Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC ĐẢNG CỦA C.MÁC

 C.Mác và Ph.Ăng-ghen là những người sáng lập CNXH khoa học và tích cực truyền bá lý luận vào thực tiễn phong trào công nhân. Hai ông đã trực tiếp tham gia sáng lập Liên đoàn những người cộng sản năm 1847 - đảng cộng sản đầu tiên trên thế giới. Những cống hiến vĩ đại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế của C.Mác qua những thăng trầm của lịch sử đã để lại những di sản lý luận to lớn về Đảng và xây dựng Đảng, trong đó có lý luận về xây dựng tổ chức đảng.

Thứ nhất, về sứ mệnh, mục tiêu của tổ chức.
Bằng những lập luận khoa học về chế độ cộng sản chủ nghĩa - chế độ mà “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Để có thể tiến tới thực hiện mục đích cộng sản chủ nghĩa, giai cấp vô sản cần phải có một chính đảng độc lập, triệt để cách mạng, có lý luận đúng đắn dẫn đường. Ngay trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã xác định rõ: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành chính quyền”.
Tại Hội nghị ở Luân Đôn của Hội Liên hiệp công nhân quốc tế (năm 1871), C.Mác phát biểu: “Chính trị cần làm là chính trị công nhân? Chính trị công nhân, chính đảng công nhân không được theo đuôi chính đảng tư sản này hoặc kia mà phải thành một đảng độc lập có mục đích của mình, chính sách của mình”. Tư tưởng này còn được nhắc lại trong tác phẩm Cái gọi là những sự phân liệt trong quốc tế: “Chỉ khi đã tổ chức thành một đảng chính trị riêng biệt, đối lập với tất cả các đảng phái cũ do các giai cấp hữu sản lập nên, thì giai cấp công nhân mới có thể hoạt động với tư cách là một giai cấp, chống lại quyền lực liên hiệp ấy của các giai cấp hữu sản; việc tổ chức của giai cấp công nhân như vậy thành một chính đảng là cần thiết để bảo đảm thắng lợi của cách mạng xã hội và mục đích cuối cùng của nó - xóa bỏ giai cấp”.
Như vậy, mỗi tổ chức ra đời, tồn tại đều có sứ mệnh lịch sử và gắn chặt với sứ mệnh lịch sử của nó. Các đảng chính trị trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều phải quan tâm đến việc xác định và công khai mục tiêu chính trị của mình vì đó là ngọn cờ để tập hợp lực lượng, tạo sự ủng hộ của dân chúng cho việc thực hiện mục tiêu đó.
Thứ hai, về hệ thống của tổ chức.
Để thực hiện sứ mệnh, mục tiêu của mình, Đảng cần đến một hệ thống tổ chức rộng khắp, chặt chẽ, đủ sức mạnh để tập hợp, dẫn dắt phong trào cách mạng. Vì thế, ngay từ khi mới thành lập Đảng, C.Mác đã đưa vào Điều 5 của Điều lệ Liên đoàn những người cộng sản: “Về cơ cấu, Liên đoàn gồm chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ, BCH Trung ương và đại hội”. Theo đó, hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập từ Trung ương đến địa phương với thứ bậc và thẩm quyền rõ ràng:
1- Chi bộ (tổ chức cơ sở nền tảng của Liên đoàn): Được lập ở các địa phương, các thành phố, khu vực có đông công nhân. Chi bộ gồm ít nhất là ba và nhiều nhất là 20 hội viên của Liên đoàn. Mỗi chi bộ bầu chủ tịch và phó chủ tịch. Việc kết nạp hội viên mới của Liên đoàn do chủ tịch chi bộ và hội viên giới thiệu của Liên đoàn tiến hành, với điều kiện là đã có sự đồng ý trước của chi bộ. Vì trong điều kiện hoạt động bí mật, để tránh sự truy lùng của kẻ địch nên có quy định các chi bộ của các địa phương khác nhau không được biết về nhau và không có liên hệ gì với nhau.
2. Khu bộ: Có thể được thành lập ở một nước hoặc một tỉnh, một địa phương lớn, gồm ít nhất là hai và nhiều nhất là 10 chi bộ. Các khu bộ của một nước hoặc một tỉnh phải phục tùng một tổng khu bộ. Lãnh đạo khu bộ là BCH khu bộ: “BCH khu bộ là cơ quan chấp hành quyền lực đối với tất cả các chi bộ thuộc khu bộ”. Đó là một tập thể lãnh đạo gồm các chủ tịch và phó chủ tịch của các chi bộ trực thuộc. BCH khu bộ liên lạc với các chi bộ của mình và với tổng khu bộ.
3. Tổng khu bộ: Được thành lập ở một nước hoặc một tỉnh của một nước. “Tổng khu bộ là cơ quan chấp hành quyền lực đối với tất cả các khu bộ của một tỉnh”. BCH tổng khu bộ giữ liên lạc với các khu bộ ấy và với BCH Trung ương. Khu bộ mới thành lập thì gia nhập vào tổng khu bộ gần nhất.
4. BCH Trung ương: Theo Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản, “BCH Trung ương là cơ quan chấp hành quyền lực của toàn Liên đoàn và với tư cách đó, phải báo cáo công tác với đại hội”. BCH Trung ương gồm ít nhất năm ủy viên và do BCH khu bộ của địa phương đã được đại hội xác định là nơi đóng trụ sở của BCH Trung ương, bầu ra. BCH Trung ương giữ liên lạc với các tổng khu bộ. Cứ ba tháng một lần, BCH Trung ương lập bản báo cáo về tình hình của toàn Liên đoàn.
5. Đại hội Đảng: Có quyền ban hành các quy định cho toàn Đảng. Các khu bộ của một nước hoặc một tỉnh phải phục tùng một tổng khu bộ. “Đại hội có quyền lập pháp đối với toàn Liên đoàn. Tất cả những đề nghị về sửa đổi điều lệ được chuyển qua các tổng khu bộ lên BCH Trung ương và cuối cùng được đưa ra đại hội”.
Đại hội Liên đoàn những người cộng sản họp hằng năm vào tháng Tám. Trong những trường hợp khẩn cấp, BCH Trung ương triệu tập đại hội bất thường. Mỗi khu bộ đều được cử đại biểu tham dự đại hội với tỉ lệ 30 người được cử một đại biểu. Khu bộ có thể bầu làm đại biểu của mình những hội viên của Liên đoàn không thuộc địa phương mình.
Những quy định chặt chẽ về hệ thống tổ chức của Đảng bảo đảm cho Đảng tồn tại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Lịch sử đã minh chứng, khi nào tổ chức được duy trì ổn định thì Đảng có sức mạnh, trái lại khi tổ chức lỏng lẻo, bị các thế lực thù địch phá vỡ thì tổ chức suy yếu, phong trào cách mạng đi xuống. Vì thế, sau này khi nói về cuộc Cách mạng Pháp năm 1848, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng: “Đảng Công nhân phải hành động sao cho thật có tổ chức, thật thống nhất, thật độc lập, nếu như nó không muốn, như năm 1848, lại bị giai cấp tư sản lợi dụng và phải bám đuôi nó mà lê đi”.
Thứ ba, về nguyên tắc tổ chức.
Nguyên tắc tổ chức là điều kiện bảo đảm để tổ chức hoạt động, là cơ sở để đoàn kết, thống nhất, tạo nên sức mạnh của tổ chức. Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng là tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhân dân và tinh thần quốc tế vô sản.
Về tập trung dân chủ, dù C.Mác và Ph.Ăng-ghen chưa gọi tên nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng trong Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản, do C.Mác và Ph.Ăng-ghen soạn thảo năm 1847 đã thể hiện rất rõ nội dung của nguyên tắc này trong những nội dung sau:
Việc hình thành tổ chức theo chế độ bầu cử dân chủ. Theo đó, cơ quan lãnh đạo các cấp của Liên đoàn từ chi bộ đến Đại hội Liên đoàn đều do bầu cử dân chủ lập ra: “Các ủy viên BCH khu bộ và BCH Trung ương được bầu hằng năm, có quyền được bầu lại và có thể bị những người bầu ra mình bãi miễn bất cứ lúc nào”. Các cuộc bầu cử tiến hành vào tháng Chín.
Về chế độ hoạt động theo hướng phát huy dân chủ, xác định rõ quyền ngang nhau giữa các đảng viên với tư cách là thành viên của tổ chức mà mình tham gia: “Tất cả các hội viên của Liên đoàn đều bình đẳng, họ là anh em và trong mọi trường hợp, đều có nghĩa vụ giúp nhau như anh em”. Dân chủ được thể hiện thường xuyên trong sinh hoạt đảng của đảng viên như quyền được tự do thảo luận, tranh luận trong khuôn khổ tổ chức của Liên đoàn. Tuy vậy, việc thực thi dân chủ gắn liền với việc giữ vững kỷ cương của Đảng. Đó là quy định mọi đảng viên đều phải chấp hành nghị quyết của Liên đoàn.
Về chế độ hội họp, Điều lệ quy định các chi bộ và các BCH khu bộ cũng như BCH Trung ương họp ít nhất hai tuần một lần; các BCH khu bộ phải lãnh đạo các cuộc thảo luận tiến hành ở các chi bộ cho phù hợp với mục đích của Liên đoàn. Nếu BCH Trung ương thấy rằng việc thảo luận một số vấn đề nào đó là mối quan tâm chung và trực tiếp, thì có thể đưa những vấn đề ấy ra cho toàn Liên đoàn thảo luận.
Về chế độ báo cáo, Điều lệ Liên đoàn những người cộng sản quy định: Các khu bộ “ít nhất là cứ hai tháng một, mỗi khu bộ phải báo cáo tình hình công tác của địa phương mình với tổng khu bộ; ít nhất ba tháng một lần, mỗi tổng khu bộ phải báo cáo tình hình công tác của địa phương mình với BCH Trung ương”.“Các tổng khu bộ phải báo cáo công tác với cơ quan quyền lực tối cao là Đại hội, còn giữa các kỳ đại hội thì báo cáo với BCH Trung ương... BCH Trung ương là cơ quan chấp hành quyền lực của toàn Liên đoàn và với tư cách đó, phải báo cáo công tác với Đại hội".
Về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng, C.Mác và Ph.Ăng-ghen luận giải trên nhiều nội dung quan trọng. Hai ông cho rằng, tự phê bình và phê bình là rất cần thiết cho hoạt động và phát triển bình thường của Đảng Cộng sản và nhấn mạnh: “Tôi thấy rằng việc Đảng phê bình hoạt động đã qua của mình là việc tuyệt đối cần thiết và bằng cách đó, Đảng học cách hoạt động tốt hơn”.
Về nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng, C.Mác và Ph.Ăng-ghen coi đây là sức mạnh vô địch của Đảng: “Lịch sử của quốc tế cũng đã là cuộc đấu tranh không ngừng của Tổng hội đồng chống lại những bè phái và các thử nghiệm tài tử từng tìm cách củng cố ở trong nội bộ Quốc tế bất chấp phong trào đích thực của giai cấp công nhân. Cuộc đấu tranh này đó diễn ra tại các đại hội và ở mức độ còn lớn hơn, thông qua những cuộc thương thảo không công bố của Tổng hội đồng với các chi hội riêng lẻ”.
Về nguyên tắc đảng gắn bó chặt chẽ với nhân dân, C.Mác và Ph.Ăng-ghen luôn khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Chính quần chúng là người làm nên lịch sử. Do đó, trong cách mạng XHCN, sức mạnh của đảng cộng sản là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, các đảng cộng sản phải biết dựa vào sức mạnh của quần chúng, phải biết tập hợp, lãnh đạo quần chúng. Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen (năm 1843), C.Mác viết: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân...; không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước”.
Về nguyên tắc quốc tế của đảng cộng sản, C.Mác chỉ rõ: “Vì sự thành công của phong trào công nhân trong mỗi nước chỉ có thể được bảo đảm bằng sức mạnh của sự thống nhất và sự tổ chức và mặt khác, vì hiệu quả do Hội đồng Trung ương quốc tế đem lại phụ thuộc phần lớn vào việc là nó sẽ liên hệ với vài trung tâm có tính chất toàn quốc của các đoàn thể công nhân, hay với nhiều đoàn thể nhỏ và phân tán ở các địa phương, cho nên các hội viên của Hội Liên hiệp công nhân quốc tế sẽ phải đem hết mọi cố gắng của mình ra để thống nhất các đoàn thể công nhân còn rời rạc của nước họ thành những tổ chức có tính chất toàn quốc do các cơ quan Trung ương của cả nước đại biểu”. Vì vậy, ngay trang đầu tiên của “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” đã nêu cao khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”.
Thứ tư, về con người của tổ chức.
Xuất phát từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, do yêu cầu lãnh đạo, tổ chức phong trào của đảng cộng sản mà việc xây dựng tổ chức đảng phải chọn được những người tiên phong. Vì thế, đảng tiên phong cả về lý luận và thực tiễn, tiên phong trong hành động và tiên phong về lý luận: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.
Để bảo đảm tính tiên phong của Đảng thì khâu kết nạp người vào Đảng phải được đặc biệt chú trọng. Cho nên, muốn trở thành hội viên của Liên đoàn những người cộng sản phải có: “a. Lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích ấy; b. Nghị lực cách mạng và nhiệt tình trong công tác tuyên truyền; c. Thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; d. Không tham gia vào mọi tổ chức - tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc - chống cộng sản và có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan lãnh đạo hữu quan về việc mình tham gia một tổ chức nào đó; e. Phục tùng các nghị quyết của Liên đoàn; f. Giữ bí mật mọi công việc của Liên đoàn; g. Được một chi bộ nhất trí kết nạp. Ai không còn đủ những điều kiện ấy sẽ bị khai trừ”.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen yêu cầu Đảng phải nắm công tác cán bộ như một tất yếu khách quan. Trong cuốn Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính phê phán, hai ông viết: “Xưa nay, tư tưởng không thể đưa người ta vượt ra ngoài trật tự thế giới cũ được; trong bất cứ tình huống nào, tư tưởng cũng chỉ có thể đưa người ta vượt ra ngoài phạm vi tư tưởng của trật tự thế giới cũ được thôi. Thật vậy, tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện được tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”.
Những luận thuyết cơ bản về xây dựng tổ chức đảng của C.Mác được tổng kết từ thực tiễn khắc nghiệt của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước sự tấn công liên tục của kẻ thù. Sau này, khi Ăng-ghen mất, các lãnh tụ của Quốc tế II đã phản bội và sự xuất hiện đúng lúc của V.I.Lê-nin đã tiếp tục đấu tranh bảo vệ tư tưởng C.Mác, tiếp tục hoàn thiện, xây dựng thành học thuyết về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, góp phần xây dựng đảng vững mạnh, lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga thành công./.
St

 ĐIỀU TRĂN TRỞ 


Lặng thầm ánh mắt đăm chiêu 

Trong lòng đau đáu bao điều trở trăn

Tương lai Đất nước rất cần 

Bàn tay khối óc Đảng Dân kết đoàn 


Muôn vàn thử thách gian nan 

Thiên tai dịch bệnh tăng dần thêm lo 

Làm sao giữ vững cơ đồ 

Tránh gây binh biến phúc cho muôn nhà 


Chủ quyền biển đảo khơi xa 

Giữ sao toàn vẹn đó là quyết tâm 

Giao thương vị thế nâng tầm 

Đưa nền kinh tế Việt Nam mạnh giàu 


An toàn lương thực dài lâu 

Y tế giáo dục đứng đầu mục tiêu 

Làm sao dẹp nạn quan liêu 

Tham ô tham nhũng hụt nhiều quỹ công


Dù cho đau xót trong lòng 

Nhóm lò đốt củi việc không thể dừng 

Không vùng cấm để chống lưng 

Soát rà từ cấp trung ương tỉnh thành 


Kẻ vì tiền vội bán danh 

Hại dân hại nước biến thành mọt sâu 

Bác càng ngẫm lại càng đau 

Quan tham vận nước mai sau thế nào 


Cúi đầu nước mắt tuôn trào 

Cha ông giữ nước tự hào chiến công 

Xương thành núi máu thành sông 

Quan tham có thẹn trong lòng hay không 


Nước nhà thịnh quan có công 

Nước suy xin hỏi quan mong được gì

Làm quan dù chỉ một kì 

Danh nhơ tiếng ấy có khi muôn đời 


Thanh liêm chính trực thảnh thơi 

Vì dân vì nước rạng ngời tổ tông 

Chung tay gìn giữ non sông 

Nước nhà hưng thịnh phúc hồng cháu con 


Làm quan trọng trách lớn hơn 

Hãy vì đại cục vẹn tròn trí tâm

Đừng vì tư lợi sai lầm

Bác mong lò lửa sẽ không phải dùng. 



THEO DẤU CHÂN NGƯỜI.

  Ngày 5-5-1920, Báo “L’ Humanité” (Nhân Đạo) của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Tại Đông Dương” của Nguyễn Ái Quốc. Bài báo thuật lại một cuộc đấu tranh của thủy thủ trên những chiếc tàu xuất phát từ cảng Hải Phòng chở lính thợ Việt Nam sang Xi-ri để tố cáo: “Nước Pháp đã để hàng ngàn đồng bào chúng tôi chết đói, và hàng ngàn người bị làm bia thịt cho đạn đại bác ở vùng Trung Đông. Đó là cách nước Pháp đã bảo hộ chúng tôi!”.

- Ngày 5-5-1948, Bác Hồ viết “Thư gửi Đội lão du kích huyện Yên Dũng, Bắc Giang” bày tỏ lòng tiếc thương đối với 7 vị lão du kích đó hy sinh vì nước. Thay mặt Chính phủ, Bác viết: “Các cụ ấy đã hy sinh, nhưng lòng yêu nước, chí quật cường, tinh thần dũng cảm của các cụ sẽ ở trong lòng tất cả đồng bào, tất cả mọi người du kích. Và tiếng thơm của các cụ sẽ giai truyền với non sông của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống nhất và độc lập”.
- Ngày 5-5-1953, đóng góp ý kiến cho văn bản “Đề nghị về chế độ làm việc của cố vấn và cán bộ Việt Nam với Chính phủ và cán bộ Lào”, Bác ghi bên lề văn bản lời căn dặn: “Thật thà đoàn kết về tinh thần và trong công tác. Thật thà tự phê bình và phê bình lẫn nhau. Cán bộ Việt tuyệt đối tránh bao biện. Cán bộ Lào thì nên tránh khách khí” .
Ngày 5-5-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Hội đồng Chính phủ tổ chức lễ tuyên thệ nhậm chức cho các thành viên mới của Chính phủ. Bác nói: “...Như các vị vừa mới tuyên thệ, chúng ta phải hết sức phục vụ nhân dân, chí công vô tư; làm gương về mặt đức - tài. Đó là đạo đức cách mạng. Ta có thêm lực lượng mới trong Chính phủ thì phải có tác phong mới và lề lối làm việc mới, tránh quan liêu để công việc không bị bê trễ, cố gắng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ nhân dân giao phó. Nhân dân đó cố gắng, chúng ta cũng cố gắng, lại được các nước bạn giúp đỡ, nhất định chủ nghĩa xã hội sẽ được thực hiện và sự nghiệp thống nhất đất nước sẽ thành công”.
- Ngày 5-5-1968, Bác Hồ tiếp Hồ Văn Mên, thiếu niên dũng sĩ diệt Mỹ ra thăm miền Bắc và mời cơm thân mẫu cùng vợ của cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Cùng ngày, trên Báo Nhân Dân đăng bài báo “Vừa đi đường vừa nói chuyện về Các Mác” (ký bút danh Việt Hồng). Sau khi kể nhiều mẩu chuyện sinh động từ cuộc đời của mình noi theo tấm gương của “ông thầy chủ nghĩa cộng sản của chúng ta”, Bác kết luận: “Chủ nghĩa Mác rất cao, rất rộng. Những người cách mạng phải học tập Chủ nghĩa Mác. Nhưng có thể nói một cách tóm tắt là Chủ nghĩa Mác dạy chúng ta phải tuyệt đối trung thành với Đảng, phải hết lòng hết sức phục vụ giai cấp công nhân. Mác dạy chúng ta: Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại! Lênin người học trò thiên tài của Mác bổ sung thêm: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại! Hai câu khẩu hiệu đó là những ngọn cờ vĩ đại dẫn giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đến thắng lợi hoàn toàn” ./.
St

Chiến thắng Điện Biên Phủ – Biểu tượng và đỉnh cao của văn hóa giữ nước Việt Nam

 70 năm qua, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, đã có hàng nghìn công trình lớn, nhỏ, trong nước và nước ngoài nghiên cứu về chiến dịch này để cố gắng đưa ra những đánh giá đầy đủ, trọn vẹn nhất về ý nghĩa, tầm ảnh hưởng to lớn của sự kiện đối với Việt Nam và thế giới.

Đảng ta đã huy động được lực lượng lớn dân công thồ hàng bằng xe đạp phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ. (Ảnh tư liệu/TTXVN phát)
Rất nhiều vấn đề được làm sáng tỏ, đào sâu, cả ở tầm khái quát và ở các sự kiện, biến cố, chi tiết cụ thể từ hai phía. Song đến nay, có một câu hỏi mang tính lịch sử sâu sắc được đặt ra và tìm lời giải đáp trong nhiều công trình, đó là: Tại sao, nguyên nhân nào Việt Nam là một dân tộc nghèo, đất không rộng, người không đông lại làm nên chiến thắng vĩ đại mang tầm vóc thế giới? Tại sao nước Pháp giàu có, “binh hùng”, vũ khí mạnh… lại thất bại thảm hại ở Điện Biên Phủ đã được chuẩn bị công phu, mà họ nghĩ sẽ là “cối xay thịt” quân Việt Minh?
Đã có nhiều lời giải xác đáng, khoa học, song không phải trọn vẹn. Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận đánh thuộc lĩnh vực quân sự, vì vậy, trước hết phải tìm nguyên nhân chiến thắng từ góc độ quân sự. Đó là khoa học quân sự, là nghệ thuật quân sự Việt Nam. Vậy nội hàm của học thuyết, nghệ thuật quân sự Việt Nam là gì? Tại một cuộc hội thảo quan trọng về vấn đề này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “phải khẳng định có một học thuyết quân sự Việt Nam và tôi nghĩ rằng, theo học thuyết ấy không hề có chiến lược quân sự thuần túy, chiến lược ta bao giờ cũng là chiến lược tổng hợp, cả chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, một chiến lược toàn diện tổng hợp” (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Những bài viết và nói chọn lọc thời kỳ đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia-Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.444). Từ đó, “văn hóa” đã trở thành một nội dung, một thành tố hữu cơ trong học thuyết quân sự Việt Nam. Và trong một lần trao đổi với Giáo sư Phan Huy Lê, Đại tướng đã xác định: “Nghệ thuật quân sự Việt Nam là lĩnh vực thuộc phạm trù văn hóa”.
Và điều đặc biệt thú vị nữa là, sau thất bại ở Điện Biên Phủ, chính tướng bại trận Henri Navarre – Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương – đã phải thừa nhận rằng: “Sức mạnh to lớn của Việt Minh nằm trong sức mạnh huyền thoại của dòng giống người Việt, lòng yêu nước và nhất là ý thức xã hội mà họ đã xây dựng được… Chính phủ Việt Minh đưa cuộc chiến vào tất cả các lĩnh vực-chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội và quân sự-tạo ra một động lực hết sức mạnh mẽ” (H.Navarre: Đông Dương hấp hối (Hồi ký), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.55). Tuy rất cay đắng vì thất bại, song tướng Navarre đã tìm ra được chân lý, nguyên nhân sâu xa làm nên thất bại của mình vì không hiểu được “động lực hết sức mạnh mẽ” của văn hóa quân sự Việt Nam, của văn hóa yêu nước, giữ nước của dân tộc chúng ta.
Lý giải vì sao nhân dân ta đã đánh thắng hai đế quốc to nói chung, và Chiến thắng Điện Biên Phủ nói riêng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: “Sẽ không tìm được câu trả lời cho câu hỏi này nếu không nhìn sâu vào chiều dày lịch sử xa xưa, vào nền văn hóa dân tộc, vào truyền thống và di sản quân sự của tổ tiên…” (Võ Nguyên Giáp-sách đã dẫn, tr.150).
Đặc điểm bao trùm và sâu sắc nhất của văn hóa giữ nước-yêu nước của dân tộc ta được hình thành và phát triển hàng nghìn năm nay, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định là: “Bí quyết quan trọng bậc nhất là: phải thực hiện cả nước chung sức đánh giặc phải tổ chức toàn dân kháng chiến. Quân phải đánh giặc đồng thời dân cũng phải đánh giặc” (Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn-Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, T.2, tr.997). Thử sơ lược nhìn lại một vài sự kiện lịch sử để hiểu rõ đặc trưng văn hóa giữ nước này từ xa xưa cho tới đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Có lẽ, truyền thuyết “Thánh Gióng” là biểu hiện văn hóa đầu tiên của văn hóa giữ nước của dân tộc ta. Gióng đánh quân xâm lược một mình? Không phải. Ai nuôi Gióng từ một cậu bé bỗng lớn lên thành Phù Đổng? Cơm gạo của dân làng. Ai rèn đúc vũ khí (ngựa sắt, gươm sắt) cho Gióng. Dân làng. Thanh gươm bị gãy, vũ khí thay thế của Gióng là các cụm tre làng. Gióng đã thắng, đuổi quân xâm lược khỏi bờ cõi đất nước, song, đó chính là sức mạnh nhân dân trong Gióng đã làm nên chiến thắng. Đó là sức mạnh tổng hợp, tổng lực của văn hóa giữ nước của dân tộc ta. Tôi nhớ, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Alain Ruscio-sử gia người Pháp đã nhận xét: “Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! Ông có nhân dân Việt Nam cùng kề vai, sát cánh…” (G.Boudarel: Võ Nguyên Giáp, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2012, tr.12). Thật thú vị khi có sự trùng hợp của hai hình ảnh nêu trên.
Văn hóa giữ nước huy động sức mạnh của cả dân tộc khi bị kẻ thù xâm lược là bí quyết của mọi chiến thắng. Tướng bại trận tại Điện Biên Phủ-De Castries đã phải thốt lên: Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc.
Văn hóa giữ nước, bảo vệ Tổ quốc như vậy, tất yếu tạo ra nghệ thuật quân sự đặc biệt, riêng có của Việt Nam, đó là chiến tranh nhân dân, mà đặc trưng của nó là sức mạnh bắt nguồn trong lực lượng hùng hậu của nhân dân được giác ngộ và được tổ chức. Hoàn toàn tin vào sức mạnh chiến tranh nhân dân nên khi Thủ tướng Liên Xô (trước đây) hỏi Việt Nam sẽ lấy gì để đánh Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tự tin trả lời: Nếu theo cách đánh của Liên Xô, “chúng tôi không trụ nổi 2 giờ đồng hồ”, nhưng Việt Nam có cách đánh riêng của mình, cách đánh của chiến tranh nhân dân (theo thông tin của Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên).
Thử đối chiếu hai trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước ta: Trận Ngọc Hồi-Đống Đa của thế kỷ 18 và trận Điện Biên Phủ giữa thế kỷ 20 sẽ cho ta thấy sức mạnh của văn hóa giữ nước và sự kế thừa, phát triển của chiến tranh nhân dân. Chỉ trong vòng hơn một tuần, người anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ đã tập hợp, tổ chức lực lượng quân đội từ trong nhân dân, nông dân hùng hậu từ miền trung ra đến phía bắc, hành quân thần tốc đánh một trận “sạch không kình ngạc” diệt 29 vạn quân Thanh, đất nước sạch bóng quân thù, kết thúc chiến tranh. Để chuẩn bị đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, quân và dân cả nước, từ bắc tới nam đã phối hợp tiêu diệt sinh lực địch, cô lập Điện Biên Phủ. Không chỉ có bộ đội chiến đấu ở Điện Biên Phủ mà còn hàng triệu thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến hành quân đem đạn dược, vũ khí, mở đường, tiếp tế hậu cần… cho chiến dịch. Cả nước ra trận vì trận quyết chiến chiến lược này, đúng như sau này, nhà thơ Chính Hữu và nhạc sĩ Vũ Trọng Hối đã viết thành thơ và nhạc: “Có những ngày vui sao, cả nước lên đường, xao xuyến bờ tre, từng hồi trống giục” bởi vì cả nước ra trận “đi theo ánh lửa từ trái tim mình”. (Khi trận Điện Biên Phủ sắp diễn ra, tôi còn bé, nhưng vẫn nhớ như in: Gia đình tôi, lúc đó, có chín anh chị em thì ba anh đã tự nguyện đi thanh niên xung phong, ba chị đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch, trong đó có chị chưa đến 15 tuổi. Ở nhà chỉ còn có bố mẹ già và ba đứa em nhỏ, thiếu ăn. Đồng cảm với những người ra trận, bà con làng xóm đã tự nguyện ùn ùn gánh ngô đến ủng hộ gia đình. Tôi nhớ, ngô chất thành đống trong nhà). Văn hóa giữ nước đâu còn là một khái niệm trừu tượng mà chính là những cái cụ thể, hằng ngày nhất và đặc biệt được thể hiện trong phẩm giá những con người bình thường nhất, trước hết là những người lính tình nguyện.
Ngày xưa, trong kế sách giữ nước của nhà Trần có chính sách “ngụ binh ư nông”. Người nông dân sẵn sàng bỏ cày, bỏ cuốc, trở thành nghĩa sĩ, nghĩa binh, nghĩa quân khi có giặc xâm lược đất nước, khi có lời hiệu triệu cứu nước. “Ngụ binh ư nông” là một nét văn hóa giữ nước vô cùng độc đáo của dân tộc ta đã tồn tại từ hàng trăm năm. Ngày xưa, chắc chắn rằng, những người lính dũng cảm của Anh hùng dân tộc Quang Trung đều là từ nông dân. Ở trận Điện Biên Phủ cách đây 70 năm, có lẽ, phần lớn “chiến sĩ Điện Biên” cũng từ đồng quê mà trưởng thành, trở thành Bộ đội Cụ Hồ, thành anh hùng.
Bốn từ “Quyết chiến quyết thắng” trên lá cờ ở chiến dịch Điện Biên Phủ giúp tôi nhớ tới hai từ “Sát Thát” được viết trên tay những người lính thời Trần quyết diệt quân xâm lược và dòng chữ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của cảm tử quân Trung đoàn Thủ đô chiến đấu bảo vệ Hà Nội hơn 60 ngày đêm năm 1946-1947. Đó không hề là một khẩu hiệu hô hào suông. Đó là ý chí kiên cường, quả cảm của người lính và đó chính là hành động tự nguyện của các thế hệ người lính Việt Nam quyết tâm sắt đá diệt giặc để giữ nước, bảo vệ và giải phóng Tổ quốc “dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”. (Hịch tướng sĩ-Trần Quốc Tuấn). Và đó chính là những giá trị văn hóa bền vững và phát triển trong lịch sử dân tộc ta từ ngàn xưa đến hiện tại. Một dòng chảy văn hóa giữ nước không bao giờ, không thể đứt đoạn. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã minh chứng hùng hồn cho sự thật lịch sử đó.
56 ngày đêm cực kỳ gian khổ và hy sinh trên chiến trường Điện Biên Phủ, nếu không có sự đoàn kết, gắn bó, thương yêu nhau như tình cảm ruột thịt, chắc rằng người lính không thể trụ vững. Ngược lại, nơi đây đã trở thành tấm gương sáng ngời của tình đồng đội, đồng chí, cán bộ với chiến sĩ. Khi được lên Điện Biên tham gia tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm Ngày chiến thắng (1984), tôi ngỡ ngàng và xúc động khi chứng kiến những chiến sĩ Điện Biên ôm chặt nhau, khóc không thành tiếng, đứng lặng đi với những đôi mắt đỏ hoe chứa đầy nước mắt trước Nghĩa trang Liệt sĩ Đồi A1 (lúc đó, còn đơn sơ lắm). Một vẻ đẹp kỳ lạ trong đau thương của người lính. Nghĩa tình đồng đội, đồng chí là một giá trị văn hóa tuyệt vời của Bộ đội Cụ Hồ, mà đỉnh cao của nó là trước những thử thách vô cùng khốc liệt, nghiệt ngã ở chiến trường Điện Biên Phủ. Song giá trị văn hóa mới đó có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử dân tộc, trong văn hóa giữ nước của chúng ta. Tôi nhớ đến tình cảm “phụ tử chi binh” của thời Trần, “huynh đệ chi binh” của thời Lê và “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” (Bình Ngô đại cáo) có từ thời kháng chiến chống quân Minh.
Lịch sử dân tộc ta từng chịu quá nhiều đau thương mất mát, bị tàn phá, hy sinh do các cuộc chiến tranh xâm lược gây ra. Cũng chính vì thế mà dân tộc ta vô cùng yêu quý hòa bình. Vì vậy, nói văn hóa giữ nước Việt Nam không chỉ là sức mạnh chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, không chỉ là chiến lược, chiến thuật các trận đánh, mà còn chính là văn hóa yêu hòa bình, và không còn cách nào khác, phải chiến đấu cũng bởi vì hòa bình. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xác quyết: “Chúng tôi đã nhiều lần chứng tỏ thiện chí của mình. Nếu các ông muốn hòa bình thì sẽ có hòa bình. Còn nếu không, muốn chiến tranh thì sẽ có chiến tranh” và “Hãy tin rằng chúng tôi sẽ làm tất cả để tránh khỏi thảm họa này” (G.Boudarel-Sách đã dẫn. tr.235). “Đó là một cuộc chiến mà chúng tôi bắt buộc phải làm, chúng tôi là một dân tộc yêu chuộng hòa bình nhất thế giới” (B.Currey: Chiến thắng bằng mọi giá-Thiên tài quân sự Việt Nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2013, tr.432). Kẻ thù hung tàn, cường bạo đã bắt buộc chúng ta phải vào cuộc chiến để giành hòa bình cho dân tộc, song, với Đại tướng, đó phải là “một nền hòa bình trong tự do và công bằng… chứ không phải hòa bình trong nhẫn nhục, mất danh dự và nô lệ” (G.Boudarel-Sách đã dẫn. tr.74). Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ là biểu hiện sáng ngời của văn hóa giữ nước-văn hóa yêu hòa bình Việt Nam, bởi vì chiến đấu để “Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo” như lời khẳng định đanh thép trong “Bình Ngô đại cáo”. Đó là tư tưởng quân sự độc đáo Việt Nam, biết cách đánh thắng bằng bản sắc văn hóa riêng của dân tộc chúng ta. Ở chiến trường Điện Biên Phủ, chúng ta đã thực hiện trọn vẹn, hoàn hảo điều đó./.
St

ĐIỆN BIÊN PHỦ - KỲ TÍCH VẺ VANG

 Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi, một kỳ tích vẻ vang như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Năm tháng qua đi nhưng tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của chiến thắng Điện Biên Phủ thì ngày càng tỏa sáng. Nếu chúng ta nêu cao tinh thần yêu nước, có ý chí quyết tâm và tinh thần sáng tạo thì việc khó mấy chúng ta cũng làm được.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đặt dấu chấm hết cho chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta và bán đảo Đông Dương. Nếu không có Điện Biên Phủ thì không thể có Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Thắng lợi của chín năm kháng chiến trường kỳ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần to lớn bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo ra các tiền đề, điều kiện để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục vươn tới giành nhiều thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng XHCN miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiện mang tầm vóc thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên toàn cầu. Bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam đã nêu tấm gương sáng về lòng dũng cảm, tinh thần bất khuất, sức sáng tạo chống ngoại xâm trước toàn thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, nhưng trước hết đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta và Bác Hồ. Chiến thắng Điện Biên Phủ còn là chiến thắng của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật quân sự Việt Nam; là chiến thắng của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là thắng lợi của đường lối “kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính…”. Cùng với nhân dân cả nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã vượt qua vô vàn gian nan, thử thách, chiến đấu kiên cường, bền bỉ, sáng tạo, góp phần quyết định làm nên chiến thắng...
Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, bài học kinh nghiệm của chiến thắng Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào giai đoạn lịch sử mới chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Với đường lối cách mạng đúng đắn, sự chỉ đạo tài tình của Đảng, quân và dân ta đã làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ mới với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã giành được những thành tựu hết sức quan trọng. Sự phát triển vượt bậc của đất nước đã tạo ra những động lực lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Nhân loại đã bước qua những thập niên đầu của thế kỷ 21. Tuy giành được những thành tựu rất đáng tự hào và phía trước có những thời cơ mới mở ra nhưng Việt Nam cũng đang gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta khơi dậy niềm tự hào dân tộc, kế thừa và phát huy cao độ những bài học quý báu của chiến thắng. Tình hình thế giới và khu vực đang đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải không ngừng đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, phát triển lý luận bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đẩy mạnh tuyên truyền về đường lối phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân cho toàn dân, chúng ta phải đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại để xứng đáng với vai trò nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân. Quân đội ta phải được giáo dục, huấn luyện chu đáo cả về bản lĩnh chính trị, lòng trung thành, tinh thần cảnh giác cách mạng; cả tư tưởng và tổ chức; cả trình độ kỹ thuật, nghệ thuật quân sự và vũ khí, trang bị - công nghệ quân sự... Có như vậy chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội mới không ngừng được nâng cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN và cuộc sống bình yên của nhân dân.
70 năm nhìn lại chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Sự đổi thay kỳ diệu của đất nước trong hòa bình nhắc nhở chúng ta phải ra sức phấn đấu để xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ cha, anh. Dù phía trước còn nhiều nguy cơ, thách thức nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống Điện Biên Phủ không ngừng được phát huy, công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn. Điện Biên Phủ mãi mãi xứng đáng với tầm vóc lịch sử của dân tộc Việt Nam./.
ST

TÌNH QUÂN DÂN TRÊN ĐẤT ĐIỆN BIÊN NHỮNG NGÀY THÁNG 5 LỊCH SỬ

 Những ly nước mát, chiếc bánh ngọt, những cái bắt tay, lời động viên, cổ vũ... của người dân Điện Biên là món quà đặc biệt, cũng là kỷ niệm khó quên với mỗi cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng đang miệt mài luyện tập diễu binh, diễu hành, hướng về ngày đại lễ.

Không quản thời gian, thời tiết, những bước chân luyện tập diễu binh vẫn miệt mài, sôi nổi, đầy khí thế trên tuyến đường 7/5, TP Điện Biên Phủ. Đồng hành và dõi theo các cán bộ, chiến sĩ là bà con Điện Biên với sự quan tâm, chia sẻ, những lời cổ vũ, hỏi thăm; là từng chuyến xe lớn nhỏ chở theo những món quà, từ hộp sữa, chai nước, trái cây... trao tận tay các lực lượng.
Chị Nguyễn Thị Thu Hằng, HTX dịch vụ nông nghiệp Toàn Hương, TP Điện Biên Phủ chia sẻ: Những ngày qua, thấy các lực lượng từ các vùng miền đến đây tập luyện rất hăng say, vất vả, chúng tôi cũng có chút quà động viên tinh thần cho tất cả các anh, chị, các chú. Mong muốn hành động nhỏ bé của mình cũng giúp sức, động viên tinh thần các anh chị hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Tựa tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” 70 năm trước, hôm nay, người dân Điện Biên cũng hướng về đại lễ bằng tình cảm, sự trân quý, mong muốn được góp sức từ những điều nhỏ bé. Nhờ đó mà các lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành không chỉ được tiếp thêm sức mạnh tinh thần, mà còn gắn kết hơn tình quân – dân, để lại ấn tượng đặc biệt về con người, miền đất lịch sử anh hùng.
Đại úy Đặng Thế Cảnh, Học viện Phòng không - không quân, Quân chủng Phòng không - không quân cho biết: Từ những ngày đầu chúng tôi hành quân lên đây, được nhân dân từ đầu Điện Biên chào đón đoàn, các em nhỏ vẫy hoa, vẫy cờ, tiếp nước... Quả thực mà nói tình cảm con người Điện Biên rất dạt dào, mặc dù lên đến trên này thấy đồng bào còn rất nhiều khó khăn, nhưng mà cảm nhận rõ tình người, tình đất của Điện Biên, rất yêu mến anh em bộ đội.
Chỉ cần là nơi có các lực lượng diễu binh, diễu hành, phục vụ lễ kỷ niệm đi qua, mỗi con đường, tuyến phố ở Điện Biên đều có rất nhiều điểm tiếp sức của người dân, tổ dân phố, các đoàn thể túc trực.
Anh Đặng Chung Công, người dân TP Điện Biên Phủ cho biết: Với lòng hiếu khách của người dân Điện Biên, không những gia đình tôi mà rất nhiều người muốn góp chút tình cảm, bằng điểm tiếp nước để đón khách đi qua, khách tham quan, những người tập diễu binh để giảm cơn khát, mệt mỏi.
Khoảnh khắc quân – dân hòa mình trong những giai điệu, lời ca; những cái ôm thân mật như người một nhà... cùng rất nhiều kỷ niệm đẹp đã được ghi lại trong những khung hình, thước phim của người dân, du khách, tô điểm cho bức tranh Điện Biên Phủ Anh hùng những ngày tháng 5 lịch sử./.
St

TỔNG DUYỆT LỄ KỶ NIỆM 70 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

 Sáng 5-5, tại TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Ban chỉ đạo Trung ương kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước trong 3 năm 2023-2025 (Ban chỉ đạo) tổ chức tổng duyệt Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 / 7-5-2024).

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo, chủ trì chương trình tổng duyệt.
Tham dự buổi tổng duyệt có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Trần Hồng Hà, Phó thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Văn Hùng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Thứ trưởng Bộ Công an.
Cùng dự có các đồng chí: Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Trung tướng Nguyễn Trọng Bình, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.
Về phía tỉnh Điện Biên có các đồng chí: Trần Quốc Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Mùa A Sơn, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Lê Thành Đô, Chủ tịch UBND tỉnh.
Chương trình tổng duyệt gồm các nội dung chính thức như: Nghi lễ chào cờ; biểu diễn trống hội; trình diễn khối nghệ thuật; công bố quyết định đón nhận huân chương, khen thưởng; lễ diễu binh, diễu hành… Trọng tâm của chương trình là lễ diễu binh, diễu hành với sự tham gia của hơn 12.000 người. Trong đó, lực lượng của Bộ Quốc phòng tham gia có: Pháo lễ, lực lượng không quân bay chào mừng. Lực lượng đứng trên sân gồm tiêu binh lễ đài và 5 khối đứng. Lực lượng diễu binh, diễu hành, gồm khối nghi trượng, 16 khối diễu binh và khối dân công hỏa tuyến.
Sau khi các khối thực hiện diễu binh, diễu hành lễ đài, tiếp tục tiến ra các tuyến phố chính tại TP Điện Biên Phủ, trước sự chào đón và cổ vũ nồng nhiệt của đông đảo nhân dân, du khách.
Phát biểu tại buổi rút kinh nghiệm sau tổng duyệt, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa đánh giá buổi tổng duyệt có chất lượng cao hơn so với buổi sơ duyệt, góp phần đúc rút kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo điều hành, làm cơ sở để cho các cơ quan, đơn vị tiếp tục huấn luyện các lực lượng và chuẩn bị tốt cho Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ chính thức vào sáng 7-5 đạt kết quả cao nhất, qua đó tương xứng với quy mô, tầm vóc của Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ. Mặt khác, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa đề nghị tiếp tục nâng cao công tác bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn; rà soát lại các nội dung phát biểu; tăng cường công tác trang trí, cổ động; chuẩn bị tốt công tác đón tiếp đại biểu, lễ tân, hậu cần...
ST

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 6 THÁNG 5 NĂM 1959!

     “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”!

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập năm 1950. 
Trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc, xây dựng chế độ xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác huấn luyện và học tập. Từ việc xác định mục đích của việc học tập, Người đề ra yêu cầu, địa chỉ rõ ràng để mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên phấn đấu học tập, rèn luyện thường xuyên, hướng tới mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Lời dạy của Người có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, xác định rõ tầm quan trọng của việc học tập, nhất là học ở nhân dân, đó là môi trường học tập rộng lớn nhất, toàn diện nhất và hiệu quả nhất. Nhân dân không chỉ là đối tượng lãnh đạo, mà còn là người thầy lớn, giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên tiếp cận những kiến thức bổ ích, thiết thực trên mọi phương diện công tác và trong cuộc sống, vì “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, khi mọi tri thức đều có thể được số hóa, được cập nhật qua các phương tiện truyền thông hiện đại một cách nhanh chóng, phong phú, đa dạng, thì lời Bác dạy vẫn còn nguyên giá trị đối với việc học tập, nhất là học ở nhân dân. Trong xây dựng, hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, những ý kiến và trí tuệ của nhân dân luôn được Đảng, Nhà nước ta coi trọng, gợi mở ra nhiều điều mới mẻ, sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề quan trọng của đất nước, trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân ủng hộ, dân giúp đỡ”.

Quân đội nhân dân Việt Nam, một đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, càng thấm nhuần hơn nữa lời dạy của Người trong nhiệm vụ học tập, nâng cao trình độ tư duy lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật, làm chủ vũ khí, phương tiện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân càng phải gần gũi nhân dân, giúp đỡ nhân dân, dựa vào nhân dân và học hỏi nhân dân, để xứng đáng với tình cảm, sự quý trọng của nhân dân giành cho “Bộ đội Cụ Hồ”.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải luôn gương mẫu đi đầu trong tự học, tự rèn, học tập suốt đời; gần gũi với cấp dưới, với bộ đội, khiêm tốn, chân thành học hỏi cấp dưới, học hỏi nhân dân, nhất là những điều còn thiếu; thật sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết, xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại./.
Môi trường ST.

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: NHẬT BẢN ỦNG HỘ CÁC SÁNG KIẾN VÀ ƯU TIÊN MÀ VIỆT NAM ĐỀ XUẤT NHẰM THÚC ĐẨY HỢP TÁC VỚI OECD!

     Nhật Bản ủng hộ các sáng kiến và ưu tiên mà Việt Nam đề xuất nhằm thúc đẩy hợp tác với OECD, nhất là về tham gia các Ủy ban và tranh thủ nguồn lực của OECD phục vụ việc xây dựng các chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam!

Chiều ngày 3/5, tại Paris, Pháp, nhân dịp tham dự Hội nghị Hội đồng Bộ trưởng OECD (MCM) năm 2024, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Kamikawa Yoko.

Tại cuộc gặp, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đề nghị Nhật Bản quan tâm đẩy mạnh đầu tư, tiếp tục triển khai các dự án hợp tác kinh tế tại Việt Nam để làm sâu sắc hơn nữa khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Bộ trưởng Ngoại giao Kamikawa Yoko khẳng định ủng hộ phát triển bền vững ở Đông Nam Á và Việt Nam; hoan nghênh vai trò và đóng góp tích cực của Việt Nam khi đảm nhiệm trọng trách Đồng Chủ tịch Chương trình Đông Nam Á (SEARP) của OECD (2022-2025); ủng hộ các sáng kiến và ưu tiên mà Việt Nam đề xuất nhằm thúc đẩy hợp tác với OECD, nhất là về tham gia các Ủy ban và tranh thủ nguồn lực của OECD phục vụ việc xây dựng các chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam.

Về quan hệ song phương, hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa hai nước tại các diễn đàn đa phương, Bộ trưởng Yoko nhất trí hỗ trợ đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực cho Việt Nam./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HUY HIỆU CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN PHỦ!

     Chiếc Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên đối với ai đã từng được gắn trên ngực áo là niềm tự hào, kỷ niệm không bao giờ quên vì được sống, chiến đấu, hi sinh trong giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu"!

Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn từ ngày 13/3/1954, công tác chuẩn bị bắt đầu từ trước đó gần 3 tháng, tuy nhiên phải đến đầu tháng 4/1954, khi chiến dịch đã bước sang đợt tấn công thứ hai, ý tưởng về việc thiết kế một tấm huy hiệu mang biểu tượng của chiến dịch Điện Biên Phủ mới được hình thành nhằm cổ vũ, nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội ta. Không ai khác, chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh mặt trận chính là người nghĩ ra ý tưởng đó.

Họa sĩ Mai Văn Hiến và Nguyễn Bích, (lúc này chỉ khoảng 20 tuổi) đang công tác tại Báo Quân đội Nhân dân đóng tại mặt trận, chuyên sáng tác tranh cổ động, tranh biếm họa được giao trọng trách này, ngay sau đó nhanh chóng bắt tay vào công việc sang tác. Trong điều kiện ta vừa kết thúc đợt tấn công thứ nhất, với sự lập công xuất sắc của đơn vị pháo binh, tiêu diệt Trung tâm đề kháng Him Lam, Độc Lập, bức hàng địch tại đồn Bản Kéo, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bốn yêu cầu được đặt ra đối với tấm huy hiệu:
1. Có hình rừng núi (phù hợp với địa hình lòng chảo Mường Thanh);
2. Có chiến sĩ với mũ nan ở tư thế xung phong;
3. Có pháo binh trong đó có cả cao xạ vì đó là vũ khí lần đầu xuất hiện ở Điện Biên;
4. Có chữ Quyết chiến quyết thắng trên quân kỳ và chiến sĩ Điện Biên Phủ, hình thức cô đọng, gọn nhẹ, khái quát cao trên nền xanh và màu sáng.

Nhiều ngày cặm cụi, miệt mài với 10 mẫu thiết kế, hình mẫu Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên mà chúng ta thấy ngày nay được hoàn thành, chuyển về địa phương và gửi đi nước bạn sản xuất hàng loạt. Trong một hình tròn nhỏ, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng với dòng chữ "Quyết chiến, quyết thắng" nổi bật phía trên một chiến sĩ quả cảm, đội mũ nan lưới đang cầm súng hướng về phía trước. Bên trái nòng pháo cao xạ giương lên sẵn sàng nhằm thẳng quân thù mà bắn. Trên huy hiệu còn có hình ảnh rừng núi và dòng chữ “Xuân 1954” để ghi đấu trận đánh quan trọng này. Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định sẽ tặng cho các chiến sĩ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng còn chờ thời cơ.

56 ngày đêm máu lửa, xe tăng, đại bác, pháo, máy bay ném bom giày xéo lòng chảo Mường Thanh, Điện Biên Phủ trở thành chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta. Ngày 07/5/1954 lịch sử, niềm vui vỡ òa trong nước mắt khi tin bắt sống De Castries và toàn bộ quân địch tại Điện Biên được loan đi khắp mặt trận và hậu phương. Không thể đếm hết những hi sinh, chẳng thể kể hết những tấm gương chiến đấu anh dũng, trải qua bao khó khăn, gian khổ, ta đã khiến cả thế giới nghiêng mình thán phục vì đã đánh bại một trong những quân đội hùng mạnh nhất trên thế giới. Các nước thuộc địa Pháp thêm một niềm tin để đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc mình.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tuy không trực tiếp ra mặt trận nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dõi theo và sống từng phút, giây với các chiến sĩ. Ba lần người gửi thư thăm hỏi và động viên chiến sĩ, lần cuối khi ta vừa giành được thắng lợi, Bác viết:
"Thư gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ

Ngày 12 tháng 5 năm 1954

Trước hết Bác gửi lời thân ái thăm các chú thương binh.

Toàn thể các chú cũng như cán bộ, chiến sĩ ở toàn quốc đã quyết tâm giành được thắng lợi lớn để chúc thọ Bác.

Bác quyết định khao các chú. Khao thế nào tùy theo điều kiện, nhưng nhất định khao.

Thế là Bác cháu ta cùng vui. Vui để cố gắng mới, để khắc phục khó khăn mới và để tranh thắng lợi mới.

Bác và Chính phủ định thưởng cho tất cả các chú huy hiệu "Chiến sĩ Điện Biên Phủ". Các chú tán thành không?

Bác dặn các chú một lần nữa:
Chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch, phải luôn luôn sẵn sàng làm trọn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho các chú.
Bác hôn các chú  
HỒ CHÍ MINH"

Chiến tranh kết thúc, người còn, người mất. 70 năm qua, chiếc Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên trở thành báu vật được nâng niu, gìn giữ bởi những người ở lại, đó không chỉ là kỷ niệm, mà còn là sự ghi nhận, tri ân với những người lính Điện Biên; là kỳ tích được lập nên từ lòng yêu nước dưới thời đại Hồ Chí Minh./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 5 SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA KARL MARX!

     Karl Marx (Các Mác) là nhà bác học, nhà triết học, nhà kinh tế và nhà chính luận trứ danh người Đức. Ông viết hàng loạt tác phẩm lớn mà ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục phân tích, chẳng hạn như: “Tư bản luận”, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”. Trong các tác phẩm của mình, nhà tư tưởng người Đức đã chỉ ra những khuyết điểm của chế độ tư bản!

Cả thế giới đều biết, Karl Marx và người đồng chí của mình là Friedrich Engels (Phriđơrich Ăngghen) có mối quan hệ thân thiết. Tên tuổi của hai người không những nổi tiếng thế giới, mà còn dưới thời Liên Xô, có lúc còn được sùng bái như Lênin.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 203 năm ngày sinh Karl Marx (05-5-1818 / 05-5-2021), xin giới thiệu 5 sự thật thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của ông.

1. Tài làm thơ
Ngay từ khi còn rất trẻ, Karl Marx đã bộc lộ khả năng làm thơ. Ông trân trọng những tác phẩm của nhà thơ Đức Heinrich Heine và có sự ảnh hưởng của nhà thơ này. Marx viết nhiều bài thơ và tập hợp chúng lại thành 3 cuốn sách có tựa đề là “Chuyện tình 1”, “Chuyện tình 2” và “Những ca khúc”. Tài làm thơ của ông còn hơn cả người đồng chí, người bạn Friedrich Engels của mình.

2. Từ chối đấu súng
Những người đương thời kể lại rằng, nhà cách mạng, nhà tư tưởng nổi tiếng người Nga Mikhail Bakunin, ban đầu là bạn của Karl Marx, nhưng sau đó trở thành người đối lập, từng thách ông đấu súng. Sự việc này diễn ra tại London (Anh quốc). Marx gọi Bakunin là “kẻ gián điệp Nga”, và trong cơn tức giận, nhà cách mạng này muốn trả thù Marx. Tuy nhiên, Marx đã từ chối lời thách đấu của Bakunin.

3. Những lời nói trở thành câu châm ngôn
Hầu như mỗi chúng ta khi nói đều dùng đến những câu như: “Tôn giáo là thứ thuốc phiện của nhân dân”, “Lịch sử nếu lặp lại hai lần, thì lần một là bi kịch, còn lần hai là trò hề”. Những lời này của Karl Marx đã trở thành những câu châm ngôn.

4. Thông thạo tiếng Nga
Để đọc hiểu các tác phẩm của nhà văn Alexandre Herzen, nhà phê bình văn học Nikolai Chernyshevsky và các tác giả người Nga khác, Karl Marx bắt đầu học và sử dụng thông thạo tiếng Nga. Sau khi có thể đọc được khối lượng lớn những văn bản Nga ngữ và phân tích các tác giả người Nga, ông hiểu sâu sắc về vai trò của Nga trên trường quốc tế. Đặc biệt, có nhiều đường phố, quảng trường và con ngõ tại Nga từng mang tên Karl Marx.

5. “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”
Phần mộ của Karl Marx tại London gồm có tượng bán thân bằng đồng được đặt trên bệ đá cẩm thạch. Trên bệ có khắc những dòng chữ được trích dẫn từ các tác phẩm nổi tiếng của ông. Trong đó có câu nói nối tiếng nhất là “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”. Đây là dòng chữ cuối cùng trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỒI A1 NƠI ĐẶT GẦN 1000 CÂN THUỐC NỔ ĐỂ LÀM HIỆU LỆNH CHO TỔNG CÔNG KÍCH CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ!

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, vị trí đồi A1 là cứ điểm quan trọng bậc nhất và có lẽ là nơi mà quân đội Việt Nam khó chiếm nhất. Việc chiếm được đồi A1 cho thấy rõ ý chí quyết thắng và mưu trí của quân ta.

Sau nhiều lần tiến công vẫn không chiếm được đồi A1, quyết tâm của Bộ Chỉ huy chiến dịch đưa ra là muốn tiêu diệt được A1 phải bí mật đưa bộc phá vào đánh đúng hầm ngầm, diệt được hầm ngầm mới diệt được A1. Và thế là từ đêm 20/4/1954, quân ta đã bắt đầu đào hầm ngầm.

Để đảm bảo bí mật, an toàn, công việc ngụy trang cửa hầm được thực hiện rất kỹ. Đất đá đào ra đều cho vào bao dù đưa ra ngoài. Càng đào vào sâu, công việc càng khó khăn vì vừa thiếu ánh sáng vừa thiếu không khí, nên bộ đội phải liên tục thay nhau ra ngoài để thở…

Đến ngày 5/5/1954, đường hầm ở A1 đã hoàn thành. Đường hầm khi hoàn thành dài tới 82 mét và dẫn lên tận đỉnh đồi A1, nơi đặt khối bộc phá nghìn cân. Phần lớn lòng đường hầm rất nhỏ hẹp, chỉ đủ cho một người lách trườn lên. Trong đêm, khối bộc phá được chia thành 50 gói, mỗi gói khoảng 20 kg, được đưa vào đặt dưới hầm ngầm.

Điều thú vị là có khoảng 5 tạ bộc phá này là Pháp “tặng” quân ta. Theo Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trưa ngày 12/4/1954, chiếc máy bay thứ 50 bị bắn rơi tại Điện Biên Phủ. Đó là pháo đài bay ném bom 4 động cơ B-24 lần đầu bị hạ trên chiến trường Việt Nam. Bom nằm trong khoang chưa kịp thả. Số bom này đã được đồng chí Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Bạch cùng đồng đội bỏ ra một tuần để gỡ lấy thuốc nổ. Và chính số thuốc nổ này được quân ta đặt vào trong hầm để làm hiệu lệnh tấn công đồi A1 vào 6/5/1954.

Bộ Chỉ huy Mặt trận quy định: Đúng 20 giờ 30 phút ngày 6/5/1954, toàn mặt trận sẽ nổ súng, lấy tiếng nổ của khối bộc phá ở điểm cao A1 làm hiệu lệnh tấn công. Đến sáng 7/5/1954, qua 39 ngày đêm, lá cờ Quyết chiến Quyết thắng tung bay trên cao điểm A1 báo hiệu giờ tàn của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau 70 năm, đồi A1 hôm nay vẫn là chứng nhân sừng sững của thời “hoa lửa”. Một trong những điểm không thể không đến trong hành trình tìm về Điện Biên Phủ./.
Môi trường ST.

CHỐNG THAM NHŨNG LÀ KIÊN QUYẾT CẮT BỎ NHỮNG "CÀNH CÂY SÂU MỌT"!

     Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin yêu gọi là “Đảng ta”. Bởi lợi ích, mục tiêu của Đảng là “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”. Các đảng viên phải luôn lấy phụng sự Tổ quốc, phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân làm lý tưởng phấn đấu. Càng là cán bộ cấp cao, lại càng cần giữ gìn phẩm cách, cần, kiệm, liêm, chính!

Ngay từ lễ kết nạp Đảng, mỗi đảng viên đã thề suốt đời phấn đấu hy sinh vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Điều ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Chính lý tưởng của Đảng và phẩm cách của những người cộng sản chân chính đã tạo được sự tin yêu, gắn bó, quy tụ cả dân tộc dưới cờ Đảng. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính giúp Đảng ta đã đưa đất nước băng qua những gập ghềnh, gian nan để tới những chiến thắng vĩ đại và thành tựu to lớn, để có cơ đồ và vị thế hôm nay.

Nhưng thật xót xa, cùng với quá trình đất nước đổi mới, đi lên thì một bộ phận cán bộ, đảng viên lại không giữ gìn phẩm cách, nhiễm thói hư, tật xấu. Không ít người, trong đó có cả cán bộ cấp cao “nói không đi đôi với làm”, xem lợi ích của cá nhân, gia đình lớn hơn lợi ích tập thể, quốc gia. “Vì dân” không còn là mục tiêu của họ. Thay vào đó, là xa lánh nhân dân, quan liêu, giáo điều, hách dịch.

Phai nhạt lý tưởng đương nhiên dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống và tham nhũng, lãng phí. Thời gian gần đây, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng ta đẩy mạnh. Nhiều cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc vì suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, vi phạm Quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương. Nhiều cán bộ giữ trọng trách còn có những hành vi tiêu cực, nhận hối lộ, gây hậu quả rất nghiêm trọng khiến dư luận bức xúc, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tổ chức đảng và chính quyền địa phương.

Từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, Đảng ta đã phải thi hành kỷ luật trên 100 cán bộ diện Trung ương quản lý, một số cán bộ đã bị xử lý hình sự. Không ít tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang cũng bị bắt giam, phạt tù do vi phạm pháp luật. Mới đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục thi hành kỷ luật một số lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Yên, Quảng Ngãi, Hà Giang, Gia Lai...

Còn tại địa phương, năm 2023, các cơ quan chức năng đã khởi tố mới 763 vụ án, 2.079 bị can về tham nhũng, tăng gần gấp đôi so với năm 2022.

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ.

Do đó, việc xử lý nghiêm cán bộ, trong đó có cán bộ cấp cao sai phạm là vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch và uy tín của Đảng, Nhà nước, ý nguyện của Nhân dân; góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tỉnh táo nhìn sâu vào việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, không khó để nhận thấy, đây là quyết tâm chính trị rất lớn nhằm xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ của Đảng hiện nay. Công cuộc ấy đang diễn ra hết sức quyết liệt, mạnh mẽ và chưa từng có. Không chỉ trong phạm vi Đảng, trong mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng các cấp, công cuộc đó có phạm vi rộng lớn hơn, trong toàn Đảng và hệ thống chính trị với sự đồng thuận cao trong xã hội.

Không chỉ chống lại những thứ đã “cũ kỹ, hư hỏng”, mà đó còn nhằm giữ gìn những thứ “mới mẻ, tốt tươi”, giữ đạo đức cách mạng và trọng trách của mỗi cán bộ, đảng viên phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng.

Chính vì lẽ ấy, đây là cuộc đấu tranh mang tính chất sinh - tử, sự tồn vong của chế độ!
Quyết tâm chính trị ấy, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chia sẻ: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng. Nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của Nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm.

Thế nên, kỷ luật một vài người để cứu muôn người và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới theo tinh thần Bác Hồ đã dạy: "Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây"./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KỶ NIỆM 206 NĂM NGÀY SINH CÁC MÁC (05/5/1818 - 05/5/2024!

     Các Mác (Karl Marx) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Trier trên bờ sông Mozel, một nhánh của sông Rhein, một thành phố cổ của Đức!
Các Mác là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại trên thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp của ông có nhiều thăng trầm và cũng đầy gian khổ. Những tư tưởng của ông góp phần làm thay đổi tư duy của một bộ phận những dân tộc chịu áp bức, từ đó giúp họ đứng lên giành lại độc lập và thoát ra cảnh lầm than./.
Môi trường ST.

NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ!

     Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”!

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  

Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!
-----------------------
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 2002, tập 9, tr.283; tập 5, tr.208-209; tập 4, tr.358; tập 5, tr.548; tập 11, tr.186; tập 11, tr.374.
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHIẾC XE ĐẠP THỒ CẢI TIẾN CỦA DÂN CÔNG CAO VĂN TỴ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ!

     Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 có sự đóng góp quan trọng của công tác bảo đảm hậu cần. Trong chiến dịch này, với phương châm của Trung ương Đảng là huy động toàn bộ sức người, sức của ở hậu phương, quân và dân ta mà nòng cốt là ngành hậu cần quân đội. Vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hi sinh chúng ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lấy năm châu, chấn động địa cầu”. Và công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ được ví như một kỳ tích trong lịch sử quân sự Việt Nam!

Một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cần cho chiến dịch là đội xe đạp thồ trên 2 vạn người. Với việc vận chuyển, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho mặt trận xa hàng trăm km, đường xá đi lại khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ, dưới sự đánh phá ác liệt của kẻ thù nhưng những đội xe đạp thồ đã lập nhiều kỷ lục chở từ 100 đến 300kg/chuyến, trong đó có bác Cao Văn Tỵ (dân công tỉnh Thanh Hoá) đã chở tới 320 kg/chuyến, được mọi người gọi là “Kiện tướng xe thồ”. Và để chở được nhiều hàng hóa, bác Cao Văn Tỵ đã gia cố thêm khung, vành, tay lái cho xe của mình. Dọc thân xe có thêm một thanh ngang có thể gánh tới 200kg gạo. Các nan hoa được nẹp thêm để tăng độ bền, chịu lực cho xe. Ở phần trước của xe được gắn thêm một khúc tre dài làm tay lái, một khúc tre ngắn hơn dùng giữ thăng bằng và làm tay phanh. Với sự sáng tạo đó đã tăng được sức tải của xe từ 10 - 20 lần so với dân công gánh bộ, đồng thời giảm được mức tiêu hao gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở. Ngoài ra xe thồ còn có thể hoạt động trên những tuyến đường mà xe ô tô không thể đi được. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn ngoài tầm dự tính của các chỉ huy Pháp, làm đảo lộn những tính toán trước đây khi cho rằng Việt Minh không thể bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày trong các điều kiện phức tạp như vậy.

Câu chuyện về chiếc xe đạp thồ của bác Cao Văn Tỵ được Thiếu tá QNCN Nguyễn Văn Hoành cán bộ Bảo tàng Quân khu 4 chia sẻ: “Vận chuyển hàng hóa dài ngày giữa rừng, đường trơn, đèo dốc và bom đạn bác Cao Văn Tỵ cùng với bác Bùi Tín (dân công Thanh Hoá, người 2 lần vinh dự được tặng thưởng Huy hiệu Bác Hồ và Huân chương Chiến công hạng Ba) luôn động viên anh em dân công vượt qua khó khăn. Phong trào thi đua “thồ nhiều, đi nhanh” do các anh phát động được lan rộng ra khắp mặt trận. Có những đoạn dốc cheo leo cấp trên giao nhiệm vụ cho mỗi xe chỉ được chở 60kg nhưng tất cả vẫn quyết tâm thồ ít nhất mỗi người 100kg để nhanh chóng đưa hàng hoá ra trận tuyến. Với quyết tâm đó, bác Cao Văn Tỵ đã lập kỷ lục thồ 320kg/chuyến, anh Ma Văn Thắng chở được 270kg/chuyến...”. 

Khi nhận xét về vai trò của hậu phương trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Nếu không có Thanh-Nghệ-Tĩnh thì không có chiến dịch Điện Biên Phủ, không có thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp”. Riêng mảnh đất Quân khu 4, chủ yếu là vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã huy động 250.000 dân công với hơn 11.000 xe đạp thồ đã vận chuyển 15.000 tấn gạo, hơn 400 tấn thực phẩm, hàng trăm tấn đạn, pháo, quân trang… chi viện cho chiến trường.

 Những người quanh năm chỉ quen với đồng áng như bác Cao Văn Tỵ nhưng với chiếc xe đạp thô sơ đã trở thành phương tiện hiệu quả góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ như một “thiên sử vàng” huyền thoại của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, chiếc xe đạp thồ đang được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4, là minh chứng sinh động về trí thông minh, sáng tạo của người dân công năm xưa./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ TRƯỞNG QUÂN ĐỘI PHÁP “KHÉP LẠI QUÁ KHỨ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI”!!

     Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng đánh giá chuyến thăm của Bộ trưởng Quân đội Pháp Sebastien Lecornu có ý nghĩa quan trọng, minh chứng cho tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp”!

Nhận lời mời của Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng, đoàn đại biểu quân sự cấp cao Quân đội Pháp do ông Sebastien Lecornu, Bộ trưởng Quân đội làm trưởng đoàn có chuyến thăm chính thức Việt Nam.

Sáng 5/5, hai Bộ trưởng đã có buổi hội đàm. Đại tướng Phan Văn Giang chào mừng Bộ trưởng Sebastien Lecornu và đoàn thăm chính thức Việt Nam. Chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng, góp phần tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác quốc phòng song phương, là minh chứng cho tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp”, vì sự hợp tác phát triển giữa hai nước, hai dân tộc.

Đại tướng Phan Văn Giang đánh giá cao quan hệ giữa Việt Nam và Pháp, đối tác có nhiều gắn kết về lịch sử, văn hoá và con người Việt Nam. Hai nước chia sẻ nhiều quan điểm, lợi ích trong việc duy trì hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và thế giới trên cơ sở tôn trọng lợi ích của tất cả quốc gia và luật pháp quốc tế.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam khẳng định đây là tiền đề thuận lợi để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước. Kể từ khi nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược (9/2013), quan hệ Việt Nam - Pháp đã phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, đa dạng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hợp tác quốc phòng.

Hợp tác quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực, nổi bật như trao đổi đoàn; các cơ chế đối thoại, tham vấn; đào tạo; công nghiệp quốc phòng, thương mại quân sự; an ninh biển; quân y; khắc phục hậu quả chiến tranh và ký ức lịch sử; gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc; tham vấn, ủng hộ nhau tại diễn đàn, cơ chế đa phương, nhất là các cơ chế do ASEAN dẫn dắt.

Về phương hướng hợp tác, Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị hai bên tiếp tục nỗ lực thúc đẩy hợp tác ngày càng đi vào chiều sâu vì hòa bình, ổn định, phát triển chung của khu vực và thế giới, tương xứng với quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam - Pháp.

Trọng tâm các lĩnh vực hai bên cần tăng cường hợp tác về đào tạo, gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc; thúc đẩy hợp tác về quân y, thuỷ đạc, trang bị quốc phòng, an ninh biển, trao đổi chiến lược, ký ức lịch sử và khắc phục hậu quả chiến tranh; phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại diễn đàn đa phương.

Người đứng đầu Bộ Quốc phòng đã đề nghị hai bên tích cực trao đổi để sớm đạt được thống nhất về Chương trình hợp tác quốc phòng Việt - Pháp trong giai đoạn từ 2025 - 2028.

Bộ Quốc phòng Việt Nam sẵn sàng tiếp nhận quân nhân Pháp sang Việt Nam tham dự Khóa Quan chức quốc phòng quốc tế tại Học viện Quốc phòng và các khóa tiếng Việt tại Học viện Khoa học Quân sự.

Về phần mình, Bộ trưởng Sebastien Lecornu nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của chuyến thăm. Ông nêu bật tầm quan trọng hợp tác chia sẻ ký ức lịch sử, khắc phục hậu quả chiến tranh giữa hai nước. Bộ trưởng bày tỏ mong muốn hai bên tiếp tục nỗ lực thúc đẩy hợp tác quốc phòng ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả, tương xứng với quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Pháp.

Tại hội đàm, hai bên đã trao đổi về tình hình thế giới và khu vực.

Ngày 7/5, Bộ trưởng Quân đội Pháp sẽ có một số hoạt động tại tỉnh Điện Biên và tham dự lễ kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Bộ trưởng Quân đội Pháp sẽ thăm những địa điểm lịch sử và dự kiến gặp các cựu chiến binh Việt Nam cũng như Pháp.

Cũng trong sáng nay, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã hội kiến bà Patricia Miralles, Quốc vụ khanh phụ trách Cựu chiến binh và Ký ức của Pháp.

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đề nghị thời gian tới, hai bên nghiên cứu, tập trung thúc đẩy các nội dung trong lĩnh vực chia sẻ ký ức chiến tranh như: Sưu tầm tài liệu, tư liệu lịch sử để biên soạn tài liệu giáo dục lịch sử, trao đổi thông tin và kỷ vật chiến tranh, tổ chức hội thảo chung về đề tài lịch sử...

Còn bà Patricia Miralles chia sẻ nội dung hợp tác chia sẻ ký ức chiến tranh; cảm ơn phía Việt Nam đã mời Bộ trưởng Quân đội Pháp và bà sang thăm Việt Nam./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÝ DO RA ĐỜI SÁNG TÁC BÀI HÁT "GIẢI PHÓNG ĐIỆN BIÊN"!

     Trong nhiều ca khúc bất tử hát về tinh thần chiến đấu bất khuất ngoan cường trong cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc, Giải phóng Điện Biên là khúc ca xuyên thế kỷ. 70 năm là quãng thời gian khá dài để nhân gian có thể quên nhiều thứ, nhưng Giải phóng Điện Biên luôn sống mãi trong lòng người Việt!
Nhạc phẩm Giải phóng Điện Biên của nhạc sĩ Đỗ Nhuận từ lâu đã trở thành tượng đài bằng âm thanh, một bản hùng ca bất hủ. 

Mùa xuân 1954, nhạc sĩ Đỗ Nhuận - Trưởng đoàn văn công Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam dẫn đoàn lên Tây Bắc tham gia "Chiến dịch Trần Đình" (mật danh của chiến dịch Biện Biên Phủ). Chiến dịch rất quyết liệt, kéo dài nên không được phép tập trung đông người để xem biểu diễn. Đoàn phải phân tán thành từng tốp từ 3 đến 5 diễn viên xuống tận chiến hào, vào từng hầm cấp cứu thương binh để biểu diễn phục vụ bộ đội, dân công. Không chỉ là nghệ sĩ, mỗi ca sĩ, nhạc công... đều là chiến sĩ thực thụ. Từ Trưởng đoàn đến diễn viên đều tham gia làm đường, tải đạn, lương thực, thực phẩm cho các đơn vị chiến đấu với tinh thần "Tất cả để chiến thắng".

Cuộc chiến kéo dài tới ngày thứ 50. Sáng hôm ấy, nhạc sĩ Đỗ Nhuận cùng anh chị em văn công đang san lấp hố bom dọc đường, gặp một cán bộ tuyên huấn mặt trận tìm đến. Với giọng nói đầy lạc quan, anh nói với nhạc sĩ Đỗ Nhuận như để mọi người cùng nghe: "Thắng đến nơi rồi. Đỗ Nhuận phải sáng tác một ca khúc mừng chiến thắng, kẻo không đuổi kịp cánh lính bộ binh xung kích đó...".

Đêm hôm ấy, nhạc sĩ Đỗ Nhuận ôm cây đàn ghi-ta bập bùng tìm giai điệu, tiết tấu và ca từ và rồi bỗng nhiên anh nẩy ra ca từ: "Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về, giữa mùa hoa nở miền Tây Bắc tưng bừng vui...". Và, từ ấy hình ảnh và cảnh quan Tây Bắc cứ như một cuốn phim hiện lên trong ca từ của Đỗ Nhuận: "Bản mường xưa nương lúa mới trồng, kìa đoàn em bé giữa đồng nắm tay xoè hoa" (vũ điệu dân gian của đồng bào Thái)...

Trong một buổi gặp gỡ với báo giới, nhạc sĩ Đỗ Nhuận tâm sự: "Mỗi người, mỗi gia đình, mỗi làng xóm đều hân hoan một niềm vui vô tận. Nhưng niền vui của cả dân tộc là vĩ đại, bởi đã giành được chiến thắng vinh quang trước kẻ thù. Trước hào quang toàn thắng, lòng tôi trào đang một niềm vui. Chân gõ nhịp để tìm tiết tấu và ca từ mà như muốn nhảy lên, reo lên: "Ấy biết bao sướng vui, từ ngày lên Tây Bắc, đồng bào nao nức mong đón ta trở về...". Khi say mê là thế, khi thanh thản tỉnh táo, tôi ý thức rằng giai điệu dân ca quan họ Bắc Ninh đã thấm đậm trong tâm hồn tôi tự bao giờ. Giai điệu ấy bắt nguồn từ bài dân ca quan họ Bắc Ninh: "Ai xui lúa chín". Trong bài dân ca đó có câu: "Ấy mấy em nhớ ai, kia là ba bốn nhớ, ấy mấy ba bốn nhớ, chín mười chờ...". Sở dĩ tôi viết thêm ca từ thứ hai là bởi giá trị lịch sử của nó. Trước khi mở màn chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ta chủ trương: "Đánh nhanh giải quyết nhanh" trong ba bốn ngày là xong. Sau khi nghiên cứu lại tình hình bố phòng của giặc Pháp, chúng đã xây dựng cộng sự vững chắc, hoả lực mạnh, ta không thể tốc chiến tốc thắng được"".

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã sáng tác ba nhạc phẩm: Hành quân xa, Chiến thắng Him Lam và Giải phóng Điện Biên trong không gian chiến tranh đầy quyết liệt và thời gian chưa đầy hai tháng, quả là một kỷ lục hiếm có. Vì vậy, năm 1996 ông đã được Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1) với những nhạc phẩm xuất sắc như: Nhớ chiến khu, Du kích sống Thao, Việt Nam quê hương tôi...
Yêu nước ST.