Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng của các thế hệ người Việt Nam

 

Vận dụng sáng tạo học thuyết bảo vệ tổ quốc của V.I.Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Hồ Chí Minh đã hình thành những quan điểm tư tưởng cơ bản về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng của các thế hệ người Việt Nam đối với tổ tiên, đối với dân tộc. Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được thể hiện rõ qua lời dạy của Người: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[1].

Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chí Minh. Trong bản Tuyên ngôn độc lập (02/9/1945), Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2]. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đứng lên đánh quân Pháp với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để gìn giữ đất nước”[3]. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hồ Chí Minh khẳng định chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”[4], “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”[5].

Đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ miền Bắc, Người đã đánh giá đúng thủ đoạn của đế quốc Mỹ và sớm dự báo khả năng địch đánh phá miền Bắc bằng đường không, kịp thời cùng Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân chủ động chuẩn bị mọi mặt, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của địch. Trước khi đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài mấy năm nữa, đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”[6].



[1] Hồ Chí Minh, Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308, ngày 19/9/1954, tại Đền Hùng (Phú Thọ).

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 4.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, trang 480.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12,  Nxb CTGQ, Hà Nội 2000, trang 107.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12,  Nxb CTGQ, Hà Nội 2000, trang 407.

[6]  Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12,  Nxb CTGQ, Hà Nội 2000, trang 511.

Toàn bộ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

 


Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sáng kiến để tập hợp quần chúng và phải có đội ngũ đảng viên gương mẫu hy sinh bảo vệ tổ quốc và thành quả cách mạng. Đảng hướng dẫn, giám sát hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nguồn gốc sức mạnh vững chắc bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

V.I.Lênin không chỉ phát triển hoàn thiện học thuyết Mác về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà còn là người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nga làm tròn nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, chống thù trong giặc ngoài, giữ vững thành quả cách mạng ngay trong những năm cách mạng Tháng Mười mới thành công, vừa có nội chiến bên trong, vừa có đế quốc can thiệp từ bên ngoài.

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng phải đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình, có sáng kiến để tập hợp quần chúng và phải có đội ngũ đảng viên gương mẫu hy sinh bảo vệ tổ quốc và thành quả cách mạng. Đảng hướng dẫn, giám sát hoạt động của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân lao động. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nguồn gốc sức mạnh vững chắc bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

V.I.Lênin không chỉ phát triển hoàn thiện học thuyết Mác về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà còn là người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Nga làm tròn nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, chống thù trong giặc ngoài, giữ vững thành quả cách mạng ngay trong những năm cách mạng Tháng Mười mới thành công, vừa có nội chiến bên trong, vừa có đế quốc can thiệp từ bên ngoài.

Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng mọi biện pháp

 

Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng mọi biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, phân biệt rõ bạn – thù, vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, liên minh, thỏa hiệp, kết hợp đúng đắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân.

V.I.Lênin đã đưa ra nhiều biện pháp để bảo vệ tổ quốc như: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, củng cố khối liên minh công – nông và chính quyền Xô Viết các cấp, xử dụng bạo lực để bài trừ nội phản, tăng cường sức mạnh quân sự, đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế - văn hoá, khoa học kỹ thuật làm nền tảng. Kết hợp chặt chẽ giữa các nhiệm vụ, các lĩnh vực là vấn đề có tính nguyên tắc để tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo vệ tổ quốc.

V.I.Lênin đòi hỏi những người cộng sản phải phân biệt rõ bạn, thù và sự chuyển hóa trong quá trình đấu tranh, liên minh, thỏa hiệp. Vận dụng đường lối đối ngoại khôn khéo, linh hoạt, kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược. Với những đối tượng cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, nếu cần thiết phải thỏa hiệp để đạt mục đích cơ bản, triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù để phân hóa đối tượng. V.I.Lênin chỉ ra một căn bệnh “ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản” là tuyệt đối hóa đấu tranh, dẫn đến sử dụng bạo lực một cách manh động, không biết sử dụng sách lược liên minh – thỏa hiệp trong những điều kiện cụ thể để giành thắng lợi từng phần. Người cũng nhắc nhở rằng nếu chỉ có đối đầu bằng bạo lực, không biết lựa chiều liên minh, thỏa hiệp thì không phân hóa được kẻ thù, không tận dụng được điều kiện quốc tế thuận lợi để xây dựng, bảo vệ tổ quốc. Ngược lại, chỉ có thoả hiệp, không nhận rõ đối tượng đấu tranh sẽ rơi vào ảo tưởng, hữu khuynh.

Kết hợp sức mạnh trong nước với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới; gắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân là một trong những đối sách có tính chiến lược thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng một quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản

 

Để bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng một quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản chính quy, hiện đại trên cơ sở vũ trang toàn dân.

Theo V.I.Lênin, bản chất của chủ nghĩa đế quốc là hiếu chiến, xâm lược, phản động toàn diện, để ngăn chặn, làm thất bại mưu đồ xâm lược của chúng thì phải có nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng. Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp thiêng liêng, cao cả, mang tính cách mạng, chính nghĩa và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, sự nghiệp đó phải được quan tâm, chuẩn bị chu đáo và kiên quyết.

Về lực lượng quân sự bảo vệ tổ quốc, V.I.Lênin nhấn mạnh việc chăm lo xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân dựa trên nhng nguyên tc cơ bn: Đảng Cng sn lãnh đạo quân đội, tăng cường bn cht giai cp công nhân; không ngng hoàn thin cơ cu t chc của quân đội; đoàn kết thng nht quân đội vi nhân dân; trung thành vi ch nghĩa quc tế vô sn; xây dng chính qui; phát trin hài hoà các quân chng, binh chng; sn sàng chiến đấu cao. Trong đó, s lãnh đạo ca Đảng Cng sn là nguyên tc cơ bản nht, quyết định đến sc mnh, s tn ti, phát trin, chiến đấu, chiến thng ca quân đội.

Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm

 


Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân tộc, của toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên cơ sở liên minh công nông vững chắc. Theo V.I.Lênin: bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của giai cấp vô sản trong nước, nhân dân lao động và giai cấp vô sản thế giới có nghĩa vụ ủng hộ sự nghiệp bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người luôn lạc quan tin tưởng về sức mạnh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì theo Người, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc, của giai cấp và của nhân dân lao động, cũng như bảo vệ lợi ích của con cái họ sau này. Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng mác xít chân chính, sự quản lý, điều hành của nhà nước chuyên chính vô sản, phát huy sức mạnh của toàn dân, của các tổ chức xã hội. Đó vừa là quyền lợi, vinh dự, đồng thời là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công dân, của toàn thể giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.


Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan

 


Giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong tiến trình cách mạng phải tổ chức lực lượng bảo vệ những thành quả giành được. Vấn đề này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra từ giữa thế kỷ XIX, đặc biệt, khi tổng kết kinh nghiệm của Công xã Pari năm 1871, C.Mác đã nhấn mạnh tính khách quan, cấp thiết của việc bảo vệ thành quả cách mạng vô sản và chỉ ra rằng: một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của Công xã Pari là do giai cấp công nhân sau khi giành được chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, tổ chức xây dựng chế độ xã hội mới nhưng không triệt để dùng bạo lực trấn áp giai cấp tư sản phản động, không tổ chức lực lượng đủ mạnh để bảo vệ thành quả cách mạng.

V.I.Lênin cũng đã chứng minh việc bảo vệ tổ quốc như một quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong khi chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại và luôn tìm cách bóp chết nhà nước non trẻ của giai cấp vô sản. Theo V.I.Lênin: một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ. Ngay sau khi giành được chính quyền, nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập thì tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu hình thành. Cùng với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra một cách trực tiếp, hai nhiệm vụ này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng.

Theo V.I.Lênin, xuất phát từ qui luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi ở một số nước, thậm chí một nước chưa phát triển tại mắt khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc. Với bản chất, âm mưu của kẻ thù là giai cấp tư sản tuy đã bị đánh đổ về chính trị nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ tham vọng muốn quay trở lại địa vị thống trị đã mất; chúng luôn tìm cách liên kết với các phần tử phản động trong và ngoài nước hòng lật đổ chính quyền cách mạng của giai cấp công nhân. Bản thân giai cấp tư sản cũng tìm mọi cách liên kết quốc tế để đè bẹp phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Vì thế, sau khi có chính quyền, cùng với tổ chức xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa luôn đặt ra một cách khách quan, trực tiếp, đòi hỏi các đảng cộng sản và công nhân phải luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

 



Tổ quốc là một phạm trù lịch sử dùng để chỉ đất nước, con người gắn liền với biên giới, lãnh thổ xác định, với những điều kiện kinh tế, tự nhiên, văn hóa, tâm lý, tình cảm của cộng đồng người trên lãnh thổ đó và một thể chế chính trị - xã hội tương ứng.

Tổ quốc được hình thành từ hai phương diện: tự nhiên và xã hội.

Về mặt tự nhiên, tổ quốc là phạm trù tương đối ổn định, bền vững, được xác định bởi giới hạn chủ quyền lãnh thổ, vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa... được hình thành lâu đời trong lịch sử; đó là địa bàn cư trú qua nhiều thế hệ của cộng đồng dân cư trong quốc gia với những bản sắc riêng về văn hóa, truyền thống lịch sử.

Về mặt chính trị - xã hội, tổ quốc là một phạm trù lịch sử mang tính giai cấp sâu sắc; tổ quốc ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển nhất định của nền sản xuất vật chất, chế độ kinh tế, chính trị - xã hội; tổ quốc tồn tại trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, bản chất chính trị - xã hội của tổ quốc do bản chất giai cấp thống trị quy định, không có tổ quốc chung chung, phi lịch sử, phi giai cấp.

Nghiên cứu về giai cấp công nhân và phong trào công nhân giữa cuối thế kỳ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân không có tổ quốc, “họ không có cái gì là của mình để bảo vệ cả”, họ phải đứng lên đạp đổ chế độ hiện hành, giành lấy chuyên chính vô sản, giành lấy tổ quốc. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định luận điểm đó bằng phản đối khẩu hiệu “bảo vệ tổ quốc” của những người theo chủ nghĩa cơ hội. Trước thềm chiến tranh thế giới lần thứ nhất do chủ nghĩa đế quốc gây ra, họ đòi hỏi giai cấp công nhân phải “bảo vệ tổ quốc”, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng vô sản”. V.I.Lênin đã vạch trần bản chất phản động của chủ nghĩa cơ hội - xét lại, chỉ ra cho các đảng cộng sản và giai cấp công nhân thấy rằng: đó chỉ là tổ quốc của giai cấp tư sản, dựa trên chế độ tư bản chủ nghĩa đã lỗi thời, đang rệu rã, giai cấp công nhân chưa có tổ quốc; phản đối chiến tranh đế quốc, giai cấp công nhân phải đồng thời đứng lên làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa lật đổ giai cấp tư sản đang thống trị để thiết lập chuyên chính vô sản, lập nên tổ quốc của giai cấp công nhân, đó mới là tổ quốc xã hội chủ nghĩa đích thực mà giai cấp công nhân phải đấu tranh mới có được. V.I.Lênin chỉ rõ: “Từ ngày 25 tháng 10 năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới là cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tư cách là tổ quốc”[1].

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là loại hình tổ quốc phát triển cao nhất, trong đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã giành được chính quyền, thiết lập được nền chuyên chính vô sản, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, đó là thành quả cách mạng của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống áp bức, bóc lột, nô dịch của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hệ thống luận điểm cách mạng, khoa học về sự nghiệp bảo vệ và phát triển những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. 



[1] V.I Lê nin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1978, t.36, tr.102.

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2023

KIÊN QUYẾT PHẢN ĐỐI CHO RẰNG: "ĐA VĂN HÓA, ĐA QUỐC GIA NÊN KHÔNG THỂ..." LÀ NGỤY BIỆN!

     Dù là trường Quốc tế, nhưng trường được đặt tại Việt Nam, đa số học sinh của trường cũng là học sinh Việt Nam. Trường lấy lý do có học sinh ngoại quốc nên không Chào cờ và hát Quốc ca điều này không thể chấp nhận.
Nhập giang tùy khúc, "nhập gia" thì phải "tùy tục", học sinh Quốc tế đến VN học tập phải thực hiện một cách nghiêm túc nghi lễ chào cờ của Việt Nam và tôn trọng Quốc ca Việt Nam bởi các bạn đang sống và học tập trên lãnh thổ của VN./.
Yêu nước ST.

NGUỒN GỐC RA ĐỜI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

 

Ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời với sự góp mặt của các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Vậy ngày kỷ niệm này mang những ý nghĩa gì?

Nguồn gốc ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trong thời đại Hồ Chí Minh, xây dựng ý chí và tinh thần đoàn kết được xác định là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác Hồ đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.

Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất 18/11 hằng năm đã trở thành Ngày truyền thống vẻ vang của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Suốt hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam đã ra sức hoạt động, khơi dậy tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp với sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, góp sức đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Kể từ ngày thành lập đến nay, ở bất kỳ thời kỳ nào, tổ chức Mặt trận cũng thể hiện rất rõ và thực hiện rất tốt vai trò, vị trí của mình, luôn trung thành với tôn chỉ, mục đích tập hợp các tầng lớp nhân dân thành một khối đoàn kết thống nhất về ý chí và hành động, tinh thần và lực lượng, tạo thành sức mạnh to lớn của cả dân tộc để hoàn thành những mục tiêu cách mạng cao cả do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Hiện nay, ngày 10/9 hàng năm được lấy là ngày kỷ niệm thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam./.

NGÀY QUỐC TẾ HÒA BÌNH- NGÀY TÔN VINH NỀN HÒA BÌNH THẾ GIỚI

 


Xây dựng một thế giới hòa bình, phát triển phồn vinh chính là mục tiêu của tất cả các nước trên thế giới. Có thể nói, chỉ chi trên thế giới không còn chiến tranh, không bóng bạo lực thì con người mới có thể có được hạnh phúc. Ngày Quốc tế Hòa bình được ra đời để tôn vinh nền hòa bình thế giới.

Ngày Quốc tế Hòa bình còn được gọi là ngày Hòa bình thế giới, ngày Quốc tế vì Hòa bình, ngày quốc tế phòng chống chiến tranh được diễn ra vào ngày 21 tháng 9 hằng năm. Đây là ngày để tôn vinh hòa bình, kêu gọi chấm dứt chiến tranh, bạo lực, bất công.

Ngày Quốc tế Hòa bình được Liên hợp quốc khởi xướng vào năm 1981 theo Nghị quyết 36/67 và lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 9/1982. Tới năm 2002, Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức tuyên bố lấy ngày 21/9 hằng năm để kỷ niệm ngày Quốc tế Hòa bình. Cho tới nay, việc cử hành ngày Quốc tế Hòa bình luôn do Liên hợp quốc chịu trách nhiệm.

Ngày Quốc tế Hòa bình được bắt đầu được Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố là ngày kỷ niệm và đề cao những lý tưởng hòa bình vào tháng 9/1981.

21/9/1982 ngày Quốc tế Hòa Bình lần đầu tiên được cử hành.

Ngày Quốc tế Hòa bình năm 2001 được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc dự định cử hành vào ngày 11 tháng 9 nhưng sau đó lại được thay đổi sang ngày 21 tháng 9, có hiệu lực từ năm 2002. Từ đó đây được coi là ngày cố định để cử hành ngày quốc tế Hòa bình và tuyên bố đó là ngày đình chiến toàn cầu.

Năm 2004, đã xảy ra một rắc rối ngoại giao liên quan đến một cuộc thi chọn một bộ tranh áp phích dùng cho các tem thư kỷ niệm do United Nations of America phát hành. Chính vụ việc này đã khiến nhiều người bắt đầu chỉ trích những hành động sai lệch đi ngược lại lý tưởng của Ngày Quốc tế Hòa bình.

Năm 2005, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đã kêu gọi toàn thế giới tuân thủ 24 giờ ngừng bắn và ngày quốc tế bất bạo động để đánh dấu Ngày quốc tế Hòa bình.

Năm 2006, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đã đánh Chuông Hòa Bình lần chót trong nhiệm kỳ của mình. Vương quốc Anh đã tổ chức Ngày quốc tế Hòa bình và Ngày quốc tế bất bạo động ở Rochdale, Greater Manchester, do Peace Parade UK. tổ chức.

Năm 2007, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đánh Chuông Hòa bình tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở thành phố New York, kêu gọi việc ngừng các hành động thù địch trong 24 giờ ngày 21 tháng 9, và giữ 1 phút im lặng trên khắp thế giới.

Năm 2011, vào ngày kỷ niệm lần thứ 30, chủ đề Ngày quốc tế Hòa bình của Liên Hợp Quốc là: “Peace and Democracy: make your voice heard” (Hòa bình và Dân chủ: hãy làm cho tiếng nói của bạn được (người ta) nghe).

Năm 2013, Ngày quốc tế hòa bình được Liên hợp quốc tổ chức kỷ niệm với chủ đề “Giáo dục vì hòa bình”. Mục đích của chủ đề này là nhằm nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc đào tạo và giáo dục con người, đặc biệt là trẻ em trên toàn thế giới.

Năm 2015, thông qua chủ đề “Hợp tác vì Hòa bình – Nhân phẩm cho tất cả mọi người” Liên hợp quốc kêu gọi 24 giờ ngừng bắn kỷ niệm Ngày quốc tế Hòa bình.

Năm 2016, thông qua chủ đề “Cùng nhau vì hòa bình: Tôn trọng, an toàn và phẩm giá cho tất cả mọi người” Liên hợp quốc muốn tôn vinh tinh thần của TOGETHER.

TOGETHER là liên kết các tổ chức của hệ thống Liên hợp quốc, gồm 193 nước thành viên Liên Hợp Quốc, khu vực tư nhân, các viện nghiên cứu và các cá nhân…trong một quan hệ đối tác toàn cầu nhằm hỗ trợ đa dạng, không phân biệt đối xử và chấp nhận những người tị nạn và di cư. Nó được khởi xướng tại Hội nghị thượng đỉnh về người tị nạn và di dân của Liên hợp quốc vào ngày 19 tháng 9 năm 2016.

Chủ đề của ngày này được thay đổi hàng năm nhằm nâng cao nhận thức toàn cầu về những vấn đề mang tính thời đại. Chủ đề của năm 2018 là “Quyền được hòa bình”. Chủ đề của năm 2019 là “Hành động Khí hậu vì hòa bình”.

Thông qua ngày Quốc tế Hòa bình, Liên hợp quốc mong muốn khuyến khích toàn nhân loại cùng bắt tay vào hành động và hợp tác vì mục tiêu hòa bình cho mọi quốc gia, mọi dân tộc. Đây là dịp để LHQ kêu gọi các bên tham chiến trên toàn thế giới cùng từ bỏ vũ khí và đưa ra một cơ hội hòa bình.

Ngày Quốc tế Hòa bình còn được dành để kỷ niệm và củng cố cho các lý tưởng hòa bình đã được cam kết trước đó của tất cả các quốc gia và các dân tộc trên thế giới. Ngày kỷ niệm này cũng là lời nhắn nhủ tới mọi người dân trên thế giới về vai trò của Liên hợp quốc trong nỗ lực xây dựng hòa bình thế giới, đồng thời cũng là tiếng chuông nhắc nhở tổ chức này về nghĩa vụ thực hiện các cam kết lâu dài để giành lấy hòa bình cho nhân loại./.

LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ TỪ THIỆN

 

Ngày Quốc tế Từ thiện được tổ chức hàng năm vào ngày 5/9. Đây là dịp để mọi người trên khắp thế giới cùng tham gia vào các hoạt động thiện nguyện nhằm hỗ trợ các đối tượng khó khăn trong xã hội, đặc biệt là trẻ em.

Ngày Quốc tế Từ thiện trong tiếng Anh là International Charity Day hay IDC. Sự kiện này diễn ra vào ngày 5 tháng 9 hàng năm. Đây là dịp kêu gọi, hưởng ứng và tôn vinh các tổ chức từ thiện giúp đỡ những người khó khăn trong tháng 9  hằng năm.

Ngày 5 tháng 9 hàng năm đã được Liên Hợp Quốc chỉ định là Ngày Quốc tế Từ thiện. Trong một nghị quyết được thông qua vào tháng 12 năm 2012, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã tuyên bố lý do thành lập ngày này: để ghi nhận những nỗ lực của các tổ chức và cá nhân trong công tác từ thiện, đặc biệt là: Mẹ Teresa Calcutta. Và ngày 5 tháng 9 được chọn để tưởng niệm ngày mất của Mẹ Teresa. Theo trang web của Liên Hợp Quốc, sáng kiến do Hungary đề xuất “nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công việc từ thiện”.

Mỗi hành động nhân văn, sẻ chia nhẹ nhàng và nhân lên của cả cộng đồng sẽ tạo nên động lực to lớn giúp đỡ nhiều mảnh đời khó khăn, bất hạnh. Khi bạn cho đi, bạn sẽ nhận lại được rất nhiều thứ, đó là tình cảm, sự kết nối, trái tim yêu thương. Từ đó tạo nên một khối đoàn kết vô cùng bền chặt của mọi người. Đồng thời dạy chúng ta biết yêu thương, trân trọng những gì mình đang có, biết sẻ chia khó khăn với người khác.

Hơn nữa, sự kiện này còn góp phần thành lập một tổ chức nền tảng cho các hoạt động từ thiện có sự tham gia của tất cả các quốc gia trên thế giới. Tạo một môi trường thuận lợi cho các cá nhân tình nguyện cho các nhu cầu của cơ quan địa phương, quốc gia và quốc tế./.

                                                                 

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGOẠI GIAO NGHỊ VIỆN PHÁT HUY "SỨC MẠNH MỀM" NÂNG CAO HÌNH ẢNH, VỊ THẾ VIỆT NAM!

     Ngoại giao nghị viện được triển khai tích cực, hiệu quả là động lực quan trọng làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện, nhiều mặt giữa Việt Nam với các đối tác, bạn bè quốc tế.

Trao đổi với báo chí, Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Vũ Hải Hà cho biết, hoạt động đối ngoại của Quốc hội thời gian qua tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, toàn diện, ở trên bình diện song phương và đa phương. Qua đó góp phần quan trọng trong tổng thể thành tựu đối ngoại chung của đất nước, đưa quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước phát triển theo chiều sâu, toàn diện và thực chất; đóng góp thiết thực cho các kênh ngoại giao vaccine, ngoại giao kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội ở trong nước; được đánh giá là “điểm sáng trong quan hệ song phương” trong tổng thể quan hệ với nhiều nước. Công tác đối ngoại của Quốc hội đã phát huy hiệu quả, lợi thế và nét đặc thù vừa mang tính nhà nước, vừa mang tính nhân dân, ngày càng khẳng định vị thế của ngoại giao nghị viện trong nền ngoại giao toàn diện, hiện đại của Việt Nam.

Gần 3 năm qua, hàng trăm hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động. Trong đại dịch, ngoại giao vaccine được đẩy mạnh. Sau đại dịch, các hoạt động đối ngoại chuyển sang trọng tâm chia sẻ sáng kiến, phát huy vai trò chủ động, tích cực của nghị viện vào phục hồi phát triển kinh tế và giải quyết hiệu quả các vấn đề của khu vực và quốc tế.

Từ đầu năm 2023 đến nay, công tác đối ngoại của Quốc hội được triển khai tích cực, hiệu quả, đạt kết quả toàn diện, thực chất. Trong đó, ở cấp lãnh đạo Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã có chuyến thăm chính thức Cộng hoà Cuba, Cộng hoà Argentina, Cộng hoà Đông Uruguay, Cộng hoà Indonesia và Cộng hoà Hồi giáo Iran hết sức thành công; hội đàm trực tuyến với Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Nhân đại toàn quốc) Trung Quốc. Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã tham dự Đại hội đồng IPU-146 tại Manama, Bahrain và thăm Tây Ban Nha; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải thăm, làm việc Hàn Quốc; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định dự Hội nghị về sinh thái quốc tế tại Saint Peterburg, Nga…

Trước đó, khi đất nước chuẩn bị đón Xuân Quý Mão 2023, hoạt động đối ngoại của Quốc hội cũng diễn ra sôi động với việc đón Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Jin Pyo thăm chính thức Việt Nam, khởi đầu cho hoạt động trao đổi đoàn cấp cao giữa Quốc hội Việt Nam và các nước trong năm 2023. Quốc hội Việt Nam đã đón lãnh đạo Nghị viện/Quốc hội các nước thăm chính thức như Chủ tịch Quốc hội Cộng hòa Bờ Biển Ngà Adama Bictogo; Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Thụy Sĩ Martin Candinas và gần đây nhất là chuyến thăm của Chủ tịch Thượng viện Vương quốc Bỉ Stéphanie D’Hose diễn ra từ ngày 21/8-25/8.

Quốc hội cũng đón tiếp Phó Chủ tịch thứ nhất, Chủ tịch Nhóm Hợp tác với Quốc hội Việt Nam của Hội đồng Liên bang Nga Andrey Yatskin; Phó Chủ tịch Quốc hội Lào Khambay Damlath; Tổng Thư ký Thượng viện Campuchia Oum Sarith; Phó Chủ tịch Hạ viện Cộng hoà Czech; Chủ tịch Liên minh Nghị sĩ hữu nghị Nhật Bản - Việt Nam... sang thăm, làm việc tại Việt Nam. Đây là lãnh đạo Nghị viện các nước láng giềng, các đối tác quan trọng của Việt Nam ở khắp các châu lục, trên toàn thế giới.

Hiện nay, Quốc hội Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho việc tổ chức Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9 diễn ra từ ngày 14-18/9/2023 tại thủ đô Hà Nội - sự kiện đối ngoại đa phương trọng tâm của Quốc hội Việt Nam trong năm 2023. Tiếp nối thành công của Đại hội đồng IPU-132 và Đại hội đồng AIPA-41, Hội nghị là cơ hội để Việt Nam tiếp tục thể hiện và quảng bá hình ảnh Việt Nam và Quốc hội Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

Theo ông Vũ Hải Hà, Quốc hội đã khẳng định vai trò tích cực, tiên phong trong việc thể chế hóa, nội luật hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam trong hệ thống pháp luật của đất nước; xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý thuận lợi nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư với các đối tác quan trọng; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngành ngoại giao, phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước trong giai đoạn mới; tiếp tục thể chế hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam trong hệ thống pháp luật của đất nước.

Với những hoạt động đối ngoại phong phú được triển khai đa dạng về chủ thể, đối tác, không chỉ ở kênh Quốc hội, mà còn cả kênh Đảng, Chính phủ và nhân dân, có thể nói, ngoại giao nghị viện đã và đang góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực, mở ra quan hệ hợp tác sâu rộng giữa Việt Nam với các nước, đối tác song phương và đa phương trong bối cảnh mới; góp phần nâng cao vị thế của Quốc hội tại các diễn đàn liên nghị viện quốc tế và khu vực.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng đánh giá, Quốc hội đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, quyết định các vấn đề quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại và giám sát việc thực thi các chính sách, pháp luật về đối ngoại và các cam kết quốc tế của Việt Nam; triển khai các hoạt động ngoại giao nghị viện song phương và đa phương. Quốc hội Việt Nam tiếp tục đổi mới, năng động và hành động, phát huy vai trò, “sức mạnh mềm” của ngoại giao nghị viện, đóng góp hiệu quả vào việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, đa dạng hóa, đa phương hóa, nâng cao hình ảnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế của Đảng và Nhà nước ta./.
Yêu nước ST.

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho đội ngũ giáo viên và những người làm công tác giáo dục. Trong tư tưởng của Người, chúng ta luôn tìm thấy những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ vọng đối với việc xây dựng đội ngũ những người thầy trong xã hội.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ giáo viên luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, họ là người quyết định thành công công cuộc xây dựng và đổi mới nền giáo dục.“Không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Người còn khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên trong sứ mệnh đào tạo thế hệ trẻ. Trong bài phát biểu tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (10-1964), Bác đã nói: “Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được. Vì vậy, nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang; ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa”.

Với Người, sự nghiệp trồng người - giáo dục, đào tạo được xác định rõ là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, nhưng người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ là nhà giáo. Họ chính là lực lượng then chốt, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. Vì lẽ đó, Bác đã dày công xây dựng hệ thống quan điểm về những tiêu chuẩn, phẩm chất cần có của đội ngũ nhà giáo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, bao gồm:

Thứ nhất, mỗi một thầy giáo cần phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện nhân cách, trau dồi đạo đức cách mạng. Suốt cuộc đời hoạt động của mình, Người đặc biệt chú trọng đến quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của Đảng, của từng cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ những người làm nghề giáo. Đó không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, mà còn là nỗi bận tâm đau đáu của Người. Cũng tại buổi nói chuyện tháng 10-1964, tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bác đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường: “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Phải có chí khí cao thượng, phải "tiên ưu hậu lạc" nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng”(2). Với Người, việc luôn trau dồi đạo đức cách mạng đã trở thành một nhiệm vụ tất yếu, tối quan trọng, là điều kiện “cần” và “đủ” mà tất cả thầy cô giáo đều phải hướng đến.

Thứ hai, nhà giáo phải luôn là tấm gương sáng ngời về tư tưởng, đạo đức và lối sống. Chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người thầy - một nhà giáo dục vĩ đại, cả cuộc đời, Người đã giáo dục, đào tạo biết bao thế hệ cán bộ, những chiến sĩ ưu tú cho cách mạng... Sức mạnh giáo dục và cảm hóa của Người làm khuất phục cả những kẻ thù ở bên kia chiến tuyến, đưa họ trở về với chính nghĩa, với lương tri của con người. Để có được điều đó là do ở Bác hội tụ đầy đủ tri thức, bản lĩnh và một nhân cách cao đẹp về tư tưởng, đạo đức và lối sống, là một tấm gương cao cả để lớp lớp cán bộ học tập và noi theo. Bác thành công trong sự nghiệp giáo dục vĩ đại của mình là vì trước hết Bác là một con người chân chính, một người yêu nước, một người cộng sản, một nhà cách mạng, một nhà nhân văn đích thực, một con người xứng đáng nhất với danh hiệu con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Người có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đối với đội ngũ nhà giáo, tài là sự am hiểu, vốn tri thức, vốn kinh nghiệm thực tiễn của người thầy, đức là tư cách, tình yêu thương, trách nhiệm của người thầy đối với nghề, với các em học sinh… Chính vì thế, Người nhắc các nhà giáo, dạy cũng như học đều phải biết chú trọng cả tài và đức. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ phụ trách thiếu nhi toàn miền Bắc (19-2-1959), Người nhấn mạnh: “Trẻ em hay bắt chước, cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách, v.v., phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm. Nếu các cô, các chú bảo: “Các em phải siêng làm” nhưng các cô, các chú lại đi ngủ, hoặc dạy “các em phải thật thà”, nhưng các cô, các chú lại nói sai, hay bảo “các em phải giữ vệ sinh chung”, nhưng các cô, các chú bẩn, như thế là không được. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”. Người dặn dò: “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu. Các cô, các chú phải nhận rõ trách nhiệm của mình”, vì vậy “thầy giáo phải gương mẫu, trực tiếp làm nhiệm vụ: Đào tạo những công dân tốt, những cán bộ tốt sau này, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Thứ ba, thầy cô giáo phải thật sự yêu nghề, gắn bó với nghề; tất cả vì học sinh thân yêu. Trong tư tưởng, Bác đặc biệt nhấn mạnh sự “yêu nghề” trong hoạt động giáo dục: “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?”. Ngoài ra, Người đặc biệt chú trọng đến tinh thần trách nhiệm, dám đối mặt với khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ mà xã hội, Đảng và nhân dân giao cho các thầy, cô giáo. Người luôn căn dặn: “Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”. Đó là tinh thần trách nhiệm dành cho sự nghiệp giáo dục, mang tri thức tới cho các em học sinh, các thế hệ sinh viên; là nghĩa cử cao đẹp và sự dấn thân vì mục tiêu “trăm năm trồng người”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nghề, yêu người là cơ sở để các thầy, cô yên tâm công tác, say mê, toàn tâm, toàn ý với công việc; biết vươn lên, nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp; nâng cao tinh thần trách nhiệm, yêu thương học sinh như con, em ruột của mình, không thiên tư, thiên vị. Chỉ như vậy, các thầy, cô giáo mới đi tới sự đoàn kết thực sự, chung lòng, dốc sức vì tương lai của con em ta, dân tộc ta. Người viết: yêu nghề, yêu trường thôi chưa đủ mà phải yêu chủ nghĩa xã hội bởi chủ nghĩa xã hội là mục tiêu mà dân tộc đang hướng tới. Khi thầy, cô giáo có tri thức, niềm tin và tình yêu thật sự vào chế độ mới thì đứng trên bục giảng họ mới có thể truyền lại được cho lớp lớp học trò niềm tin, tình yêu và góp sức mình vào xây dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, quá trình giáo dục mỗi thầy giáo, cô giáo cần đặc biệt chú trọng tới nội dung và phương pháp truyền thụ. Theo Bác, quá trình giáo dục có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tuy vậy Người đặc biệt chú trọng đến tác phong, tư duy, cách truyền đạt tri thức cho học trò, phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều.

Người nhấn mạnh: “Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ. Vì vậy sự học tập ở trong trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên, và tương lai của thanh niên tức là tương lai của nước nhà”. Chất lượng và hiệu quả giáo dục không phải ở chỗ học nhiều, học vẹt, học thuộc lòng từng câu, từng chữ, mà là giáo dục người học trở nên “những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.

Người cũng khuyên rằng “chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm không được”.

Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Người về vai trò của người thầy trong sự nghiệp giáo dục, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến giáo dục, đào tạo, luôn xác định là “quốc sách hàng đầu”, trở thành tư tưởng chỉ đạo mang tính chiến lược. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng đặt ra yêu cầu việc xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội cũng xác định cần: “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người”, trong đó nhấn mạnh: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để cái thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.

Những quan điểm trên của Đảng chính là trở về với triết lý giáo dục của Người nhằm thực hiện thành công chiến lược trồng người - “những người hữu ích cho nước Việt Nam” như Bác Hồ kính yêu của chúng ta từng mong ước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẾN CÁC CƠ QUAN TRUYỀN THÔNG MÀ CÒN KHÔNG LẮM ĐƯỢC LỊCH SỬ VẬY MÀ BỘ GĐ & ĐT LẠI ĐI KHẢO SÁT VIỆC HỌC MÔN LỊCH SỬ HAY KHÔNG LÀ LÀM SAO?

     Từ bao giờ ngày 2/9 lại là ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vậy? Đó hay chăng là hệ quả của việc biến Lịch sử thành môn học tự chọn và lịch sử không phải là môn thi tốt nghiệp THPT chăng?
Thế mà người ta còn đang bày trò đưa ra mẫu phiếu khảo sát lấy ý kiến chọn một trong hai phương án nhằm bức tử môn Sử trong kỳ thi tốt nghiệp THPT trong những năm tới. Thật đáng buồn.

Mà tôi cũng không hiểu tay viết bài này trình độ, nhận thức và kiến thức xã hội đã qua tiểu học chưa? Trong khi báo đài, mạng xã hội, băng rôn, khẩu hiểu tuyên truyền cả tháng nay mà vẫn viết cái bài viết như vậy. Đáng trách.

Mong rằng cơ quan chức năng, mong rằng Bộ Giáo dục hãy có chấn chỉnh kịp thời chứ cứ đà này chẳng mấy là mất hồn cốt dân tộc, mất đi truyền thống đất nước đâu./.

Yêu nước ST.

Bác bỏ thông tin sai sự thật về vấn đề người Khmer ở Việt Nam

 


 

 “Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước”, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữa nước của cả dân tộc. Bởi vậy, có thể khẳng định, lịch sử hình thành, phát triển các dân tộc gắn với lịch sử hình thành và phát triển đất nước Việt Nam. Thời gian qua, nhiều thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề quyền của người dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó phải kể đến tổ chức Khmer Kampuchea Krom.Khmer Kampuchea Krom là một tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế có xu hướng bài Việt Nam và tham gia các hoạt động chống Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam. Tổ chức này gồm nhiều đối tượng xấu, trước nay thường xuyên vu cáo về cái gọi là “Việt Nam cướp đất của Campuchia”. Khmer Kampuchea Krom sử dụng hình ảnh 3 màu xanh – vàng – đỏ làm biểu tượng tuyên truyền, vận động, lôi kéo, móc nối với số phần tử thù địch, phản động trong nước với mục tiêu mặc định sự tồn tại của tổ chức trong vùng dân tộc Khmer, tiến tới đòi quyền “dân tộc tự quyết” cho người Khmer, lập “Nhà nước Khmer Krom” Hồi tháng 7, tổ chức này còn lợi dụng việc phá bỏ cổng chào tỉnh Trà Vinh, vốn bị hư hỏng nặng và có khả năng gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông để bịa đặt thông tin chính quyền không cho người dân tổ chức các trò chơi dân gian nhân dịp lễ Chôl Thnăm Thmây năm 2023 và đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng “chính quyền người Việt muốn xóa bỏ văn hóa của người Khmer”, muốn thực hiện chính sách “đồng hóa dân tộc Khmer”. Thậm chí, nhiều đối tượng thù địch, quá khích còn công khai thách thức chính quyền nhân dân, treo cờ của tổ chức Khmer Kampuchea Krom, xuyên tạc “Lịch sử vùng đất Nam bộ – Việt Nam”… Chưa hết, chúng tiếp tục lợi dụng những người Khmer bức xúc về giải quyết tranh chấp đất đai, lôi kéo, xúi giục họ không chấp hành sự giải quyết của chính quyền địa phương… Gần đây, Khmer Kampuchea Krom lại tiếp tục bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng ngày 31/8 đã khẳng định: “Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, đóng góp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc”.