Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023

Việt Nam-Indonesia sớm đưa thương mại song phương vượt 15 tỷ USD

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 43 và các hội nghị liên quan tại Jakarta từ 4 đến 7-9 hứa hẹn nhiều cơ hội hợp tác, sớm đưa thương mại song phương vượt 15 tỷ USD và theo hướng cân bằng.

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1955 đến nay, quan hệ Việt Nam – Indonesia vẫn luôn phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Indonesia là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam tại khu vực; trong đó, hợp tác kinh tế đang có những bước tiến lớn. Hơn nữa, hai nước đều là những thành viên tích cực trong Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), luôn hợp tác để đóng góp cho sự phát triển của Cộng đồng Kinh tế ASEAN. 

Chính vì vậy, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 43 và các hội nghị liên quan tại Jakarta từ 4 đến 7-9 hứa hẹn nhiều cơ hội hợp tác, sớm đưa thương mại song phương vượt 15 tỷ USD và theo hướng cân bằng. 

Thị trường nhiều dư địa

Vụ Thị trường châu Á- châu Phi (Bộ Công Thương) cho biết: Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – Indonesia thời gian qua ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ. Việt Nam và Indonesia đều là hai nền kinh tế có nhiều tiềm lực, đang trỗi dậy, đang phát triển nhanh chóng. 

Indonesia là nền kinh tế lớn thứ 16 trên thế giới, lớn thứ nhất trong ASEAN và cũng là thị trường lớn nhất ASEAN với hơn 270 triệu người tiêu dùng; trong đó, tầng lớp trung lưu có quy mô ngày càng tăng. 

Hơn nữa, đây cũng là thị trường còn nhiều dư địa cho sản phẩm hàng hóa của Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng đang là thị trường có nhiều tiềm năng để Indonesia thúc đẩy hợp tác cả về thương mại và đầu tư.

Theo Vụ Thị trường châu Á - châu Phi, kim ngạch thương mại giữa hai nước cũng ghi nhận sự tăng trưởng tích cực. Nếu như năm 2013, kim ngạch thương mại song phương chỉ đạt 4,8 tỷ USD nhưng sau 10 năm, kim ngạch đã tăng gần 3 lần, đạt 14,1 tỷ USD vào năm 2022.

Tính riêng 4 tháng đầu năm 2023, kim ngạch thương mại song phương đã đạt hơn 4,2 tỷ USD; trong đó, xuất khẩu sang Indonesia đạt 1,6 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2022. Dự kiến, năm 2023 kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Indonesia có thể đạt hoặc vượt mức 15 tỷ USD.

Tại khu vực Đông Nam Á, Indonesia hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Indonesia tại Đông Nam Á.

Đáng lưu ý, Việt Nam là nhà cung cấp có uy tín, chất lượng nhiều sản phẩm cho thị trường Indonesia như gạo, cà phê, cao su, thủy sản, hàng dệt may, giày dép, điện thoại di động và linh kiện, sắt thép, vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa...

Mặt khác, nhiều mặt hàng thế mạnh của Indonesia như than đá, linh kiện phụ tùng ô tô, dầu cọ, chất dẻo nguyên liệu, thức ăn gia súc và nguyên liệu, hóa chất, kim loại thường… cũng được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, nhập khẩu để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh hợp tác song phương, hai nước cũng đã có sự phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau trong các khuôn khổ hợp tác kinh tế đa phương như Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị Thượng đỉnh hợp tác Á-Âu (ASEM), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)...

Ông Phạm Thế Cường - Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Indonesia cho biết: Chỉ trong 4 tháng năm 2023 xuất khẩu gạo sang thị trường Indonesia thu về 149 triệu USD, tăng đột biến 2.514% so với cùng kỳ năm 2022. Bên cạnh việc nhập khẩu gạo, Indonesia còn là thị trường rất tiềm năng cho doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm Việt Nam khai thác.

Với 275 triệu người, Indonesia có dân số đông thứ 4 thế giới, đồng thời là nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, nhập khẩu lương thực và thực phẩm, đồ uống chiếm 6,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của quốc gia này, tương ứng 16 tỷ USD.

Thực phẩm và đồ uống nhập khẩu của Indonesia tập trung vào nhóm sản phẩm từ sữa, đạt kim ngạch 1,2 tỷ USD, đồ uống có đường 120 triệu USD, bánh kẹo 75 triệu USD, ngũ cốc 541 triệu USD, nhóm rau củ quả chế biến đạt 222 triệu USD.

Theo ông Phạm Thế Cường, nhóm hàng hiện đang xuất khẩu, một số nhóm hàng Việt Nam có thể mở rộng xuất khẩu sang Indonesia như phở, bún, mỳ ăn liền, sủi cảo, há cảo đông lạnh nhân thủy sản, thịt bò.

Về hoa quả đóng hộp có vải, nhãn, Indonesia không có lợi thế so sánh nhóm hàng này trong khi chưa mở cửa với quả vải và nhãn tươi của Việt Nam. Ngoài ra, còn có sữa và sản phẩm từ sữa, mật ong, cà phê uống liền, nước chanh leo.

Chủ động tiếp cận

Để thuận lợi trong xúc tiến quảng bá sản phẩm, ông Phạm Thế Cường cho hay: Với đa số dân số theo đạo Hồi, Indonesia là thị trường có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm có chứng chỉ Halal lớn nhất thế giới. Do vậy, doanh nghiệp xuất khẩu nên chủ động tìm hiểu và xin chứng nhận Halal của Indonesia.

"Chứng nhận Halal luôn là câu hỏi đầu tiên của bất cứ nhà nhập khẩu, phân phối nào của Indonesia khi có sản phẩm thực phẩm, đồ uống muốn tiếp cận thị trường này", ông Phạm Thế Cường cho biết.

Nhằm đồng hành cùng doanh nghiệp, Thương vụ Việt Nam tại Indonesia sẽ tổ chức gian hàng tại một số hội chợ lớn tổ chức ở nước sở tại; thường xuyên tổ chức toạ đàm kết nối giao thương online đến nhà nhập khẩu lớn của Indonesia.

Trong năm 2023, Thương vụ cũng tổ chức phiên tư vấn giới thiệu về quy định Halal của Indonesia để giúp doanh nghiệp xuất khẩu có thêm thông tin về chứng nhận này nói riêng, thị trường Indonesia nói chung.

Bên cạnh việc doanh nghiệp chủ động tham gia xúc tiến thương mại, tìm kiếm đối tác, mở rộng xuất khẩu sang Indonesia nhưng cần lưu ý biện pháp phòng vệ thương mại tại quốc gia này.

Mặt khác, để thúc đẩy hạ nguồn chế biến chuyên sâu, gia tăng giá trị sản phẩm, Indonesia dự kiến cấm xuất khẩu 21 nhóm hàng dưới dạng thô chưa qua chế biến từ nay đến năm 2040. Trước mắt, cấm xuất khẩu bauxite thô từ tháng 6-2023, tiếp đó là mặt hàng đồng và thiếc.

Trong danh mục 21 nhóm hàng dự kiến đưa vào nhóm hàng cấm xuất khẩu có một số nhóm hàng liên quan ảnh hưởng đến Việt Nam trên thị trường như: Than, tôm, thủy sản, cua, rong biển, gỗ xẻ…

"Ngoại trừ bauxite đã có thông báo chính thức cấm xuất khẩu dưới dạng thô, các sản phẩm còn lại đang được Chính phủ Indonesia xây dựng lộ trình cấm xuất khẩu nên doanh nghiệp cần theo dõi sát sao", tham tán Phạm Thế Cường nhấn mạnh.

Bên lề Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 55 (AEM 55), Bộ trưởng Bộ Thương mại Indonesia Zulkifli Hasan chia sẻ, Indonesia luôn nhìn nhận Việt Nam là một trong những đối tác kinh tế, thương mại quan trọng của Indonsia trong khu vực Đông Nam Á. 

Để quan hệ thương mại giữa hai nước tiếp tục phát triển, Bộ trưởng Hassan đề nghị Việt Nam xem xét, sớm nối lại hoạt động trao đổi đoàn, nhất là cơ chế hợp tác, diễn đàn thường niên giữa Bộ Thương mại Indonesia và Bộ Công Thương Việt Nam đã bị tạm ngừng từ nhiều năm nay.

Hơn nữa, Việt Nam có nhiều doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm về nuôi trồng, sản xuất, xuất khẩu thủy sản, hoạt động trong lĩnh vực ngư nghiệp và Indonesia mong muốn học hỏi kinh nghiệm.

Ngoài ra, hiện nay có rất nhiều hãng sản xuất ô tô lớn của nước ngoài gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… đã và đang đầu tư và sản xuất xe điện tại Indonesia. Tuy nhiên, Indonesia được biết đã có một số doanh nghiệp Việt Nam mở nhà máy sản xuất ô tô tại Hoa Kỳ. Do đó, Indonesia mong muốn và kêu gọi doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, đầu tư, hợp tác với doanh nghiệp Indonesia phát triển ngành công nghiệp ô tô điện.

Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên hoan nghênh đề xuất của Bộ trưởng Hassan về việc sớm nối lại cơ chế hợp tác, trao đổi thông tin, diễn đàn thường niên giữa hai Bộ, vốn đã bị gián đoạn trong 2 năm gần đây do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Đây là hoạt động cần thiết để hai bên có thể kịp thời chia sẻ, cập nhật tình hình hợp tác và tháo gỡ vướng mắc phát sinh, tồn đọng trong quan hệ hợp tác thương mại.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đề nghị Bộ trưởng Hasan trao đổi, vận động doanh nghiệp thủy sản của Indonesia tham dự hoạt động hội chợ, xúc tiến thương mại, diễn đàn doanh nghiệp tổ chức tại Việt Nam để kết nối cộng đồng doanh nghiệp hai nước.

Về hợp tác trong ngành công nghiệp ô tô điện, Việt Nam được biết Indonesia có nguồn tài nguyên niken rất dồi dào, còn Việt Nam là một trong những quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên đất hiếm lớn nhất trên thế giới. Dựa trên những tiềm năng và tiềm lực sẵn có của mỗi nước, Việt Nam và Indonesia cùng nhau hợp tác, phát triển ngành công nghiệp ô tô điện tại khu vực trong thời gian tới.

Để quan hệ hợp tác thương mại giữa hai nước tiếp tục phát triển, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đề xuất Indonesia tạo điều kiện cho Việt Nam nhập khẩu ổn định than và dầu cọ thô để đảm bảo an ninh năng lượng và sự ổn định cho ngành sản xuất trong nước; xem xét ngừng ban hành, áp dụng biện pháp bảo hộ, rào cản thương mại với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam luôn đối xử công bằng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp Indonesia kinh doanh tại Việt Nam.

Nhằm duy trì đà tăng trưởng thương mại, Bộ Công Thương cho rằng: Việt Nam- Indonesia cần tận dụng những cơ hội mới, hoàn thiện khung khổ pháp lý, phát huy hiệu quả hoạt động của Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật giữa hai nước.

Cùng đó, hạn chế áp dụng rào cản thương mại, tạo thuận lợi cho dòng chảy thương mại và đầu tư giữa, hỗ trợ doanh nghiệp triển khai hợp tác kinh doanh, xúc tiến thương mại tại mỗi nước. 

Ngoài ra, hai nước cần nghiên cứu, tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực mới như chuyển đổi số, năng lượng sạch, tận dụng cơ hội mà Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư mang lại.

 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành Giao thông vận tải

 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký ban hành Công điện số 780/CĐ-TTg về việc tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất, nỗ lực đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành Giao thông vận tải.

Công điện nêu rõ, thời gian qua, Chính phủ, Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải và các đồng chí Lãnh đạo Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo tháo gỡ khó khăn vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình giao thông trọng điểm, đặc biệt là các dự án đường bộ cao tốc.

Các chủ đầu tư, nhà thầu xây lắp, nhà thầu tư vấn đã tích cực làm việc liên tục "3 ca, 4 kíp", nhiều công trình thi công cả trong các ngày lễ, tết; nhờ đó đến nay cả nước đã có 1.832km đường bộ cao tốc đang khai thác và đang tích cực triển khai xây dựng các đoạn còn lại trên tuyến cao tốc Bắc-Nam phía đông; các tuyến đường vành đai Vùng Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tuyến đường bộ cao tốc kết nối khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Trong kỳ nghỉ lễ kỷ niệm 78 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 vừa qua, trên các công trình giao thông trọng điểm, cán bộ, công nhân viên và người lao động nhiều nơi vẫn hăng say lao động, “vượt nắng, thắng mưa, tháo gỡ khó khăn", làm việc xuyên lễ, xuyên tết, trong đó đã kịp thời đưa vào thông xe khai thác một số đoạn tuyến quan trọng; khởi công thêm một số dự án lớn về hàng không.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao và biểu dương các bộ, ngành, địa phương, các lực lượng tham gia thi công, tư vấn đã nỗ lực, quyết tâm để đưa các công trình về đích đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng.

Để tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất, kịp thời khắc phục mọi khó khăn, vướng mắc, phấn đấu mục tiêu đến năm 2025 có khoảng 3.000km đường bộ cao tốc và đến năm 2030 có 5.000km đường bộ cao tốc như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

Về tiến độ thi công các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải: Bộ Giao thông vận tải, các bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải và Lãnh đạo Chính phủ; chỉ đạo các cơ quan chức năng, các cấp chính quyền địa phương nỗ lực hơn nữa, tập trung tháo gỡ khó khăn, xử lý tồn tại trong công tác giải phóng mặt bằng, di chuyển các công trình hạ tầng kỹ thuật, tháo gỡ vướng mắc liên quan đến khai thác, cung ứng vật liệu xây dựng; tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, sớm hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng các công trình, dự án theo đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng; rà soát kết nối đồng bộ với các tuyến đường bộ cao tốc nhằm phát huy hiệu quả đầu tư, khai thác quỹ đất, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội các vùng, địa phương và cả nước.

 

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Thể hiện tính biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã được luận giải khá rõ trong lời tựa của cuốn sách mà Ban Biên tập đã khái quát.

Ý nghĩa của cuốn sách được nhấn mạnh, làm rõ hơn trong phát biểu khai mạc của Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trong Lễ giới thiệu cuốn sách này, cùng với sự đánh giá rất cao của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao… cả trong và ngoài Quân đội ngay sau khi cuốn sách được phát hành.

Hiện thực hóa đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng

Thượng tá, Tiến sĩ Hà Sơn Thái, Chủ nhiệm Bộ môn Nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học, Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng bày tỏ: "Với tư cách là người giảng dạy và nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học, tôi còn tìm thấy ý nghĩa ở cuốn sách này cùng với cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” được xuất bản cách đây hơn 2 năm và cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” xuất bản đầu năm 2023 thể hiện tính cân đối, hoàn bị trong hệ thống quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về hai nhiệm vụ chiến lược, trọng yếu và có mối quan hệ biện chứng: giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa - một trong mười mối quan hệ lớn được Đảng ta xác định từ Văn kiện Đại hội XI và tái khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII.

Đặc biệt, cuốn sách được xuất bản trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực còn có nhiều diễn biến mới phức tạp, khó đoán định, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới đang bị thách thức nghiêm trọng; cũng là thời điểm Trung ương chuẩn bị tổng kết 10 năm thực hiện Hội nghị Trung ương 8, khóa XI (Nghị quyết số 28-NQ/TW) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhất là trong điều kiện: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”... lại càng có ý nghĩa đặc biệt hơn trong việc hóa giải những vấn đề thách thức, cấp bách trước mắt và cả giải quyết các vấn đề chiến lược, lâu dài trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói riêng và thúc đẩy hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới nói chung.

"Tôi đánh giá rất cao tư tưởng chỉ đạo đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng thông qua các bài viết, bài phỏng vấn, bài nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thể hiện tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược về quân sự, quốc phòng của người đứng đầu Đảng ta từ việc xác định mục tiêu, quan điểm, chủ thể và lực lượng, phương châm, nội dung… đến việc hiện thực hóa đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng", Thượng tá, Tiến sĩ Hà Sơn Thái nói.

Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu

Thượng tá, Tiến sĩ Hà Sơn Thái khẳng định, một mặt, cuốn sách này đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Đảng ta về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Mặt khác, cuốn sách có giá trị toàn diện đối với toàn bộ hoạt động xây dựng và triển khai đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cả trước mắt, lẫn lâu dài nói chung, đối với xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị thời kỳ mới nói riêng.

Với tư cách vừa là người giảng dạy, vừa là người nghiên cứu ở Học viện Chính trị - Trung tâm giảng dạy, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự hàng đầu của quân đội và quốc gia, Thượng tá, Tiến sĩ Hà Sơn Thái nhấn mạnh, những bài nói, bài viết trong cuốn sách này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về vấn đề xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.

Điều này thể hiện rất rõ trong Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, ngày 28-9-2020: “Đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “Quân sự mà không có chính trị thì như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Vì vậy, cần hết sức chú trọng thường xuyên tăng cường giáo dục về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về truyền thống, văn hóa dân tộc, bản chất giai cấp của Quân đội; về đối tượng, đối tác trong tình hình mới, bảo đảm trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội cũng luôn luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí, quyết tâm cao, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ”.

Theo đó, đây chính là “cẩm nang” để toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính, trước hết là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quán triệt và triển khai xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Bởi vì, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là một nguyên tắc cơ bản, vấn đề xuyên suốt, tạo tiền đề để quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Cuốn sách có giá trị nhiều mặt mà bất cứ quân chủng, binh chủng, học viện, nhà trường trong Quân đội cũng có thể quán triệt và vận dụng sáng tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Thượng tá, Tiến sĩ Hà Sơn Thái cho biết: "Đối với Học viện Chính trị lại càng có giá trị hơn, bởi tên cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư là cũng là vấn đề rất lớn được Học viện dày công nghiên cứu, giảng dạy có hệ thống ngay từ khi ra đời cho đến nay. Đặc biệt, tư duy mới, tư tưởng chỉ đạo mới của Tổng Bí thư trong Cuốn sách này ngay khi mới xuất bản đã được Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện chỉ đạo quán triệt và vận dụng ngay trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong toàn Học viện".

Thượng tá, Tiến sĩ Hà Sơn Thái nhắc lại lưu bút của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương ghi trong Sổ Vàng truyền thống của Học viện Chính trị ngày 22-10-2011 khi đến thăm và làm việc tại Học viện nhân kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống (25-10-1951/25-10-2011) và đón nhận Huân chương Sao Vàng: “Chúc các đồng chí tiếp tục lập nhiều thành tích to lớn xuất sắc hơn nữa, xây dựng Học viện ngày càng xứng đáng với vị thế là trung tâm hàng đầu về đào tạo cán bộ chính trị và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn của Quân đội và Quốc gia”.

 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tới Indonesia, bắt đầu chuyến công tác dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 43

Sau gần 4 giờ bay, vào lúc 10 giờ 30 phút (giờ địa phương) ngày 4-9, chuyên cơ chở Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu Việt Nam đã tới Sân bay Quốc tế Soekarno – Hatta ở thủ đô Jakarta của Indonesia, bắt đầu tham dự các hoạt động trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 43 và hoạt động liên quan.

Tại sân bay Soekarno – Hatta, dưới trời dịu nắng, đón Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu Việt Nam có Bộ trưởng Du lịch và Kinh tế Sáng tạo Indonesia Sandiaga Uno; Vụ trưởng Vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao Indonesia; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Indonesia Tạ Văn Thông; Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại ASEAN Nguyễn Hải Bằng; cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Indonesia và Phái đoàn Việt Nam tại ASEAN.

Dự kiến tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 43, các nước sẽ đánh giá tình hình triển khai Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và các kế hoạch tổng thể trên ba trụ cột chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội; định hướng chiến lược phát triển của ASEAN trong 20 năm tới, hướng tới Cộng đồng ASEAN đoàn kết, tự cường, sáng tạo, năng động và lấy người dân làm trung tâm; kiểm điểm và thảo luận phương hướng, biện pháp tăng cường, làm sâu sắc quan hệ giữa ASEAN với các đối tác; đồng thời trao đổi về tình hình khu vực và thế giới.

ASEAN sẽ thông qua và ghi nhận nhiều văn kiện quan trọng như: Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, Tuyên bố Hòa hợp ASEAN IV, Tuyên bố ASEAN là Tâm điểm của Tăng trưởng…; các văn kiện về những lĩnh vực hợp tác cụ thể trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác trong lĩnh vực an ninh lương thực, kinh tế số, kinh tế biển xanh, nông nghiệp, hệ sinh thái xe điện, phát triển gia đình và bình đẳng giới, giáo dục mầm non, hòa nhập cho người khuyết tật...

 

Tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 43 và các hội nghị, hoạt động liên quan, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính sẽ chia sẻ quan điểm của Việt Nam, đề xuất các sáng kiến, định hướng trong nhiều lĩnh vực hợp tác quan trọng nhằm hiện thực hóa chủ đề “ASEAN Tầm vóc: Tâm điểm tăng trưởng”, củng cố tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN đoàn kết, vững mạnh, có vai trò và vị thế ngày càng quan trọng ở khu vực và trên thế giới, đáp ứng kỳ vọng và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.

Chủ Nhật, 3 tháng 9, 2023

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM "CHỦ NGHĨA XÃ HỘI" SỰ LỰA CHỌN SAI LẦM CỦA LỊCH SỬ

Hộp thư đến


Thời gian qua, có nhiều quan điểm sai trái, thù địch xuất hiện cho rằng, sự ra đời tư tưởng và chế độ xã hội chủ nghĩa là một sai lầm của lịch sử. Rằng, không cần có chủ nghĩa xã hội thì con người vẫn có ấm no, tự do, hạnh phúc. Đây thực chất là quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận bước tiến kiên quyết và tất yếu của lịch sử nhân loại. Bởi lẽ, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho con người. Ấm no, tự do, hạnh phúc là mong muốn, khát vọng của con người từ khi con người xuất hiện trên trái đất. Tuy vậy, có thể nói, từ khi xã hội loài người được hình thành cho đến nay, chưa có giai đoạn nào loài người được thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc. Giai đoạn xã hội chưa thành văn, xã hội nguyên thủy mặc dù chưa xuất hiện giai cấp, áp bức, bóc lột, con người hoàn toàn bình đẳng nhưng không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi lẽ, thời kỳ này, sức sản xuất chưa phát triển nên con người chưa thể hiện được vai trò của mình trong lao động sản xuất, chiếm lĩnh tự nhiên. Năng suất lao động thấp, của cải làm ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao và phong phú, nên con người chưa thể có no ấm. Mặt khác từ khi loài người xuất hiện, con người luôn mong muốn khẳng định định vị trí, vai trò của mình trong sự phát triển thế giới. Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của lịch sử, khả năng hiểu biết của con người còn hạn chế, nên con người chưa nắm được các quy luật của tự nhiên. Con người gần như phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Người nguyên thuỷ không nắm được quy luật tự nhiên, chưa hiểu biết về chính mình nên đã nảy sinh tâm lý sợ hãi, sự phụ thuộc, bị chi phối, mất đi vai trò chủ thể, tính chủ động, tích cực của chính mình. Con người thậm chí còn không dám tác động, chinh phục, cải biến tự nhiên. Khi tôn giáo xuất hiện, niềm tin tôn giáo xuất hiện, làm tăng thêm sự phụ thuộc vào những lực lượng xa lạ bên ngoài con người. Nếu hiểu tự do là nhận thức được các quy luật của cái tất yếu thì con người thời kỳ này chưa thể có tự do. Không có ấm no, không có tự do thì con người không thể có hạnh phúc. Nói cách khác, con người chỉ hạnh phúc nếu có cuộc sống no ấm, được làm những gì mình muốn, thoát khỏi sự phụ thuộc, sự chi phối, khẳng định được vai trò chủ thể của mình trong xã hội. Khi đồ sắt xuất hiện (khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN), làm cho sức sản xuất phát triển mạnh mẽ. Con người ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong thế giới, chinh phục được giới tự nhiên, tạo ra nhiều của cải để thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên, của cải dư thừa làm xuất hiện chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu xuất hiện làm xuất hiện những tập đoàn người có lợi ích đối kháng nhau, do sự khác nhau về địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội, khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, và khác nhau về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Những tập đoàn đó là những giai cấp trong xã hội. Đối kháng lợi ích giữa những giai cấp dẫn đến những cuộc đấu tranh giai cấp. Xã hội có giai cấp đầu tiên là xã hội chiếm hữu nô lệ (xuất hiện khoảng thế kỷ thứ VIII TCN). Ph.Ăngghen viết: “toàn bộ lịch sử đã qua đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Sự biến đổi căn bản nhất của xã hội loài người từ khi có giai cấp đó là xuất hiện tình trạng áp bức, nô dịch giữa người với người. Những người có quyền năng không chỉ chiếm đoạt của cải của cộng đồng tạo nên sự bất bình đẳng, bất công xã hội,mà còn nô dịch lao động của người khác. Lúc này, đa số những người bị chiếm đoạt, bị áp bức, nô dịch không thể có ấm no, tự do và hạnh phúc. Những điều này chỉ thuộc về thiểu số người trong xã hội. Từ xã hội chiếm hữu nô lệ, trải qua chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa, điều này cũng không thay đổi. Ấm no, tự do, hạnh phúc vẫn thuộc về số ít giai cấp thống trị, đó là địa chủ, quý tộc, tư sản. Đa số các giai cấp lao động, bị áp bức vẫn không có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Năm 1844, trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C.Mác viết: trong xã hội tư bản, “Người công nhân sản xuất ra càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta ngày càng tăng thì anh ta càng nghèo. Người công nhân ngày càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng rẻ mạt. Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị”. Trong xã hội tư bản, người lao động mất tự do trong lao động, trong cuộc sống: “Con người (công nhân) chỉ cảm thấy mình hành động tự do trong khi thực hiện những chức năng động vật của mình -ăn, uống, sinh con đẻ cái, nhiều lắm là trong chuyện ở, chuyện trang sức…, - còn trong những chức năng con người của anh ta thì anh ta cảm thấy mình chỉ còn là con vật. Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còn cái có tính người thì biến thành cái vốn có của súc vật”. Trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh (1844 - 1845), Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc cuộc cách mạng công nghiệp, nội dung kinh tế và hậu quả xã hội của nó cũng như những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Bằng những chứng cứ sinh động của cuộc sống và những tài liệu phong phú của chính quyền tư sản, Ph.Ăngghen đã vẽ nên bức tranh hiện thực của cuộc đời những người lao động. Ông viết: “Tính tham lam bỉ ổi của giai cấp tư sản đã tạo nên bao nhiêu là bệnh tật! Phụ nữ mất khả năng sinh đẻ, trẻ con tàn tật, đàn ông yếu đuối xanh xao, nhiều người tàn phế, toàn bộ nhiều thế hệ có nguy cơ bị diệt vong, bị kiệt sức và ốm yếu, - mà tất cả chỉ là để nhét cho đầy túi của giai cấp tư sản!”. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là chế độ tư hữu hoàn bị nhất. Vì vậy, các giai cấp lao động trong xã hội tư bản bị bóc lột triệt để nhất. Không chỉ áp bức, nô dịch lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã mở rộng sự áp bức, nô dịch ở các nước thuộc địa trên phạm vi quốc tế; bóc lột giữa tư bản và lao động nói chung. “Cùng với giai cấp tư sản, chế độ tư hữu cũng sẽ bị sụp đổ, và thắng lợi của giai cấp công nhân sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi sự thống trị giai cấp và đẳng cấp”. Đến thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, đa số nhân dân lao động thế giới không có ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mong muốn có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc tiếp tục là khát vọng của nhân loại. Tuy nhiên,trong thời kỳ này,cuộc đấu tranh của các giai cấp bị áp bức, bóc lột đã giành được những thắng lợi to lớn. Cách mạng tháng Mười năm 1917 đã mở ra thời đại mới, thời đại đấu tranh, giải phóng cho khát vọng của nhân loại, để xây dựng chế độ xã hội, chế độ xã hội hướng đến sự giải phóng và phát triển toàn diện con người, hiện thực hoá khát vọng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại. Chế độ xã hội chủ nghĩa, sau là chế độ cộng sản chủ nghĩa xoá bỏ chế độ tư hữu tức là xoá bỏ sự khác nhau về địa vị của các tập đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội, xoá bỏ sự khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và xoá bỏ sự khác nhau về sự thụ hương lợi ích xã hội, tạo cơ sở thực hiện sự công bằng, bình đẳng cho mọi người trong xã hội. Theo lý tưởng cộng sản, mọi đối kháng giai cấp trong xã hội cộng sản sẽ mất đi. Vì vậy, công cụ chuyên chính của các giai cấp thống trị là nhà nước sẽ mất đi, theo đó sẽ không còn áp bức, nô dịch giai cấp. Khi áp bức giai cấp bị xoá bỏ thì tình trạng nô dịch dân tộc sẽ mất đi. C.Mác và Ph.Ăngghen từng nói: áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc; nên hãy xoá bỏ tình trạng giai cấp này đi áp bức giai cấp khác thì tình trạng dân tộc này đi áp bức giai cấp khác sẽ mất đi. Khi áp bức dân tộc không còn thì dân tộc được tự do. Con người trong xã hội đó được giải phóng thực sự. Mặt khác, khi con người được giải phóng, không bị giới hạn bởi những điều kiện ràng buộc, con người có thể phát huy tối đa mọi khả năng của mình, khẳng định tốt nhất những năng lực bản chất của mình. Khi đó con người có thể tạo ra của cải với năng suất rất cao, đáp ứng mọi nhu cầu của mình. Nghĩa là con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Đến hôm nay, chủ nghĩa xã hội mới đang trong quá trình xây dựng, cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như C.Mác khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản là hình thức kiên quyết của tương lai sắp đến”. “Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội”./.

 Phải nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong tình hình hiện nay

Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thật sự coi công tác phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.

Nâng cao vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Các cấp ủy quản lý chặt chẽ đảng viên, cán bộ; thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Ủy ban Kiểm tra các cấp cần làm tốt công tác tham mưu giúp cấp ủy kiểm tra, giám sát trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao, dễ xảy ra sai phạm. Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các ban cán sự đảng, các tổ chức đảng và đảng viên ở các cơ quan nhà nước. Tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty nhà nước, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước. Cơ quan kiểm tra của Đảng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng của Nhà nước để kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời và công khai kết quả xử lý tổ chức, cán bộ, đảng viên có vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

"VAI TRĂM CÂN, CHÂN VẠN DẶM"

 Trong những năm tháng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", trên chiến trường Khu 5 có một đơn vị gồm hơn 600 cô gái tuổi mười sáu, đôi mươi làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược, làm nên huyền thoại về "đội quân tóc dài" của miền Trung khói lửa. Đó là Tiểu đoàn Vận tải 232 do đồng chí Phạm Thị Thao làm Tiểu đoàn trưởng.

"Đạp 50 cân xuống đất, hất 70 cân sang bên, vì chiến trường mang lên một tạ",
"Không tính khối lượng, có sức bao nhiêu cống hiến tất cả",
“Vai trăm cân, chân vạn dặm”;
“Bom thù, mưa dội, đường trơn
Hàng em vẫn xẻ Trường Sơn đi về”...
Đó là những phương châm trong 4 năm công tác, Tiểu đoàn Vận tải 232 đã vận chuyển hơn 5.000 tấn hàng hóa ra chiến trường. Ước tính trung bình, mỗi nữ chiến sĩ đi bộ khoảng 600km mỗi năm. Đơn vị đã dệt nên bao huyền thoại, mãi bất tử cùng những chiến công trên các cung đường Trường Sơn máu lửa./.

Thiêng liêng cờ Tổ quốc giữa biển khơi

 Tháng 6-2012, thông tin lá cờ Tổ quốc bằng gốm ở Trường Sa hoàn thành sau hai tháng miệt mài lắp ghép từ những mảnh gốm nhỏ của họa sĩ Nguyễn Thu Thủy cùng các cộng sự được đăng tải trên các phương tiện truyền thông để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc.

Tôi đã tìm đọc nhiều bài viết, xem nhiều ảnh chụp các góc độ về lá cờ và đem thông tin ấy lên lớp. Chúng tôi cùng tranh luận về việc tại sao không làm bằng một chất liệu khác mà lại bằng gốm?
Và câu trả lời thuyết phục nhất chính là: Chỉ có sự bền bỉ của gốm được nung ở nhiệt độ cao mới giữ được màu sắc tươi sáng và chịu được cái nắng, cái gió kèm muối mặn của biển cả. Chúng tôi cùng nói về ý nghĩa đặc biệt của lá cờ đối với chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Tôi đã gửi gắm tâm tình của mình với các em học viên: “Sau này tốt nghiệp, trong quá trình công tác sẽ có đồng chí được ra thăm Trường Sa, có đồng chí sẽ trực tiếp làm nhiệm vụ tại Trường Sa, khi ấy hãy lên tận nơi để ngắm lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc và nếu có thể thì chia sẻ với cô nhé!”. Bởi trong suy nghĩ của tôi, việc được trực tiếp ngắm nhìn lá cờ chỉ có thể xuất hiện trong mơ mà thôi.
Từ năm ấy, tôi vẫn đem câu chuyện lá cờ Tổ quốc bằng gốm vào bài giảng của mình. Và điều may mắn, hạnh phúc đã đến với tôi. Trong những ngày cuối tháng 5-2023, tôi đã được đặt chân đến Trường Sa, được cảm nhận cái nắng, cái gió giữa biển khơi, thấy được vị mặn trên môi khi hít hà gió biển và được tận mắt ngắm nhìn một công trình kỳ diệu của những người Việt yêu nước, tự hào về dân tộc, giống nòi. Tôi đã gặp, xin phép Thượng tá Nguyễn Công Chính, Chính trị viên đảo Trường Sa cho tôi cùng một số học viên được lên ngắm lá cờ. Trên nóc nhà hội trường trung tâm của đảo, lá cờ Tổ quốc bằng gốm rộng 310m2, được ghép từ 310.000 mảnh gốm mosaic, nặng 3,5 tấn hiện ra trước mắt, nó thật đẹp.
Với thiết kế độ dốc 5 độ, lá cờ không chỉ được nhìn thấy từ trên không mà tàu từ phía xa cũng có thể nhìn thấy. Đó là sản phẩm của quá trình làm việc nghiêm túc, chăm chỉ, miệt mài từ công đoạn chọn đất, nung gốm của những nghệ nhân làng gốm Bát Tràng đến khâu vận chuyển từ tàu lên đảo của những chiến sĩ hải quân và cuối cùng là đôi bàn tay khéo léo ghép từng mảnh gốm của họa sĩ và các cộng sự. Những mảnh gốm nhỏ màu đỏ tươi, vàng óng đã được ghép lại thành lá cờ lớn, trở thành biểu tượng thiêng liêng, vững chãi, hiên ngang giữa biển khơi.
Khi mấy cô trò chạm tay lên từng mảnh gốm nhỏ, tôi lại mắc “bệnh nghề nghiệp”, nói với học viên: “Các em biết đấy, đại dương mênh mông, sâu thẳm nên trong lòng nó còn giữ rất nhiều bí mật. Các nhà khảo cổ học đã khai quật, tìm được dưới lòng đại dương rất nhiều hiện vật bằng gốm từ những con tàu bị đắm của các thương nhân nước ngoài, có niên đại cách ngày nay hàng trăm năm.
Vì vậy, cô tin chắc rằng lá cờ Tổ quốc bằng gốm sẽ trường tồn cùng với dân tộc, là cột mốc chủ quyền trên biển nhìn từ trên không, để hàng ngàn năm sau, lá cờ Tổ quốc bằng gốm sẽ vẫn kể câu chuyện về sự hiện diện của nó ở Trường Sa”.
Rời Trường Sa, trong trái tim chúng tôi vẫn hiện lên dáng hình của lá cờ Tổ quốc bằng gốm, hiện lên hình dáng của những chiến sĩ hải quân ngẩng cao đầu, hiên ngang canh giữ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng. Có lẽ, trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, lá cờ đỏ sao vàng năm cánh luôn là biểu tượng thiêng liêng nhất. Chúng ta quen nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay trong gió, thể hiện cho khát vọng hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và nhắc nhớ về lịch sử hào hùng của dân tộc.
Thế hệ trẻ Việt Nam hãy nhớ, còn có một lá cờ không tung bay trong gió mà hiên ngang, căng rộng ngay ngắn ở giữa biển khơi, không sợ nắng mưa, bão tố của biển cả, là cột mốc chủ quyền trên biển của dân tộc nhìn từ trên không. Nó đã trở thành một biểu tượng cho sự sáng tạo không ngừng của người Việt qua nhiều thế hệ và gợi mở cho mỗi chúng ta hàng ngàn, hàng vạn cách khác nhau để thể hiện lòng yêu nước và bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc, cho dù đang sống ở đất liền hay hải đảo xa xôi.

GIÁ TRỊ DÂN TỘC VÀ THỜI ĐẠI TRONG BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 2/9/1945

 78 năm trôi qua, song đến hôm nay và cả muôn sau, Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 vẫn vẹn nguyên giá trị dân tộc và thời đại.

Người ta đã gọi bản Tuyên ngôn lịch sử này là “Thiên cổ hùng văn”, là bản Tuyên ngôn Độc lập thứ ba của dân tộc Việt Nam - sau bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” thế kỷ XI của Lý Thường Kiệt và “Bình Ngô đại cáo” thế kỷ XV của Nguyễn Trãi. Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) cho thấy trí tuệ sắc sảo, tư duy lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là kết quả của một quá trình tư duy khoa học, độc đáo và thiên tài của Người.
Bản Tuyên ngôn Độc lập được dư luận trong và ngoài nước đánh giá rất cao bởi trong đó hàm chứa những nội dung cốt lõi, cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định chủ quyền quốc gia của một dân tộc và giá trị về quyền con người của người dân một nước độc lập. Có thể rút ra nhiều điều về lý luận lẫn thực tiễn được đúc kết một cách hàm súc, gói gọn trong 1.120 từ, bao gồm 49 câu của bản Tuyên ngôn lịch sử đó.
Trước hết, Tuyên ngôn Độc lập đã nâng tầm quyền con người thành quyền dân tộc. Không chỉ dừng lại ở một tuyên bố về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà Tuyên ngôn còn mang tính thời đại rất sâu sắc. Đó là, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi người dân được gắn liền với quyền bình đẳng thiêng liêng giữa các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh viện dẫn hai bản Tuyên ngôn của hai quốc gia lớn, văn minh hàng đầu thế giới là Mỹ và Pháp để mọi người thấy rõ hơn quyền con người và quyền dân tộc là một hiện thực khách quan không thể tách rời.
Qua bản Tuyên ngôn khẳng định, xuất phát từ quyền con người, thông qua quyền con người để xác lập quyền dân tộc, bởi quyền con người chính là cơ sở nền tảng để thiết lập quyền dân Bản Tuyên ngôn Độc lập là giá trị trường tồn, định hướng cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Gần 90 năm trong “đêm trường nô lệ”, biết bao thế hệ người Việt Nam đã hy sinh chiến đấu cho khát vọng độc lập dân tộc. Tuyên ngôn không chỉ kết tinh các giá trị truyền thống anh hùng, ý chí đấu tranh bất khuất cho một nước Việt Nam độc lập, tự do mà còn là sự động viên, cổ vũ, khích lệ Nhân dân các nước thuộc địa, các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa thực dân, giành quyền tự quyết cho đất nước mình.
Tuyên ngôn Độc lập còn khẳng định với thế giới về một đất nước Việt Nam sẽ hồi sinh mãnh liệt, tiếp tục hướng tới một tương lai tươi sáng, đấu tranh vì độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong cuộc hành trình đó, “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Qua Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cuộc đấu tranh giành tự do độc lập của dân tộc Việt Nam là chính nghĩa. Một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít, dân tộc đó phải được tự do, độc lập. Và, Nhân dân Việt Nam sẽ bằng mọi giá để giữ vững nền độc lập của mình.
Giá trị dân tộc và thời đại trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9 còn minh chứng một sách lược mềm dẻo, linh hoạt về đối ngoại, tinh thần nhân văn cao cả, tính hòa hiếu của một dân tộc “muốn là bạn với các nước”. Việt Nam luôn kiên định và sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, kể cả các nước có quá khứ là thù địch nhưng nay công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
78 năm qua, tư tưởng của Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành sức mạnh to lớn, kim chỉ nam hành động cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, trong bối cảnh thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện đoàn kết xung quanh Đảng và Nhà nước, thực hiện trọn vẹn lời thề thiêng liêng trong ngày lễ Độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

NGƯỜI LÀ CHA, LÀ BÁC, LÀ ANH ! QUẢ TIM LỚN LỌC TRĂM DÒNG MÁU NHỎ

 Hai câu thơ ấy là của Tố Hữu. Nhà thơ lớn của đất nước viết về lãnh tụ cao nhất của dân tộc mà cứ như nói về người thân trong gia đình, như tình cha – con, bác – cháu, anh – em. Có điều là ba từ Cha, Bác, Anh đã không còn nguyên nghĩa danh xưng từ xưa vẫn dùng, mà nội hàm đã có sự thay đổi rộng rãi hơn, bao quát hơn; âm hưởng thì lắng sâu và vang xa hơn, vượt cả lằn ranh bờ cõi nước ta.

Lịch sử cách mạng nước ta ghi nhận: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Ðảng ta, người xây dựng nền Cộng hòa dân chủ Việt Nam và Mặt trận Dân tộc thống nhất, là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam…Nói Cha ở đây, về mặt tinh thần, là nói về người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo và rèn luyện.
Thật ra, trong buổi bình minh của Cách mạng Tháng Tám 1945, qua bức thư “Kính cáo đồng bào” của Nguyễn Ái Quốc viết từ tháng 6 năm 1941, báo hiệu “Giờ giải phóng đã đến”, Hồ Chí Minh được biết đến như “Người lính già/Ðã quyết chiến hy sinh/Cho Việt Nam độc lập/Cho thế giới hòa bình!”. Ðọc Tuyên ngôn Ðộc lập, với câu hỏi thân tình “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”, Người lính già ấy đã gây nên một ấn tượng đặc biệt sâu sắc. Trên báo chí nước ta thời đó, đã bắt đầu xuất hiện những từ ngữ như “Cụ Hồ”, “Già Hồ” hay “Cha già dân tộc”.
Riêng Người – Hồ Chí Minh – trước sau vẫn coi mình là người con của dân tộc. Người là người Việt Nam đầu tiên sửa đổi lễ giáo phong kiến, thay khái niệm đạo đức “Trung với vua, hiếu với cha mẹ” thành “Trung với nước, hiếu với dân”, coi nước là đối tượng cao nhất để trung, tức là để hết lòng phục vụ; coi dân là cha mẹ để hiếu, tức là để hết sức chăm lo lợi ích của dân. Người nói: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân”. “Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui” .
Cụ Hồ đã nói thế và làm đúng như thế. Người suốt đời vì nước, vì dân; một ngày nước nhà còn chưa được hoàn toàn độc lập thống nhất, nhân dân chưa thật sự hạnh phúc ấm no là một ngày Người còn chưa ăn ngon, ngủ yên. Chính vì vậy mà giữa Người với các tầng lớp nhân dân đã nảy sinh một tình cảm hết sức đặc biệt: tình Cha – Con.
Vào những năm tháng cuối đời, Người vẫn đau đáu nỗi đau đất nước còn bị chia cắt. “Bác nhớ Miền Nam, nỗi nhớ nhà/Miền Nam mong Bác, nỗi mong Cha”. Người đề nghị Trung ương tổ chức cho được thăm miền nam một chuyến. Người đã ngày ngày tập luyện. Nhưng vì tình hình và sức khỏe không cho phép, ước nguyện ấy đã không thành.
Hay tin Bác qua đời, Miền Nam cùng cả nước đau nỗi đau mất Cha. Nói lên nỗi đau ấy, từ Miền Nam đang ngút ngàn khói lửa, nhà báo – nhà thơ Trần Bạch Ðằng viết:
“Chửi thù rồi lại giận ta
Nghĩ câu hiếu đạo thật là con hư”
“Con hư” đây là nói chiến sĩ và đồng bào ta đã không giành được thắng lợi sớm hơn để rước Bác vào thăm miền nam. Những người con Việt Nam hồi ấy tham gia hai Ðoàn đàm phán của ta tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam, đã dịch lại hai câu thơ này cho bạn bè Pháp. Nhà báo Ma-đơ-lin Ríp-phô, nữ chiến sĩ của Ðảng Cộng sản Pháp thời kháng chiến chống phát-xít Ðức, người được Bác Hồ nhận là con nuôi, đã nói trong nước mắt: “Ðối với Bác Hồ, tôi cũng chỉ là một đứa con gái bất hiếu”.
Về mối quan hệ giữa dân tộc và lãnh tụ, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Ðảng ta Lê Duẩn, trong Ðiếu văn đọc tại buổi Lễ truy điệu trọng thể Bác Hồ, đã viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.
LÀ BÁC !
Ngày Cách mạng Tháng Tám mới thành công, đồng bào gọi Người là Hồ Chủ tịch, là Cụ Hồ hay Già Hồ. Với các giới đồng bào, Hồ Chủ tịch vẫn tự xưng mình là tôi. Gửi thư cho các cụ phụ lão: Người viết: “Thưa các cụ, Ðây tôi lấy danh nghĩa một người già mà nói chuyện với các cụ” (21-9-1945). Gửi thư cho thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (22-9-1945), Người cũng viết: “Các em, đây là Hồ Chí Minh nói chuyện với các em”. Gửi thư cho các học sinh nhân ngày khai giảng đầu tiên năm đó, Người viết: “Các em học sinh, các em hãy nghe lời tôi, lời của một người anh lớn lúc nào cũng ân cần mong mỏi cho các em được giỏi giang”. Gửi thư cho thanh niên, Người viết: “các bạn thanh niên yêu quý”. Gửi thư cho các chiến sĩ quân đội, Người thường dùng hai chữ “anh em”. Ðặc biệt, trong thư chúc thọ Cụ Phùng Lục, phụ lão cứu quốc huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Ðông, người đã bỏ sự tế lễ linh đình mà đem số tiền 500 đồng quyên vào quỹ kháng chiến (năm 1948), Hồ Chủ tịch viết: “Cháu xin thay mặt Chính phủ cảm ơn Cụ, và trân trọng chúc Cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khỏe…”. Vị Chủ tịch nước 58 tuổi gửi thư cho một bậc thượng thọ, tự xưng mình là cháu, quả là việc xưa nay hiếm, có một không hai.
Thế rồi cùng với quá trình tiến lên của cách mạng và kháng chiến, cách xưng hô của đồng bào, chiến sĩ với Hồ Chủ tịch và của Người với đồng bào, chiến sĩ cũng chuyển đổi một cách kỳ diệu. Hai tiếng “Bác Hồ” ra đời khá sớm và nhanh chóng đi vào lòng người một cách tự nhiên như cơm ăn nước uống, như gió mát thổi vào nhà. Các tầng lớp nhân dân ta, từ những người lãnh đạo hàng đầu đất nước đến người dân thường, từ già đến trẻ, từ gái đến trai, từ Kinh đến Thượng, ai cũng gọi Người là Bác Hồ, xem Bác Hồ như là biểu tượng cao quý nhất, đẹp đẽ nhất, thánh thiện nhất của con người Việt Nam.
Trong kháng chiến chống Pháp, rồi đến chống Mỹ cứu nước, trong hàng các lãnh tụ của đất nước, chỉ có hai người được gọi là Bác: Bác Hồ và Bác Tôn. Bác Tôn lớn hơn Bác Hồ hai tuổi nhưng Bác Tôn và Bác Hồ đều cùng gọi nhau là Bác.
Với các nhà lãnh đạo khác, bên cạnh danh xưng đồng chí, tất cả đều được gọi bằng anh: anh Cả (Nguyễn Lương Bằng), anh Năm (Trường Chinh), anh Ba (Lê Duẩn), anh Tô (Phạm Văn Ðồng), anh Văn (Võ Nguyên Giáp), v.v.
Hai tiếng Bác Hồ vang xa trên nhiều nước như Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa anh em, bè bạn. Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng các nước đó, mỗi lần có dịp được Bác đến thăm đều tung hô: Bác Hồ! Bác Hồ !
Năm 1947, trong một cuộc viếng thăm Ấn Ðộ theo lời mời của Thủ tướng Nê-ru, Bác Hồ đã được các nhà lãnh đạo và đông đảo các tầng lớp nhân dân, nơi Bác đến thăm, dành cho sự yêu mến và kính trọng đặc biệt. Tại cuộc đồng diễn của hơn 3.000 thiếu nhi Ấn Ðộ chào mừng Bác Hồ, các em rầm rộ hô vang: “Cha, cha Hồ” (Bác Hồ). Thủ tướng Nê-ru ngồi cạnh Bác sung sướng nói vui:
– Ngài là “đối thủ” đáng yêu của tôi, vì được các em gọi là Bác. Ở Ấn Ðộ, các em thiếu nhi chỉ gọi Nê-ru là Bác. Và Bác Hồ là người thứ hai được các em gọi như thế.
* * *
Hai tiếng Bác Hồ, bình dị và gần gũi biết bao mà cũng thiêng liêng biết bao. Bác Hồ là tất cả. Là kết tinh và hội tụ của cả Cha, Bác và Anh trong một con người. Là trái tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ. Là lý tưởng và sự nghiệp của chúng ta. Là cuộc chiến đấu không mệt mỏi vì độc lập, tự do của dân tộc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, vì đất nước mạnh giàu sánh vai cùng năm châu./.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: LỊCH SỬ KHÔNG THỂ TRƯNG CẦU Ý KIẾN MÀ LÀ PHẢI HỌC BẮT BUỘC!

CHÚNG TA HÃY CÙNG LÊN TIẾNG, THỂ HIỆN RÕ THÁI ĐỘ CỦA MÌNH BẰNG TƯ TƯỞNG TRONG SÁNG, TÌNH CẢM TỐT ĐẸP, LÒNG TỰ TÔN VÀ TRÁCH NHIỆM CAO NHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỂ GIỮ LẤY HỒN CỐT DÂN TỘC VIỆT!
         Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn - Nguyên Cục trưởng cục Tuyên huấn, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng bạn đọc:
     Nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh (2/9), nghĩ về lịch sử nước nhà, xin có đôi lời cùng Bộ Giáo dục - đào tạo về việc đưa ra xin ý kiến có nên đưa môn lịch sử thành môn bắt buộc trong thi tốt nghiệp Phổ thông trung học .
  
        “ Dân ta phải biết sử ta , Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam “ . Đó là hai câu mở đầu trong bài Lịch sử Việt Nam của Bác Hồ sau khi từ nước ngoài về nước năm 1941 để cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của Thực dân Pháp xâm lược .
        Vậy vì sao trong bối cảnh vừa mới về nước Chủ tịch Hồ Chí Minh phải viết và cho lưu hành tuyên truyền bài thơ như một bài Diễn ca Lịch sử nước nhà? Bởi vì Người biết rằng muốn tập hợp quần chúng nhân dân , muốn giác ngộ họ điều đầu tiên là phải khơi dậy lòng yêu nước , mà muốn có lòng yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc phải làm cho người dân đang bị bần cùng hóa , ngu dốt hóa hiểu biết lịch sử nước nhà , phải tường gốc tích nước nhà Việt Nam và nhờ đó đã tập hợp được quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng , nêu cao tinh thần yêu nước , phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để làm nên sự tích thần kỳ , tiến hành Cách mạng tháng Tám thắng lợi , khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào ngày 2/9/1945 , tiến hành cuộc trường chinh cứu nước, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược (1945-1975), giành lại độc lập , tự do, thống nhất , phát triển như ngày nay . Đó là chuyện của Việt Nam giữa thế kỷ XX cho đến nay , còn với nước Nga , Putin được Enxin từ chức bàn giao chức Tổng thống cho ông vào cuối năm 1999 , một trong những việc làm đầu tiên để giữ cho nước Nga không sụp đổ , ông đã ban hành Kế hoạch giáo dục lòng yêu nước cho nhân dân Nga và xác định môn lịch sử là môn học quan trọng nhất trong giáo dục phổ thông và sau đó cao hơn , nước Nga đã ban hành Luật cấm xét lại lịch sử ,nhờ đó nước Nga đã không tan rã , đứng vững và phát triển, đưa nước Nga từ nền kinh tế bên bờ vực sụp đổ đã trở thành một trong mười nền kinh tế đứng đầu thế giới ( tính theo PPP nước Nga đứng đầu châu Âu và thứ 5 thế giới ). Còn với Mỹ tôi cũng được biết Mỹ đặc biệt quan tâm đến Lịch sử không chỉ cho người Mỹ mà còn cả người nhập cư , ai chưa hiểu lịch sử nước Mỹ thì chưa đủ điều kiện để nhập quốc tịch Mỹ .

    Tôi nêu các sự kiện trên để khẳng định: Giáo dục lịch sử là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia dân tộc , nêu anh muốn độc lập thật sự và phát huy sức mạnh nội sinh để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước . Một vấn đề không cần bàn cãi và không ai được phép hạ thấp việc học lịch sử , học nó là học cả đời để không bao giờ được tự nhục ,tự ty , đớn hèn trước nước khác ; học lịch sử là để tập họp quần chúng nhân dân cùng chung sức đồng lòng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh , học lịch sử để thế hệ nối tiếp nỗ lực đưa nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu bốn biển như Bác Hồ hằng mong ước.

   Thế mà hơn chục năm trở lại đây , môn lịch sử trong giáo dục đào tạo , Bộ GDĐT đã liên tục tìm mọi cách hạ thấp và cố tình xóa bỏ môn lịch sử , trong bài viết trước , khi phê phán việc đưa môn lịch sử là môn tự chọn trong cấp phổ thông trung học , và ngay khi gặp Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ vào ngày 8/5/2022 tôi đã nói rõ : Nếu tôi làm Thủ tướng tôi sẽ cách chức Bộ trưởng Bộ GDĐT khi đề xuất chủ trương bỏ môn sử để buộc Quốc hội phải ngồi lại bàn và đưa vào NQ của QH là không được bỏ môn sử , và phải giữ môn lịch sử là môn độc lập trong Chương trình giáo dục phổ thông.

Thế mà nay Bộ này từ chỗ tìm cách bỏ môn lịch sử không được lại ngang nhiên làm trái NQ của QH , bỏ môn sử là môn độc lập từ lớp 1-9 và lên 10-12 thì tự chọn , có nghĩa rằng sẽ có rất nhiều em học sinh không học môn lịch sử độc lập trong suốt Chương trình phổ thông , đó là chưa kể ngay sách giáo khoa phổ thông cũng sẽ có nhiều bộ sách lịch sử khác nhau và sẽ có cách viết khác nhau thậm chí đã có biểu hiện xuyên tạc lịch sử trong sách giáo khoa thì thử hỏi làm sao xây dựng tinh thần dân tộc , làm sao chúng sức chung lòng vì mục tiêu phát triển đất nước?

Đây rõ ràng là một sự việc không bình thường khi Bộ này làm trái NQ của QH , lại cố tình hạ thấp vai trò giáo dục lịch sử , làm suy yếu lòng yêu nước , lòng tự hào tự tôn dân tộc …việc mà đáng lẽ nhiệm vụ chủ yếu của ngành giáo dục là bồi đắp phát triển lòng yêu nước , tạo nên thế trận lóng dân vững chắc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một công dân không có lòng yêu nước thì việc học các môn khoa học khác dù anh ta có tài giỏi đến đâu , rồi cuối cùng anh ta cũng chỉ đi bán rẻ tài năng của mình cho nước ngoài, thực tiễn ta đã thấy đã và đang có một trào lưu một bộ phận trị thức Việt Nam bỏ ra nước ngoài làm việc, một hiện tượng chảy máu chất xám đáng báo động ! 

      Trước hiện tượng hạ thấp , xét lại lịch sử những người tâm huyết với nước nhà , tâm huyết với lịch sử đã gọi hiện tượng trên là lật sử , xét lại lịch sử ! Còn đối với Bộ GDĐT, phải chăng Bộ đang cố tình làm cho dân ta mù sử , dốt sử , và khi đó nhóm xét lại lịch sử sẽ nhân danh là những nhà nghiến cứu lịch sử sẽ vẽ lại lịch sử nước nhà như đã từng diễn ra ở Liên Xô , Đông Âu và Ucraina gần đây?

Từ những phân tích trên, với tư cách là một cháu của Bà mẹ VN anh hùng, là con của hai liệt sĩ, là chiến sĩ giải phóng quân khi mới 14 tuổi , một Đảng viên cán bộ của Đảng tôi đề nghị QH hãy vào cuộc yêu cầu Chỉnh phủ chỉ đạo Bộ phải biên soạn một bộ sách giáo khoa lịch sử thống nhất cho giáo dục phổ thông từ lớp 1-12 và lịch sử phải là một môn thi bắt buộc trong các môn thi.

Xin hãy đặt đúng vị trí để có một nước VN thống nhất không chỉ về chủ quyền lãnh thổ, mà trước hết thống nhất về cội nguồn lịch sử của dân tộc . Xin hãy đừng nâng lên đặt xuống , xin hãy đừng chà xát vào lịch sử, xin hãy đừng bắn vào lịch sử, bởi vì lịch sử là cội nguồn dân tộc. Hãy nhìn sang Ucraina, chính vì họ đã bắn vào lịch sử nên giờ đây đã trả giá cho tội lỗi của mình . 

Xin hãy nhớ lời của Bác Hồ “ DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA , PHẢI TƯỜNG GỐC TÍCH NƯỚC NHÀ VIỆT NAM “ làm trái lời Bác là trái ý Đảng , lòng Dân , mong Bộ GDĐT nên nhớ điều đó . Và cũng xin Quốc hội hãy ban hành một đạo luật hoặc một pháp lệnh nghiêm cấm xét lại xuyên tạc, đổi trắng thay đen lịch sử ./.
Bài và ảnh: của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, TCCT QĐNDVN.
Yêu nước ST.

Nhận diện và đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng

 

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.

KỶ NIỆM 78 NĂM NGÀY QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XHCN VIÊT NAM (02/9/1945 - 02/9/2023) HÀO HÙNG: GÓC NHÌN CỦA CHÚNG TA!

     Ai đó nay vẫn so sánh Việt Nam với những quốc gia phát triển sớm, mà năm 1945 khi Việt Nam giành độc lập, họ đã nền công nghiệp quân sự, kinh tế hùng hậu, khi ấy họ đã làm ra máy bay, xe tăng, tàu chiến, chinh phạt khắp thế giới, như Nhật, Mỹ, Đức, Anh, Pháp và các nước thực dân, phát xít khác.
Ai đó nay vẫn so sánh Việt Nam với Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Thái Lan, Singarpore, Malaysia...những quốc gia, lãnh thổ hưởng lợi từ hậu cần cho Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, trong chiến tranh lạnh giữa hai phe, ... Rồi đổ lỗi cho chế độ, cho Đảng Cộng Sản, là nguyên nhân tụt hậu. Có thể họ cố tình quên xuất phát điểm 2/9/1945 Việt Nam độc lập, khi đó ngân khố quốc gia bằng "0". Công nghiệp bằng "0", Quốc phòng bằng "0", nông nghiệp lạc hậu, xã hội tan hoang vì chế độ thực dân đô hộ, sau đó lại 9 năm đánh Pháp, 20 năm đánh Mỹ, 10 năm đánh Tàu và Polpot xâm lăng Biên giới...
Đã không ưa, thì dưa có giòi, họ biến những sai lầm khó tránh của nhận thức về đường lối kinh tế sau chiến tranh
vốn đi lên từ số "0" thành sai lầm bản chất, chế độ. Họ lộ rõ ý đồ phá bỏ chứ không phải phản biện xây dựng. 

Tôi không được đi nước ngoài nhiều, nhưng mỗi chuyến đi, tôi cố ghi chép những gì nhìn thấy, đọc thấy và so sánh với nước mình. Mỗi người có quan điểm, góc nhìn riêng. Thời bao cấp, đất nước còn nghèo quá, đi nước ngoài với đa số người là ân huệ, là trúng số, là cơ hội đổi đời. Khi ở nước ngoài, thấy họ hơn mình, nên rất thiếu tự tin. Nhưng bây giờ thì khác. Dù còn thua kém nhiều mặt, nhiều thứ so với các nước phát triển, nhưng đã tự tin, tự hào, còn nhiều quốc gia không bằng mình dù xuất phát điểm thuận lợi hơn Việt Nam.

Năm 2022. Quy mô nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua Philipine, chỉ sau In, Thái, Sing, Ma, những nước được Mỹ hậu thuẫn, và hưởng lợi trong 20 năm chiến tranh Việt Nam. 

Năm 2022 GDP đầu người Việt Nam quy ra sức mua PPP là trên 10.000 đô, chứ không phải trên 4000 đô như cách tính cũ. Mức sống thực tế cao hơn con số này nhiều, vì nhiều giao dịch không đưa vào con số thống kê. 

(Nên hiểu dù GDP cao, bình quân cao, như Mỹ, Anh, Trung Quốc, Ả Rập...chưa hẳn dân đã giàu. Nguồn lực tài chính chủ yếu trong hầu bao các nhà Tư bản kếch xù và chính phủ, chứ không phải đại đa số người dân) 

Suốt một thời gian dài lạm phát Việt Nam chỉ quanh quẩn 3%, 4% một năm, đồng tiền ổn định, thậm chí mạnh chứ không phải yếu.

Dễ nhìn thấy nhất sự thay da đổi thịt là giao thông và nông thôn Việt Nam, trừ vùng sâu, vùng xa, đã rút ngắn đáng kể với Thị xã, Thành phố...Tôi đã đi nhiều làng quê ở Đồng bằng, Trung du Bắc bộ, Trung bộ, Đông Nam bộ, đâu đâu cũng khác. Làng nào cũng khang trang, sạch đẹp, đường xá rộng rãi, nhà nào cũng sân vườn xanh tươi, nhiều nhà có gara ô tô. Thiết bị sinh hoạt hiện đại không thiếu thứ gì, internet, viễn thông phủ kín, điện thoại thông minh ai cũng có, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, thiết bị nhà vệ sinh còn xịn hơn thành phố. Không còn cảnh con trâu đi trước, cái cày đi sau, mọi khâu sản xuất đều cơ giới hoá, chuyên môn hoá. Nhà trẻ, trường học, nhà văn hoá thôn nào, xã nào cũng có. Không nói ngoa, so với nhiều nước Đông Nam Á, kể cả châu Á, 
trừ Singapore, Nông dân, nông thôn Việt Nam là số 1. 

Tôi đã đi du lịch một số nước gần đây và nghe nhiều người kể. Chả đâu sướng bằng Việt Nam về khoản ăn và ngủ. Hệ thống khách sạn đáp ứng mọi nhu cầu của khách từ nhà nghỉ bình dân đến khách sạn Tổng thống. Ăn sơn hào hải vị trên giời dưới biển đều được đáp ứng phụ thuộc túi tiền. Cảnh quan Việt Nam thì thôi rồi, ai đã đi Phukhet, Pattay (Thái) Bali (Indo) thì biết, còn gọi Nha Trang, Đà Nẵng bằng bác. Động Quế Lâm nổi tiếng của Trung Quốc còn gọi Phong Nha, Sơn Đòng Quảng Bình làm cụ. 

So với trước, nay dân ta đã được ăn, được nói hơn nhiều. Mạng xã hội đã trở thành diễn đàn có sức mạnh như một lực lượng phản biện hữu ích, vô cùng mạnh mẽ. Trung Quốc, Nga, Triều, Myanmar, Các quốc gia Hồi giáo cực đoan, một số quốc gia độc tài và nhiều nước khác thì không thể. Kể cả Tây Âu, Mỹ nếu nói sai, ăn sai, kích động, đòi lật đổ Đảng cầm quyền...thì hãy đợi đấy! 

Nền ngoại giao (cây Tre) Việt Nam khiến thế giới nể phục. Không quốc gia nào, mà ở đó tất cả các cường quốc trên thế giới Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ... phải tranh thủ và tôn trọng như Việt Nam. Ít ưuoocs gia nào có tới 7 đời Tổng thống Mỹ ( cựu thù) lần lượt xin đến làm hoà. 

Hà Nội là Thủ đô hiếm hoi, mà ở đó Đại sứ quán các quốc gia kình địch như Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên, Ấn Độ và Pakistand, Israen và Palestine, Donal Trump và Kim Jong Un... có thể hoà thuận ngồi với nhau, bàn bạc chính sự.
Ít có quốc gia nào mà kẻ gây tội ác trong quá khứ chiến tranh ( Pháp, Mỹ, Hàn...) lại đến tạ lỗi, cúi đầu trước Nghĩa trang liệt sỹ Việt Nam.

Việt Nam nằm trong top 5, những quốc “Không thể xâm lược” bên cạnh Israel, Phần Lan, Nhật Bản, Philipin bằng lịch sử giữ nước của mình. 

Chủ quyền, lãnh thổ Việt Nam, dù mất Hoàng Sa và 1 số đảo chìm ở Trường Sa vào thời điểm hết sức khó khăn và nhạy cảm, nhưng dứt khoát không có chuyện lãnh đạo Việt Nam bán nước cho Trung Quốc. Đường lối ngoại giao phải đặt lên hàng đầu trong ứng xử với các nước lớn. Ucraina là bài học nhãn tiền.

Tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm trong bộ máy công quyền là ung nhọt đang điều trị bằng kháng sinh mạnh. 
Văn hoá, đạo đức, Giáo dục, Y tế... là nỗi lo trước mắt và lâu dài đang được chấn chỉnh.
Quản trị xã hội chưa theo kịp đà phát triển kinh tế, đang gồng mình thay đổi.
Đó là những vấn đề xã hội, là con bệnh của con người, của quyền lực mà bất cứ chế độ xã hội nào cũng phải đương đầu.

Người Việt mình, vốn khiêm tốn và có chút tự ty, hãy tự tin lên, Việt Nam hiện đang được thế giới nhìn nhận là điểm sáng, xã hội ổn định và kinh tế phát triển mạnh. Dẫu còn nhiều sai lầm, yếu kém, còn tham nhũng, thiếu công bằng, chưa dân chủ, văn minh như mong muốn. Nhưng hãy tin đi, Việt Nam sẽ phát triển và trường tồn, không thể đánh bại./.
Yêu nước ST.

NGHĨ VỀ BÁC LÒNG TA TRONG SÁNG HƠN: ĐỜI TUÔN NƯỚC MẮT, TRỜI TUÔN MƯA!

         Ngày 17/8/1969, sức khỏe dù đã suy giảm, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn lên xuống nhà sàn làm việc và nghe báo cáo tình hình. Theo đề nghị của bác sĩ, ngày 18/8, Bác được chuyển xuống ở và làm việc tại ngôi nhà A67. Ngôi nhà này chỉ cách nhà sàn của Bác vài chục bước chân, tiện cho việc theo dõi và chăm sóc sức khỏe của Người.

Sau gần 20 ngày chống chọi với bệnh tật, Bác yếu lắm nhưng hễ tỉnh lại là hỏi: 
"Hôm nay miền Nam đánh thắng đâu? Ở Hà Nội, đê vỡ có nhiều không? Có kịp sơ tán dân đi không?"

Từ ngày 25/8/1969, các y bác sĩ đã phát hiện thấy tim Bác có vấn đề, cần phải giữ gìn thận trọng. Thế rồi, đã đến thời điểm Bác Hồ phải nằm yên 1 chỗ. Dù là trên giường bệnh nhưng Bác vẫn làm việc, ngày ngày đều đặn nghe báo cáo công việc từ cả hai miền đất nước, vẫn đọc sách báo, gửi điện mừng và trao tặng huân chương, huy hiệu, tặng hoa cho những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chiến đấu và sản xuất.

Ngày 28/8, nhịp tim của Bác bắt đầu có dấu hiệu loạn nhịp. Buổi chiều, Bác như thiếp đi. Sau khi các bác sỹ tiêm thuốc, Bác tỉnh lại. Đôi mắt từ từ mở ra, rồi khẽ mỉm cười khi nhìn thấy đông đủ các đồng chí trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Nụ cười đã hầu như héo đi trên gương mặt xanh xao của Bác làm mọi người xúc động.

Ngày 29/8, bệnh của Bác không hề thuyên giảm.

Ngày 30/8, bệnh của Bác càng nặng thêm, liên tục đau ngực, rồi Bác hôn mê. Sau khi các bác sỹ cấp cứu hồi lâu, Bác mới từ từ mở mắt, vẻ rất mệt mỏi. Nhìn Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bác khẽ hỏi: 

“Chú chuẩn bị tổ chức Quốc khánh năm nay ra sao rồi?”, và nhắc: “Nhớ bắn pháo hoa cho dân vui”. 

Thủ tướng vô cùng xúc động, báo cáo với Bác mọi việc đã chuẩn bị chu đáo.

Bác lại hỏi: “Lũ sông Hồng đã rút chưa? Cần phải lo cứu dân nếu đê vỡ”. 

Thủ tướng không dám giấu Bác, báo cáo là lũ vẫn chưa rút hết. Rồi Thủ tướng mạnh dạn thưa với Bác: “Chính phủ muốn mời Bác lên khu an toàn để Bác được tĩnh dưỡng và đề phòng lũ lụt”.

Bác lắng nghe, rồi lắc đầu, thong thả nói chậm: “Không! Bác không muốn đi đâu cả. Bác không thể bỏ dân. Dân ở đâu, Bác ở đó, dù lụt lội hơn nữa, dù Mỹ có ném bom Hà Nội trở lại…”.

Thủ tướng chỉ còn biết ứa nước mắt nhìn Bác và thầm kêu lên: “Bác ơi, đến cảnh ngộ này, Bác vẫn chỉ nghĩ đến dân…”.

Ngày 31/8, Bác muốn ăn cháo, các đồng chí phục vụ nấu một bát cháo ngon, Bác ăn hết, mọi người rất mừng. Cũng ngày này, nghe tin một đơn vị tên lửa thuộc Sư đoàn 361 bắn rơi máy bay Mỹ không người lái, Bác còn gửi tặng một lẵng hoa - Lẵng hoa cuối cùng mà quân và dân ta được nhận từ Người.

Ngày mồng 1/9, sức khỏe Bác lại có vẻ như khá hơn. Từ ngày 28/8 đến hôm nay, chưa bao giờ các đồng chí lãnh đạo và những người phục vụ lại vui và hy vọng về sức khỏe của Bác như bây giờ. Khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm, Bác nói rằng ngày mai làm Lễ Quốc khánh cho Bác ra dự khoảng 15 phút để được gặp đồng bào. Bác ra ngồi trên sân khấu trước, sẽ quấn khăn che cổ… rồi hãy tiến hành khai mạc. Bác sẽ cố nói cho được bình thường mấy câu với đồng bào. Nhưng Thủ tướng báo cáo là đã làm mít tinh từ tối hôm trước, vì Bác đang mệt. Bác lặng im vẻ không vui, phải chăng Bác hiểu: Vậy là sẽ không còn có dịp nào để được gặp đồng bào nữa?

Nhưng tiếc thay, niềm vui ấy không trọn vẹn được một ngày. Cuối buổi chiều, Bác lại rất mệt, nhiều lúc gần như thiếp đi và lần đầu tiên mọi người thấy Bác rên. Những tiếng rên như đứt từng khúc ruột. Tất cả bàng hoàng, lo lắng. Các bác sỹ tập trung cứu chữa. Điện tâm đồ bật lên, màn hình hiện ra toàn tín hiệu xấu.

Sau khi uống thuốc, tiếng rên thưa dần, rồi Bác tỉnh lại. Nhìn ra hai cây dừa ngoài cửa mà đồng bào miền Nam gửi ra biếu Bác năm nào, Bác muốn uống nước dừa. Tuy nhiên, Bác sỹ Nhữ Thế Bảo ghé vội lễ phép: “Thưa Bác, bệnh của Bác không nên uống nước dừa. Xin lấy thứ nước khác để Bác dùng….”.

Bác lắc nhẹ: “Không sao đâu, Bác muốn được uống một chút nước dừa miền Nam thôi mà…”. 
Rồi Bác nói nhỏ: “Bác quê ở Nam Đàn, nhưng mẹ mất ở Huế, cha mất ở Cao Lãnh. Chưa một lần Bác được trở lại hai nơi đó…”. 

Mọi người lặng đi. Cả cuộc đời Bác dành trọn cho dân, cho nước, nay về già nhưng vẫn không hề nguôi ngoai hình ảnh của những người ruột thịt thân yêu nhất. Kể từ ngày người chị Nguyễn Thị Thanh về gặp ông bà tổ tiên năm 1954, 15 năm ròng Bác sống trong cảnh cô độc, là người duy nhất còn sống trong gia đình. Bao nhiêu lần các đồng chí lãnh đạo giục Bác lấy vợ nhưng Bác đều từ chối, lấy cớ rằng cách mạng chưa thành, chưa thể yên tâm có cho mình một hạnh phúc riêng.

Sáng ngày mồng 2/9, bầu trời u ám, buồn bã như thấu lòng người. Các đồng chí trong Bộ Chính trị đều tới thăm Bác đông đủ. Trong ngôi nhà 67, Bác nằm trên chiếc giường nhỏ đơn sơ, thiếp đi. Các y bác sỹ trực sẵn sàng, im lặng, nhưng chồng chất nỗi lo.Đột nhiên Bác đưa tay ôm lấy ngực và chằn mình nghiêng sang một bên. Các bác sỹ vội nhào tới xoa bóp. Máy điện tim mở gấp. Bác đã bắt đầu cơn đau dữ dội. Những tín hiệu chỉ còn thoi thóp và toàn chạy ngang với những đường sáng nhấp nhô yếu ớt…

Các tín hiệu vụt tắt. Đồng hồ chỉ 9 giờ 47 phút.
“Thôi các đồng chí ạ. Bác của chúng ta không qua khỏi nữa rồi. Bác đã trút hơi thở cuối cùng vĩnh biệt chúng ta" Thủ tướng Phạm Văn Đồng nghẹn ngào trong nước mắt./.
Yêu nước ST.