Thứ Tư, 30 tháng 8, 2023

 

Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của chiến thắng ĐIện Biên Phủ năm 1954

(LLCT) - Đánh giá về ý nghĩa và tầm vóc của chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: Điện Biên Phủ là cột mốc bằng vàng trong lịch sử dân tộc, đánh dấu nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, khởi đầu quá trình phi thực dân hóa trên phạm vi toàn thế giới.


Chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam đã đi vào lịch sử thế giới như một bản hùng ca, song những giá trị của thắng lợi trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc luôn còn đọng mãi với lịch sử của dân tộc Việt Nam ta qua các thế hệ. Có được những thắng lợi đó trước hết là sự kế thừa truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông ta và sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Quân ta càng đánh, càng mạnh, càng thắng; quân viễn chinh Pháp càng ngày càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng. Vùng giải phóng của ta được mở rộng, chính quyền dân chủ nhân dân được củng cố. Đến năm 1953, nhân dân và quân đội ta đã làm chủ trên chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta.

Bước vào Thu - Đông (1953), để cứu vãn tình thế, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Nava tăng viện lớn về binh lực và chi phí chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương. Kế hoạch Nava là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm giành lại thế chủ động có tính quyết định về quân sự trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Để đạt được mục tiêu đó, Pháp và Mỹ đã lập kế hoạch đến năm 1954 quân chủ lực Pháp sẽ lên tới 7 sư đoàn cơ động chiến lược, với 27 binh đoàn được trang bị hiện đại làm thành quả đấm thép trên chiến trường Việt Nam.

Về phía ta, tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi địch sơ hở và nơi tương đối yếu mà đánh, chọn những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và dân Lào, Campuchia liên tiếp mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu, Trung Lào, Hạ Lào, Đông Campuchia, Tây Nguyên và Thượng Lào, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng của địch, buộc quân Pháp phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp chiến trường Đông Dương, đẩy chúng vào tình thế bị động chiến lược.

Về phía địch, khi phát hiện hướng tiến công chiến lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ.

Tuy là kế hoạch nằm ngoài dự kiến ban đầu của Kế hoạch Nava, nhưng các tướng lĩnh Pháp và Mỹ đã liên tiếp cho tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự mạnh nhất Đông Dương, là cứ điểm có ý nghĩa chiến lược khống chế cả một vùng rộng lớn Tây Bắc và Thượng Lào.

Trước tình hình đó, 6-12-1953, Bộ Chính trị họp và nhận định Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm mạnh nhưng chỗ yếu cơ bản của địch là bị cô lập. Về phía ta, Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay; diễn ra trên địa bàn rừng núi hiểm trở, đường cơ động cho pháo khó khăn, thời gian chuẩn bị cho chiến dịch gấp. Nhưng chiến dịch Điện Biên Phủ có ý nghĩa quân sự, chính trị và ngoại giao rất quan trọng; khó khăn lớn nhất của ta là vấn đề cung cấp hậu cần, nhưng chúng ta có thể khắc phục được. Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng uỷ mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng của chiến dịch, Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ đã quyết định tập trung 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân số trên 40 nghìn quân. Chấp hành quyết định của Bộ Chính trị, mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành khẩn trương; cả nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch; hơn 261 nghìn dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn hướng về Điện Biên bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.

Ngày 25-1-1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng uỷ chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng đắn: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định đúng đắn nhưng ta cũng gặp không ít khó khăn: thời gian tác chiến dài hơn, cách đánh cũng khác nên có những việc ta phải chuẩn bị lại từ đầu, nhất là việc tổ chức, bố trí hệ thống hoả lực chiến dịch. Với địa hình hiểm trở, pháo của ta kéo vào tập trung tại trận địa đã khó khăn, nay thay đổi phương châm tác chiến lại phải kéo pháo phân tán ra các trận địa mới trên các điểm cao tạo thành vòng cung bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, để bắn trực tiếp vào các mục tiêu dưới lòng chảo, càng khó khăn hơn. Với tinh thần quả cảm, không quản ngại gian khổ, hy sinh, quân và dân ta đã tìm mọi cách vượt qua thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống hơn 16 nghìn tên địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch; một trận tiêu diệt điển hình nhất, trực tiếp đưa đến việc buộc thực dân Pháp xâm lược phải ngồi vào bàn hội nghị ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiện mang tầm vóc thời đại và ý nghĩa lịch sử lớn lao:

Trước hết, về sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn, sáng tạo, kiên quyết và tài giỏi của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Nắm vững âm mưu, kế hoạch chiến lược của địch, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kịp thời đề ra phương châm kháng chiến: “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt” nhằm phá khối chủ lực, cơ động chiến lược của địch ngay từ ban đầu. Theo đó, quân và dân ta trên khắp các địa bàn, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, chủ động đẩy mạnh các hoạt động tác chiến làm cho địch không những không thể thực hiện được Kế hoạch đã vạch ra, mà còn lâm vào thế bị động đối phó. Trước nguy cơ lực lượng cơ động chiến lược trên chiến trường Đông Dương bị xé lẻ, phân tán, Nava vội điều lực lượng lớn lên Điện Biên Phủ xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh, được mệnh danh là “bất khả chiến bại” hòng lôi kéo, “nghiền nát” lực lượng chủ lực của ta. Nghiên cứu, phân tích đánh giá tình hình, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: đây tuy là mưu đồ của địch, nhưng cũng là thời cơ cho ta tập trung binh lực, hỏa lực để tiêu diệt quân địch, kết thúc chiến tranh. Tác chiến trên địa bàn này, ta tuy có những khó khăn nhất định, nhưng có thuận lợi cơ bản: phát huy được sở trường đánh địch ở địa hình rừng núi, địa bàn Chiến dịch tiếp giáp vùng mới giải phóng (Tây Bắc). Đối với địch, có bất lợi: chưa kịp xây dựng, củng cố vững chắc công sự, trận địa, xa hậu phương, chỉ có thể tiếp tế bằng đường không; địa thế của “lòng chảo Điện Biên” lại thấp. Trong quá trình chuẩn bị, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhận thấy địch đã củng cố, xây dựng nơi đây thành tập đoàn cứ điểm mạnh nên ta không thể “đánh nhanh, giải quyết nhanh” như đã xác định nên chuyển phương châm tác chiến chiến dịch sang “đánh chắc, tiến chắc”. Chủ trương trên của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, nhưng cũng là một quyết định rất khó khăn về mặt tư tưởng đối với bộ đội, nhất là trong điều kiện lực lượng ta đã áp sát mục tiêu tiến công lại phải dừng lại để rút ra chuẩn bị kỹ hơn về: vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và cách đánh. Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng của trận quyết chiến chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp trước khi lên đường: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Đánh chắc thắng, không chắc thắng không đánh”(1). Cuộc đấu trí, đấu lực cả trước và trong Chiến dịch Điện Biên Phủ với phần thắng thuộc về quân và dân ta đã chứng minh sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây chính là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả nước đánh thắng đội quân xâm lược nhà nghề của thực dân Pháp và buộc chúng không có lựa chọn nào khác là phải ký Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương.

Hai là, phát huy cao nhất sức mạnh của toàn dân cho trận quyết chiến chiến lược. Chiến dịch diễn ra ở địa hình rừng núi hiểm trở, có nhiều đèo cao, vực sâu, mạng đường chiến lược, chiến dịch hầu như chưa có; miền Tây Bắc mới được giải phóng, kinh tế chậm phát triển. Vì thế, bảo đảm vật chất hậu cần, kỹ thuật cho chiến dịch lớn, dài ngày gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng ta đã phát huy sức mạnh của toàn dân tộc (ở cả hậu phương và tiền tuyến) nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của bộ đội trong trận quyết chiến chiến lược. Tính cả trước và trong Chiến dịch, có tới 62 nghìn dân công, thanh niên xung phong tham gia làm và sửa chữa hàng trăm kilômét đường, nhiều bến, cầu; vận chuyển hơn 25 nghìn tấn lương thực, thực phẩm, hàng nghìn tấn vũ khí trang bị, đạn dược tới mặt trận; hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ được cứu chữa, chăm sóc… trở thành nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi. Ngoài nhiệm vụ phục vụ, họ còn trực tiếp tham gia chiến đấu cùng các đơn vị quân đội. Đây là “cuộc ra quân lớn nhất” của cả nước kể từ đầu cuộc kháng chiến. Cùng với việc tích cực chuẩn bị chiến trường, ở hậu phương (vùng mới giải phóng) Đảng ta quyết tâm thực hiện chủ trương đem lại ruộng đất cho dân cày đã động viên được các tầng lớp nhân dân ở vùng tự do, mới giải phóng và sau lưng địch, thậm chí cả cán bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến. Vì thế, toàn dân tộc đã tạo thành khối đại đoàn kết, dồn sức người, sức của cho Chiến dịch. Thực tiễn đã khẳng định: đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc của Đảng và sức mạnh to lớn của nhân dân là nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch.

Ba là, sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế. Sau gần 5 năm bị cô lập, chiến đấu trong vòng vây, cuộc kháng chiến của nhân dân ta gặp không ít khó khăn về vật chất, vũ khí, súng đạn, thậm chí cả về đấu pháp với một đội quân nhà nghề được trang bị vũ khí hiện đại... Để khắc phục tình trạng trên, Đảng ta kiên trì đường lối kháng chiến: toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính; đồng thời, tích cực, chủ động tìm sự ủng hộ về vật chất và tinh thần từ bên ngoài, nhất là từ các nước XHCN và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Bên cạnh đó, Đảng còn định ra chủ trương, chính sách đúng đắn để phát triển lực lượng vũ trang, chuẩn bị vật chất hậu cần, kỹ thuật cho trận đánh lớn, kết thúc chiến tranh. Từ khi tuyến hành lang biên giới Việt Nam-Trung Quốc (1-1950) được mở, cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhận được sự giúp đỡ về tinh thần và vật chất ngày càng lớn của bạn bè quốc tế, đặc biệt là sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân Liên Xô, Trung Quốc(2). Ngoài ra, các nước bạn còn giúp ta trong đào tạo cán bộ, huấn luyện chuyển loại các đơn vị pháo binh, pháo cao xạ... Theo đó, các đơn vị pháo binh, pháo cao xạ được thành lập và huấn luyện đã nhanh chóng phát triển, tham gia chiến đấu; nguồn vật chất: quân lương, quân trang, súng đạn... được chuẩn bị dồi dào. Vì thế, bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ, xét về tương quan so sánh lực lượng ta hơn hẳn địch cả về quân số và vũ khí, trang bị. Đây là biểu hiện sinh động của tình đoàn kết thắm thiết, chí tình, chí nghĩa của các nước XHCN anh em. Các nhân tố trên đã tạo thành sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành luỹ của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu. Chiến thắng đó là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định sẽ thắng lợi; đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mỹ la tinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Phát huy tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” của Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chủ động nắm bắt thời cơ, vượt mọi khó khăn, thử thách xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, đập tan nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương. Một nửa nước được giải phóng, mở ra thời kỳ cách mạng mới đưa miền Bắc quá độ lên CNXH, làm hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trở thành di sản tinh thần quý báu. Tiếp nối chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 dân tộc ta đã viết tiếp bản anh hùng ca chói lọi trong thời đại Hồ Chí Minh lập chiến công hiển hách Điện Biên Phủ trên không năm 1972; Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa cả nước đi lên CNXH; những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới gần 30 năm qua đưa đất nước ta lên một tầm cao mới, thế và lực mới, chủ động hội nhập quốc tế.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động: các nước lớn tranh giành ảnh hưởng, xu thế hình thành thế giới đa cực ngày càng rõ sẽ tác động đến tình hình chính trị và kinh tế thế giới; cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế ở nhiều nước còn diễn biến phức tạp; chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố vẫn diễn ra có thể gây mất ổn định ở khu vực và nhiều nơi trên thế giới.

Sau hơn 28 năm đổi mới, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cơ hội và thách thức vẫn đan xen: các thế lực thù địch gia tăng thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền…để can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải nâng cao cảnh giác, phát huy cao độ nội lực; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững và không ngừng tăng cường đoàn kết quân dân, đoàn kết hữu nghị với nhân dân và quân đội các nước theo truyền thống của Đảng, của dân tộc và của Quân đội ta; kết hợp sức mạnh thời đại, tạo dựng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Phát huy thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân với những kinh nghiệm quý báu, tiếp tục xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc. Kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với an ninh, kinh tế và đối ngoại. Chú trọng xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn chiến lược trọng điểm tuyến biên giới, tạo thế trận quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xoá đói, giảm nghèo, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2014

(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.900.

(2) Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.600.

 

Nguồn: Viện sĩ, TS Nguyễn Huy Hiệu

TÌNH THƯƠNG YÊU BAO LA

 Đoàn chuyên gia y tế Cộng hoà Dân chủ Đức chúng tôi sang tới thủ đô Hà Nội vào ngày 2 tháng 2 năm 1956, sau một thời gian ngót ba tuần đáp tàu liên vận quốc tế từ thành phố Béclin. Chúng tôi cả thảy gồm 35 người, do giáo sư tiến sĩ Kiếcsơ, nhà giải phẫu xuất sắc làm trưởng đoàn. Tất cả chúng tôi sang Việt Nam lần đầu và đã tự hào nhưng cũng đều lo lắng, hồi hộp trước nhiệm vụ mà Hội đồng toàn quốc Mặt trận dân tộc đã giao cho là giúp trang bị nhà thương Phủ Doãn, tức Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cộng hoà Dân chủ Đức sau này, bằng những máy móc và dụng cụ y tế do nhân dân nước chúng tôi gửi tặng nhân dân Việt Nam anh em. Riêng tôi và một vài anh chị em nữa, trong đó có đồng chí Thítxkê, Tôn man, Đvêsơ, Vítxtuba có nhiệm vụ hoàn thành xưởng làm chân tay giả cho các đồng chí thương binh Việt Nam.

Tôi còn nhớ, những ngay đầu tới Việt Nam thời tiết khá lạnh và Tết Nguyên đán cũng sẽ đến Một không khí nô nức chuẩn bị Tết. Chúng tôi đã được sống với các bạn Việt Nam trong không khí ấy và sẽ không bao giờ quên các món ăn dân tộc, các phong tục, các trò vui trong Tết cổ truyền. Riêng đồng chí trưởng đoàn của chúng tôi còn được hưởng một vinh dự đặc biệt cùng một số bạn quốc tế ăn Tết với Bác Hồ. Đi dự về, đồng chí đã kể cho chúng tôi nghe nhiều mẩu chuyện lý thú trong dịp vui hiếm có ấy và chúng tôi đều hy vọng rằng trong thời gian công tác ở Việt Nam sẽ có dịp được trông thấy Người. Và, không ngờ là chúng tôi đã không những được trông thấy vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, mà còn được thưa chuyện với Người, được ở bên Người nhiều lần.
Lần thứ nhất là tối mồng 9 tháng 6, chúng tôi được Bác mời đến dự cuộc vui trong vườn Phủ Chủ tịch do Người tổ chức riêng cho các chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu. Tôi nhớ đêm ấy Bác rất vui, coi chúng tôi như người quen thân đã lâu và chính vì vậy, ngay từ giờ phút đầu, chúng tôi hoàn toàn không cảm thấy những ngăn cách giữa vị lãnh đạo tối cao của một nước với những công dân binh thường. Bác đã kể cho chúng tôi nghe về những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, về những đau thương, mất mát mà nhân dân Việt Nam phải chịu đựng để giành cho được nền độc lập, tự do chân chính của mình. Bác nói: Bác thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam chào mừng những người anh em đã hộl chủ nghĩa đề từ những phương trời xa sang đây chung sức, chung lòng giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng lại đất nước. Bác chỉ nói có thế, không đọc diễn văn trang nghiêm gì cả, cũng chính vì vậy mà chúng tôi càng thấm thía những điều Bác mong muốn. Bác đã đi gặp, nói chuyện với từng đoàn chuyên gia. Với đoàn chúng tôi, Bác cũng hỏi rất kỹ về cô việc của từng nhóm, từng người. Biết tôi phụ trách nhóm chỉnh hình, Bác dừng lại hỏi khá kỹ nội dung công việc và dặn nếu có yêu cầu gì thì cứ cho Bác biết. Thấy chúng tôi còn rất trẻ, Bác hỏi thăm tình hình gia đình, vợ con ra sao. Tôi có thưa với Bác là tôi chưa xây dựng gia đình, người yêu của tôi đang công tác ở thủ đô Béclin. Chúng tôi hứa hẹn với nhau là sẽ làm lễ thành hôn sau chuyến đi công tác này. Bác vỗ vai tôi thân mật nói: ''Cho tôi gửi lời thăm người bạn gái thân yêu của đồng chí và mong hai người viết thư đều cho nhau''. Tôi rất sung sướng được chuyển lời thăm của Người tới người yêu của tôi. Trong chín tháng công tác ở Việt Nam, tôi đã viết cho cô ấy những bức thư và điều thú vị là cho đến nay, những bức thư ấy vẫn còn giữ được cả. Bác cũng có hỏi thăm đồng chí Ácnô Brốc, người vừa mới cưới vợ được ba tháng thì nhận được lệnh đi công tác ở Việt Nam. Đồng chí Brốc báo cáo với Bác rằng, lúc đầu người vợ cũng buồn, nhưng khi hiểu rõ ý nghĩa công việc mà chồng sẽ làm thì lại vui vẻ ngay …
Cũng trong cuộc vui ấy, Bác đã đề nghị từng đồng chí chuyên gia hát một bài dân ca của nước mình. Mở đầu là tiếng hát êm dịu của một nữ văn công Việt Nam. Chúng tôi thấy gay quá, bởi vì làm thầy thuốc chúng tôi đâu có tài hát! Mà các chuyên gia nước khác cũng chẳng hơn gì chúng tôi! Nhưng rồi ai cung hát. Đoàn chúng tôi rất ân hận là không thuộc một bài dân ca nào cả cho nên đã xin phép Bác hát bài ''Lữ đoàn Tenlơman'', một bài hát quen thuộc của những người đã từng chiến đấu ở Tây Ban Nha Và Bác cũng gật đầu khen.
Nhờ có lần gặp ấy, được Bác Hồ quan tâm, khuyến khích, tôi càng tự tin trong công việc của mình. Chẳng hạn việc mở rộng xưởng chỉnh hình lúc đầu không phải là đã được nhiều đồng chí Việt Nam tán thành. Tôi đã trình bày ý kiến của tôi với một đồng chí cán bộ cao cấp của Việt Nam và không ngờ Bác cũng biết chuyện này. Cuối cùng ý kiến của tôi đã được Bác, đồng chí Trường Chinh hồi ấy là Tổng Bí thư Đảng và đồng chí Thủ tướng Phạng Văn Đồng ủng hộ.
Ngày 28 tháng 7 năm 1956, nhân dịp khánh thành Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cộng hoà Dân chủ Đức, Bác Hồ đã tới thăm mang đến cho cán bộ, công nhân viên Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Đức niềm phấn khởi đặc biệt. Tiếc rằng, tôi không có mặt hôm đó gì bận đi công tác địa phương. Nhưng ít lâu sau, vào ngày 12 tháng 8, tại cuộc chiêu đãi tiễn Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc nước Cộng hoà Dân chủ Đức đo đồng chí Smítxlơ dẫn đầu đang ở thăm Việt Nam, tôi sung sướng được gặp lại Bác và có điều kiện báo cáo với Người về công việc của chúng tôi. Tôi cũng không quên bày tỏ niềm xúc động của mình về sự quan tâm của Bác. Bác bảo: ''Chúng tôi cảm ơn các đồng chí mới đúng chứ!”. Bác tỏ ý quan tâm đặc biệt với vấn dề làm chân tay giả và công tác thương binh xã hội nói chung. Qua những điều Người hỏi, tôi nhận thấy rất rõ tình cảm yêu thương của Bác đối với những em thương binh. Thật ra, tôi đã nhận thấy điều đó ngay từ khi một đồng chí bác sĩ Việt Nam cho tôi xem bức thư của Bác Hồ gửi anh em thương binh, bệnh binh năm 1948. Lá thư ngắn, nhưng tràn đầy tình thương yêu của vị cha già đối với những người con ưu tú của Tổ quốc, đồng thời thể hiện nội dung hết sức đúng đắn đối với công tác thương binh. Tôi nhớ mãi một câu trong lá thư đó: ''Tôi cùng đồng bào luôn luôn nhớ đến các đồng chí''. Vừa qua, tôi đã được đi nghiên cứu tình hình công tác thương binh trên toàn miền Bắc, vào đến tận khu giới tuyến ở Vĩnh Linh, cho nên đã có thể báo cáo với Bác Hồ một số suy nghĩ của tôi. Bác từng nói ''Thương binh tàn chứ không phế”, tôi nghĩ đó là một ý kiến hết sức quan trọng, bởi vì nó động viên mạnh mẽ anh em thương binh luôn luôn nhìn thấy triển vọng của đời mình, nghĩa là có thể trở thành người có ích cho xã hội. Bác Hồ rất chú ý nghe những điều tôi thưa với Người.
Sau đó, Bác nhìn tôi với vẻ trầm ngâm:
- Đồng chí Ôđơ, đồng chí có vui lòng viết thành văn bản cho tôi những ý kiến đồng chí vừa nói không?
Tôi sung sướng đáp:
- Dạ, thưa Bác, được ạ!
Bác tỏ ý hài lòng. Một lát sau Người lại nói:
- Hay thế này vậy: tôi sẽ đề nghị một nhà báo của chúng tôi đến ghi lại những ý kiến của đồng chí và cho đăng lên báo.
Tôi không ngờ điều tôi nói lại có thể có ích như vậy. Ít hôm sau, có một đồng chí ở báo Nhân dân đến tìm gặp tôi và chúng tôi đã làm việc với nhau trong hai giờ liền theo chỉ thị của Bác. Dĩ nhiên, tôi có thể nói tỉ mỉ hơn là khi thưa chuyện với Bác, và đã nói thêm về tầm quan trọng của thể dục, thể thao đối với sức khỏe của anh em thương binh - thật tình là nó còn quan trọng hơn cả đối với những người thường - nó giúp anh em vững tin ở sức lực của mình, tự thấy làm chủ được sức khỏe của mình, không bị lệ thuộc vào thương tật hay trở ngại vì thương tật. Tôi cũng trình bày một số kinh nghiệm về việc dạy nghề cho thương binh ở Cộng hòa Dân chủ Đức và báo Nhân dân cũng giới thiệu lại.
Là một thầy thuốc, tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với thương binh, một mối quan tâm chứa chan tình thương yêu. Chính tình cảm đó của Người đã động viên tôi nhiều trong những ngày công tác ở Việt Nam cũng như trong suốt quá trình công tác sau này của tôi. Có thể nói: Chúng tôi đã làm việc với tất cả trái tim mình./.
St

ĐẤU TRANH, PHÒNG CHỐNG THÓI “BA PHẢI” VÀ THÁI ĐỘ “ĐIẾC CÓ CHỦ Ý”.

 Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”.

Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn, là chỗ để ngụy biện, che đậy cho những điều sai trái, khuất tất. Vì vậy, trong thực tiễn hoạt động của từng cơ quan, đơn vị, địa phương phải luôn phân tích, chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục những biểu hiện tiêu cực này để hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư trong mỗi cơ quan, đơn vị.
Xưa nay có nhiều cách nói về những người dĩ hòa vi quý. Nào là ông ba phải, gió chiều nào che chiều ấy. Nào là ông mũ ni che tai, khôn ăn người. Nặng nề hơn thì cho rằng đó là kẻ “ngậm miệng ăn tiền”. Thời hiện đại, còn có những cụm từ mới xuất hiện: “tai lành tai điếc”, “đi giữa hai hàng”.
Năm 1947, tại Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”. Bác gọi những kẻ khôn ăn người như thế là “bọn thứ ba”. Đó là những kẻ cơ hội, là khôn mà không ngoan, làm gì cũng nghĩ đến cái lợi riêng mình mà quên đi lợi ích chung, quyền lợi của người khác. Thời nay, "bọn thứ ba" là người ta ám chỉ những người "dĩ hòa vi quý".
Thật ra thành ngữ “dĩ hòa vi quý” khởi thủy của nó là thiện ý tốt. Nôm na rằng, lấy hòa thuận làm vui. Chịu khó nhẫn nhịn một chút, hòa là quý, nhẫn là cao. Đừng vội nổi xung lên, phỉ báng, nhiếc móc nhau, bé xé ra to, mà nên “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”. Đúng như cái nghĩa ngọn nguồn này thì quá hay. Thế nhưng, theo thời gian, theo những diễn biến phức tạp trong đời sống hiện đại mà dần dần cái nghĩa của thành ngữ này bị hiểu chệch, hiểu sai, lắm khi chỉ còn được hiểu theo nghĩa đó là tính cách khôn lỏi, chả bao giờ nêu chính kiến, “tránh voi chả xấu mặt nào”, tránh mất lòng người khác, nhất là mất lòng cấp trên.
"Ngậm miệng" tức là ngược lại với những anh hay phán xét, phách lối, a dua, nói năng văng mạng. Đương nhiên, cả hai thái cực này đều cần phê phán. "Ngậm miệng" mà là “một sự nhịn chín sự lành”, giữ kín chuyện để khỏi tổn thương người khác thì hẳn là điều tốt. Cái nguy hại ở chỗ “ngậm miệng ăn tiền”, tức là đã có chủ ý xấu rồi. Ở một cơ quan nọ, mấy người bảo nhau, cái ông X lúc nào mồm cũng như rùa ăn sung, chả có chính kiến gì. Khi anh ta có ý kiến thì toàn dựa ý cấp trên, dựa ý tập thể, mong “làm rõ thêm” và “hy vọng rằng”. Còn khi cần nói rõ, vấn đề này sai chỗ nào, đúng chỗ nào, thái độ của anh, sẽ xử lý ra sao, thì anh ta sẽ “ném cát bụi tre” bằng những câu chữ mập mờ, nước đôi, đại loại như: "Cần tính toán thêm, nên hỏi lại cơ sở, vấn đề này nhạy cảm, có thể lùi đến phiên họp sau được không?". Hoặc có anh nói ráo hoảnh: “Tôi biểu quyết theo đa số”. Thế nhưng lúc giải lao thì vẫn là anh, rỉ tai người này, vỗ vai người khác: “Ông nói đi, ông nói khách quan hơn tôi. Tội cậu này đáng chém”. Hoặc: “Oan cho nó quá! Đồng chí gần nó lâu sao không nói. Sau này nó oán chúng ta”. Cái kiểu bày tỏ, vận động hành lang này đã cũ lắm, nhưng nó sống dai dẳng và biến ảo rất tinh vi. Nhất là từ khi nó được sự "phù phép" của chiếc điện thoại thông minh vốn chả có tội vạ gì.
Vì sao căn bệnh này tồn tại dai dẳng thế? Vì sao mà không ít cán bộ, trong đó có cán bộ cấp cao cũng mắc thói tai lành tai điếc. Thậm chí có vị chủ trì cuộc họp sắp diễn ra cũng “khó” nói sự thật, bèn nghĩ ra cách gọi điện cho cấp dưới: "Mai chú đề xuất nhé. Anh nêu 3 phương án, chú theo phương án này. Việc này là anh vì chú!". Nó khiến cho người trong cuộc trằn trọc, mất ngủ không đáng có. Nó là mảnh đất cho cái “cây” suy diễn nảy mầm, suy bụng ta ra bụng người, chủ quan và phiến diện.
Vì sao dai dẳng thế, còn là do thái độ cầu an. Nói ra lúc này thế nào đây, khen cũng chết, chê cũng chết. Đại hội đến nơi rồi, bầu bán sát gần rồi, mất phiếu có khi chỉ vì “lộ thiên cơ”, thế là đành trốn vào một cái tham luận vô thưởng vô phạt “mạnh bước trên đường phát triển”. Im lặng còn vì một thỏa thuận ngầm nào đó, lợi ích của tôi, của anh, của “nhóm tôi”, “nhóm anh”. Và người ta đã chọn im lặng.
Vì sao dai dẳng thế? Vì cái chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người, cái tôi lớn quá. Có khi là vì quá đam mê quyền lực, quá ham muốn về vật chất nên đánh mất mình. Quyền lực và danh vọng thường làm hư hỏng con người. Vụ Việt Á gần đây nhất, cái vô lương hoành hành trên nỗi đau khổ của đồng loại là một minh chứng rõ nhất. Có người rao giảng về đạo đức nhưng đã “im lặng” cho thuộc cấp, cho những đơn vị liên quan nhân danh khoa học vi phạm pháp luật.
Rất mừng là, bên cạnh những chuyện kể trên, có rất nhiều gương sáng quanh ta. Trong các cơ quan, đơn vị có rất nhiều những tấm gương sáng-tấm gương trung thực, dám nói thẳng, nói thật. Thấy đúng thì bảo vệ để khuyến khích người tốt, việc tốt, lên án những kẻ cơ hội, đố kỵ, thúc đẩy công việc hoàn thành. Thấy sai thì lên tiếng mạnh mẽ để làm rõ đúng sai, vạch trần tham nhũng, tiêu cực. Có những cán bộ quân đội, cựu chiến binh suốt mấy chục năm không chịu im lặng, kiên quyết đấu tranh vạch trần cái xấu, cái ác, mặc dù có thể nguy hiểm tới bản thân, gia đình. Như trường hợp cựu chiến binh Trần Văn Bính (sinh năm 1946), 20 năm kiên trì đấu tranh chống tham nhũng và cuối cùng đã thành công. Ông đã thẳng thắn nêu vấn đề tiêu cực ra trước Đại hội Đảng bộ phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai, Hà Nội). Bị đe dọa, bị đánh trọng thương ông vẫn không lùi bước. Các cán bộ tiêu cực cũng không mua được sự “im lặng” của ông, dù họ trả “giá” rất cao. Thấy sai mà mình im lặng thì càng sai, ông Bính trả lời đơn giản như vậy.
Một câu hỏi đã có nhiều dịp được trả lời, rằng làm sao đây để chống được căn bệnh “điếc có chủ ý”? Xin thưa, chúng ta vẫn phải tiếp tục trả lời, vì thực tiễn luôn vận động, vì sự diễn biến phức tạp của tình trạng này. Thẳng thắn và trung thực, nói như vậy mà làm thì khó thay! Nhưng nhất định phải làm. Trước hết là phải xây dựng được khối đoàn kết, thật sự dân chủ trong sinh hoạt đảng và các tổ chức chính trị-xã hội. Người đứng đầu đơn vị phải thật sự gương mẫu, đề cao trách nhiệm cá nhân, phải có con mắt tinh đời để nhận ra ai thật, ai giả, ai tạm thời im lặng vì cái chung, ai “ngậm miệng ăn tiền”? Khi anh không nói ra, không hẳn mọi người không biết, vì còn có một nhân chứng nữa, đó chính là lương tâm anh. Và điều không bao giờ cũ: Nghiêm túc tự phê bình và phê bình để nội bộ thật sự đoàn kết, hiểu nhau, tin nhau, hướng đến những giá trị tốt đẹp, nhân văn, vì sự phát triển, vững mạnh của cơ quan, đơn vị; đồng thời cũng vì sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi cán bộ, đảng viên./.
St

Những luận điệu xuyên tạc chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính

 Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Kết luận của Bộ Chính trị, Quốc hội đã có Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 - 2030, có hiệu lực thi hành từ ngày 19/7/2023. Lợi dụng vấn đề này và thời điểm cấp ủy, chính quyền địa phương có những bước nghiên cứu, rà soát chuẩn bị thực hiện, nhiều đối tượng, phần tử cơ hội đã tung ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc chống phá.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SỰ SUY THOÁI

 Ngay từ rất sớm, Đảng ta đã xác định rõ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, hệ thống chính trị là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Và trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái đó, nhân dân đóng một vai trò hết sức quan trọng.

Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân chủ động, tích cực, tự giác trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có hiệu quả, ngày 3/10/2017, Ban Bí thư ban hành Quyết định số 99-QĐ/TW về việc hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sau khi Quyết định số 99-QĐ/TW được ban hành, các cấp ủy, tổ chức đảng tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện mạnh mẽ, sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị và gặt hái được nhiều thành công với nhiều tấm gương sáng, điển hình tiên tiến và nhiều cách làm hay đã xuất hiện.
Cụ thể như cấp ủy, tổ chức đảng tại các tỉnh, thành phố đều đã ban hành các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa và triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 99-QĐ/TW cũng như những Chỉ thị, Nghị quyết Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng phù hợp điều kiện thực tiễn.
Tại nhiều địa phương như Sơn La, Bắc Ninh, Nghệ An… thông qua nhiều hình thức: Tuyên truyền công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở, qua các hội nghị, sinh hoạt chi bộ hay qua các cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa những người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng với cử tri, nhân dân… các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền tại địa phương đã chủ động thông báo công khai rộng rãi và khuyến khích người dân tham gia đóng góp ý kiến, kiểm tra, giám sát về 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên; những điều đảng viên không được làm; việc tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên…
Những ý kiến, góp ý, phản ánh của người dân về các nội dung nêu trên đã kịp thời được các cơ quan chức năng tiếp thu và giải quyết đúng quy định, qua đó khuyến khích nhân dân tích cực, tự giác hơn nữa trong công tác đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên tại địa phương.
Nhiều tỉnh, thành phố, thực hiện tốt trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ủy, cơ quan chính quyền trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với nhân dân từ đó nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tiếp thu và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân nhất là về những vấn đề liên quan đến các biểu hiện tiêu cực, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Đặc biệt, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội ở nhiều tỉnh, thành phố bằng những hình thức và cách làm sáng tạo đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức đại diện của mình thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên tại các tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Cũng chính từ hoạt động giám sát, nhân dân đã phát hiện, tố giác những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, tiêu cực trong tư tưởng, đạo đức, thực thi nhiệm vụ, góp phần không nhỏ giúp các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.
Đánh giá về những thành công đạt được sau 5 năm thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW trên địa bàn cả nước, trong Kết luận số 54-KL/TW, ngày 9/5/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 3/10/2017 của Ban Bí thư về tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ rõ: “Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát huy quyền làm chủ và vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái được nâng lên; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện, đổi mới phương thức hoạt động theo hướng mở rộng dân chủ, công khai để dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát; việc lắng nghe, tiếp thu, giải quyết ý kiến phản ánh của nhân dân có nhiều chuyển biến; phát huy ngày càng tốt hơn quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhân dân tin tưởng, chủ động và tích cực hơn tham gia đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”.
Những thành tựu to lớn trong việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đạt được từ chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và sự nỗ lực, quyết tâm triển khai thực hiện của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương là minh chứng rõ nét nhất, giúp bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng Đảng ta vi phạm dân chủ, quan liêu, xa dân; Đảng không vì lợi ích của dân, của nước mà chỉ tìm cách thâu tóm quyền lực để phục vụ lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ nên dung túng, bao che cho các cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, tiêu cực, có hành vi tham ô, tham nhũng, vi phạm kỷ luật, kỷ cương… Những luận điệu này không có đích đến nào khác ngoài việc xuyên tạc bản chất của Đảng, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, tạo cơ hội cho các thế lực phản động chống phá Đảng, chống phá chế độ.
Tuy vậy, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận thực tế, việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thật sự cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW đầy đủ, kịp thời, bám sát thực tiễn, đặc biệt việc tổ chức thực hiện ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất nên chưa đạt hiệu quả cao. Vẫn còn tồn tại tình trạng nể nang, e ngại, ngại va chạm hoặc ngược lại lợi dụng dân chủ vì những mục đích xấu trong phản ánh, góp ý trực tiếp với cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan chức năng về những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu.
Một số kiến nghị, phản ánh của người dân chưa được xem xét thấu đáo, giải quyết kịp thời. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu vẫn còn một số hạn chế, chưa thật sự đáp ứng tốt yêu cầu của công tác xây dựng Đảng…
Những hạn chế nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhất là việc phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Những quy định về việc công khai, minh bạch thông tin, quy trình, trách nhiệm trả lời, giải quyết kiến nghị sau giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội cũng như việc lấy ý kiến đóng góp, phản ánh, kiến nghị của người dân về mọi vấn đề, nhất là các vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận liên quan các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên còn chưa được bổ sung, hoàn thiện kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Một bộ phận nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền làm chủ và trách nhiệm của mình trong việc tham gia công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị ở các cấp do đó chưa chủ động, tích cực tham gia ý kiến, kiến nghị, góp ý, phản ánh với cấp ủy và chính quyền các cấp, về biểu hiện suy thoái, tiêu cực của cán bộ, đảng viên trong tư tưởng, đạo đức, lối sống và trong thực thi nhiệm vụ; cá biệt còn có trường hợp lợi dụng dân chủ để khiếu nại, tố cáo gây mất đoàn kết trong nội bộ. Ở một số nơi chưa thực hiện tốt cơ chế, chính sách bảo vệ cũng như chưa có sự động viên, khen thưởng kịp thời với những người dân tích cực kiểm tra, giám sát, dũng cảm tố giác những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...
Trong thời gian tới, để tiếp tục phát huy tốt hơn nữa vai trò to lớn của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong nội bộ cần triển khai đồng bộ một số giải pháp như: Tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là vai trò của người đứng đầu trong việc cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm, có hiệu quả Quyết định số 99-QĐ/TW và Kết luận số 54-KL/TW của Ban Bí thư gắn liền với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII cũng như Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để người dân thật sự thực hiện được quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp, của cán bộ, đảng viên và góp ý, phản ánh đến các cơ quan chức năng để giải quyết, xử lý; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội trong việc vận động nhân dân nhận thức đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.
Tăng cường tiếp xúc, đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân, từ đó kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp nhận, trả lời, giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các phản ánh, kiến nghị chính đáng, những khiếu nại, tố cáo chính xác của người dân. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện các cơ chế, chính sách, pháp luật bảo vệ, động viên, khuyến khích người dân phát hiện, tố giác đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, suy thoái và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./.
St

CẢM HỨNG THÁNG TÁM TRONG THƠ TỐ HỮU

 Làm thơ về Cách mạng Tháng Tám-một sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc-có lẽ Tố Hữu là nhà thơ thành công nhất. Bởi ông là nhà hoạt động cách mạng nắm rõ hoàn cảnh trong và ngoài nước, biết được thời cơ, lại là người trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở Huế.

Ngay từ đầu năm 1945, Tố Hữu đã có bài “Xuân đến” khẳng định niềm tin giải phóng: Hỡi người bạn! Vui lên đi! Ất Dậu/ Sẽ là năm khởi nghĩa, năm thành công!/ Trời hôm nay dầu xám ngắt màu đông/ Ai cản được mùa xuân xanh tươi sáng/ Ai cản được những đoàn chim quyết thắng/ Sắp về đây tắm nắng xuân hồng? Tính “tiên tri” này hoàn toàn biện chứng với một người hiểu lịch sử, lăn lộn với thực tế và thêm sự nhạy cảm của một nhà thơ như Tố Hữu.
Là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế, sinh ra, trưởng thành, hoạt động ở Huế nên thời điểm ấy, Tố Hữu hiểu Huế hơn ai hết. Chỉ với một “Huế tháng Tám” đủ khẳng định nhà thơ thấu hiểu và thấu cảm đến từng rung động nhỏ của vùng đất sắp trở thành “cố đô”: Huế trầm mặc hôm nay sao khác khác/ Những mắt huyền ngơ ngác hỏi thầm nhau/ Chân nôn nao như khách đợi mong tàu/ Bước dò bước, không biết sau hay trước?/ Tim hồi hộp, vì sao? Ai hẹn ước/ Ai đang về? Dáng đó thấp hay cao?/ Mắt sáng ngời, như lửa hay như sao?/ Người hay mộng? Ngoài vào hay trong tới? Sự tương phản không gian “trầm mặc/ khác khác”; các từ láy (khác khác, ngơ ngác, nôn nao, hồi hộp); các câu hỏi dồn dập diễn tả rất đạt một sự thay đổi “thầm kín”. Hô ngữ “ai” được điệp lại tăng cường thêm tính “hồi hộp” cho một biến cố lớn sắp xảy ra. Phép so sánh về đôi mắt của “ai” ấy (Mắt sáng ngời, như lửa hay như sao?) cho thấy đó là một tín hiệu tốt đẹp. Thì ra “ai” ở đây được ngầm hiểu là một “lãnh đạo cấp trên” về “chỉ đạo phong trào”!
Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Ngày 20-8, Ủy ban khởi nghĩa được thành lập tại Huế quyết định khởi nghĩa vào ngày 23-8. Ngay trong sáng 23-8, nhân danh Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa, đồng chí Tố Hữu viết tối hậu thư cho Bảo Đại yêu cầu chính quyền Nam triều giải tán, nhà vua phải tuyên bố thoái vị, chính quyền cách mạng thuộc về nhân dân... Những cành lá chi tiết của cây đời sống thực tế lịch sử ấy ngả bóng vào bài thơ, phả vào đó cả tinh thần xứ Huế đang sôi sục chuẩn bị giành chính quyền: Lòng muôn dân rần rật lửa căm hờn/ Máu giải phóng đã sôi dòng nhân loại!/ Người phải xuống, đêm nay, đêm chiến bại/ Để toàn dân chiến thắng giữ ngôi son!/ Người phải lui, cho dân tiến, Nước còn/ Dân là chủ, không làm nô lệ nữa!/ Hãy mở mắt: Quanh hoàng cung biển lửa/ Đã dâng lên, ngập Huế đỏ cờ sao.../ Một dân tộc đã ào ào đứng dậy! Thay mặt nhân dân Huế, Tố Hữu “đối thoại” với “người” (tức Bảo Đại) vạch ra cho “người” thấy sức mạnh và lẽ phải của “lòng muôn dân”, của “máu giải phóng” nên tất yếu “người phải xuống”, “người phải lui”. Nhịp thơ nhanh, hùng tráng, sôi động. Các động từ mạnh: “Rần rật”, “sôi”, “dâng lên”, “ào ào”... Các hình ảnh gây ấn tượng về một không gian bừng bừng như lửa: “Biển lửa”, “ngập Huế đỏ cờ sao”... Không ở cương vị lãnh đạo khởi nghĩa, không có tài thơ không thể có những dòng cảm xúc mang tính thời đại như thế.
16 giờ ngày 23-8, tại sân vận động Huế, hàng vạn người dân tập trung dưới rừng cờ sao vàng chứng kiến Ủy ban khởi nghĩa tiếp nhận chiếu thoái vị của Bảo Đại. Đồng chí Tố Hữu sau này khẳng định: “Có lẽ trong lịch sử ở Thừa Thiên Huế, chưa có một ngày hội lớn và đẹp đến thế”. Tất yếu hình ảnh thiêng liêng ấy, cảm xúc trào dâng ấy đi vào thơ như một lẽ tự nhiên: Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh/ Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời/ Có con chim nào trong tóc nhảy nhót hót chơi/ Ha! Nó hót cái gì vui vui nghe thiệt ngộ!/ Gió gió ơi! Hãy làm giông làm tố/ Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi/ Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!/ Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác/ Ôi thiên đường! Tai miên man lắng nhạc/ Từ muôn phương theo gót nện rầm rầm/ Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn năm! Một đóng góp lớn của Tố Hữu trong tập “Từ ấy” là thổi bùng lên cảm hứng hồi sinh mà bài thơ này là rõ nhất. Các hình ảnh tương phản: “Lép”/ “gió mạnh”, “mặt trời”; các động tính từ mạnh, các danh tính từ có sức biểu cảm lớn: “Thổi phồng lên”, “gió”, “giông tố”, “cuốn tung lên”, “máu thơm tươi”, “vàng”, “sao”, “thiên đường”, “rầm rầm”... đã tạo ra một không khí hừng hực cực kỳ sôi động. Hẳn nhiên chủ thể trữ tình “ta” phải có tâm trạng vui nhất, hồ hởi nhất. Lúc này cảm hứng lấn át, chi phối lý trí. Câu thơ phải “mê” đi: “Có con chim nào trong tóc nhảy nhót hót chơi”. Người cũng như “mê” đi: “Ta ngã vật...”. Đừng nhìn những câu thơ như thế bằng lý trí tỉnh táo, phải say cùng cái say của nhà thơ mới phần nào cảm nhận được cái lý của thơ.
Thơ là tiếng nói của hồn người. Thơ còn là tiếng nói của thời đại. Có thể đọc sách báo, xem phim ảnh để thấy lại những hình ảnh thiêng liêng ấy nhưng sẽ không có được cảm xúc vui đến vô cùng như trong những dòng thơ trên. Thơ hay bao giờ cũng ý nghĩa là vì vậy. Có người “phê” thơ Tố Hữu là thơ chính trị. Nói chính trị bằng thơ như ở “Huế tháng Tám” này còn hay vạn lần những “thơ phi chính trị” mà chẳng có nghệ thuật, cảm xúc gì!
Ba ngày sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công ở Huế, ngày 26-8-1945, trong mạch cảm hứng ấy, Tố Hữu viết bài thơ “Hồ Chí Minh”. Theo lời nhà thơ kể lại là viết bằng cảm xúc và tưởng tượng vì chưa được gặp Bác. Đúng là “tưởng tượng”, hình tượng Bác Hồ khác nhiều so với chính thơ Tố Hữu sau này: Người xông lên/ Và cả đoàn quân, thừa huyết khí thanh niên/ Rập bước tiến bên người Cha anh dũng/ Tiếng Người thét/ Mau lên gươm lắp súng! Một tưởng tượng đáng mến nhưng không mới: Bác Hồ-“Người Cha anh dũng” dẫn đầu một đoàn quân “xông lên” đánh tan bè lũ thực dân phong kiến giành lấy tự do. Không khác mấy với hình ảnh tráng sĩ trong văn thơ cổ điển phương Đông, Bác Hồ hiện lên như một tướng quân cảm tử giữa sa trường. Cả “đoàn quân” theo chân Người cũng có vẻ “lên gân”, “hoành tráng” quá, thiếu chất tự nhiên: “Mắt sáng quắc như gươm trần mã tấu”. Nhưng bù lại cái thiếu khuyết đó là mạch cảm hứng sôi trào và sự nồng nhiệt tràn đầy của quyết tâm giải phóng: Chúng tôi đây/ Lớp con cháu trên đường/ Gươm tuốt vỏ, súng cầm tay, xốc tới.
Chỉ biển cả mới có sóng lừng. Sông ngòi làm gì có sóng. Làm thơ cũng vậy. Phải có cảm hứng biển cả mới kết được những con sóng tứ thơ lạ và tầm cỡ. Sống giữa biển cả nhân dân và tự tạo cho mình cảm hứng biển cả, Tố Hữu thấm thía dân tộc mình từ “đói nghèo trong rơm rạ” (đầu năm 1945, khoảng 2 triệu đồng bào ta chết đói) mà vùng dậy đòi độc lập. Đó là cảm hứng hồi sinh của cả dân tộc và thời đại chứ không riêng gì Tố Hữu, chỉ khác là ông “thơ hóa” những sự kiện ấy. Cảm hứng lớn sẽ bền bỉ theo thời gian. Một năm sau, ngày 2-9-1946, Tố Hữu có bài “Vui bất tuyệt” tái hiện niềm vui vô biên, tuyệt đỉnh khi cách mạng thành công: Biển sống trào lên thành đại hội/ Muôn màu vũ trụ kết hoa đăng/ Xôn xao mặt đất, trăng là trăng/ Chảy xiết ngân hà, muôn sao vàng rực/ Mặt trời đỏ huyền kỳ mọc lên, ôi náo nức/ Nhạc nhân gian cuồn cuộn bốc hồng trần!
Từ trong cái chết, cách mạng đem đến cho ta sự sống. Không phải là sự sống tầm thường mà là sự sống “vô biên và tuyệt đích”. Một sự đổi thay triệt để “muôn màu vũ trụ kết hoa đăng”. Cả nhân gian tràn ngập hình ảnh, màu sắc, âm thanh. Tất cả như phát sáng rực rỡ. Tất cả như “xôn xao”, “cuồn cuộn”. Tất cả đều “náo nức”... Trong niềm vui trọn vẹn và bất tận, cả một vũ trụ “trào lên”, “chảy xiết” chỉ trong một đoạn thơ ngắn. Phải đích thực là một tài năng lớn mới có tứ thơ ấy, thi liệu, thi pháp thơ ấy. Cảm hứng giục giã “ta đi...”, “ta đi...” là tất nhiên: Ta đi tới, biết đâu là tuyệt đích?/ Người cuốn lôi ta, ta cuốn lôi người/ Đi đi hoài, đi mãi anh em ơi/ Đây cuối đất hay đầu trời chẳng biết/... Lòng ta múa lồng lên theo đám rước/ Ta xông lên trời với pháo thăng thiên”!
St

BẾ MẠC HỘI NGHỊ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI HOẠT ĐỘNG CHUYÊN TRÁCH

 Sau 2,5 ngày làm việc khẩn trương, tích cực, sáng 30/8, Hội nghị Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách đã hoàn thành toàn bộ các nội dung theo kế hoạch. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải phát biểu bế mạc hội nghị.

Tại hội nghị, 8 dự án luật đã được các đại biểu thảo luận với nhiều ý kiến sâu sắc, trách nhiệm, xác đáng cần nghiên cứu kỹ lưỡng để tiếp thu, hoàn thiện các dự án luật.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải cho biết, cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan chủ trì soạn thảo cũng đã công phu, trách nhiệm, cầu thị để chuẩn bị tài liệu trình hội nghị và giải trình, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội. Các ý kiến phát biểu nhất trí với nhiều nội dung đã được tiếp thu, chỉnh lý.
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cơ quan, nhất là cơ quan chủ trì thẩm tra và cơ quan chủ trì soạn thảo và cần khẩn trương, tích cực, tập trung thời gian, nhân lực để rà soát, hoàn thiện luật bảo đảm chất lượng và tiến độ. Đồng thời cũng đóng góp thêm nhiều ý kiến để hoàn thiện dự án luật.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ phối hợp với Chính phủ chỉ đạo cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiêm túc tiếp thu ý kiến để tiếp tục hoàn chỉnh các dự thảo luật, các hồ sơ, tài liệu của các dự án luật, trình Quốc hội xem xét, quyết định theo đúng quy định của pháp luật./.
St

Phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn, chống quan điểm sai trái để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới

 

Trong cuộc đấu tranh để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh-hệ thống tư tưởng mang ý nghĩa và giá trị thời đại, thì việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là một trong những giải pháp quan trọng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Vấn đề này luôn là cốt yếu nhằm thống nhất những nhận thức chưa đúng, đồng thời phản bác sự xuyên tạc nhằm hạ thấp, phủ nhận những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

ÔNG CỨ VIỆC SANG THĂM

 Tháng 9 này, Ông cứ việc sang thăm

Ngồi Hồ Gươm ngắm trăng rằm Hà Nội
Người Việt chúng tôi chẳng bao giờ nói dối
Ông thăm rồi chẳng vã vội về ngay.
Hà Nội bây giờ rợp bóng cờ bay
Cả dân tộc chung vui ngày Quốc khánh
Trời vào thu, gió heo mây se lạnh
Chắc Ông sang canh cánh trong lòng.
Gạt bớt bao điều để gạn đục khơi trong
Gác thù hận để viết dòng nhân ái
Muốn làm bạn đừng bao giờ quản ngại
Sống nhân văn, biết phải trái, ân tình.
Sang nước Việt đừng bạn chuyện liên minh
Chớ lôi kéo, chia rẽ tình bè bạn
Để nhân loại sống cảnh đời tươi sáng
Gác hận thù, vứt súng đạn, làm ăn.
Tuổi già rồi, chớ suy nghĩ băn khoăn
Hãy bình thản đừng nhọc nhằn, vất vả
Bởi người Việt chẳng thích điều ồn ả
Dân chủ, nhân quyền kẻ cả giảng rao.
Sức tuổi già nên ông chớ knock out
Đừng dại dột đụng chạm vào nhân cách
Bởi người Việt một giống nòi hiển hách
Trọng nghĩa tình, chẳng cầu cạnh van xin.
Chẳng lấy vũ khí để đánh đổi niềm tin
Lấy dola để nhấn chìm dũng khí
Người Việt chúng tôi thích những điều bình dị
Lấy nghĩa nhân làm chân lý muôn đời.
Ông sang thăm, cứ thanh thản dạo chơi
Ăn bún ốc, uống bia hơi, trà Thái
Hãy vui lên có gì đâu mà ngại
Người Việt chúng tôi nhân ái bạn bè.
Thích Đàn bầu dân họ gẩy Ông nghe
Cà phê đá, ngồi vỉa hè bình thản
Ông sẽ thấy tâm hồn mình tươi sáng
Có chân thành tình bạn mới bền lâu./.
St

TẤM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI CHIẾN SĨ


 Đối với chiến sĩ là những người hy sinh nhiều nhất cho dân tộc, Bác Hồ thường dành cho anh em sự chăm lo, săn sóc ân tình, chu đáo nhất.

Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay bưng biền, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng, bán đấu giá để lấy tiền mua áo ấm gửi cho các chiến sĩ.
Bác thường nói: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được!”. “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi!”.
Mùa hè năm ấy (1967), trời Hà Nội rất nóng. Sức khỏe Bác Hồ đã kém, thần kinh tuổi già cũng suy nhược, dễ bị toát mồ hôi, ướt đầm, có ngày phải thay mấy lần quần áo, có khi hong tại chỗ, rồi lại thay ngay. Bác không cho dùng máy điều hoà nhiệt độ. Bác bảo: Mùi nó hôi lắm, Bác không chịu được! (Bác không dùng nên nói vậy thôi).
Thấy trời oi bức quá, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:
- Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trường Ba Đình thì sao chịu được? Các chú ấy có đủ nước uống không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.
Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng 14 ly 5. Ụ cát sơ sài, nêu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm.
Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:
- Các đồng chí có nước ngọt uống không?
- Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!
Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng:
- Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội trường rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu!
Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.
Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Lương Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ tiêu. Mọi chi phí sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà, đều ghi vào lương cả.
Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp Tết Nguyên đán, Bác lại đem chia cho cán bộ các cơ quan chung quanh Bác mua lợn để đón xuân.
Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:
- Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 luợng vàng).
Bác bảo:
- Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói: “Đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!”.
Về sau, Bộ Tư lệnh Phòng không quân báo cáo lại cho Văn phòng Phủ Chủ tịch biết: Số tiền của Bác mua nước uống cho bộ đội phòng không, không quân được một tuần./.
St

TÔI LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN NHƯ THẾ NÀY NÀY!

 Bác Hồ của chúng ta, từ sau khi bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba tại Đại hội Tua Đảng Xã hội Pháp đêm 30-12-1920, thì cũng từ giờ phút ấy, Người trở thành người cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, như Người đã nói rõ, là do trải qua thực tế đấu tranh và nghiên cứu lý luận, Người đã hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Trong gần 50 năm mang danh hiệu người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn dù khi chỉ là một người thợ ảnh bình thường hay đã trở thành vị Chủ tịch nước đầy uy tín và danh vọng, ở buổi cách mạng thắng lợi giòn giã hay khi bị kẻ thù dồn dập phản kích, lúc nào Bác Hồ của chúng ta cũng tỏ ra là một người cộng sản kiên định, thuỷ chung, nghĩa khí, thắng không kiêu, bại không nản, vô cùng khiêm tốn nhưng cũng rất mực tự hào về danh hiệu người cộng sản của mình.
Đã có thời, có người quá nhấn mạnh phẩm chất siêu việt của người cộng sản, cho rằng đó là những người có một tính cách đặc biệt riêng.Không biết đó có phải là một trong những nguyên nhân đẻ ra cái gọi là “thói kiêu ngạo cộng sản” hay không?
Có điều chắc chắn rằng Bác Hồ của chúng ta không tán thành cách nói thậm xưng đó, nhất là khi Đảng cầm quyền, vào lúc cách mạng đang thuận lợi. Người nói: ''Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân của nhân dân lao động...Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường cho nên Đảng ta rất vĩ đại''.
Người đã từng nói nhiều lần: Người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu.
''Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra''. ''Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên mình họ có hơi bùn, vết bùn... Cần phải tắm rửa lâu mới sạch''. Vì vậy, Người dạy: Không phải cứ khắc lên trán hai chữ ''cộng sản'' là được nhân dân tín nhiệm đâu; phải khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải nhớ mình vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân.
Bác Hồ của chúng ta, trong cuộc đời hoạt động cách mạng đi Âu về Á, đã từng đối mặt với bao gian khổ, khó khăn (hai lần ngồi tù: 1931-1933 và 1942-1943), đã từng lãnh án tử hình vắng mặt (năm 1929); nhưng vì tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân, tin ở chính mình nên lúc nào Người cũng ung dung, tự tại, luôn thể hiện nhân cách cao đẹp của người cộng sản.
Năm 1931, khi Người bị nam trong nhà ngục Vichtoria của đế quốc Anh tại Hồng Kông hoặc khi bị bệnh phải đưa vào nhà thương, nhiều “ông bà” người Anh có quyền thế và cả một số nhân viên người Trung Quốc đã rủ nhau đến xem, ý chừng họ muốn thấy mặt mũi “lạ lùng” của một người cộng sản! Cuối cùng, họ đã bắt gặp một nhân cách lớn mà họ rất khâm phục và sẵn lòng giúp đỡ từ đó.
Năm 1944, tại Liễu Châu, tuy Người được ra khỏi ngục Quốc dân đảng, nhưng vẫn bị quản thúc vì họ biết Người là lãnh tụ cộng sản, hông muốn thả cho về nước. Bác Hồ nói thẳng với Trương Phát Khuê: Tôi là người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam. Chính lòng yêu nước, đức độ và tài trí của Bác Hồ đã làm cho Trương cảm phục, trả 1ại tự do và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Người trở về Việt Nam.
Năm 1946, ở Pari, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa cộng sản đối với Bác, bằng cách đưa ra một câu hỏi:
- Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?
Bác Hồ của chúng ta liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói:
- Tôi là người cộng sản như thế này này !
Đó cũng là điều giúp ta có thể hiểu được vì sao mấy chục năm qua, thế giới có bao sự đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi như một biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa của hoà bình, một kiểu người cộng sản hài hoà giữa yêu nước và quốc tế, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá, phương Đông và phương Tây.
Có thể dẫn ra đây một ý kiến, trong rất nhiều ý kiến của nhà báo Mỹ Saphơlen, viết từ năm 1969:
“Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nếu có ai bảo đấy là một người cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một người cộng sản khác với quan niệm chúng ta vẫn thường nghĩ; và theo tôi, có thể dùng một từ mới: Một người cộng sản phương Đông, một người cộng sản việt Nam''./.
St

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”

 

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ xác đáng, hữu hiệu để bác bỏ luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”.

HƯỚNG DẪN VIÊN ĐẶC BIỆT

 Mỗi dịp sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tá, nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng, nguyên phóng viên Báo Quân đội nhân dân, người mà sinh thời, Đại tướng đặc cách cho “đến gặp mà không cần hẹn trước”, lại hành quân về viếng mộ và thăm quê hương của Đại tướng. Năm nay, tôi vinh dự được tháp tùng ông trong suốt hành trình 10 ngày tại xứ Quảng.

Được coi như người thân trong gia đình nên Đại tá Trần Hồng và tôi lưu lại một ngày đêm tại quê nhà An Xá (xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) của Đại tướng. Nhờ vậy, tôi có cơ hội trò chuyện khá lâu với ông Võ Đại Hàm, sinh năm 1943, là cháu gọi Đại tướng Võ Nguyên Giáp bằng ông (cụ nội của ông Võ Đại Hàm là anh ruột của bố Đại tướng Võ Nguyên Giáp).
Cái bắt tay chắc nịch cùng dáng người cao gầy, lưng có phần còng xuống với nước da ngăm đen của ông cho người đối diện cảm giác đây đúng là một lão nông chăm chỉ, cần mẫn. Chính nhờ bàn tay chăm sóc của ông mà ngôi nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp nằm yên bình bên dòng Kiến Giang cây cối luôn xanh mát, sân vườn sạch sẽ. Mỗi hiện vật được lưu giữ tại đây, ông Hàm đều nâng niu, trân trọng giữ gìn. Ông bảo, dù bận đến mấy thì thói quen dậy sớm mỗi sáng, nhanh chóng từ nhà riêng chỉ cách một khoảng sân sang thắp hương cho Đại tướng rồi cẩn thận sắp xếp, lau dọn kỹ càng ban thờ không bao giờ ông quên.
Theo lời kể của ông Hàm, thời kỳ chiến tranh, ngôi nhà bị tàn phá, hư hỏng nặng nề và đến năm 1978 được khôi phục trên nền đất cũ của tổ tiên. Ông cũng chính thức trông nom từ ngày đó. Theo thời gian, ngôi nhà cũng bị xuống cấp. Ông Hàm cho biết: “Sau này, nguyện vọng đầu tư phục dựng ngôi nhà được lãnh đạo huyện Lệ Thủy nhiều lần xin ý kiến nhưng Đại tướng đều chưa đồng ý. Phải đến tháng 8-1999, Đại tướng về thăm quê. Biết tin, nhiều tầng lớp nhân dân đã đến trụ sở ủy ban tỉnh chúc mừng sinh nhật và bày tỏ mong muốn được cùng Đại tướng về thăm quê. Nhân cớ đó, lãnh đạo huyện Lệ Thủy tiếp tục đặt vấn đề với Đại tướng về việc tôn tạo, trùng tu ngôi nhà. Lần này, Đại tướng nhất trí và ủy quyền cho cô Võ Hồng Anh thay mặt gia đình trao đổi với huyện về công việc liên quan”.
Sau một thời gian chuẩn bị, bản thiết kế ngôi nhà kiểu 3 gian, 2 chái, 5 lồng theo nguyên bản truyền thống xưa được hình thành. Đoàn cán bộ huyện Lệ Thủy ra tận Hà Nội để xin ý kiến Đại tướng. Đầu năm 2001, ngôi nhà chính làm bằng gỗ trường chua, gỗ gụ 3 gian 2 chái lợp ngói và nhà ngang (làm bếp, khu vực để đồ dùng sinh hoạt gia đình...) lợp tranh được dựng trên nền đất cũ. Ở nhà chính, gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên. Phía trên cùng có ảnh cụ Võ Quang Nghiêm và Nguyễn Thị Kiên-thân sinh của Đại tướng. Hiện nay, phía ngoài cùng là bàn thờ đặt tượng và di ảnh của Đại tướng. Gian bên phải là nơi kê chiếc sập gụ, gian bên trái đặt bộ tràng kỷ làm nơi cho du khách ngồi viết sổ lưu niệm... Tháng 10-2020 xảy ra trận đại hồng thủy. Nước dòng Kiến Giang dâng cao, ngập ngang nhà. Do được dự báo trước tình hình mưa lũ nên tôi đã cẩn thận gói ghém đồ đạc, chất lên chỗ cao hoặc gửi ở nơi an toàn. Lũ rút hết, căn nhà ngập trong bùn nước, tôi cùng vợ con ra sức quét dọn, lau chùi. Chính quyền và Quân đội cũng cử lực lượng đến giúp đỡ ngày đêm nên căn nhà nhanh chóng sạch sẽ. Phần hư hỏng cũng được một doanh nghiệp hảo tâm sửa chữa. Trong vòng hai tháng, ngôi nhà đã trở lại nguyên trạng”-ông Võ Đại Hàm kể.
Hiện nay, Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Lệ Thủy là điểm tham quan thu hút khách thập phương khi đến Quảng Bình. Mùa du lịch, mỗi ngày có hàng trăm lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan. Và những ai từng một lần đến đây sẽ không quên “hướng dẫn viên đặc biệt” là ông Võ Đại Hàm. Tuổi tác mỗi ngày một cao, nhưng khi có khách đến tham quan, ông Hàm lại quên mệt để tiếp đón, trò chuyện vui vẻ. Dù chưa học qua bất cứ lớp nghiệp vụ nào nhưng vì ngôi nhà và các hiện vật ở đây đã quá quen thuộc, gắn bó với ông nên mọi thứ qua lời giới thiệu của ông rất rõ ràng, chuyên nghiệp. Đặc biệt, những câu chuyện mà ông kể đều cho thấy sự hiểu biết và tấm lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với Đại tướng. Trò chuyện với tôi, ông Hàm cho hay, bản thân không nhớ đã tiếp bao nhiêu người, bao nhiêu đoàn đến tham quan, nhưng dù đó là ai, ông cũng đều sẵn sàng chào đón và phục vụ khi sức khỏe còn cho phép./.
St

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Nhân tố quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

 

Tháng Tám năm 1945, chớp thời cơ “ngàn năm có một,” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam , đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta không phân biệt giàu nghèo, giai tầng, không phân biệt tôn giáo, xu hướng chính trị cùng vùng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa “long trời, lở đất”, giành chính quyền trên phạm vi cả nước, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo.!
Thắng lợi ấy cũng minh chứng cho bản lĩnh và trí tuệ của Ðảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn -
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội./.
St

Lôi kéo gần 1.000 người tham gia khiếu kiện kéo dài, một đối tượng bị khởi tố

 Từ năm 2018 đến nay, Hoàng Văn Luân đã nhiều lần đầu đơn lôi kéo người dân Hà Tĩnh khiếu kiện với 18 lượt đoàn, 981 lượt người đi khiếu kiện ở xã, huyện, tỉnh và Trung ương, gây phức tạp về tình hình an ninh trật tự.

Ngày 23/8, Thượng tá Lê Xuân Thủy, Trưởng Công an huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra Lệnh bắt để tạm giam đối với Hoàng Văn Luân (SN 1988), trú tại xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331, Bộ Luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kết quả điều tra cho thấy, từ năm 2018 đến nay, ngày 25/11/2019, Hoàng Văn Luân bị Công an phường Quang Trung, quận Hà Đông, TP Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng bằng hình thức cảnh cáo.
Thời gian qua Hoàng Văn Luân đã trở thành đối tượng chủ mưu, cầm đầu, nhiều lần đầu đơn, trực tiếp lôi kéo người dân Hà Tĩnh với 18 lượt đoàn, 981 lượt người đi khiếu kiện ở xã, huyện, tỉnh và Trung ương, gây phức tạp về tình hình an ninh trật tự.
Trong đó, có nhiều dự án trọng điểm đang triển khai trên địa bàn Hà Tĩnh nhưng không liên quan đến quyền lợi của gia đình Luân, điển hình là dự án đường bộ cao tốc Bắc Nam. Việc xúi giục nhiều hộ dân tham gia khiếu kiện của Luân đã khiến dự án chậm tiến độ giải phóng mặt bằng, gây phức tạp về an ninh trật tự.
Cơ quan điều tra xác định, hành vi của Hoàng Văn Luân đã sử dụng quyền tự do dân chủ, quyền khiếu nại, tố cáo để trục lợi, xâm phạm quyền và lợi ích của tổ chức. Hành vi này ngày càng nguy hiểm, không thể cảm hóa, thuyết phục./.
Ảnh: Đối tượng Hoàng Văn Luân (ngoài cùng bên trái) cầm đầu một nhóm người từ Hà Tĩnh ra Hà Nội khiếu kiện về việc dự án cấp thoát nước Khu kinh tế Vũng Áng chậm tiến độ./.
St