Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

Xử lý nhiễu loạn thông tin

 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, toàn dân nhằm bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt được, công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch còn có những hạn chế, bất cập. Cấp ủy, người đứng đầu một số địa phương, cơ quan, tổ chức nhận thức chưa đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này nên chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng mức. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác trong nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong đấu tranh, ngăn chặn thông tin nhiễu loạn còn mang tính hình thức, thụ động.Công tác tuyên truyền phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa đa dạng, phong phú; nội dung thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao.Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có địa phương còn sơ hở, thiếu sót; tình trạng cán bộ cấp cơ sở quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch với người dân vẫn còn. Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, để khiếu nại vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân, v.v. Đây chính là “miếng mồi ngon”, “mảnh đất màu mỡ” mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin, trước hết, phải đặt nhiệm vụ này dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách, chuyên sâu. Triển khai đồng bộ các mặt công tác từ nắm tình hình, phát hiện, phòng ngừa đến các biện pháp đấu tranh. Thường xuyên tranh thủ sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài một cách thực chất, hiệu quả. Tăng cường công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, chủ động xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh; những bức xúc, nổi cộm ngay tại cơ sở, nhất là ở những địa phương phức tạp về an ninh chính trị; không để phát sinh “điểm nóng”. Chủ động nghiên cứu, dự báo các phương thức hoạt động tuyên truyền xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin của các thế lực thù địch, triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, nhất là kết quả đạt được trong phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng xã hội với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận; gắn kết chặt chẽ giữa “xây và chống”. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, bản chất của hoạt động gây nhiễu loạn thông tin; thấy rõ tác hại của các thông tin phản động, xuyên tạc. Từ đó, thúc đẩy mọi người tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, có khả năng nhận diện, tự “miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, nguy hại. Hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân tiếp cận thông tin chính thống, kịp thời đấu tranh phê phán, phản bác những thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, quan tâm giải quyết thỏa đáng quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Chú ý giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, các vụ đình công, lãn công,… ngay từ cơ sở, không để kẻ địch lợi dụng chống phá.

Cùng với đó, chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog phản động đăng tải các tin, bài, video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa thông tin tích cực để định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội. Nghiên cứu, rà soát xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên không gian mạng chưa được pháp luật điều chỉnh để cơ quan chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả của công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

THÀNH TỰU TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM SỰ THỰC KHÔNG THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ PHỦ NHẬN

 

Thành tựu trong công cuộc đổi mới của Việt Nam gần 40 năm qua không những được nhân dân ta hào hứng đón nhận, mà còn được cộng động quốc tế đánh giá cao. Vậy mà, vẫn có một số phần tử xấu cho rằng, đổi mới đến nay đã hết động lực, vậy nên từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì chính là thay đổi về chế độ chính trị mà thôi. Luận điệu xuyên tạc này hết sức nguy hiểm, chống phá trắng trợn của các thế lực thù địch, muốn chèo lái con thuyền Việt Nam đi theo hướng khác. Nhưng chúng ta có đủ bằng chứng để bác bỏ luận điệu sai trái đó.

Rất tiếc chúng không biết rằng; Mục tiêu nhất quán của Đảng và nhân dân ta là đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam kể từ khi có Đảng. Trong gần một thế kỷ đấu tranh, lao động, sáng tạo, Đảng và nhân dân ta đã từng bước nhận thức đầy đủ hơn, định hình rõ ràng hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chúng ta thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức. Song dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng đã đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và khởi xướng đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới mà thành quả to lớn đó thì mọi người dân đều thấy được.

Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng, khoa học, thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Không phải bây giờ, mà trong suốt quá trình cách mạng, chúng ta luôn thực hiện; song, công cuộc đổi mới lần này mang tính toàn diện, tổng thể, sâu sắc, liên tục, được chuẩn bị bài bản, theo cách thức của ta và cân nhắc kỹ lưỡng từng bước đi cụ thể. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị, với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đổi mới để phát triển, đồng nghĩa với phát triển, nhưng là sự phát triển trong thế ổn định, theo đúng định hướng và con đường chúng ta đã chọn.

Về động lực, nguồn lực của đổi mới.Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố mà chúng ta có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là định hướng đúng vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn và niềm tin tưởng vào đó.

Hai là, những thành quả của sự nghiệp đổi mới gần 40 năm qua tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới, lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn tiếp theo. Cả ba vấn đề này mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước.Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển mạnh mẽ hơn.

Ba là, động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa dân tộc. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài là yếu tố quan trọng; nếu biết cách tranh thủ sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, sẽ khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa “ý Đảng” và “lòng dân” là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới của đất nước. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ quyết đoán, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, có chiến lược, sách lược rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên giành được nhiều thành tựu quan trọng.

Thành tựu của sự nghiệp trong công cuộc đổi mới đất nước của Việt Nam sáng tỏ như ban ngày, không thế lực đen tối nào có thể phủ nhận được. Trong công cuộc đổi mới này; Đảng và nhân dân ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú, hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình của sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới phù hợp “ý Đảng” và “lòng dân” đã và đang kết hợp tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, yếu tố cơ bản nhất tạo nên những thành tựu mới to lớn hơn nữa thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao cả: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những kẻ dân chủ “cuội”, những tổ chức phản động “hèn hạ” đừng hòng xuyên tạc, bịa đặt hoặc phủ nhận thành tựu to lớn đó của dân tộc Việt Nam. Bởi vì, hơn 90 triệu người dân Việt Nam không nghe những luận điệu xuyên tạc nhảm nhí đó./.

Việt Nam Tổ quốc tôi

Ôi Tổ quốc, ta nghe lời Tổ quốc

Lời mẹ hiền vẫn dục bước ngàn năm

Tổ quốc tôi vẫn sáng tựa trăng rằm

Vẫn hiên ngang vượt sóng ngầm, bão tố


Như mặt trời chiếu ánh dương rực rỡ

Chắn bão giông, ngăn nắng lửa bao năm

Việt Nam ơi, vẫn sáng tựa trăng rằm

Lời Tổ quốc, lời mẹ hiền vang vọng


Từ Lũng Cú đến Rạch Tàu đầy nắng (1)

Từ Sín Thầu đến Tiên Nữ, Trường Sa (2)

Từ Trà Cổ đến Cà Mau quê ta

Vẫn vươn tới, vẫn trên đà hội nhập


Vẫn đoàn kết giữ nguyên nền độc lập

Để trái tim vẫn nhịp đập muôn năm

Để em thơ ca múa dưới trăng rằm

Để ca dao vẫn ầu ơi bay bổng


Để bao người vẫn trái tim rung động

Người Việt Nam, yêu Tổ Quốc Việt Nam!

Ôi Tổ quốc đã bao lần gian nan

Vẫn vững vàng trước muôn ngàn con sóng


Mong ai đó đừng để mình xao động

Lòng mẹ hiền vẫn giang rộng vòng tay

Tổ quốc ơi vẫn luôn thắm xuân nay

Vẫn bước tiếp, chẳng một ngày ngơi nghỉ

Cả đất nước cùng một dòng suy nghĩ

Tổ quốc tôi, ôi Tổ quốc Việt Nam!

ST

HIỆN VẬT CHIẾN THẮNG: ĐÈN MỔ QUAY TAY

 Đến thăm Bảo tàng Hậu cần Quân đội, chúng tôi gặp chiếc đèn mổ quay tay của Đội Điều trị 4, Cục Quân y, Tổng cục Hậu cần-hiện vật quan trọng gắn bó với những chiến công của ngành quân y trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Gọi là đèn mổ nhưng thực chất đó là thiết bị chiếu sáng của xe đạp, được cấu tạo gồm một chiếc đèn pha và dynamo ở xe đạp, dynamo hoạt động dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ. Khi núm quay thì nam châm cũng quay theo, do đó trong cuộn dây xuất hiện dòng điện cảm ứng, dòng điện này thắp sáng bóng đèn.
Trong cuộc đọ sức quyết liệt giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội viễn chinh Pháp, ở Chiến dịch Điện Biên Phủ, các đội điều trị thuộc Cục Quân y được thành lập ngay từ đầu chiến dịch, được bố trí đứng sau tuyến quân y đại đoàn. Nơi triển khai các bộ phận phẫu thuật là những hầm khoét sâu trong lòng núi, lòng đất, giường nằm của bệnh nhân là những "hầm ếch" khoét sâu trên những vách hầm hào, mặt giường trải lá, lát phên nứa, phủ một lớp dù, nhân viên buồng mổ đi chân trần không guốc dép, mặt bàn mổ là một mặt chõng, ánh sáng buồng mổ là mấy chiếc đèn bão, nhưng ánh sáng từ những chiếc đèn bão đó không đủ sáng và không thể rọi sâu vào trong bụng và khoang lồng ngực, đó là một thách thức lớn đối với bác sĩ khi mổ cho thương binh.
Lúc đó, bác sĩ Trần Bảo, nguyên Viện trưởng Phân viện 8 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) từ tháng 7-1951 đến tháng 11-1952, có sáng kiến thắp sáng buồng mổ bằng cách lấy đèn pha xe đạp lắp trên một khung xe và lắp thêm một bộ phát điện quay tay, được một y tá hoặc dân công ngồi quay. Đèn xe đạp được trưng dụng từ các đoàn xe thồ của dân công. Nhờ nguồn điện phát ra từ dynamo xe đạp tương đương với 12V, có đủ ánh sáng để thực hiện phẫu thuật cứu chữa thương binh. Sáng kiến ngay lập tức được Cục Quân y phổ biến và nhờ vậy, Đội điều trị 4 tiến hành mổ cứu sống được nhiều thương binh trong đêm và trong hầm tối và sau này được trao tặng Bảo tàng Hậu cần để trưng bày và giới thiệu truyền thống cho cán bộ, chiến sĩ ngành quân y nói riêng và du khách nói chung./.
St

BÀI HỌC VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 56 ngày đêm kiên cường chiến đấu, quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội, đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của quân viễn chinh Pháp. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung có ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Kháng chiến kiến quốc, dựa vào sức mình là chính
Chiến thắng Điện Biên Phủ chứng minh một chân lý thời đại: Một dân tộc dù nhỏ, nếu quyết tâm, đoàn kết chiến đấu và có một đường lối đúng thì có thể đánh bại bất cứ cuộc chiến tranh xâm lược nào. Đó là đường lối kháng chiến kiến quốc đã khơi dậy và phát huy sức mạnh của "thế trận lòng dân".
Về tính chất cuộc kháng chiến, Đảng ta khẳng định: Đây là cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa, có tính chất toàn dân, toàn diện, lâu dài. Trung ương Đảng chủ trương liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động, thực dân Pháp, đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, công lý và hòa bình. Phương châm kháng chiến: Tiến hành chiến tranh nhân dân, thực hiện “kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính”.
Trong đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, điều cốt lõi nhất và cơ bản nhất là chiến lược toàn dân kháng chiến. Đảng tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận cả nước đánh giặc, phát huy sức mạnh của toàn dân và khối đoàn kết toàn dân tộc tham gia kháng chiến với những biện pháp đa dạng, phong phú, phù hợp. Từ đó làm cho quần chúng nhân dân trên khắp cả nước xác định trách nhiệm và quyết tâm đứng lên cứu nước.
Đường lối kháng chiến của Đảng là sự kế thừa và nâng lên tầm cao mới tư tưởng quân sự truyền thống của dân tộc; là sự vận dụng lý luận chiến tranh cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm nước ngoài vào điều kiện Việt Nam. Đường lối đó là ngọn cờ dẫn dắt và là động lực chính trị, tinh thần đưa quân, dân ta tiến lên chiến đấu và chiến thắng thực dân Pháp xâm lược. Với đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ngày càng phát triển, giành thắng lợi vẻ vang.
Sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, Nhà nước dân chủ nhân dân ngày càng vững mạnh, Mặt trận Việt Minh, Liên Việt và các đoàn thể cách mạng đã tập hợp rộng rãi khối đại đoàn kết dân tộc. Đặc biệt, trên mặt trận quân sự, Quân đội và nhân dân Việt Nam lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh lớn của thực dân Pháp, tiêu biểu là Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954), buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva, chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã mở ra giai đoạn mới cho lịch sử dân tộc, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hướng đến mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước.
Chuẩn bị toàn diện ở tiền tuyến và hậu phương
Thực hiện quyết tâm: “Toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”, công tác dân vận được tổ chức chặt chẽ nhằm huy động tối đa các nguồn lực phục vụ Mặt trận Điện Biên Phủ. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã được huy động ở mức cao nhất.
Quân và dân ta ở khắp các địa phương trong cả nước, từ Tây Bắc, Liên khu 3, Tả Ngạn, đến Bình Trị-Thiên, Liên khu 5, Bắc Tây Nguyên, Sài Gòn-Gia Định, Nam Bộ... đều đẩy mạnh các hoạt động phối hợp, liên tiếp tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai và nhân dân, buộc thực dân Pháp phải phân tán chủ lực. Các lực lượng thanh niên, phụ nữ từ thành thị đến nông thôn, từ vùng núi đến đồng bằng tích cực tham gia nhiều cuộc đấu tranh chính trị, phá tề, trừ gian. Đây là những hoạt động phối hợp kịp thời của cả nước, tác động tích cực tới chiến trường Điện Biên Phủ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra ở địa hình rừng núi hiểm trở, có nhiều đèo cao, vực sâu, mạng lưới đường giao thông chiến lược hầu như chưa có; miền Tây Bắc mới được giải phóng, kinh tế chậm phát triển. Vì thế, bảo đảm hậu cần, y tế, kỹ thuật cho chiến dịch lớn, dài ngày gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Đảng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hậu phương và tiền tuyến nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của bộ đội trong trận quyết chiến chiến lược. Khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” được nhân dân hưởng ứng cả ở vùng tự do cũng như ở nhiều vùng tạm bị chiếm.
Các đoàn dân công lên đường với tinh thần hăng hái, phấn khởi được tổ chức chặt chẽ, hiệu quả với niềm tin nhất định thắng lợi. Nhờ đó, trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 đã đóng góp hơn 260.000 dân công (với hơn 14 triệu ngày công), hơn 25.000 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác. Bộ đội và dân công đã sử dụng gần 21.000 chiếc xe đạp thồ, được gọi với tên “binh chủng xe đạp thồ” hoạt động trên cung đường dài hàng nghìn ki-lô-mét. Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên Phủ là điều kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử, trở thành nhân tố quan trọng bảo đảm cho chiến dịch toàn thắng.
Cùng với việc tích cực chuẩn bị cho chiến trường chính, ở hậu phương, trong lĩnh vực kinh tế tại vùng mới giải phóng, Đảng ta tiến hành chủ trương triệt để giảm tô, thực hiện cải cách ruộng đất. Từ tháng 4-1953 đến 7-1954, Đảng đã lãnh đạo tiến hành 5 đợt giảm tô và một đợt cải cách ruộng đất. Chủ trương kịp thời đó đã động viên được các tầng lớp nhân dân ở vùng tự do, vùng mới giải phóng và sau lưng địch, thậm chí cả cán bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, nhân lên sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tích cực dồn sức người, sức của bảo đảm sự toàn thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp cũng như trong thời gian diễn ra Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng và Chính phủ đã thành công trong việc vận động nhiều địa chủ, tư sản dân tộc cùng con em, gia đình họ tham gia kháng chiến. Điều này là một minh chứng khẳng định rõ, muốn bảo đảm và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc thì phải khơi dậy, phát huy những lợi ích chính đáng của từng cá nhân, từng tầng lớp, từng giai cấp để tạo ra khối đoàn kết thật vững chắc, sự đồng thuận của tuyệt đại đa số nhân dân.
Mở rộng và tăng cường sức mạnh Mặt trận Dân tộc thống nhất
Để phát huy sức mạnh tổng hợp, Đảng ta chủ trương kháng chiến toàn dân, toàn diện, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tiến công địch trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Về chính trị, phải đoàn kết toàn dân chống Pháp xâm lược, thống nhất toàn dân, làm cho Mặt trận Dân tộc thống nhất ngày càng vững chắc và rộng rãi.
Xây dựng bộ máy kháng chiến vững mạnh, thống nhất quân-dân-chính trong toàn quốc, phát triển các đoàn thể cứu quốc, củng cố bộ máy lãnh đạo kháng chiến toàn dân. Phải cô lập kẻ thù, tranh thủ thêm nhiều bạn, làm cho nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa Pháp tích cực ủng hộ ta, chống lại thực dân phản động Pháp. Coi trọng xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Nhà nước và Mặt trận Dân tộc thống nhất vững mạnh.
Ngày 3-3-1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt đã động viên sức mạnh toàn dân, toàn quân tập trung sức người, sức của đẩy mạnh cuộc kháng chiến. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Mặt trận Liên Việt là vũ khí chính trị không thể thiếu, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân, củng cố khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện hiện nay
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc...”. Thực tiễn thành tựu của đất nước qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là minh chứng sinh động về xây dựng “thế trận lòng dân”.
Qua đó đã khơi dậy, quy tụ được lòng yêu nước, ý chí quyết tâm cao của toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong sự nghiệp đổi mới, tinh thần của Điện Biên Phủ anh hùng 70 năm trước giờ đây vẫn hiện hữu. Trong đó, việc phát huy tinh thần đại đoàn kết, “thế trận lòng dân” trong đẩy lùi dịch bệnh, phòng, chống thiên tai, chung sức, đồng lòng, giúp nhau vượt qua khó khăn... tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc.
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trước hết cần phải phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
Trong quá trình đó, MTTQ Việt Nam đóng vai trò nòng cốt tập hợp, vận động thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, tôn giáo, trí thức, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số... làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hành dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội; phát động và triển khai các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hướng tới kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, MTTQ Việt Nam đã và đang triển khai nhiều hoạt động có ý nghĩa sâu sắc, như: Thực hiện Đề án vận động hỗ trợ làm nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, hộ cận nghèo ở các tỉnh Tây Bắc; tổ chức các hoạt động tôn vinh, tri ân các anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ... Điều này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam và nhân dân trong cả nước.
Qua đó, tạo được sự tin tưởng của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, làm cơ sở củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”./.
St

PHÒNG, CHỐNG BỆNH LƯỜI BIẾNG

 Ngay từ những năm tháng đầu tiên khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Công việc khẩn cấp bây giờ” đã cảnh báo sớm về những biểu hiện, tính nguy hại của bệnh lười biếng. Nhận diện và đấu tranh phòng, chống bệnh lười biếng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là vấn đề rất cần thiết hiện nay.

Lười biếng cũng là kẻ địch
Trong tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính”, khi bàn về chữ “Cần”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lười biếng là kẻ địch của chữ cần. Vì vậy, lười biếng cũng là kẻ địch của dân tộc. Một người lười biếng, có thể ảnh hưởng tai hại đến công việc của hàng nghìn, hàng vạn người khác”. Hồ Chí Minh đã cắt nghĩa trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”: “Bệnh lười biếng - Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh”; Người giải thích cặn kẽ hơn: “Bệnh lười biếng - Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết, không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó. Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng. Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng, không đến nơi đến chốn. Kết quả nhỏ là: nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần. Kết quả nặng là: phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi. Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp”.
Người cảnh báo thái độ lười học tập, nhất là lười học tập lý luận chính trị, văn hóa và chuyên môn - nghiệp vụ: “Lười biếng: Không chịu khó học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ của mình về chính trị, văn hóa và nghiệp vụ. Do ít hiểu biết về tình hình trong nước và ngoài nước, ít nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho nên gặp thuận lợi thì dễ lạc quan tếu, gặp khó khăn thì dễ dao động, bi quan, lập trường cách mạng không vững vàng, thiếu tinh thần độc lập suy nghĩ và chủ động sáng tạo. Do đó mà gặp nhiều khó khăn trong công việc, tác dụng lãnh đạo bị hạn chế”.
Khi cho rằng, lười biếng cũng là đắc tội với đồng bào, với Tổ quốc, Hồ Chí Minh đã đưa ra hình ảnh so sánh: “Nếu có một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn chuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe. Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc”.
Nguồn gốc bệnh lười biếng
Theo Hồ Chí Minh, cũng giống như bệnh “kiêu ngạo”, bệnh lười biếng của cán bộ, đảng viên không tự nhiên sinh ra, không thuộc về bản chất vốn có của họ, lại càng không phải bản chất của Đảng ta, nó do nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại. Về nguyên khách quan, từ rất sớm, Nguyễn Ái Quốc trong bài “Tình cảnh nông dân An Nam” đăng trên Báo La Vie Ouvrière, ngày 4-1-1924 đã viết: “Người An Nam nói chung, phải è cổ ra mà chịu những công ơn bảo hộ của nước Pháp. Người nông dân An Nam nói riêng, lại càng phải è cổ ra mà chịu sự bảo hộ ấy một cách thảm hại hơn: là người An Nam, họ bị áp bức; là người nông dân, họ bị người ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản. Chính họ là những người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch. Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám, lũ người lười biếng, lũ người đi khai hóa và những bọn khác hưởng mà chính họ thì lại phải sống cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừa thãi; hễ mất mùa thì họ chết đói”. Tiếp đến, ở tác phẩm “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, Người lý giải: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác”. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người giải thích rõ hơn: “Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái? Vì lội bùn thì nhất định có hơi bùn. Cần phải tắm rửa lâu mới sạch. Trái lại, nếu lội bùn mà không có hơi bùn, mới thật là kỳ quái. Nếu trong Đảng ta, một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra, nếu nó hoàn toàn không có những người xấu, việc xấu như thế mới là kỳ quái chứ! Cố nhiên nói thế không phải là để tự bào chữa”.
Về nguyên nhân chủ quan, Hồ Chí Minh cho rằng, nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân mà ra: “… vì tư tưởng cá nhân chủ nghĩa đẻ ra nhiều cái xấu như lười biếng, tham ô, đòi hưởng thụ, kèn cựa, địa vị... Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa”. Theo Người, “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng. Ví dụ: lười biếng, hủ hóa, suy tính tiền đồ”; “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v.v.. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ ra một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến bệnh lười biếng là: “…việc giáo dục chính trị còn sơ sài, thiếu sót. Vì vậy mà một số cán bộ và công nhân còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thái độ làm thuê, thiếu tinh thần làm chủ tập thể. Do đó mà có những hiện tượng xấu như: lười biếng, kèn cựa, thiếu kỷ luật, kém đoàn kết, tham ô, lãng phí”.
"Phương thuốc" khắc phục bệnh lười biếng
Theo Hồ Chí Minh, khắc phục bệnh lười biếng này là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu trước mắt là khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu để nâng cao đời sống nhân dân: “Nước ta còn lạc hậu, dân ta còn nghèo, muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, muốn cải thiện đời sống, thì chúng ta càng phải Cần, phải Kiệm, phải chống lười biếng, chống lãng phí”. Hơn nữa, đó còn là mục tiêu của xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ. Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư, nếu làm trọn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau. Ai sợ khó, sợ khổ, muốn “ngồi mát ăn bát vàng”, người đó mới là kém vì không phải là người xã hội chủ nghĩa”.
Do đó, Người yêu cầu: “…phải gạt bỏ những thái độ sai lầm như: thỏa mãn với thành tích bước đầu, bảo thủ, tự mãn với những kinh nghiệm đã có, có ít nhiều tri thức thì kiêu căng, coi khinh quần chúng, hoài nghi những sáng kiến bình thường của quần chúng; lười biếng, không tích cực học tập cái mới, v.v..”.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh nêu ra những “phương thuốc” hữu hiệu để “chữa bệnh lười biếng” đó là:
“Cách chữa:
- Các cơ quan chỉ đạo phải có cách lãnh đạo cho đúng. Mỗi việc gì đều phải chỉ bảo cách làm.
- Cấp trên phải hiểu rõ tình hình cấp dưới và tình hình quần chúng, để chỉ đạo cho đúng.
- Khi nghị quyết việc gì, phải cẩn thận, rõ ràng. Khi đã nghị quyết thì phải kiên quyết thi hành”.
Phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ mọi mặt, Hồ Chí Minh coi đó là biện pháp hết sức rất cần thiết. Người yêu cầu: “Phải chú ý học tập: Chống lười biếng, ngại học tập, muốn nghỉ ngơi. Muốn tiến bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ, thì phải học tập các chính sách của Đảng và Chính phủ”. Đồng thời, phải ra sức học tập ở nhân dân, bởi: “Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
Người cũng yêu cầu trong Đảng, trong Chính phủ, các cấp, các ngành và mọi đoàn thể cùng mỗi cá nhân phải “…cần có một cuộc vận động: Tiêu diệt lười biếng, nâng cao năng suất, củng cố kỷ luật lao động”.
Những lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh lười biếng chẳng những có giá trị lịch sử, mà còn luôn có tính thời sự trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống bệnh lười biếng nếu được quán triệt và vận dụng sáng tạo sẽ khắc phục có hiệu quả bệnh lười biếng của cán bộ, đảng viên, đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, công tâm, thạo việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới./.
St

CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ: NGÀY 3-5-1954, NHỮNG MŨI LÊ ĐÃ CHĨA VÀO BÊN SƯỜN DE CASTRIES

 Từ cuối tháng 4, rất khó phân biệt trận địa ta và trận địa địch. Vì hầu hết những mũi chiến hào của ta đã cắm sâu vào Tập đoàn cứ điểm. Đôi lúc phải xác định trên bản đồ đâu là những cứ điểm địch còn giữ, đâu là nơi ta đã tiêu diệt.

Về phía ta: Rạng sáng ngày 3-5-1954, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 tiến công tiêu diệt cứ điểm 311B ở phía Tây Mường Thanh. Trận địa quân ta bao vây sát khu trung tâm Mường Thanh, chỉ còn cách khu sở chỉ huy của De Castries trên dưới 300m. Một đại đội ta được lệnh đóng chốt ở bản Nà Tì, không cho địch có lối thoát để chạy sang Lào.
Trong cuốn Hồi ký "Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử", Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã viết: "Buổi trưa trời hửng nắng. Tôi trèo lên đỉnh núi Mường Phăng sau Sở chỉ huy, quan sát trận địa. Gần một tháng qua, từ vị trí này, với một chiếc ống nhòm có bội số quang học lớn, tôi đã theo dõi sự tiến triển của chiến hào ta. Thời gian đầu, sự tách biệt giữa ta và địch rất rõ.
Tập đoàn cứ điểm địch là một khối đông đặc, như những tổ ong khổng lồ nằm sát nhau hai bên bờ sông Nậm Rốm. Trận địa ta là những đường hào rất nhiều nhánh từ xung quanh cánh đồng lấn vào. Nhưng từ cuối tháng 4, rất khó phân biệt trận địa ta và trận địa địch. Vì hầu hết những mũi chiến hào của ta đã cắm sâu vào tập đoàn cứ điểm. Đôi lúc phải xác định trên bản đồ đâu là những cứ điểm địch còn giữ, đâu là nơi ta đã tiêu diệt.
Những chiếc máy bay vận tải bay cao ngoài tầm với của pháo cao xạ tiếp tục tạo nên những trận mưa dù trên bầu trời Điện Biên Phủ. Với hàng nghìn chiếc dù màu sắc tươi rói chi chít trên cánh đồng, như nấm nở rộ sau một trận mưa. Có thể thấy rõ số khá lớn đồ tiếp tế của địch rơi vào trận địa ta. "Miếng da lừa" Điện Biên Phủ đã thu lại quá nhỏ. Sáng nay, tham mưu báo cáo, nó chỉ còn một chiều 1.000m, một chiều 800m. Tổng thống Mỹ Eisenhower đã ví nó với một "sân bóng chày". Tôi dùng ống nhòm tìm vị trí 311B ở phía Tây, đã bị tiêu diệt đêm 3-5 và vị trí 310 nằm bên. Cả hai vị trí này chỉ cách sở chỉ huy Mường Thanh hơn 300m. Từ đây vượt qua một cứ điểm nữa là tới hầm De Castries. Những mũi lê đã chĩa vào bên sườn De Castries. Nhưng phản ứng của địch rất yếu ớt. Chúng đã không làm gì nhiều sau khi mất 311B. Và ít nữa sẽ đến lượt 311, được coi là "con mắt" của Tập đoàn cứ điểm".
Về phía địch: Cogny chỉ thị cho De Castries một kế hoạch tháo chạy khác được gọi là kế hoạch "Chim biển". Theo kế hoạch này, địch dự định thả xuống Điện Biên Phủ một tiểu đoàn để hợp lực với bọn còn sống sót trong tập đoàn cứ điểm với mục đích phá vây chạy sang Thượng Lào bằng ba hướng Nam, Đông Nam và Tây. Trong khi đó 2 tiểu đoàn khác nhảy dù xuống tạo thành một hành lang từ thung lũng Nậm Nưa qua Mường Nhạ, Nậm Hợp để đón quân phá vây rút chạy.
Các sĩ quan trong tập đoàn cứ điểm tranh nhau để được rút chạy theo hướng Nam là hướng có nhiều hy vọng để thoát thân. Họ chủ quan cho rằng kế hoạch "Chim biển" có thể thực hiện vào 20 giờ ngày 7-5 nhưng không ngờ rằng tốc độ tiến công của quân ta đã dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng về tinh thần và tan rã về tổ chức của binh lính, khiến cho mọi ý đồ tháo chạy của các cấp chỉ huy chỉ còn là ảo tưởng./.
ST

HƠN 300 NGHỆ SĨ BIỂU DIỄN CÁC TÁC PHẨM ÂM NHẠC NỔI TIẾNG VỀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

 Với sự tham gia của hơn 300 nghệ sĩ, diễn viên, nhạc công, nhạc trưởng Lê Phi Phi đã tái hiện tầm vóc, giá trị lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ, đồng thời tri ân, tôn vinh những cống hiến, đóng góp của các tầng lớp nhân dân.

Tối 2-5 tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), Bộ Công an đã tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954/ 7-5-2024) với chủ đề “Điện Biên Phủ - Không bao giờ quên”.
Trước giờ biểu diễn, Tiến sĩ Lê Y Linh - tác giả kịch bản chương trình “Điện Biên Phủ - Không bao giờ quên” cho biết, đây là chương trình nghệ thuật hiếm hoi trong thời điểm này biểu diễn các tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc viết về Điện Biên Phủ của các nhạc sĩ được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
“Khán giả lần giở lại một trang trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, đồng thời mang một thông điệp nghệ thuật của nền âm nhạc hàn lâm Việt Nam tới công chúng ngày hôm nay. Nhưng trên hết, chương trình sẽ thêm một lần nữa khẳng định: Tinh thần Điện Biên Phủ đã tạo nên những con người kiệt xuất cả trên chiến trường và trong nghệ thuật”, Tiến sĩ Lê Y Linh cho hay.
Chương trình “Điện Biên Phủ - Không bao giờ quên” kết cấu theo 2 phần: Phần I - “Chiến thắng”, được mở đầu bằng tác phẩm “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao; tiếp nối là các tác phẩm: “Chiến thắng Điện Biên” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, “Quê tôi giải phóng” - nhạc sĩ Văn Chung, “Mùa lúa chín” - nhạc sĩ Hoàng Việt, “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” - nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, “Hò kéo pháo” - nhạc sĩ Hoàng Vân và “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” của nhạc sĩ Huy Thục.
Phần II có chủ đề “Hồi tưởng”, thông qua các tác phẩm khí nhạc đã truyền tải thông điệp về Điện Biên Phủ - biểu tượng của một đất nước Việt Nam độc lập, làm chủ vận mệnh của mình trên con đường hội nhập và phát triển cùng thế giới. Đặc biệt, trong chương trình, người yêu âm nhạc được thưởng thức bài hát “Mừng chiến thắng Tây Bắc” với nhiều sự mới lạ. Đây là tác phẩm đạt giải Nhì tại Đại hội Văn công toàn quốc lần thứ nhất (năm 1954), của nhạc sĩ Đặng Đình Hưng.
Ngoài ra, khán giả còn có dịp thưởng thức tác phẩm “Du kích sông Thao” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, “Người chiến sĩ ấy” - nhạc sĩ Hoàng Vân. Cuối chương trình là bản giao hưởng - hợp xướng “Điện Biên Phủ” gồm 4 chương của nhạc sĩ Hoàng Vân.
Nhiều nghệ sĩ cũng cho biết, được tham gia trong chương trình “Điện Biên Phủ - Không bao giờ quên” đúng vào dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ vừa là niềm tự hào, vừa là trách nhiệm của người nghệ sĩ.
Biểu diễn tác phẩm “Du kích sông Thao” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận và “Quê tôi giải phóng” của nhạc sĩ Văn Chung, ca sĩ Đào Tố Loan bày tỏ, mong muốn thông qua hai tác phẩm này với những bản phối vừa học thuật, nhưng cũng rất tươi mới sẽ góp phần làm sống dậy những tác phẩm đã đi cùng đất nước qua bao năm tháng./.
ST