Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư", để giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Thực hiện lời dạy của Người, Đảng ta luôn chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đó là "một việc hết sức quan trọng và rất cần thiết".

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Người luôn chăm lo đến công tác xây dựng Đảng, trong đó giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ, đảng viên là cơ sở, nền tảng để xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có đời sống vật chất tinh thần lành mạnh, trước hết, phải là người có lập trường kiên định, vững vàng trước mọi thử thách, luôn nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Là người biết lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng, biết tôn trọng quyền làm chủ tập thể của quần chúng nhân dân. Họ là những người có ý thức tổ chức kỷ luật, nói đi đôi với làm, có ý thức phê bình và tự phê bình, tác phong giản dị, lối sống trong sạch, lành mạnh. Trong cuộc sống gia đình, họ là những người biết lo toan, tổ chức một gia đình hạnh phúc.

Phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên được biểu hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ theo cương vị, chức trách được phân công, giữ gìn kỷ luật; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân mình; hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân. Họ là những người luôn vì Đảng, vì Dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc; luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ. 

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng ta đã nhiều lần chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm chưa được khắc phục triệt để trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Có những cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất, năng lực, thiếu tính chiến đấu, giảm sút ý chí, lòng tin, phai nhạt lý tưởng. Một số ít có biểu hiện bất mãn, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng, làm giảm sút lòng tin, uy tín, thanh danh của Đảng, tổn thương mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, hạ thấp sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ.

Nguyên nhân của tình trạng suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có cả yếu tố chủ quan và khách quan. Trước hết, những cán bộ, đảng viên này mắc bệnh chủ nghĩa cá nhân, mọi thói hư tật xấu, tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên đều từ căn bệnh này mà ra. Trong khi đó công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của một số tổ chức đảng với cán bộ, đảng viên có biểu hiện xem nhẹ, buông lỏng. Mặt khác, cấp ủy và tổ chức đảng có lúc, có nơi chưa coi trọng đúng mức, chưa có những biện pháp hữu hiệu để giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thực tế những năm gần đây cho thấy, một số chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chậm đổi mới, hoặc đổi mới chưa đồng bộ đã tạo ra những kẽ hở cho căn bệnh chủ nghĩa cá nhân sinh sôi, nảy nở. Mặt trái của cơ chế thị trường chưa được ngăn chặn, đẩy lùi đã kích thích lòng ham muốn cá nhân, tiền tài, địa vị, lối sống thực dụng, hưởng thụ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên… Trong khi đó các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước luôn tận dụng triệt để mọi sai lầm, khuyết điểm, dùng mọi thủ đoạn tinh vi, nham hiểm để lôi kéo làm tha hóa, biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ những biểu hiện suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của “một bộ phận không nhỏ” này đã làm ảnh hưởng đến uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Đất nước ta đã bước sang một giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là cuộc cách mạng toàn diện nhất, sâu sắc nhất và triệt để nhất, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý, bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để làm theo lời Bác, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đối với công tác bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng hàng đầu giữ vai trò quyết định đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi mọi hoạt động của con người đều bắt đầu từ nhận thức, trên cơ sở nhận thức, chỉ có nhận thức đúng mới có cơ sở cho hành động đúng. Do vậy, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị cần tổ chức quán triệt, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức cho mọi tổ chức, mọi lực lượng. Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp trong bồi dưỡng, giáo dục, định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để thực hiện có hiệu quả, chất lượng công tác này, cần phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đồng thời, cần có những biện pháp kịp thời khắc phục triệt để những tư tưởng, nhận thức và hành động chưa đúng, chưa đầy đủ, trách nhiệm chưa cao trong công tác này. 

Hai là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức phương pháp bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mục đích cao nhất của việc đổi mới nội dung bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên là hướng vào nâng cao nhận thức cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần làm cho họ có động cơ phấn đấu rèn luyện đúng đắn, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; trung thành với Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có trách nhiệm cao với công việc, với đơn vị và bản thân. Do vậy, nội dung bồi dưỡng, rèn luyện cần hướng trọng tâm vào nâng cao năng lực quán triệt và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của đảng viên.

Đổi mới nội dung, hình thức phương pháp bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên trước hết là đổi mới nhận thức và tư duy của các lực lượng, các đối tượng. Cùng với đó là đổi mới cách thức quán triệt và tổ chức thực hiện kế hoạch học tập lý luận chính trị theo quy định, học tập và triển khai thực hiện nghị quyết, các chuyên đề thông báo chính trị - thời sự, các đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng… Tổ chức tốt hoạt động thực tiễn gắn với thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị; đưa đội ngũ đảng viên vào hoạt động thực tiễn để thử thách, rèn luyện và đánh giá kết quả khách quan, chính xác. Cùng với đó đội ngũ cán bộ chủ chốt, bí thư cấp uỷ và những đảng viên lâu năm có uy tín trong đơn vị thường xuyên gần gũi, động viên, giáo dục, thuyết phục đội ngũ đảng viên khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày, những điển hình tiên tiến trong đội ngũ đảng viên để giáo dục lẫn nhau. Duy trì thực hiện nghiêm các nền nếp chế độ sinh hoạt, nhất là sinh hoạt tự phê bình và phê bình; thực hiện tốt việc phân loại đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hằng năm. Thông qua đó các cấp ủy, cán bộ chủ trì cơ quan chức năng nắm chắc điểm mạnh, điểm yếu, kết quả phấn đấu rèn luyện của từng tổ chức đảng và đảng viên; chỉ ra được nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót, đề ra nội dung biện pháp, giúp tổ chức đảng và từng đảng viên khắc phục hạn chế, khuyết điểm kịp thời góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.

Ba là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tính tự giác, tích cực chủ động trong tự bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống.

Tự bồi dưỡng, rèn luyện là nhân tố bên trong đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc củng cố, hoàn thiện và phát triển phẩm chất đạo đức, nhân cách của người cán bộ, đảng viên. Trong thực tiễn công tác cán bộ, đảng viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện. Với tư cách là chủ thể của quá trình đó, đòi hỏi từng cán bộ, đảng viên phải xác định đúng động cơ, đề cao tính tự giác, tích cực chủ động trong tự học tập, tu dưỡng rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự nhận thức, phân tích, đánh giá đúng, khách quan, toàn diện về bản thân, nhất là những hạn chế, khuyết điểm để khắc phục kịp thời, không ngừng phấn đấu vươn lên; gương mẫu trong học tập, rèn luyện, có sức đề kháng với những tác động tiêu cực nảy sinh từ mặt trái xã hội; luôn tiếp nhận thông tin, tri thức, kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ, tu dưỡng rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của đơn vị; chống bệnh chủ nghĩa cá nhân. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, trước hết là động viên mọi người trong gia đình, người thân thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mọi cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ việc thực hiện các nghị quyết của Trung ương với đẩy mạnh thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi đảng viên cần quán triệt sâu sắc và nhận diện đúng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tích cực, chủ động, thực hiện có hiệu quả quan điểm, phương châm, chủ trương, giải pháp của Đảng về đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Từng cán bộ, đảng viên cần có thái độ kiên quyết trong đấu tranh với những biểu hiện vi phạm; đề cao tính tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, trong công tác và trong cuộc sống hằng ngày; kết hợp chặt chẽ đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, góp phần xây dựng trận địa tư tưởng vững chắc trong đơn vị, xây dựng các tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

Năm là, thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát và phân tích đánh giá chất lượng đảng viên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”4. Thực tiễn cho thấy, có làm tốt việc kiểm tra đảng viên thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, cấp ủy, chi bộ mới xem xét, đánh giá, phân tích, kết luận chính xác về trình độ, năng lực của cán bộ, đảng viên. Thông qua kiểm tra, giám sát là biện pháp giáo dục, góp phần chủ động ngăn ngừa vi phạm và cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên; ngăn ngừa, hạn chế vi phạm kỷ luật đảng, làm trong sạch đội ngũ. Chính vì thế, công tác này có ý nghĩa hết sức quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên, công tâm, khách quan, gắn với thi hành kỷ luật đảng.

Trong bối cảnh hiện nay, đạo đức con người đang chịu những ảnh hưởng to lớn bởi các lợi ích kinh tế, lợi ích cá nhân. Vấn đề đặt ra đối với các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, sàng lọc, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, xử lý nghiêm minh những đảng viên thoái hóa về tư tưởng chính trị, vi phạm đạo đức, lối sống, tham nhũng, cố tình vi phạm Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tạo nền tảng cho việc bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên hiện nay, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM ĐỂ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

 

Tinh thần trách nhiệm là một giá trị văn hóa, được gọi là văn hóa trách nhiệm hay văn hóa bổn phận. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công”.

Tinh thần trách nhiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Trách nhiệm đó được thể hiện trong mọi hoạt động của Người: trong học tập, lao động, nghiên cứu lý luận, hoạt động thực tiễn, cùng Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển...

Với thân phận của một người dân sống trong một đất nước mất độc lập, dân nô lệ, lầm than, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ trách nhiệm của một người dân mất nước, quyết tâm đi tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Trách nhiệm đó thấm sâu vào từng suy nghĩ và hành động của Người, để rồi trong suốt 30 năm, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã tìm đến các nước tư bản phát triển, các nước thuộc địa, sẵn sàng làm nhiều nghề để vừa nuôi sống bản thân, vừa hoạt động cách mạng. Người đã thể hiện trách nhiệm và quyết tâm cháy bỏng tìm con đường cứu nước bằng cách khám phá thế giới, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào. Không lo cho bản thân mình, Người sẵn sàng tranh luận, trao đổi các vấn đề lớn liên quan tới vận mệnh của nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc thuộc địa. Bản lĩnh và trách nhiệm của một chiến sĩ cách mạng dần hé lộ trong tư duy và hành động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Khi trở thành người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Bác vẫn thể hiện rõ trách nhiệm của một người đứng ở vị trí cao nhất. Người khẳng định: “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Người cũng chỉ rõ, muốn làm tròn bổn phận, chúng ta nên lợi dụng mấy khẩu hiệu của người Trung Hoa: “1. Khổ cán (làm việc hết sức mình). 2. Hạnh cán (làm việc chất lượng). 3. Thực cán (làm việc có hiệu quả, có năng suất)”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thực thi công vụ với ý thức trách nhiệm của một người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu không phải bằng việc sử dụng hay lạm dụng quyền lực mà thuyết phục bằng cảm hóa, bằng phong cách nói đi đôi với làm. Ý thức trách nhiệm của Người thể hiện từ những việc lớn như hoạch định đường lối, chính sách đến những việc nhỏ như lo tương cà, mắm muối cho dân. Người sống đời sống của dân, cùng nhịp đập với trái tim của dân, lo toan, trăn trở khi dân ốm, dân đói, dân rét, dân bị bóc lột, bị mù chữ, nghèo nàn… Theo Bác, người nấu bếp, lo làm cho luôn luôn cơm lành canh ngon, bát đũa sạch sẽ. Không phí phạm của công. Tìm cách tăng gia trồng rau, nuôi gà… Khi anh em ốm yếu, thì có bát canh bát cháo. Khi bộ đội đang mải đánh giặc thì tìm cách đưa cơm đến nơi cho anh em ăn. Khi tiếp tế khó khăn thì tìm cách vượt qua, không để anh em thiếu thốn. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Người cán bộ quân sự, thì luôn luôn học hỏi chính trị và kỹ thuật, chiến thuật. Luôn luôn săn sóc đến tinh thần và vật chất của đội viên. Đoàn kết nội bộ. Giúp đỡ nhân dân. Kiên quyết chấp hành mệnh lệnh trên giao xuống. Khi đánh giặc thì làm cho toàn đội thấm nhuần tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Gặp việc khó khăn thì cố tìm cách giải quyết đúng. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, thấu hiểu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện chính sách, làm tròn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoanh nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình là gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, Chính phủ và đối với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, mọi suy nghĩ và hành động của cán bộ công chức phải đi đúng đường lối quần chúng. Đi đúng đường lối quần chúng là một nét đặc sắc trong tư duy Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”.

Ý thức trách nhiệm, tinh thần trách nhiệm, hành động có trách nhiệm là nhân tố có tính quyết định trong hoạt động thực tiễn của con người, là khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức nghề nghiệp. Ngày 20-5-1950, Người đã ký Sắc lệnh 76/SL ban hành Quy chế công chức Việt Nam, trong đó, Điều 2 quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ Nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước”. Theo đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ công chức phải đặt lên hàng đầu ý thức và tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phục sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Còn một số tập thể, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng đều nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy định, quy chế làm việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; giữ gìn đạo đức, phẩm chất cách mạng, sống mẫu mực, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân… Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, bớt xén giờ giấc, làm không đúng quyền hạn, chức trách, nói nhiều, làm ít. Đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực thi nhiệm vụ gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước và Nhân dân như các vụ án liên quan đến: Đảng đoàn Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác tổ chức - cán bộ, quản lý tài chính, quy hoạch, sắp xếp và quản lý các cơ quan báo chí trực thuộc Cơ quan Trung ương Hội; Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020 đã thiếu trách nhiệm, thiếu kiểm tra, giám sát trong công tác quản lý, sử dụng tài chính, thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm vật tư, trang bị kỹ thuật và trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; Ban Cán sự đảng Bộ Y tế đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác xây dựng, ban hành thể chế, chính sách; trong việc cấp phép nhập khẩu thuốc, thực hiện liên doanh liên kết, đấu thầu, mua sắm thuốc, trang thiết bị y tế; để nhiều cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số bị xử lý hình sự… Những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng làm thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, cá nhân và các ngành có liên quan.

Một số giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm để xây dựng đất nước phồn vinh

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thực hiện công việc người cán bộ, phải tích cực, tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, ý thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trên mọi cương vị, vị trí công tác, “có gan phụ trách”, dám nghĩ dám làm, chủ động sáng tạo và đặc biệt phải có khát vọng vươn lên để có kết quả cao nhất. Nói đến khát vọng là nói đến yếu tố tinh thần, là sự mong muốn, khao khát, quyết tâm dồn sức lực, trí tuệ để đạt cho được mục tiêu; là nguồn động lực có sức mạnh vô biên để thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nhằm đạt được ước mơ, không khuất phục trước mọi thử thách… là động lực để cho mọi tầng lớp nhân dân đem hết sức mình thực hiện khát vọng, mà cụ thể ở thời điểm này khát vọng của dân tộc Việt Nam là đưa đất nước đi tới phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Trong thời gian tới, để góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; có cơ chế, quy định cụ thể, rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm của cá nhân trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền.

Hai là, mỗi cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần thực sự tiên phong, gương mẫu về tinh thần trách nhiệm trước công việc và nhân dân theo phương châm “nói đi đôi với làm”, nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động; cán bộ cấp trên nêu gương cho cán bộ cấp dưới; đảng viên nêu gương cho quần chúng noi theo.

Ba là, từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tính chủ động, sáng tạo trước công việc được giao. Khi thực hiện nhiệm vụ, công việc cần có chương trình, kế hoạch, tránh để chậm trễ gây tồn đọng, ách tắc, cấp trên hoặc lãnh đạo phải nhắc nhở hoặc nhân dân phải phàn nàn, chê trách, góp ý phê bình về ý thức và tinh thần trách nhiệm. Trong thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đúng quy trình, thủ tục, đồng thời linh hoạt, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm để hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất.

Bốn là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, viên chức phải gắn với trao đổi, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ, đảng viên. Kịp thời khen thưởng, biểu dương những việc làm tốt và uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm, có biện pháp phù hợp để cán bộ, đảng viên nhận thức được sai sót, hạn chế của mình, từ đó phấn đấu sửa chữa. Nghiêm túc đấu tranh chống bệnh tranh công, đổ lỗi cho khách quan hoặc đổ trách nhiệm cho người khác; những biểu hiện né tránh, bao biện hoặc kiểm điểm, phê bình một cách hình thức, chiếu lệ, qua loa.

Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh trong tác phẩm Tinh thần trách nhiệm vẫn còn nguyên giá trị để Đảng và Nhà nước Việt Nam “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam” nhằm đưa đất nước cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc.

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CHÍNH UỶ, CHÍNH TRỊ VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh. Đến năm 2030 xây dựng một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại”. Để đạt được mục tiêu này, một trong những biện pháp quan trọng là xây dựng đội ngũ chính ủy, chính trị viên các cấp trong Quân đội làm nòng cốt với phẩm chất chính trị, đạo đức, phương pháp, tác phong công tác theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính ủy, chính trị viên trong Quân đội

Ngay từ những ngày đầu của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị trong những tổ chức mầm mống của lực lượng vũ trang cách mạng. Người nhấn mạnh: “Về mặt chính trị, cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm”. Từ đó đến nay, ở các đơn vị lực lượng vũ trang cách mạng (lúc đầu từ cấp trung đội, sau là từ cấp đại đội trở lên) bên cạnh người chỉ huy quân sự bao giờ cũng có người cán bộ chính trị - người tiêu biểu cho đường lối chính trị, quân sự của Đảng, được tổ chức đảng lựa chọn và giao nhiệm vụ chỉ đạo, trực tiếp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, chịu trách nhiệm chủ yếu trước Đảng về bản chất cách mạng của đơn vị vũ trang mà mình được phân công đảm nhiệm. Là đại biểu của Đảng bên cạnh người chỉ huy, hơn ai hết, họ là người giữ nghiêm kỷ luật Đảng, nắm vững và thực hiện tốt các nguyên tắc của Đảng, thật sự tiêu biểu cho sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức đảng và trong toàn đơn vị.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính ủy, chính trị viên phải có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh. Người chỉ rõ: “Kỷ luật phải được thi hành từ trên đến dưới. Trách nhiệm của người chỉ huy quân sự và người chính trị viên phải định rõ ràng”. Theo đó, chính ủy, chính trị viên không chỉ chấp hành nghiêm túc và triệt để mọi đường lối, chủ trương, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, mà phải thường xuyên chăm lo củng cố, giữ gìn và tăng cường đoàn kết, kỷ luật trong nội bộ đơn vị, đoàn kết quân dân. Mỗi chính uỷ, chính trị viên phải là hạt nhân, là trung tâm xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong cơ quan, đơn vị. 

Chính ủy, chính trị viên cũng cần ham học hỏi, cầu tiến bộ. Bác Hồ cho rằng: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Sự nỗ lực học tập vươn lên là một đòi hỏi tất yếu khách quan, phù hợp quy luật phát triển của xã hội. Với người cán bộ chính trị, chính uỷ, chính trị viên, người làm công tác lãnh đạo, công tác giáo dục, xây dựng “hướng dẫn, dìu dắt quần chúng trên con đường đấu tranh” càng phải tích cực học tập phấn đấu để không ngừng tiến bộ.

Là người lãnh đạo, quản lý, chỉ huy hằng ngày tiếp xúc với bộ đội, chính uỷ, chính trị viên phải trong sáng, gương mẫu về đạo đức lối sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”. Chính vì vậy, Người luôn yêu cầu người cán bộ chính trị, chính uỷ, chính trị viên phải biết đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của Nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân; sống có hoài bão, có lý tưởng, có niềm tin yêu mãnh liệt đối với bộ đội và Nhân dân; có lối sống trong sáng, lành mạnh, thẳng thắn, trung thực, khiêm tốn, giản dị với mọi người; kiên quyết đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, để luôn luôn xứng đáng với lời dạy: “Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”(5).

Một số nhiệm vụ và giải pháp

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, trong nước có những diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch ra sức dùng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc nhằm lung lạc niềm tin, lý tưởng, ý chí chiến đấu và lòng trung thành của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Xuất phát từ những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ vị trí, vai trò của chính uỷ, chính trị viên và yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ, phẩm chất đạo đức của đội ngũ chính uỷ, chính trị viên là một tất yếu khách quan. Trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng trong Quân đội cần tập trung làm tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ chính ủy, chính trị viên, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn. Chú trọng làm tốt việc giáo dục ý thức trách nhiệm, phổ biến, tuyên truyền các chuẩn mực đạo đức cách mạng theo quan điểm, Tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ chính uỷ, chính trị viên, làm cơ sở cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, đồng thời làm cơ sở để tuyên truyền, giáo dục, đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị.

Hai là, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện tốt nội dung quan điểm về rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Gắn chặt chẽ giữa bồi dưỡng đạo đức cách mạng của chính uỷ, chính trị viên với việc xây dựng bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực toàn diện, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác khoa học, dân chủ, sâu sát bộ đội, gắn bó với Nhân dân, lời nói đi đôi với việc làm.

Ba là, làm tốt công tác kiểm tra sơ tổng kết, đánh giá đúng thực trạng kết quả bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức của đội ngũ chính uỷ, chính trị viên, chỉ rõ nguyên nhân, kinh nghiệm, làm tốt công tác biểu dương, khen thưởng, kịp thời nhắc nhở, xử ký các trường hợp vi phạm phẩm chất đạo đức cách mạng.

Bốn là, mỗi chính uỷ, chính trị viên cần nêu cao ý thức, trách nhiệm, tân tụy với công việc, thực sự là tấm gương mẫu mực cả trong chiến đấu cũng như trong lao động và học tập, công tác. Phải thực sự là tấm gương, là điểm khởi phát, là chỗ dựa đáng tin cậy để đấu tranh khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, kịp thời ngăn chặn sự tha hóa về đạo đức, lối sống trong đơn vị và ngoài xã hội.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng: Trung ương nên chủ trương “dân sự hóa hoạt động quân sự” để hạn chế hao tốn nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, lại huy động được sức dân trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội.

Thực chất, đằng sau những lập luận ấy là chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, hòng phá vỡ tính tổ chức, tính kỷ luật, hạ bệ vai trò của quân đội, làm cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”

Mưu đồ phía sau “những lời có cánh”

Trên một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân tích” về chủ trương, cách thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất quán “mỗi người dân là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả.

Họ thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là lực lượng duy nhất có trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ nên công cuộc chống “giặc dịch” trở nên hiệu quả.

Trên luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí của mình, nên cần phải “dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) cho quần chúng. Có nghĩa, phải tinh giản biên chế trong quân đội một cách mạnh mẽ, chỉ để lại một vài cơ quan chỉ đạo chiến lược; cũng nên giảm ngân sách đầu tư cho quốc phòng và không nên “nuôi” một số lượng quân thường trực “đông nhưng không mạnh” ... vì nếu có biến cố gì đi nữa, thì nhân dân ứng phó là đủ.

Với cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua, cổ xúy, tán dương. Một số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...

Từ những phân tích trên, các bài viết còn viện dẫn về chuyện một số quốc gia trên thế giới không cần xây dựng lực lượng quân đội, chỉ thiết lập đội tự vệ quốc gia với quân số ít. Thậm chí, có quốc gia không bận tâm đến việc BVTQ, vì trong xu thế hội nhập, các nước sẽ biết cách tôn trọng độc lập, tự do, chủ quyền của mỗi quốc gia.

Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVTQ, hạ bệ vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán” quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là thủ đoạn nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan hỏng, mục rũa nền quốc phòng toàn dân từ bên trong.

Ở một diễn biến khác, những kẻ thủ ác lại rêu rao: Việt Nam đang “quân sự hóa hoạt động dân sự”. Họ cho rằng: Chống dịch là một dạng hoạt động dân sự, nhưng quân đội lại ồ ạt đưa lực lượng, vũ khí, trang bị vào “trấn áp” dịch-đó là biểu hiện “quân sự hóa hoạt động dân sự”.

Một mặt, họ quy kết quân đội không đủ mạnh, không thể làm tròn nghĩa vụ với nhân dân, nên cố tình kéo quần chúng vào một cuộc chiến “vô thưởng vô phạt”; cổ vũ người dân lên tuyến đầu để bao biện cho sự hèn nhát, sợ dịch bệnh của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Mặt khác, họ tung hô: Đảng, Nhà nước và quân đội đang tô hồng vai trò của chính mình, “làm màu” để mị dân.

Thực chất, đây là thủ đoạn đánh tráo sự thật, xóa nhòa bản chất hoạt động bảo vệ, phục vụ nhân dân, phủ định vai trò, đóng góp to lớn của QĐND Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid -19 suốt gần hai năm qua. Trên thực tế, QĐND Việt Nam đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những lực lượng xung kích trên tuyến đầu; bảo vệ nhân dân bằng tất cả tình yêu thương. Thậm chí nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến với loại “giặc vô hình” để phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

Vậy nên, “những lời có cánh” nêu trên, thoạt qua, có thể nhầm tưởng là hợp lý, vô hại, nhưng xét về thực chất lại chính là khuynh hướng thủ đoạn khá mới, cố tình làm sai lệch nhận thức của quần chúng, mang lại nhiều hệ lụy và hậu quả to lớn; ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội; tác động trực tiếp đến kết quả xây dựng quân đội; chi phối nghiêm trọng công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiềm lực, nguồn lực BVTQ trong tình hình mới.

Quân đội hùng mạnh - đất nước mới hùng cường

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt BVTQ, trong thế trận chiến tranh nhân dân. Nghệ thuật quân sự Việt Nam ngay từ xa xưa đã thực hiện phép dụng binh “ngụ binh ư nông”- quân gửi trong dân.

Với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân đội là lực lượng không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN.

Trong khi đó, tính chất, yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong điều kiện mới ngày càng cao; tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, mau lẹ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến nhiệm vụ BVTQ. Các vấn đề xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới diễn ra phức tạp.

Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam, kích hoạt sự “chuyển màu” về chế độ, cố tình hạ bệ vai trò của Đảng và QĐND Việt Nam... Trước tình hình đó, nếu Việt Nam không có một đội quân thực sự “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì liệu nhiệm vụ BVTQ có thể bảo đảm trong mọi tình huống, nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, làm nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước?

Thực tế cho thấy, kể từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, thì vẫn chưa có bất kỳ phút giây những người lính Cụ Hồ được ngơi nghỉ trong cuộc chiến giữ hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong mọi giai đoạn lịch sử, thời kỳ phát triển, quân đội luôn là lực lượng đi đầu và khẳng định những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, nhất là trong suốt hành trình 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

Vậy nên, với chức năng, nhiệm vụ được giao, QĐND Việt Nam-lực lượng nòng cốt BVTQ rất cần những đầu tư tương xứng để có đủ tiềm lực, thực lực và sức mạnh bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.

Ở đây, cần hiểu đúng và đủ về chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đặt nhiệm vụ xây dựng quân đội trong mối quan hệ tổng thể xây dựng 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Trong đó, với tầm nhìn chiến lược, các lực lượng phải từng bước được đầu tư để hiện đại hóa, chính quy hóa, nhưng trên hết và trước hết phải ưu tiên xây dựng QĐND Việt Nam trong mối quan hệ với các bộ phận, lực lượng khác của LLVT.

Bởi thế, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng quân đội cách mạng, nhưng đồng thời phải tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghị quyết Trung ương các khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, X, XI đều xác định phải đẩy nhanh tiến độ, chất lượng từng bước tiến lên hiện đại, ưu tiên xây dựng một số lực lượng trong quân đội tiến thẳng lên hiện đại.

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ mục tiêu phấn đấu: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... Đó là mục tiêu khách quan, đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp BVTQ. Do đó, việc tập trung quan tâm, đầu tư nguồn lực cho xây dựng quân đội là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân và sự nghiệp cách mạng.

Hiện thực về sự cống hiến lớn lao

Không có chuyện cán bộ, chiến sĩ quân đội đang “vô công rồi nghề”, “đông mà không mạnh” như những kẻ hiềm khích, chống đối, chống phá cố tình tô vẽ, thêu dệt. Mỗi công dân Việt Nam cần có trách nhiệm nâng cao nhận thức, cảnh giác trước những chiêu trò thâm độc ấy.

Hãy ngước nhìn lên bầu trời xanh của Tổ quốc. Chắc chắn rồi, sự bình yên ấy không tự nhiên có được, mà là kết quả của sự phòng vệ quốc gia từ xa, từ sớm. Ở nhiều nơi trên đất nước này vẫn có sự hiện diện của tổ chức, đơn vị quân đội luôn “dõi mắt canh trời”, trực SSCĐ 24/24 giờ, với các loại vũ khí có khả năng đánh chặn mọi nguy cơ và các mối đe dọa trong mọi tình huống; sóng radar giăng từng tấc không khí để kịp thời phát hiện bất cứ mục tiêu nào dù là nhỏ nhất xâm phạm chủ quyền bầu trời quốc gia.

Và như vậy, chắc chắn sẽ có hàng nghìn ánh mắt của cán bộ, chiến sĩ dõi lên bầu trời canh giữ bình yên, hay miệt mài thao tác vũ khí trang bị để bảo vệ, vận hành sự bình yên đó.

Hãy hình dung về 3/4 diện tích đất nước thân yêu-biển, đảo của chúng ta dẫu còn nhiều “giông bão”, nhưng chủ quyền thiêng liêng luôn được giữ vững kể từ sau ngày đất nước thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà. Nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ vẫn trung kiên ngày đêm thực hiện nhiệm vụ nơi đảo xa, trên những con tàu, nhà dàn DK giữa mênh mông biển lớn.

Tất cả những người lính Cụ Hồ đều đối diện với các thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần, nhưng luôn không hề nao núng, thoái thác nhiệm vụ. Hãy thử đặt mình vào vị trí của những người đang ở nơi “đầu sóng, ngọn gió”, để thêm trân trọng những đóng góp của những chiến sĩ hải quân một lòng trung hiếu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, chủ quyền Tổ quốc.

Hãy nhìn vào thực tế về một đất nước bước ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt. Sau mấy chục năm hòa bình lập lại, vẫn còn đó không ít bom, mìn, vũ khí tồn đọng, có thể cướp đi sự sống của người dân và hãy khắc ghi sự đóng góp của lực lượng công binh can trường đối mặt với tử thần, tái tạo sự bình an, mang đến môi trường sống an toàn cho hôm nay, mai sau.

Hãy nhìn vào nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần của các nạn nhân chất độc da cam để thấy sự nguy hại đáng sợ của vũ khí hóa học mà kẻ đi xâm lược nhẫn tâm gieo rắc lên lãnh thổ Việt Nam, để thấm ngấm đầy đủ hơn đóng góp của cán bộ, chiến sĩ hóa học đang ngày đêm đối diện với thứ kẻ thù vô hình, xua đi hiểm họa, lấy lại những điều kiện sống cần thiết, tốt đẹp cho nhân dân...

Lại phải nói rõ hơn về trí tuệ của người lính Cụ Hồ đóng góp vào cấu hình môi trường sống hiện hữu. Khi chúng ta cảm nhận về một con đường, một cây cầu, một công trình dân sinh... chỉ nhận thấy tác dụng bảo đảm giao thông, phục vụ dân sinh, kết nối giữa các vùng miền để thông thương hàng hóa. Thế nhưng, sự thật không chỉ có thế.

Khi biến cố xảy ra, khi khởi mào chiến sự, kẻ thù gây hấn, thì lập tức những công trình ấy chuyển hóa phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Các nhà máy, xí nghiệp đều có tính lưỡng dụng đến mức tối ưu; các làng xã văn hóa đều bảo đảm các yếu tố, thành tố cấu thành nên khu vực phòng thủ... Những giá trị mang lại ấy là thành quả của trí tuệ Việt Nam, là sản phẩm của nền quốc phòng toàn dân, mà người lính Cụ Hồ là chủ thể tiến hành công tác tham mưu, kiến tạo.

Đó là thành quả vô cùng to lớn, kết nên từ lịch sử chiến tranh và quá trình xây dựng, BVTQ mà QĐND Việt Nam giữ vai trò nòng cốt.

Trong đó, việc kiến tạo nên lực lượng 3 thứ quân; bồi đắp cho mỗi người dân lý tưởng, bản lĩnh, kiến thức quân sự cơ bản... để có thể trở thành người chiến sĩ quả cảm bảo vệ chủ quyền đất nước, thì quả là "phép màu thần kỳ" được kết nên từ một khối lượng công việc đồ sộ mà ngay trong thời bình lớp lớp cán bộ, chiến sĩ quân đội đã và đang dày công vun đắp.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM!

     Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn cùng nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, xây dựng đất nước Việt Nam đạt nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, qua đó khẳng định vị thế Việt Nam trên chính trường quốc tế. Vậy mà, một số thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá sự lãnh đạo của Đảng, cho rằng việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng”. Đây là luận điệu xuyên tạc, sai trái cần phải vạch trần./.
Yêu nước ST.

VĨNH BIỆT NGƯỜI TIỂU ĐỘI TRƯỞNG CUỐI CÙNG CỦA ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN....

         Đại tá Hoàng Long Xuyên - người Tiểu đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, là nhân chứng cuối cùng của đội quân đàn anh trong cả nước, đã từ trần vào hồi 11 giờ ngày 27.8 (tức ngày 12.7 năm Quý Mão) tại nhà riêng thuộc tổ dân phố 3, phường
Chùa Hang, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Ông hưởng thọ 107 tuổi.

Không có tên trong danh sách 34 chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày thành lập (22.12.1944) do ở xa, đường đi lối lại điệp trùng trắc trở, về tới nơi thì lễ thành lập đã xong mấy ngày trước, Hoàng Long Xuyên được phân công làm tiểu đội trưởng. Tuy nhiên, ngày nhập ngũ của ông trong hồ sơ cán bộ vẫn được công nhận là ngày 22.12.1944.

Là người xây dựng các đơn vị quân đội từ những ngày đầu nên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong kháng chiến chống Pháp lấy tên ông gọi thay cho phiên hiệu đơn vị là "Bộ đội Long Xuyên".

Ông được Đảng, Nhà nươc tặng thưởng nhiều huân huy chương cao quý: Huân chương Độc lập Hạng Nhất; Huân chương Quân công Hạng Ba, Cán bộ lão thành cách mạng, Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng…

Vĩnh biệt ông - Người Tiểu đội trưởng cuối cùng của thế hệ những người lính Cụ Hồ đầu tiên!


Môi trường ST.

 Thời gian qua, có nhiều quan điểm sai trái, thù địch xuất hiện cho rằng, sự ra đời tư tưởng và chế độ xã hội chủ nghĩa là một sai lầm của lịch sử. Rằng, không cần có chủ nghĩa xã hội thì con người vẫn có ấm no, tự do, hạnh phúc. Đây thực chất là quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận bước tiến kiên quyết và tất yếu của lịch sử nhân loại. Bởi lẽ, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người. Ấm no, tự do, hạnh phúc là mong muốn, khát vọng của con người từ khi con người xuất hiện trên trái đất. Tuy vậy, có thể nói, từ khi xã hội loài người được hình thành cho đến nay, chưa có giai đoạn nào loài người được thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc. Giai đoạn xã hội chưa thành văn, xã hội nguyên thủy mặc dù chưa xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, con người hoàn toàn bình đẳng nhưng không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi lẽ, thời kỳ này, sức sản xuất chưa phát triển nên con người chưa thể hiện được vai trò của mình trong lao động sản xuất, chiếm lĩnh tự nhiên. Năng suất lao động thấp, của cải làm ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao và phong phú, nên con người chưa thể có no ấm. Mặt khác từ khi loài người xuất hiện, con người luôn mong muốn khẳng định định vị trí, vai trò của mình trong sự phát triển thế giới. Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của lịch sử, khả năng hiểu biết của con người còn hạn chế, nên con người chưa nắm được các quy luật của tự nhiên. Con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Người nguyên thuỷ không nắm được quy luật tự nhiên, chưa hiểu biết về chính mình nên đã nảy sinh tâm lý sợ hãi, sự phụ thuộc, bị chi phối, mất đi vai trò chủ thể, tính chủ động, tích cực của chính mình. Con người thậm chí còn không dám tác động, chinh phục, cải biến tự nhiên. Khi tôn giáo xuất hiện, niềm tin tôn giáo xuất hiện, làm tăng thêm sự phụ thuộc vào những lực lượng xa lạ bên ngoài con người. Nếu hiểu tự do là nhận thức được các quy luật của cái tất yếu thì con người thời kỳ này chưa thể có tự do. Không có ấm no, không có tự do thì con người không thể có hạnh phúc. Nói cách khác, con người chỉ hạnh phúc nếu có cuộc sống no ấm, được làm những gì mình muốn, thoát khỏi sự phụ thuộc, sự chi phối, khẳng định được vai trò chủ thể của mình trong xã hội. Khi đồ sắt xuất hiện (khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN), làm cho sức sản xuất phát triển mạnh mẽ. Con người ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong thế giới, chinh phục được giới tự nhiên, tạo ra nhiều của cải để thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên, của cải dư thừa làm xuất hiện chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu xuất hiện làm xuất hiện những tập đoàn người có lợi ích đối kháng nhau, do sự khác nhau về địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội, khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, và khác nhau về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Những tập đoàn đó là những giai cấp trong xã hội. Đối kháng lợi ích giữa những giai cấp dẫn đến những cuộc đấu tranh giai cấp. Xã hội có giai cấp đầu tiên là xã hội chiếm hữu nô lệ (xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VIII TCN). Ph.Ăngghen viết: “toàn bộ lịch sử đã qua đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Sự biến đổi căn bản nhất của xã hội loài người từ khi có giai cấp đó là xuất hiện tình trạng áp bức, nô dịch giữa người với người. Những người có quyền năng không chỉ chiếm đoạt của cải của cộng đồng tạo nên sự bất bình đẳng, bất công xã hội,mà còn nô dịch lao động của người khác. Lúc này, đa số những người bị chiếm đoạt, bị áp bức, nô dịch không thể có ấm no, tự do và hạnh phúc. Những điều này chỉ thuộc về thiểu số người trong xã hội. Từ xã hội chiếm hữu nô lệ, trải qua chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa, điều này cũng không thay đổi. Ấm no, tự do, hạnh phúc vẫn thuộc về số ít giai cấp thống trị, đó là địa chủ, quý tộc, tư sản. Đa số các giai cấp lao động, bị áp bức vẫn không có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Năm 1844, trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C.Mác viết: trong xã hội tư bản, “Người công nhân sản xuất ra càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta ngày càng tăng thì anh ta càng nghèo. Người công nhân ngày càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng rẻ mạt. Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị”. Trong xã hội tư bản, người lao động mất tự do trong lao động, trong cuộc sống: “Con người (công nhân) chỉ cảm thấy mình hành động tự do trong khi thực hiện những chức năng động vật của mình -ăn, uống, sinh con đẻ cái, nhiều lắm là trong chuyện ở, chuyện trang sức…, - còn trong những chức năng con người của anh ta thì anh ta cảm thấy mình chỉ còn là con vật. Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còn cái có tính người thì biến thành cái vốn có của súc vật”. Trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh (1844 - 1845), Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc cuộc cách mạng công nghiệp, nội dung kinh tế và hậu quả xã hội của nó cũng như những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Bằng những chứng cứ sinh động của cuộc sống và những tài liệu phong phú của chính quyền tư sản, Ph.Ăngghen đã vẽ nên bức tranh hiện thực của cuộc đời những người lao động. Ông viết: “Tính tham lam bỉ ổi của giai cấp tư sản đã tạo nên bao nhiêu là bệnh tật! Phụ nữ mất khả năng sinh đẻ, trẻ con tàn tật, đàn ông yếu đuối xanh xao, nhiều người tàn phế, toàn bộ nhiều thế hệ có nguy cơ bị diệt vong, bị kiệt sức và ốm yếu, - mà tất cả chỉ là để nhét cho đầy túi của giai cấp tư sản!”. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là chế độ tư hữu hoàn bị nhất. Vì vậy, các giai cấp lao động trong xã hội tư bản bị bóc lột triệt để nhất. Không chỉ áp bức, nô dịch lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã mở rộng sự áp bức, nô dịch ở các nước thuộc địa trên phạm vi quốc tế; bóc lột giữa tư bản và lao động nói chung. “Cùng với giai cấp tư sản, chế độ tư hữu cũng sẽ bị sụp đổ, và thắng lợi của giai cấp công nhân sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự thống trị giai cấp và đẳng cấp”. Đến thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, đa số nhân dân lao động thế giới không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mong muốn có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc tiếp tục là khát vọng của nhân loại. Tuy nhiên,trong thời kỳ này,cuộc đấu tranh của các giai cấp bị áp bức, bóc lột đã giành được những thắng lợi to lớn. Cách mạng tháng Mười năm 1917 đã mở ra thời đại mới, thời đại đấu tranh, giải phóng cho khát vọng của nhân loại, để xây dựng chế độ xã hội, chế độ xã hội hướng đến sự giải phóng và phát triển toàn diện con người, hiện thực hoá khát vọng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại. Chế độ xã hội chủ nghĩa, sau là chế độ cộng sản chủ nghĩa xoá bỏ chế độ tư hữu tức là xoá bỏ sự khác nhau về địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội, xoá bỏ sự khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và xoá bỏ sự khác nhau về sự thụ hương lợi ích xã hội, tạo cơ sở thực hiện sự công bằng, bình đẳng cho mọi người trong xã hội. Theo lý tưởng cộng sản, mọi đối kháng giai cấp trong xã hội cộng sản sẽ mất đi. Vì vậy, công cụ chuyên chính của các giai cấp thống trị là nhà nước sẽ mất đi, theo đó sẽ không còn áp bức, nô dịch giai cấp. Khi áp bức giai cấp bị xoá bỏ thì tình trạng nô dịch dân tộc sẽ mất đi. C.Mác và Ph.Ăngghen từng nói: áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc; nên hãy xoá bỏ tình trạng giai cấp này đi áp bức giai cấp khác thì tình trạng dân tộc này đi áp bức giai cấp khác sẽ mất đi. Khi áp bức dân tộc không còn thì dân tộc được tự do. Con người trong xã hội đó được giải phóng thực sự. Mặt khác, khi con người được giải phóng, không bị giới hạn bởi những điều kiện ràng buộc, con người có thể phát huy tối đa mọi khả năng của mình, khẳng định tốt nhất những năng lực bản chất của mình. Khi đó con người có thể tạo ra của cải với năng suất rất cao, đáp ứng mọi nhu cầu của mình. Nghĩa là con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Đến hôm nay, chủ nghĩa xã hội mới đang trong quá trình xây dựng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như C.Mác khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản là hình thức kiên quyết của tương lai sắp đến”. “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội”./.

 LỜI BÁC DẠY NGÀY 28/8:


“Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh việc nước”. Là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách của Chính phủ đối với thành phần tham gia Chính phủ trong lần trả lời phóng viên Báo Độc lập, ngày 28 tháng 8 năm 1947 về thành phần tham gia Chính phủ mở rộng.

Hồ Chí Minh luôn nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng. Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một sách lược, thủ đoạn chính trị nhất thời, mà là chiến lược, là yêu cầu khách quan của cách mạng Việt nam; xuyên suốt, nhất quán trong tư duy, lý luận của Người, có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc. Do vậy, trong thành phần Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có các vị là quan lại của chế độ cũ, là người theo Công giáo.

Với quan điểm, tư tưởng phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựng được một khối đại đoàn kết với sức mạnh to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam trong nước và ngoài nước đều tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta luôn coi trọng, đề cao tinh thần yêu nước, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung và lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng cho các tầng lớp nhân dân, tạo nên sự đồng thuận xã hội; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích của quốc gia - dân tộc. Đảng lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng.
ST

NGƯỜI TRẺ TRƯỚC THÁCH THỨC “XÂM LĂNG VĂN HOÁ”- ĐỔI MỚI NHƯNG KHÔNG “ĐỔI MÀU”!

         Quá trình hội nhập quốc tế đặt ra vấn đề làm thế nào để giới trẻ vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhưng phải biết gạn đục khơi trong, hòa nhập nhưng không hòa tan, đổi mới nhưng không “đổi màu”, giữ gìn và phát huy bản sắc, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong thời đại mới.

Tựa vào văn hóa truyền thống để đổi mới, sáng tạo
Có thể khẳng định rằng, với sự phát triển của công nghệ hiện nay, thế hệ trẻ ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận, hưởng thụ, thỏa sức khám phá những giá trị văn hóa đa dạng. Một tín hiệu lạc quan là rất nhiều bạn trẻ ngày nay khẳng định tình yêu cội nguồn bằng cách lấy văn hóa truyền thống của dân tộc làm nền tảng để đổi mới, sáng tạo. Việc khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các bạn trẻ nhân rộng những mô hình khởi nghiệp sáng tạo trên nền tảng văn hóa truyền thống, lan tỏa giá trị văn hóa Việt tới cộng đồng quốc tế phù hợp với xu thế hiện đại được xem là một trong những giải pháp hiệu quả để tổ chức đoàn và các ngành chức năng quan tâm đẩy mạnh, qua đó giúp thế hệ trẻ thêm yêu, trân trọng, nâng cao ý thức gìn giữ và phát huy truyền thống, chống lại sự “xâm lăng văn hóa”.

Thực tiễn thời gian gần đây, nhiều người trẻ biết tựa vào văn hóa truyền thống để làm nguồn cảm hứng thăng hoa sáng tạo. Ở lĩnh vực âm nhạc, nhiều nghệ sĩ trẻ mạnh dạn khai thác, biến tấu những chất liệu dân gian, tạo ra những tác phẩm gây tiếng vang. Đó là “Chiếc khăn piêu” mang âm hưởng Tây Bắc, được phối khí theo phong cách nhạc jazz; hình tượng “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương, rồi cô Tấm, nàng Mị, Thúy Kiều đi vào âm nhạc đương đại. Sự kết hợp giữa sẩm, rap và nhạc điện tử, rồi nhạc cụ trên sân khấu chèo và hát văn xuất hiện trong dàn nhạc giao hưởng. Những tín hiệu đáng mừng trong hoạt động văn học-nghệ thuật biểu diễn nêu trên là minh chứng bản sắc văn hóa Việt đang thấm sâu vào giới trẻ.

Trong ngành mỹ thuật, một số họa sĩ trẻ nổi lên như những gương mặt tiên phong làm mới dòng tranh dân gian bằng mỹ thuật ứng dụng đương đại. Lĩnh vực thời trang cũng không thiếu những câu chuyện thú vị chứng minh cho tình yêu cội nguồn văn hóa của lớp người Việt Nam trẻ tuổi. Nhiều nhóm bạn trẻ đam mê tìm hiểu về trang phục truyền thống và mong muốn tái hiện văn vật của nước Việt Nam xưa đã thành lập các trang thông tin, fanpage được đầu tư cả về hình ảnh lẫn nội dung, thu hút đông đảo sự hưởng ứng, tương tác. Từ đây, rất nhiều dự án tìm hiểu về cổ phục Việt và phục dựng trang phục cổ truyền đã tạo ra tác động rất lớn tới cộng đồng. Nhiều bạn trẻ sử dụng Việt phục như một trang phục trong sinh hoạt thường ngày như đi dạo phố, tham quan các di tích lịch sử, hay trong những ngày lễ, tết, cưới hỏi...

Nhìn sang các lĩnh vực chứa đựng chiều sâu văn hóa Việt Nam như ẩm thực, du lịch... cũng trở thành phương tiện hữu hiệu để các bạn trẻ quảng bá, giới thiệu văn hóa dân tộc ra thế giới. Không chỉ dừng lại ở tình yêu và niềm đam mê, nhiều người trẻ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống. Nhiều kênh YouTube, trang web được các bạn trẻ xây dựng cung cấp nội dung phong phú, hấp dẫn về các món ăn truyền thống, di tích, thắng cảnh, văn hóa dân tộc các vùng miền của Việt Nam... Đặc biệt, nhiều di sản, di tích lịch sử được người trẻ giới thiệu, quảng bá sinh động thông qua các nền tảng số bằng ngôn ngữ tiếng Việt và nhiều thứ tiếng nước ngoài, thu hút đông đảo lượt xem và chia sẻ. 

Công chúng hiện tại rất ưa thích cái mới, ủng hộ sáng tạo và ứng dụng công nghệ, sẵn sàng trải nghiệm các sản phẩm, dịch vụ chứa đựng các yếu tố văn hóa. Điển hình như Di tích Nhà tù Hỏa Lò với hệ thống thuyết minh tự động, không gian trưng bày online, tham quan trực tuyến trên hai nền tảng Spotify và Apple Podcasts, đặc biệt là “tour đêm” trải nghiệm tái hiện qua nhiều hoạt cảnh kết hợp với hiệu ứng âm thanh và ánh sáng đánh thức mọi cung bậc cảm xúc của du khách, tạo sức hút rất mạnh mẽ và trở thành một sản phẩm du lịch rất hấp dẫn ở Hà Nội.

Việt Nam có tiềm năng to lớn trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng văn hóa. Chúng ta có một kho tàng văn hóa vô giá với hàng chục nghìn di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ, thắng cảnh, lịch sử cách mạng; hàng nghìn truyền thuyết gắn với từng giai đoạn lịch sử; hàng nghìn lễ hội dân gian, lịch sử và tôn giáo; hàng nghìn làng nghề và làng có nghề truyền thống; hàng trăm trò chơi dân gian; hàng chục loại hình diễn xướng truyền thống... Cùng với đó là y học cổ truyền, nghệ thuật ẩm thực, trang phục truyền thống, phong tục, tập quán... Nền văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng, đặc sắc và nhân bản của Việt Nam là mảnh đất hứa hẹn đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam còn chưa được khai thác, hoặc khai thác ở quy mô nhỏ lẻ, ở tầng nấc bên ngoài chứ chưa đi vào chiều sâu. Điều này đồng nghĩa với việc còn rất nhiều dư địa để những người trẻ khai phá, lựa tìm và đầu tư sáng tạo.

Bày tỏ quan điểm về sự quan tâm của giới trẻ đối với văn hóa truyền thống, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Bùi Quang Huy cho rằng, chúng ta đã và đang phát triển được rất nhiều sản phẩm văn hóa mang lại giá trị cao, đặc biệt là trên các nền tảng số, rất nhiều trong số đó là của những bạn trẻ. Ngày càng nhiều sản phẩm văn hóa “made in Việt Nam” phát triển mạnh mẽ trên nhiều nền tảng, nhất là công nghệ số, tạo dựng được niềm tin, sự quan tâm của cộng đồng xã hội. Trên mạng xã hội ngày càng xuất hiện nhiều sản phẩm dạng phim ngắn, series phim ngắn, phim sitcom do các bạn trẻ sản xuất với những tình huống thú vị, mang lại nhiều bài học ý nghĩa trong cuộc sống; những sản phẩm phim đồ họa 3D, 4D, hoạt hình hấp dẫn, giới thiệu về các triều đại lịch sử của dân tộc; các phong tục, tập quán, lễ hội Việt Nam; những video trải nghiệm văn hóa, phong tục, tập quán, ẩm thực...

Tận dụng công cụ có sẵn trên các nền tảng mạng xã hội, nhiều bạn trẻ xây dựng và thành công với việc quảng bá những sản phẩm văn hóa truyền thống của địa phương trên không gian mạng. Những ý tưởng và mô hình khởi nghiệp từ văn hóa truyền thống của thanh niên tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với cộng đồng và gặt hái thành công bước đầu. Thông qua đó, không chỉ góp phần quảng bá giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới mà còn tạo nên những giá trị kinh tế to lớn từ các sản phẩm văn hóa.  

Trong “cơn lốc” của văn hóa ngoại lai, nhiều ý kiến bày tỏ trăn trở rằng, lớp trẻ sẽ bị cuốn trôi và quên đi những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Sự lo lắng ấy là có cơ sở bởi một bộ phận người trẻ thiếu nhận thức, bản lĩnh, bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Thế nhưng nhìn vào thực tiễn, chúng ta có cơ sở để tin tưởng vào vai trò, ý thức, trách nhiệm của thanh niên đối với sứ mệnh giữ gìn, phát huy, lan tỏa vẻ đẹp văn hóa trường tồn của dân tộc.

Bên cạnh hệ thống giải pháp về cơ chế, chính sách, tạo dựng hệ sinh thái khởi nghiệp dựa trên nền tảng văn hóa, việc giáo dục cái hay, cái đẹp của văn hóa Việt Nam cần được đẩy mạnh ngay từ các bậc học phổ thông, ở các tổ chức đoàn, hội, đội cũng như trong toàn xã hội, giúp người trẻ có nền tảng tri thức về văn hóa và lòng tự hào, tự tôn dân tộc, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm vốn văn hóa truyền thống nước nhà.

Phát huy nội lực, siết chặt quản lý
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 xóa nhòa những ranh giới địa lý khiến sự giao lưu của con người về mọi mặt, trong đó có văn hóa, trở nên nhanh hơn, dễ dàng hơn rất nhiều. Bối cảnh của thế giới kết nối cũng khiến cho việc quản lý, bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống chưa theo kịp. Với thực tế hiện nay cùng vị trí rất quan trọng của văn hóa-một lĩnh vực được xác định mang tầm quan trọng ngang với kinh tế, chính trị, xã hội-cần những giải pháp chấn chỉnh kịp thời và hiệu quả hơn, không thể xuề xòa, “bắt cóc bỏ đĩa”, bởi nếu cứ để tình trạng “xâm lăng văn hóa” kéo dài sẽ là sự nguy hại rất lớn đối với đất nước và thế hệ tương lai.

Nhìn rộng ra thì việc gìn giữ, củng cố nền tảng văn hóa không chỉ là yêu cầu cấp thiết đối với nước ta mà với các quốc gia khác trên thế giới như Mỹ, Anh, Trung Quốc... việc phát huy văn hóa bản địa, bảo vệ văn hóa trước các tác động tiêu cực cũng không hề bị lơ là. Cụ thể như phiên điều trần vừa qua của CEO TikTok tại Quốc hội Mỹ kéo dài 5 tiếng đồng hồ nhưng vẫn chưa đủ thuyết phục các nhà lập pháp của Hoa Kỳ để nền tảng chia sẻ video hoạt động tự do như trước. Còn tại Anh, cơ quan quản lý dữ liệu nước này mới phạt TikTok 12,7 triệu bảng Anh vì để hơn 1,4 triệu trẻ em dưới 13 tuổi ở nước này sử dụng TikTok mà không có sự đồng ý của người lớn. Australia, New Zealand, châu Âu và các nước châu Á gồm Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh cũng cấm một phần hoặc hoàn toàn nền tảng TikTok. Tại Trung Quốc, “phong sát” trở thành nỗi khiếp sợ của những nghệ sĩ vi phạm pháp luật hay có những hành xử gây ảnh hưởng xấu đến xã hội... 

Theo lãnh đạo Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông), cơ quan chức năng đang đấu tranh yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới phải có những ứng dụng dành riêng cho trẻ em. Một biện pháp mà Bộ Thông tin và Truyền thông đang làm rất quyết liệt là ngăn chặn dòng tiền đến với các kênh độc hại. Tất cả những kênh đăng tải nội dung độc hại sẽ bị tắt chế độ tìm kiếm, tắt chế độ tặng quà hay nhận vật phẩm ảo.

Ngày 31-3-2023, Bộ Thông tin và Truyền thông có Quyết định số 512/QĐ-BTTTT về việc ban hành kế hoạch hành động cập nhật kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển lĩnh vực phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử giai đoạn 2021-2025. Theo đó, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử phối hợp với Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) trong thực hiện việc quản lý người nổi tiếng trên mạng; từ tháng 10-2023 sẽ hạn chế phát sóng, biểu diễn, quảng cáo đối với nghệ sĩ, KOLs có hành vi vi phạm pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục. Tháng 9-2023, thí điểm giám sát, kiểm tra các nền tảng xuyên biên giới chưa có văn phòng tại Việt Nam. Từ tháng 12-2023, tiến hành điều hướng dòng tiền quảng cáo xuyên biên giới vào các cơ quan báo chí chính thống, các nền tảng nội dung số, website, các kênh, tài khoản đã được cấp phép hoặc có đăng ký hoạt động với Bộ Thông tin và Truyền thông (quảng cáo trên white list, chặn quảng cáo black list).

Bộ Thông tin và Truyền thông cũng sẽ duy trì thường xuyên việc đấu tranh buộc các nền tảng xuyên biên giới chặn, gỡ thông tin xấu độc với tỷ lệ đáp ứng cao (90-95%), thời gian xử lý dưới 24 giờ; khóa các trang, kênh vi phạm nghiêm trọng; phát triển thuật toán để chặn hiệu quả các quảng cáo sai sự thật; gỡ các game không phép trên Google Store và Apple Store...

Bên cạnh dọn dẹp lại một môi trường văn hóa tiêu cực, việc ươm mầm phát triển cho không gian văn hóa với bản sắc riêng, phát huy nội lực bằng những tác phẩm điện ảnh có chất lượng, cùng với những hoạt động của các cơ quan an ninh trong đấu tranh ngăn chặn các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tấn công trên các lĩnh vực văn hóa là việc làm bức thiết. Những giải pháp ngăn chặn tán phát sản phẩm văn hóa nước ngoài độc hại cần được quyết liệt, ráo riết triển khai, không để những “rác phẩm” này tán phát trên không gian mạng và thẩm thấu vào tâm trí người trẻ. Ngoài hệ thống giải pháp trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chống “xâm lăng văn hóa” thì việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, siết chặt quản lý dịch vụ nền tảng xuyên biên giới, hạn chế và tiến tới ngăn chặn triệt để các sản phẩm văn hóa độc hại thẩm lậu vào Việt Nam là giải pháp cần được chú trọng phát huy.

Nhận rõ vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

Cốt lõi của vấn đề vẫn nằm ở ý thức và trách nhiệm công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải thực sự khẳng định bản lĩnh để chống lại nguy cơ bị đồng hóa văn hóa, bị hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ này.
Theo: Báo QĐND./.
Yêu nước ST.