm nang”, “sách gối đầu giường” qua những tác phẩm tổng kết hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc mà Đại tướng là vị chỉ huy tài ba, lỗi lạc và đã giành chiến thắng. Tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp là những tác phẩm: “Phát động du kích chiến tranh”, “Tiến mạnh sang giai đoạn mới”, “Chiến tranh giải phóng và Quân đội nhân dân - ba giai đoạn chiến lược”. Với kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng đã viết nhiều tác phẩm bàn về lực lượng vũ trang nhân dân, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chiến tranh nhân dân trên địa bàn sông nước... Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975, Đại tướng có điều kiện nhìn nhận, đánh giá những vấn đề thuộc về chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nghiên cứu sâu tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự Việt Nam... và hàng loạt tác phẩm, hồi ký như: “Từ nhân dân mà ra”, “Chiến đấu trong vòng vây”, “Đường tới Điện Biên Phủ”, “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”, “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”... Điều đó càng chứng tỏ phẩm chất “văn - võ song toàn” của Đại tướng, đúng như Giáo sư Vũ Khiêu đã viết: “Võ công truyền Quốc sử/ Văn đức quán nhân tâm”.

Thứ năm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vĩnh biệt thế giới vào lúc 18 giờ 9 phút ngày 04-10-2013, để lại nỗi tiếc thương vô hạn với đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế; là sự mất mát to lớn đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân. Giáo sư Vũ Khiêu viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lòng tiếc thương và cảm phục vô hạn: “Gương rọi đất trời rực sáng ngàn thu nhân lại trí/ Lệ tràn sông núi khóc than hai bác Võ như Hồ”! Giáo sư sử học Lê Văn Lan viết: “Mùa thu năm 2013, lịch sử thời hiện đại lại đang chứng kiến một điều huyền diệu: Bậc Nhân tướng thời đại Hồ Chí Minh họ Võ - khi được lập ban thờ ở khắp nơi, được các động tác thực hành tín ngưỡng và những lời lẽ nguyện cầu của rất nhiều người suy tôn thành kính... cũng đang “hóa thánh” và “hiển thánh”, đang hóa thân thành bậc Thánh tướng thời hiện đại”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, trở thành mẫu mực thứ tư trong “Tứ đại danh tướng Việt Nam”, là “Vị tướng huyền thoại” của dân tộc Việt Nam. Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Đại tướng là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại công lao, tài năng, đức độ của người cộng sản kiên trung, mẫu mực, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người “Anh Cả” của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Với lòng kính trọng và ngưỡng mộ của các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ dành cho Đại tướng, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta nguyện phấn đấu không ngừng theo tấm gương của Đại tướng, quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo phương hướng, mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.


 GIÁ TRỊ VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM TRƯỜNG TỒN CÙNG ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC

Cách mạng Tháng Tám là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc ta. Cách đây 78 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã nhất tề nổi dậy tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ chế độ thực dân và phong kiến, giành lấy chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã tạo nên bước ngoặt trọng đại trong tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ đây, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta là người làm chủ đất nước, đoàn kết một lòng cùng nhau bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Cuộc cách mạng này còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Nhân dân Việt Nam mãi mãi tự hào về thành quả Cách mạng Tháng Tám bởi đó là sự kết tinh của truyền thống yêu nước nồng nàn, trí tuệ và ý chí quật cường của dân tộc được phát huy lên tầm cao mới dưới sự lãnh đạo thiên tài của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Cách mạng Tháng Tám đã để lại những giá trị vĩ đại trường tồn cùng đất nước và dân tộc.

Vạch trần, phản bác luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc rằng: “Do Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền, nên ở Việt Nam không hề có dân chủ thực sự”

Những luận điệu thù địch xuyên tạc về dân chủ là nhằm công kích, phá hoại và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, mà thực chất là phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là ý đồ rất thâm độc, cần được nhận diện rõ và tuyên truyền sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên cùng toàn thể nhân dân hiểu và tham gia đấu tranh, phản bác, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ và trong công cuộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam, “Đảng ta” đã trở thành cụm từ thân thuộc, trân trọng không chỉ đối với hơn 5 triệu đảng viên, mà còn đối với mọi người dân Việt Nam. Chính vì thế, trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách hạ thấp uy tín hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào cách mạng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những luận điệu thâm độc chúng thường xuyên sử dụng là: “Cần loại bỏ sự toàn trị của Đảng, cần thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên”, “một đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo là không hề có dân chủ”,... Về thực chất, với những luận điệu này, chúng mưu toan xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đi tới bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải nhận diện đúng và quyết liệt đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch này. Có phải cứ đa đảng là dân chủ và một đảng thì mất dân chủ? Xem xét từ góc độ lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa đảng chính trị và dân chủ trong lịch sử, cũng như hiện nay cho thấy, không phải cứ đa đảng là dân chủ và một đảng là mất dân chủ. Dân chủ không đồng nghĩa với đa đảng và thực hiện đa đảng không đồng nghĩa với có dân chủ. Chúng ta đều biết, dân chủ là phạm trù lịch sử, chế độ (nền) dân chủ chỉ xuất hiện khi có nhà nước và mỗi một nền dân chủ lại gắn với một kiểu nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Chế độ dân chủ còn tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn lịch sử tương ứng. Trên thế giới, các quốc gia không tương đồng về trình độ phát triển kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa..., do đó, không thể có một chế độ dân chủ giống nhau. Thậm chí, trong một quốc gia, ở mỗi giai đoạn lịch sử lại có trình độ dân chủ tương ứng. Sự khác biệt này được quy định không chỉ do thể chế chính trị (về số lượng đảng phái), mà còn do những điều kiện kinh tế, văn hóa, lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia. Bàn về điều này, C. Mác đã viết: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”(1). Trên thực tế, theo thống kê ở các quốc gia, số lượng đảng phái chính trị rất khác nhau; một số nước có rất nhiều đảng chính trị, như Anh có 97 đảng, Tây Ban Nha có 87 đảng, Pháp có 76 đảng,... Nhưng cũng có nhiều nước chỉ có một đảng chính trị, như Cu-ba, Lào, Ga-na, Việt Nam, Hai-i-ti, Môn-na-cô,...(2); tuy nhiên, số lượng các đảng chính trị không phản ánh mức độ dân chủ, tự do ở từng nước. Xin-ga-po có nhiều đảng, nhưng chỉ có Đảng Hành động Nhân dân (PAP) lãnh đạo cầm quyền. Ở Trung Quốc, ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 đảng phái khác và các đảng phái này đều thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo đất nước. Đặc biệt là trường hợp của Mỹ: có khoảng hơn 100 đảng, nhưng chỉ có hai đảng là Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ thay nhau cầm quyền. Thực chất, đây là hai đảng của giai cấp tư sản, có bản chất, lập trường giai cấp và hệ tư tưởng không khác nhau, ngoài một vài chính sách cụ thể. Trong khi tuyên truyền đa nguyên, đa đảng, nhưng ở Mỹ, Đảng Cộng sản Mỹ lại bị hạn chế hoạt động; thậm chí, có những giai đoạn còn bị chính quyền đặt ngoài vòng pháp luật. “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ, là hai nhưng thực chất lại chỉ là một đảng...”(3). Nghiên cứu về vấn đề đa đảng và dân chủ ở một số nước phát triển cho thấy, ngoài trường hợp ở các nước Bắc Âu và nước Đức có đặc trưng chính phủ cầm quyền do sự liên minh của các đảng phái (không có sự độc quyền của đảng tư sản), còn lại ở Nhật Bản và Pháp, cầm quyền là sự độc tôn của đảng tư sản, ở Mỹ chủ yếu và thuần túy là đảng tư sản. Hình thức giành quyền lực ở các nước này theo phương thức “chính trường chủ yếu là nghị trường”. Xét về hình thức thì có vẻ rất dân chủ, song về thực chất, chỉ có những đảng lớn mới thắng cử (đảng của giai cấp tư sản được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tài phiệt giàu có), các cơ quan lập pháp, hành pháp đều thuộc các đảng tư sản. Do vậy, ở không ít các nước tư bản hiện nay (kể cả Mỹ), xét về thể chế chính trị và số lượng thì đều có mô hình đa đảng, song về quyền lực chính trị vẫn chỉ là nhất nguyên (đảng của giai cấp tư sản nắm quyền lực). Thực tiễn cho thấy, dù nhiều quốc gia thực hiện đa đảng, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc quyền làm chủ của đa số nhân dân được bảo đảm. Những cuộc lật đổ, tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị ở một số nước trên thế giới hiện nay làm cho hàng chục triệu người thiệt mạng, hàng chục triệu người khác lâm vào cảnh nghèo đói. Thực chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập chính là sự phân chia, tranh giành quyền lực giữa các lực lượng chính trị trong xã hội, là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các phe nhóm trong cùng giai cấp để giành và giữ chính quyền, kiểm soát xã hội. Với lý do đó, đa nguyên, đa đảng không bao giờ tiến tới một nền dân chủ đích thực; và hệ quả xã hội điển hình nhất của nó là việc chiếm hữu và hưởng thụ tài nguyên xã hội theo tỷ lệ bất công “99% và 1%”, mà phong trào chiếm lấy phố Wall ở Mỹ những năm trước đây đã phơi bày. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”(4). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”(5). Cơ chế thực thi quyền lực nhà nước ở nhiều quốc gia tư bản phát triển hiện nay cho thấy, tổng thống hay thủ tướng có quyền phủ quyết các dự luật của quốc hội hoặc thậm chí tuyên bố giải tán quốc hội. Vậy “quyền lực thuộc về nhân dân” thể hiện ở đâu? Ngay cả đối với việc thực hiện phổ thông đầu phiếu - một trong những biểu hiện cao nhất của dân chủ, các nước tư bản cũng phải rất khó khăn trong việc xác lập tư cách cử tri, nhất là đối với phụ nữ. “Ở Anh - năm 1928; Pháp - năm 1944; Italia - năm 1945; Tây Ban Nha - năm 1970; Thụy Sĩ - năm 1971, và ở Mỹ thì phải đợi đến năm 1920, người phụ nữ ở các nước này mới có quyền đi bầu cử”(6). Ở một góc độ khác, theo luận điệu của một số kẻ cơ hội chính trị, thù địch thì “cứ đa đảng mới có dân chủ”?! Vậy dân chủ ở Ác-mê-ni-a (có khoảng 40 đảng) liệu có cao hơn dân chủ ở Hà Lan (25 đảng) hay Na Uy (23 đảng)? Hoặc “cứ một đảng là mất dân chủ”?! Vậy ở Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po - những nước có một đảng duy nhất cầm quyền (cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX) - lại là những nước mất dân chủ ư?! Hiện nay, trên thế giới có khoảng 30 nước theo chế độ một đảng, trong đó những nước như Việt Nam, Lào, Triều Tiên, Cu-ba là theo chế độ một đảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Như vậy, chế độ một đảng không phải là đặc điểm duy nhất có ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, đồng thời không phải các nước theo chế độ một đảng là không có dân chủ. Những phân tích lý luận và tổng kết thực tiễn ở trên cho chúng ta khẳng định: Luận điệu “một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là hoàn toàn sai trái và không dựa trên cơ sở khoa học. Đa đảng không phải là yếu tố bảo đảm dân chủ đích thực, bởi bản chất của dân chủ là “quyền lực thuộc về nhân dân”. Dân chủ được bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có định hướng chính trị của lực lượng cầm quyền, cơ chế quản lý xã hội, trình độ phát triển kinh tế, dân trí, thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Vì vậy, bất cứ một quốc gia nào, dù đa đảng hay một đảng, mà đảng cầm quyền và nhà nước quan tâm đến việc bảo đảm quyền lực thực tế của nhân dân, nhân dân là chủ thể thực sự của quyền lực, thể hiện qua cương lĩnh, mục tiêu, chương trình hành động, thông qua hệ thống hiến pháp và pháp luật, thì quốc gia đó có dân chủ. Dân chủ và thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam Thứ nhất, ở Việt Nam từ năm 1989 đến nay không thực hiện chế độ đa đảng, nhưng điều này không đồng nghĩa với mất dân chủ, mà đó là xuất phát từ yêu cầu khách quan, vì sự phát triển của nền dân chủ, sự ổn định và phát triển của đất nước và hạnh phúc của nhân dân, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giành và giữ chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử và thể hiện ý nguyện của nhân dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (ngày 3-2-1930), vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam, đã giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mở ra một thời đại mới trong lịch sử xây dựng, phát triển đất nước. Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á; thắng lợi vang dội của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc, giải phóng và thống nhất đất nước, nhất là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,... đều thuộc về nhân dân, dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội kể từ khi ra đời đến nay, chính là do sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân Việt Nam, phù hợp với xu thế khách quan và thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri các quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, trước Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XV _Ảnh: TTXVN Từ sau năm 1945, trong Nhà nước của chúng ta, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có một số đảng phái khác cùng tồn tại. Ngay trong Quốc hội khóa I, năm 1946, đã có mặt của Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội. Thời kỳ sau đó là sự có mặt của Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Trong bối cảnh đa đảng như thế, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là sự lựa chọn duy nhất của nhân dân Việt Nam. Điều này cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ tự cho mình quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nếu như không được sự tin tưởng, lựa chọn của nhân dân. Đảng ta không có lợi ích tự thân. Hơn 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tồn tại và phát triển vì lợi ích không chỉ của giai cấp công nhân, mà còn vì lợi ích của nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Hơn nữa, lợi ích của giai cấp công nhân cũng là lợi ích của toàn thể nhân dân lao động. Như vậy, ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có căn cứ lý luận, vừa có căn cứ thực tiễn. Đồng thời, thực tế đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng lãnh đạo để đưa cơ đồ, tiềm lực và uy tín của đất nước lên tầm cao mới. Thứ hai, khi tiến hành xem xét, đánh giá mức độ dân chủ ở nước ta hiện nay cao hay thấp, thì không thể chỉ dựa vào vấn đề một đảng hay nhiều đảng, mà còn phải thấy rõ được điểm xuất phát, ra đời, phát triển của chế độ dân chủ. Từ một quốc gia phong kiến, thuộc địa với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, cơ cấu xã hội chủ yếu là nông dân, trình độ dân trí hạn chế, tàn dư phong kiến, thực dân nặng nề, lại phải trải qua mấy chục năm chiến tranh đấu tranh giành chính quyền, xây dựng đất nước, cho nên cơ sở xã hội đó không có nhiều thuận lợi cho nền dân chủ phát triển nhanh, thậm chí còn gặp phải rất nhiều rào cản từ điều kiện kinh tế, dân trí, văn hóa, pháp luật,... Có thể nói, xét về hoàn cảnh ra đời, phát triển và thời gian xây dựng nền dân chủ, thì cho đến nay, những thành tựu đạt được về dân chủ ở nước ta là không thể phủ nhận. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động. Dân tộc được độc lập, có quyền tự quyết trong việc lựa chọn con đường phát triển, có quyền bình đẳng với các dân tộc - quốc gia khác trên trường quốc tế. Theo Điều 23, Hiến pháp (năm 2013), công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước”(7). Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện. Các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, hợp tác, cạnh tranh lành mạnh. Nền văn hóa phát triển thống nhất trong sự đa dạng các sắc màu văn hóa dân tộc, dựa trên các giá trị tiến bộ và nhân văn. Giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ được chú trọng phát triển, nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người. Có 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đều “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”. Các tôn giáo, tín ngưỡng được bình đẳng và tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Mỗi người dân Việt Nam đều có quyền tự do làm giàu chính đáng theo pháp luật, phát huy dân chủ, gắn liền với giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội... Hiện nay, người dân đang thực hiện quyền dân chủ trực tiếp bằng việc tự mình lựa chọn người đại diện của mình thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, do đó, mọi người dân đều có thể trực tiếp hay gián tiếp (thông qua người đại diện của mình) đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan nhà nước. Các “kênh” bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động có hiệu quả. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong các hoạt động của xã hội; là phương châm hành động của mọi người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong tiếp xúc, quan hệ với nhân dân và luôn chăm lo đến quyền và lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Cùng với thành tựu về dân chủ, qua hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên hầu hết lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức độ khá cao (tăng 7%/năm), đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược có bước chuyển biến tích cực, đạt một số kết quả đáng khích lệ; thu nhập bình quân đầu người đạt 3.512 USD, tăng 17 lần so với trước đổi mới. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện về thể chế theo hướng đầy đủ, hiện đại và hội nhập. Nhiều công trình kết cấu hạ tầng hiện đại được xây dựng, đưa vào sử dụng. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được phát triển. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên cơ sở đổi mới, phát triển giáo dục - đào tạo, được coi là một trong ba khâu đột phá. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh (trung bình 1,5%/năm theo chuẩn nghèo thế giới), được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. An sinh xã hội, phúc lợi xã hội từng bước được nâng cao; Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức 0,704%, xếp thứ 116/189 quốc gia (năm 2019), thuộc nhóm các nước có mức phát triển trung bình cao của thế giới. Tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được chú trọng, quản lý; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường. Quán triệt nội dung Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, bộ máy nhà nước từng bước được tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh được coi là nhiệm vụ then chốt, được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, đem lại hiệu quả rõ rệt; bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, làm cho vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã xác lập quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 33 nước đối tác quan trọng; giữ vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2021 - 2022 và là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc năm 2022,... Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(8); thực tế cách mạng Việt Nam đã khẳng định: “... sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(9), “Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”(10). Chúng ta có quyền tự hào rằng, hơn 93 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta, dân tộc ta không chỉ đã hồi sinh, mà còn không ngừng phát triển. Từ một nước thuộc địa, phong kiến nghèo nàn, lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, lại bị thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đất nước ta đã vươn lên tiến cùng thời đại, làm rạng danh dân tộc Việt Nam. Với những thành tựu to lớn đã đạt được, cùng sự tin yêu của nhân dân, nhất là với phẩm chất, năng lực, đạo đức và uy tín của Đảng, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, với sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn, Ðảng Cộng sản Việt Nam hiện nay và trong tương lai vẫn sẽ là sự lựa chọn duy nhất, nhận được sự ủy thác, niềm tin và tín nhiệm cao nhất của nhân dân và dân tộc. Đây vừa là niềm tự hào, vừa là trọng trách lớn lao của Đảng trước đất nước, trước nhân dân và dân tộc. Đó là điều quan trọng mà không một đảng chính trị nào khác có được. Những bằng chứng đanh thép trên đây đã đập tan tất cả luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị luôn rêu rao về cái gọi là “chế độ một đảng là mất dân chủ”, “một đảng mới dẫn đất nước tới nghèo đói”,... Thứ ba, nguy cơ một đảng dễ dẫn đến độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ là điều có thể và dễ xảy ra. Cần phải thừa nhận điều này để chủ động trong phòng, tránh. Nhận thức được điều này, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đặc biệt quan tâm và luôn chú trọng đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng coi tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ 2021 - 2026. Trong đó, Đại hội nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phải phát huy vai trò chủ thể, nhằm huy động mọi nguồn lực đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua Nhà nước, Đảng lãnh đạo toàn xã hội, đất nước phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Vừa là người đại diện quyền làm chủ của nhân dân, vừa là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, tổ chức quản lý, điều hành xã hội để hiện thực hóa đường lối chính trị của Đảng, hành động vì quyền lợi của nhân dân, “điều gì có lợi cho dân phải cố gắng làm, điều gì có hại cho dân phải hết sức tránh, chăm lo phát triển, bồi dưỡng và tiết kiệm sức dân” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do vậy, “mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(11). Là người chủ xã hội, cho nên nhân dân không chỉ có quyền, mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định, thi hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chi bộ thôn Quang Minh, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc họp bàn dân chủ về nâng cao chất lượng phát triển đảng viên vùng dân tộc thiểu số_Ảnh: xaydungdang.org.vn Như vậy, trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích, là một trong những mối quan hệ lớn, cần được tăng cường nắm vững và giải quyết, nhằm hiện thực hóa mục tiêu: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích”(12). Để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội, Đảng ta chỉ rõ, phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo hệ thống chính trị thực hành dân chủ trong xã hội. Vì vậy, vai trò “hạt nhân” của Đảng được thể hiện rất rõ trong đời sống xã hội. Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng sẽ tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên vận dụng, thực hành ở từng cơ quan, đơn vị, tổ chức, là tấm gương cho việc thực hiện và phát huy dân chủ trong xã hội; góp phần khắc phục bệnh độc đoán, chuyên quyền, tự do vô kỷ luật..., đang làm suy thoái một bộ phận cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng không tốt đến uy tín của Đảng. Điều này đòi hỏi Đảng thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ “then chốt” là xây dựng Đảng thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ; kiên quyết và nâng cao hiệu quả đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí; kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phòng, chống các luận điệu sai trái, thù địch... Làm được điều đó, chúng ta sẽ củng cố và giữ vững bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nhất nguyên; phát huy cao nhất quyền lực chính trị, xã hội của quần chúng nhân dân trong đời sống hiện thực./. ------------------------------- (1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 1995, t. 19, tr. 36 (2) Xem: Vũ Minh Giang: “Đảng phái chính trị ở các nước tư bản và khuynh hướng dân chủ xã hội”, trong cuốn sách: Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Hội đồng Lý luận Trung ương, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 386 - 387 (3) Xem: Đinh Công Tuấn: “Thành công từ một chuyến khảo sát tìm hiểu văn hóa Âu - Mỹ tại Hoa Kỳ”, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 7 (106), Hà Nội, 2009, tr. 89 (4), (5) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 20 - 21, 21 (6) Nhị Lê: “Luận bàn về vấn đề “dân chủ và đa đảng”, “một đảng lãnh đạo và vấn đề dân chủ””, in trong cuốn sách: Luận cứ phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, Hội đồng Lý luận Trung ương, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 269 (7) Xem: Khoản 1, Điều 28, Hiến pháp (năm 2013), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr. 19 (8), (9), (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 25, 104, 104 (11), (12) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 28 (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)