Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2024

 

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM THEO TINH THẦN CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

          Khẳng định ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”[1]. Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ đưa các tầng lớp nhân dân lao động Nga thoát khỏi thân phận bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ xã hội, làm chủ đất nước, mà còn mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, soi sáng con đường cho các dân tộc bị áp bức và giải phóng hàng triệu người lao động trên trái đất. Cách mạng Tháng Mười Nga đã biến nước Nga Sa hoàng lạc hậu và chịu tổn thất nặng nề sau chiến tranh thành một siêu cường đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa một thời kỳ dài trong lịch sử, là chỗ dựa cho hàng trăm dân tộc đứng lên chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc, giành độc lập dân tộc, bảo vệ hòa bình thế giới. Có thể khẳng định rằng, nếu không có Cách mạng Tháng Mười, nhân loại không thể sống trong kỷ nguyên độc lập, tự do. Ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại, những quyền dân sinh, dân chủ, quyền con người… mà nhân dân lao động có được cũng nhờ ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

          Hiện nay, các thế lực thù địch, những kẻ chống chủ nghĩa xã hội, những phần tử cơ hội chính trị đang tìm mọi cách phủ nhận những giá trị, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười, nhưng họ không thể phủ nhận được một sự thật là, Cách mạng Tháng Mười Nga đã và đang tác động và ảnh hưởng to lớn đến tiến trình vận động và phát triển của thế giới đương đại. Những lý tưởng cao đẹp mà hiện nay nhân loại đang tiếp tục hướng tới như: Độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, hòa bình, dân chủ, bình đẳng, bác ái cho mọi người, xóa bỏ áp bức, bóc lột, xóa nghèo nàn, lạc hậu, xóa bỏ tệ phân biệt chủng tộc… cũng chính là lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga.

          Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước – kỷ nguyên độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đánh thắng các đế quốc sừng sỏ trong thế kỷ XX, nêu gương sáng cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Tiếp đó là những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

          Cách mạng Tháng Mười Nga đã để lại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cho các dân tộc đang đấu tranh để tự giải phóng nhiều bài học quý báu về phương pháp đấu tranh giành và giữ chính quyền, vai trò lãnh đạo của chính Đảng Cộng sản cầm quyền, về xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Những bài học đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong quá trình xây dựng một đảng cầm quyền và một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

          Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam bắt nguồn từ bài học thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười Nga và lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi mới ra đời và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật, là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946, được định hướng từ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước. Quá trình đó đã trải qua hơn 70 năm và ngày nay vẫn đang được tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga.

          Đi theo con đường của Cách Mạng Tháng Mười, chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội mới và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì tất yếu phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và dựa vững chắc trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hoá; đòi hỏi Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách pháp luật, đảm bảo cho Nhà nước phát triển vững mạnh, giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

          Vận dụng những bài học thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười Nga vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, quán triệt quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về “Tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo bước đột phá trong cải cách hành chính”[2], chúng ta cần tập trung thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau:

Trước hết, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế – xã hội; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, đồng thời quản lý, điều hành mọi hoạt động xây dựng và thi hành luật pháp; hoàn thiện bộ máy tổ chức, trong đó chất lượng con người trong từng tổ chức, từng cơ quan của bộ máy nhà nước cần được nâng lên một tầm cao mới. Nhiệm vụ của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thực hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân và Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề, do đó đòi hỏi một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, có trình độ tổ chức hiện đại với đội ngũ cán bộ có đức, có tài, có năng lực quản lý, điều hành toàn diện.

          Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để toàn dân hiểu được bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nắm vững và thực hiện quyền làm chủ và nghĩa vụ công dân của mình, hiểu được mọi quyền lực của Nhà nước đều do nhân dân và vì nhân dân giao phó, các cơ quan nhà nước không tự có quyền lực. V.I.Lênin chỉ rõ: Điều cần thiết không phải chỉ là cơ quan đại biểu theo kiểu chế độ dân chủ, mà là toàn bộ việc quản lý nhà nước từ dưới lên phải do bản thân quần chúng tổ chức, quần chúng thực sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trò tích cực trong việc quản lý. Quyền lực của nhân dân được thể hiện qua việc bầu ra cơ quan đại diện cho mình để xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp. Điều này, thể hiện tính dân chủ, tính nhân văn của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam – một nhà nước mang tính nhân dân sâu sắc.

          Ba là, tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng: Xây dựng Quốc hội bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ và kịp thời tất cả các quyền hạn, nhiệm vụ do Hiến pháp và luật quy định theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện các chức năng giám sát của Quốc hội; phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực của đại biểu Quốc hội; tăng cường mối quan hệ hai chiều giữa Quốc hội với nhân dân.

          Các cuộc bầu cử dân chủ là hoạt động tiêu biểu quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền làm chủ của Nhân dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: mọi quyền lực thuộc về dân, do dân và vì dân. Mức độ dân chủ của cuộc bầu cử Quốc hội phụ thuộc vào tư tưởng, nhận thức của các cơ quan lãnh đạo về quyền làm chủ của dân, về trách nhiệm của dân đối với cơ quan đại diện cho họ. Vì vậy, chúng ta phải làm cho cuộc bầu cử Quốc hội đúng với tinh thần là ngày hội của toàn dân, toàn dân hăng hái, nô nức chờ đón ngày được đi bầu cơ quan đại diện cho mình. Quốc hội – cơ quan đại diện quyền lực cao nhất của nhân dân phải có cơ cấu hợp lý, hội tụ đầy đủ đại biểu của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, hội tụ đầy đủ trí tuệ, năng lực, bản lĩnh, sức mạnh của dân tộc Việt Nam, mang đậm nét dân tộc, nhân văn Việt Nam.

          Bốn là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm cho pháp luật thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng và quyền lực của dân, thực sự bảo vệ được các quyền của công dân. Nhà nước quản lý, điều hành bằng pháp luật. Do đó, pháp luật chiếm vị trí tối thượng trong hoạt động của Nhà nước và trong đời sống xã hội. Một trong những biểu hiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là pháp luật của Nhà nước được thể chế hóa và bảo vệ quyền công dân, quyền con người. Điều này, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc của hệ thống pháp luật thuộc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Muốn vậy, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc: (1) Bảo đảm sự phù hợp giữa ý chí chủ quan với tồn tại khách quan trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; (2) Bảo đảm pháp chế trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; (3) Bảo đảm tính khoa học trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; (4) Bảo đảm sự phù hợp giữa pháp luật quốc gia với luật pháp quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia ký kết hoặc gia nhập; (5) Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật.

          Năm là, đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước. Nền hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương, cơ sở gắn với hệ thống thể chế hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức và hệ thống quản lý tài chính công, tài sản công, thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội được thực hiện theo chương trình, kế hoạch đã đề ra; xử lý các tình huống, diễn biến phát sinh trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trước mắt, cần tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. Luật hóa cơ cấu, tổ chức của Chính phủ; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với trung ương.

Trong quá trình thực hiện phải cải cách đồng bộ các yếu tố của nền hành chính nhà nước: cải cách thể chế nền hành chính; cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương và chính quyền địa phương; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh cải cách tài chính công.

          Sáu là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ năng lực, phẩm chất; đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những tiêu cực khác đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mang đậm nét dân tộc và nhân đạo. Đội ngũ cán bộ có vai trò quyết định sự thành bại của cách mạng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Cần phân công lao động hợp lý đội ngũ cán bộ, công chức, tránh tình trạng bộ máy hành chính phình ra quá lớn; đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Thực hiện trách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Phải kết hợp chặt chẽ các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, sắp xếp, bố trí, điều động cán bộ và tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ có tâm, đức, năng lực và thực sự là công bộc của dân. Có ngăn chặn và chống được quan liêu, tham nhũng mới xây dựng được Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Để cuộc đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả đòi hỏi toàn bộ hệ thống chính trị và toàn dân phải có quyết tâm chính trị cao. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hơn nữa cho người dân thể hiện quyền dân chủ và trách nhiệm của mình thông qua các hoạt động tự quản ở địa phương và cơ sở. Chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước được Hiến pháp quy định, song Nhà nước không thể làm hết mọi công việc trong xã hội. Hiện nay, hoạt động tự quản của người dân đang được phát huy và đã có đóng góp đáng kể vào quản lý xã hội. Đây là kết quả quan trọng trong việc dân chủ hóa các hoạt động kinh tế – xã hội, sự đổi mới rất cơ bản về mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Đây cũng là nét đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – một nhà nước mang tính nhân dân sâu sắc.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ là nhà nước của giai cấp công nhân mà còn là nhà nước của các tầng lớp nhân dân và các dân tộc Việt Nam. Đồng thời, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc trong xây dựng nhà nước pháp quyền, không tuyệt đối hóa hay xem nhẹ mặt nào.

Vận dụng những thành tựu của Cách mạng Tháng Mười trong điều kiện mới, chúng ta tiếp tục nghiên cứu, nắm vững và thực hiện tốt những vấn đề cơ bản trên để không chỉ làm cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thu được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng; mà còn là sự khẳng định, bổ sung, phát triển những giá trị lịch sử và bài học thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; trên cơ sở đó để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI (kỷ niệm 100 năm thành lập Nước 1945-2045) nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

 

BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

          Quan điểm về bảo vệ Tổ quốc là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm của Đảng. Đảng ta khẳng định trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, không được một phút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này thể hiện sự trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng, kế thừa, phát huy truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta.

          Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức rõ hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, chủ động nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều kết quả, thành tựu rất quan trọng, toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; tổ chức bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp tiếp tục được hoàn thiện. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. Việt Nam đang ngày càng chứng tỏ uy tín và tiếng nói có trọng lượng của mình trong cộng đồng chính trị quốc tế, thúc đẩy vị thế chiến lược mới của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

          Tuy nhiên, việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có nội dung còn chậm. Kinh tế – xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. Việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mặt chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới.

          Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, thậm chí đối đầu. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bên cạnh thời cơ, thuận lợi cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước cấu kết, tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Trước bối cảnh đó, để tiếp tục thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, Ban Chấp hành trung ương (Khóa XIII) đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 44- NQ/TW ngày 24 /11/2023, Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết chỉ rõ, phải: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ nền văn hoá và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong, kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, dập tắt nguy cơ xung đột quân sự, chiến tranh; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hoà bình khu vực, thế giới.

          Để thực hiện tốt Nghị quyết của Trung ương, cấp ủy, chính quyền các cấp, ngành cần tổ chức nghiêm túc việc nghiên cứu, quán triệt và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị; định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết, đồng thời, chú trọng một số nội dung sau:

          Một là, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

          Hai là, nâng cao hiệu quả xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nâng cao năng lực thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả. Phát huy tốt vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

          Ba là, tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Gắn kết hài hoà, hiệu quả thị trường trong nước và ngoài nước.

          Bốn là, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

          Năm là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng có chung biên giới. Tích cực tham gia củng cố, xây dựng, định hình các cơ chế đa phương, luật pháp quốc tế. Tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc.

          Cùng với quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện thắng lợi những chủ trương, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Gắn kết chặt chẽ “ý Đảng” với “lòng dân”, phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam là con đường duy nhất đúng đắn để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” theo Di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

 

PROJECT88 XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT TÌNH HÌNH DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

          Một trong những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, phản động, và những đối tượng cơ hội chính trị triệt để lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Bằng chứng là, gần đây trên trang mạng xã hội của Đài VOA đã phát tán bài viết có tựa đề: “Project88 tố cáo Chỉ thị 24 của Bộ Chính trị Việt Nam vi phạm nhân quyền”. Bài viết cho rằng: Chỉ thị 24-CT/TW ngày 13/7/2023 của Bộ Chính trị về “đảm bảo vững chắc an ninh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thương mại” là: mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và đưa ra kế hoạch đối phó với những mối đe dọa ấy bằng cách vi phạm một cách hệ thống các quyền của 100 triệu người dân trong nước;… và “các lãnh đạo Việt Nam tuyên chiến với nhân quyền”… Đây là những thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt một cách trắng trợn về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

          1. Tại sao Project88 lại chống phá Việt Nam đến mức như vậy? Bởi tổ chức này là sản phẩm do chính các thế lực thù địch trong và ngoài nước dựng lên, nhằm tuyên truyền cho cái mà chúng tự gọi là “hỗ trợ tự do ngôn luận và bất đồng chính kiến ôn hòa ở Việt Nam”. Từ khi xuất hiện vào năm 2018 đến nay, Project88 chuyên lợi dụng internet, mạng xã hội facebook để tuyên truyền chống phá Việt Nam. Chúng nhiều lần lớn tiếng “kêu oan” cho những đối tượng đã bị tòa án nhân dân các cấp tuyên án về hành vi nhằm chống chính quyền nhân dân, gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia như: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Đình Lượng, Nguyễn Quang Khải, Nguyễn Văn Hóa – Những kẻ được gọi là “tù nhân chính trị” hay “tù nhân lương tâm”. Project88 thực chất là cánh tay nối dài của VOICE, một tổ chức ngoại vi của tổ chức khủng bố Việt Tân. Thâm hiểm hơn, sau khi đã bịa đặt nhằm phủ nhận tất cả tội lỗi của những kẻ nêu trên, “Project88” còn ngang nhiên quy chụp rằng: “Chỉ thị 24 nhằm lật đổ sự kiểm soát dân chủ đối với chính sách công và kinh tế, đồng thời củng cố chế độ độc đảng. Nếu được thực hiện như dự định, theo Chỉ thị này sẽ dẫn đến vi phạm nhân quyền có hệ thống và trên diện rộng, bao gồm các hạn chế trái phép đối với việc hội họp, lập hội, ngôn luận, truyền thông và đi lại”. Cùng với đó tổ chức này còn tiếp tay, thúc đẩy Úc và Canađa – hai nước hiện đang đàm phán quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam, chớ nâng cấp quan hệ ngoại giao với Hà Nội cho đến khi nào Chỉ thị 24 được bãi bỏ và Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện các cải cách về nhân quyền.

          2. Cần khẳng định rằng, quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Hiến pháp hiện hành của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Điều này hoàn toàn phù hợp với Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”.

          3. Pháp luật Việt Nam quy định rõ: Nhà báo là người hoạt động báo chí được cấp thẻ nhà báo. Do đó, ở Việt Nam không có khái niệm “nhà báo độc lập” hay “nhà báo tự do”. Về tự do báo chí, Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia đạt chuẩn về tiêu chí này. Hiện nay, Việt Nam có hơn 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong 816 cơ quan báo chí, trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh, truyền hình với tổng 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Việt Nam còn được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Công nghệ thông tin và mạng xã hội được sử dụng rộng rãi trong đời sống, sinh hoạt ở Việt Nam. Bằng chứng là, tỷ lệ dân số sử dụng internet ở thời điểm đầu năm 2022 là 72,1 triệu người, khoảng 73,2% dân số. Trong khi đó, tỷ lệ dân số sử dụng internet của thế giới hiện nay chỉ đạt 58,4% phải chăng vì mắc bệnh “cuồng phá” nên những điều hiển nhiên đó, VOA và Project88 đã không dám thừa nhận!

          4. Trong thời kỳ bùng nổ thông tin trên internet và mạng xã hội, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc. Với chiêu bài “dân chủ và nhân quyền”, chúng không ngừng xuyên tạc, bịa đặt và vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền” khi xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật. Nhưng chúng nhất định thất bại! Hiện thực khách quan và xu thế phát triển của đất nước sẽ là làn song mạnh mẽ, cuốn trôi những luận điệu sai trái đó ./.

 

 

“NGƯỜI CỘNG SẢN VIỆT NAM THƯỜNG XUYÊN VI HIẾN” – LUẬN ĐIỂM NÀY ĐÚNG HAY SAI?

          Gần đây, trên diễn đàn phản động đã đăng tải, phát tán bài viết “Vi hiến là gì và tại sao người CSVN thường xuyên vi hiến” của Đào Tăng Dực với luận điệu: Đảng viên “thiếu hiểu biết về hiến pháp và luật pháp vì chưa bao giờ sinh hoạt trong môi trường pháp trị”“nhân dân rất ngu si và không hiểu gì về hiến pháp và luật pháp”. Phải khẳng định, những luận điệu này là sai trái nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp phá hoại, vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta “Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý, điều hành xã hội – Nhân dân làm chủ”; gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ mật thiết giữa Ðảng, Nhà nước với Nhân dân; làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Luận điệu nêu trên của Đào Tăng Dực và các thế lực thù địch là vô căn cứ, phản khoa học, bởi vì, phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội thông qua hệ thống tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong Nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị. “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Trong mối quan hệ giữa Đảng và hệ thống chính trị: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Về vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, nhất là đối với Nhân dân đã được hiến định một cách rõ ràng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Điều đó thể hiện bản chất tiên phong, trách nhiệm chính trị – pháp lý của Đảng đối với Nhân dân về vận mệnh của dân tộc và sự phát triển của đất nước. Đồng thời, hoạt động lãnh đạo của Đảng đều được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật. Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

          Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền sau khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nội dung cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội như một tất yếu lịch sử; là sự lựa chọn của lịch sử.

          Thực tiễn hơn 94 năm lãnh đạo cách mạng và 79 năm cầm quyền của Đảng càng khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là nhân tố quyết định bản chất nhà nước, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường, nhất là với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; đồng thời, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và quyền làm chủ của Nhân dân…

          Như vậy, luận điệu “Người CSVN thường xuyên vi hiến” của Đào Tăng dực và các thế lực thù địch là vô căn cứ, sai trái, không đúng thực tế, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ ý đồ, dã tâm của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng, khẳng định rõ và luôn tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và toàn xã hội./.

 

NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIẾN BƯỚC CÙNG NHÂN LOẠI

          Gần đây bài viết “Nền văn hóa lạc loài” của Nguyễn Ngọc Già được phát tán rộng rãi trên nhiều diễn đàn phản động. Bài viết có nội dung xuyên tạc, phủ nhận đường lối đúng đắn và kết quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được trên lĩnh vực văn hóa. Bởi vậy, cần đấu tranh và khẳng định một số vấn đề như sau:

          Thứ nhất, bản sắc văn hóa Việt Nam được khẳng định và đang đồng hành cùng nhân loại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chủ trương, chính sách xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết phát triển văn hóa với phát triển con người. Nhờ đó, văn hóa Việt Nam hiện đại được nối liền với quá khứ, lịch sử, truyền thống của dân tộc và bắt nhịp ngày càng sâu vào văn hóa thế giới, góp phần làm đa dạng, phong phú kho tàng văn hóa chung của cộng đồng thế giới.

          Tiến trình hội nhập quốc tế, mở rộng giao lưu văn hóa ngày càng tạo ra những biến đổi to lớn và quan trọng trong đời sống văn hóa quốc tế. Trước những tác động của quá trình này, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện tốt việc kết hợp giữa bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Do đó, nền văn hóa dân tộc Việt Nam không những đã khẳng định được vị thế của mình trong giao lưu, đối thoại với các nền văn hóa trên thế giới, mà còn tạo điều kiện thuận lợi khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bản sắc không phải và không đồng nhất với nền văn hóa. Do đó, luận điệu cho rằng văn hóa Việt Nam “không có nguồn cội, nó không có tính nhân đạo, không có lòng nhân ái” là sự ngộ nhận, xuyên tạc của Nguyễn Ngọc Già. Bởi, bản chất, truyền thống văn hóa Việt Nam là nhân văn, nhân đạo, nhân ái, dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn hóa Việt Nam đã tham gia hội nhập vào văn hóa nhân loại, được cộng đồng thế giới đánh giá cao.

          Thứ hai, thành tựu về văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận! Cột mốc đánh dấu văn hóa Việt Nam có những bước phát triển, đạt tới chất lượng và diện mạo mới, là từ khi Việt Nam tham gia Thập kỷ quốc tế về phát triển văn hóa (1987-1996) do UNESCO đề xướng. Gần 40 năm đổi mới, những chủ trương phát triền văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bảo đảm cho sự phát triển bền vững, hài hòa của xã hội, bảo đảm sự công bằng cho mọi thành viên xã hội, cho sự phát triển văn hóa, con người. Nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể Việt Nam đã được công nhận là di sản thế giới, di sản ký ức thế giới. Các loại hình của văn hóa Việt Nam ngày càng được cộng đồng thế giới biết đến và đánh giá cao. Cái gọi là “dấu ấn”, có tính “đại diện”, mà Nguyễn Ngọc Già đưa ra để “đánh giá” giá kết quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa, chỉ là những luận điệu lạc loài, thiếu căn cứ.

Với nền văn hóa có bề dày truyền thống, các thế hệ người Việt Nam không hề thiếu những phẩm chất thông minh, sáng tạo, dũng cảm, bản lĩnh, hiếu học, cần cù, khoan dung, nhân hậu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn hóa và con người Việt Nam đã có đủ điều kiện, tiềm năng, sức mạnh để thực hiện được các mục tiêu phát triển đất nước mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định. Những “dẫn chứng”, “đánh giá” của Nguyễn Ngọc Già chỉ là cách bẻ cong sự thật, cố tình phủ nhận những thành tựu văn hóa đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam cần nâng cao cảnh giác và tích cực đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về văn hóa Việt Nam.

 

 

PROJECT88 XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT TÌNH HÌNH DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

          Một trong những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, phản động, và những đối tượng cơ hội chính trị triệt để lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Bằng chứng là, gần đây trên trang mạng xã hội của Đài VOA đã phát tán bài viết có tựa đề: “Project88 tố cáo Chỉ thị 24 của Bộ Chính trị Việt Nam vi phạm nhân quyền”. Bài viết cho rằng: Chỉ thị 24-CT/TW ngày 13/7/2023 của Bộ Chính trị về “đảm bảo vững chắc an ninh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thương mại” là: mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và đưa ra kế hoạch đối phó với những mối đe dọa ấy bằng cách vi phạm một cách hệ thống các quyền của 100 triệu người dân trong nước;… và “các lãnh đạo Việt Nam tuyên chiến với nhân quyền”… Đây là những thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt một cách trắng trợn về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

          1. Tại sao Project88 lại chống phá Việt Nam đến mức như vậy? Bởi tổ chức này là sản phẩm do chính các thế lực thù địch trong và ngoài nước dựng lên, nhằm tuyên truyền cho cái mà chúng tự gọi là “hỗ trợ tự do ngôn luận và bất đồng chính kiến ôn hòa ở Việt Nam”. Từ khi xuất hiện vào năm 2018 đến nay, Project88 chuyên lợi dụng internet, mạng xã hội facebook để tuyên truyền chống phá Việt Nam. Chúng nhiều lần lớn tiếng “kêu oan” cho những đối tượng đã bị tòa án nhân dân các cấp tuyên án về hành vi nhằm chống chính quyền nhân dân, gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia như: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Đình Lượng, Nguyễn Quang Khải, Nguyễn Văn Hóa – Những kẻ được gọi là “tù nhân chính trị” hay “tù nhân lương tâm”. Project88 thực chất là cánh tay nối dài của VOICE, một tổ chức ngoại vi của tổ chức khủng bố Việt Tân. Thâm hiểm hơn, sau khi đã bịa đặt nhằm phủ nhận tất cả tội lỗi của những kẻ nêu trên, “Project88” còn ngang nhiên quy chụp rằng: “Chỉ thị 24 nhằm lật đổ sự kiểm soát dân chủ đối với chính sách công và kinh tế, đồng thời củng cố chế độ độc đảng. Nếu được thực hiện như dự định, theo Chỉ thị này sẽ dẫn đến vi phạm nhân quyền có hệ thống và trên diện rộng, bao gồm các hạn chế trái phép đối với việc hội họp, lập hội, ngôn luận, truyền thông và đi lại”. Cùng với đó tổ chức này còn tiếp tay, thúc đẩy Úc và Canađa – hai nước hiện đang đàm phán quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam, chớ nâng cấp quan hệ ngoại giao với Hà Nội cho đến khi nào Chỉ thị 24 được bãi bỏ và Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện các cải cách về nhân quyền.

          2. Cần khẳng định rằng, quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Hiến pháp hiện hành của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Điều này hoàn toàn phù hợp với Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”.

          3. Pháp luật Việt Nam quy định rõ: Nhà báo là người hoạt động báo chí được cấp thẻ nhà báo. Do đó, ở Việt Nam không có khái niệm “nhà báo độc lập” hay “nhà báo tự do”. Về tự do báo chí, Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia đạt chuẩn về tiêu chí này. Hiện nay, Việt Nam có hơn 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong 816 cơ quan báo chí, trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh, truyền hình với tổng 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Việt Nam còn được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Công nghệ thông tin và mạng xã hội được sử dụng rộng rãi trong đời sống, sinh hoạt ở Việt Nam. Bằng chứng là, tỷ lệ dân số sử dụng internet ở thời điểm đầu năm 2022 là 72,1 triệu người, khoảng 73,2% dân số. Trong khi đó, tỷ lệ dân số sử dụng internet của thế giới hiện nay chỉ đạt 58,4% phải chăng vì mắc bệnh “cuồng phá” nên những điều hiển nhiên đó, VOA và Project88 đã không dám thừa nhận!

          4. Trong thời kỳ bùng nổ thông tin trên internet và mạng xã hội, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc. Với chiêu bài “dân chủ và nhân quyền”, chúng không ngừng xuyên tạc, bịa đặt và vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền” khi xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật. Nhưng chúng nhất định thất bại! Hiện thực khách quan và xu thế phát triển của đất nước sẽ là làn song mạnh mẽ, cuốn trôi những luận điệu sai trái đó ./.

 

CHIÊU TRÒ MỚI CỦA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN

          Với bản chất chống phá quyết liệt, không từ một thủ đoạn nào, tổ chức phản động khủng bố Việt Tân có nhiều sự điều chỉnh trong chiến lược hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Chúng lập ra nhiều tổ chức ngoại vi làm cánh tay nối dài, một trong số đó là tổ chức Rise. Đây được gọi là “sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại” do những thành viên cốt cán của Việt Tân thành lập. Chúng sử dụng mọi chiêu thức để hà hơi, tiếp sức đẩy mạnh hoạt động của tổ chức, trong đó có việc đăng tải các bài viết đánh bóng tên tuổi trên các diễn đàn. Mới đây, với bài viết “Rise tích cực hỗ trợ phong trào xã hội Việt Nam”, Cảnh Chân đã ra sức cổ súy cho tổ chức khi đánh giá đây là “một NGO tiên phong trong đào tạo, thúc đẩy liên kết các phong trào dựa vào người dân để mang lại thay đổi xã hội tại Việt Nam”. Vậy bản chất thật sự của tổ chức này là gì?

1.     Vạch trần bản chất của tổ chức Rise

Ngày 2/3/2020, ba thành viên cốt cán của Việt Tân gồm: Huỳnh Phạm Phương Trang (tên khác Angelina Trang Huỳnh), Phạm Hồng Thuận (tên khác Trinnitry Hồng Thuận) và Nguyễn Quốc Trinh đã công khai xin ra khỏi tổ chức Việt Tân, tuyên bố thành lập Rise tại Mỹ. Đây là một tổ chức hoạt động dưới vỏ bọc NGO theo mô hình “xã hội dân sự” nhưng bản chất là kích động bạo loạn, biểu tình, huấn luyện đào tạo các cá nhân, hội nhóm người Việt trong và ngoài nước nhằm gây dựng lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam một cách công khai, hợp pháp. Có thể nói đây chính là “con đẻ” của tổ chức khủng bố Việt Tân.

          Với mục tiêu “thúc đẩy phong trào xã hội dân sự tại Việt Nam” nhằm “thay đổi xã hội tại Việt Nam”, Rise đã thực hiện nhiều hoạt động như: trợ cấp học bổng, hứa hẹn tài trợ kinh phí nhằm nâng cao trình độ tiếng Anh, kỹ năng mềm, đưa ra nước ngoài để học tập…. Rise ra nhiều thông báo tuyển sinh trá hình để tuyển lựa, lôi kéo các đối tượng là sinh viên các trường đại học, thanh niên, nhân sĩ, trí thức, chức sắc cực đoan trong các tôn giáo, thành phần cơ hội chính trị, đối tượng chống đối trong nước. Để phát triển lực lượng trong nước, tổ chức này đã tổ chức nhiều khoá đào tạo, huấn luyện trực tuyến; các hoạt động “thiện nguyện” ở nhiều địa phương Rise còn tích cực kêu gọi các hiệp hội và các hội, nhóm cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ (NGO), vận động chính sách ưu đãi cho người dân vay tiền ngân hàng, tiếp cận chính sách ưu đãi khi bị thiệt hại về thiên tai. Cùng với đó là các hoạt động dọn vệ sinh, xử lý ô nhiễm môi trường, phòng dịch bệnh, chăm sóc y tế cho người dân vùng lũ; hỗ trợ tăng khả năng ứng phó của người dân trước thiên tai, hình thành cộng đồng an toàn tại chỗ, xây dựng các nhà tránh lũ tại điểm an toàn.

          Tất cả hoạt động này của Rise chỉ nhằm một mục đích là phô trương thanh thế, sử dụng danh nghĩa tổ chức “xã hội dân sự” để móc nối, phát triển lực lượng, nhất là số đối tượng thanh niên, sinh viên “có tiềm năng phát triển trong tương lai” nhằm phục vụ mưu đồ thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Rise đã lựa chọn số thành viên từng tham gia các khoá huấn luyện trực tuyến là những học sinh, người lao động tự do bị ảnh hưởng dịch bệnh COVID-19 nhằm tạo “ân uy”, xây dựng một thế hệ Việt Nam am hiểu về “xã hội dân sự”, “dân chủ” “nhân quyền”…. Thực chất là chuẩn bị lực lượng phục vụ ý đồ chống phá lâu dài khuếch trương, tạo dựng hình ảnh “vì cộng đồng” nhằm thoát ly khỏi cái bóng của tổ chức khủng bố Việt Tân để dễ dàng sử dụng vỏ bọc “thiện nguyện” triển khai các hoạt động chống phá trong nước.

2.     Kiên quyết đấu tranh với hoạt động thúc đẩy “xã hội dân sự” của tổ chức Rise

Tổ chức Rise hoạt động với các phương thức rất tinh vi, nhưng không thể che đậy được vỏ bọc là tổ chức phản động trá hình, ngoại vi của Việt Tân. Trước thủ đoạn thâm độc của con “sói đội lốt cừu” mang tên Rise, hệ thống chính trị và toàn xã hội cần thống nhất và nâng cao nhận thức, nhận diện đúng về “xã hội dân sự”; phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực; không nhầm lẫn, đánh đồng với các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình. Đồng thời làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc cổ súy, lợi dụng, núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

          Có thể nói, chiêu trò thành lập tổ chức dưới danh nghĩa NGO như Rise để hoạt động chống phá Việt Nam thực chất chỉ là “bình cũ rượu mới”, nhưng thủ đoạn, mánh khóe ngày càng tinh vi và nguy hiểm hơn. Chính vì vậy, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, tuyệt đối không để bị lừa gạt, che mắt mà vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân.

 

 

MỌI QUYỀN LỰC ĐỀU THUỘC VỀ NHÂN DÂN

          Như thường lệ, mỗi khi lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam bắt giữ những kẻ có hành động “tuyên truyền chống nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để điều tra làm rõ hành vi phạm tội, thì các thế lực thù địch, điển hình là Bùi Thanh Hiếu gắn cho cái mác “nhà phản biện chính sách” để tiếp tục các chiêu trò chống phá Đảng, Nhà nước và cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no và hạnh phúc của nhân dân ta.

          Sự “lập lờ”, “lắt léo” của Bùi Thanh Hiếu

          Thời gian vừa qua, lợi dụng việc lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam bắt giữ Nguyễn Vũ Bình và Nguyễn Chí Tuyến về tội “tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm chống Nhà nước”, những kẻ “kêu thuê”, “khóc mướn” dùng đủ mọi chiêu trò công kích đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Cụ thể, Bùi Thanh Hiếu đã phát tán bài viết “Việt Nam cần thay đổi chính sách đàn áp người bất đồng chính kiến” trên nhiều diễn đàn phản động. Bằng vài thủ thuật “lập lờ”, “lắt léo”, Hiếu đã “tôn sùng”, ca ngợi các giá trị “đấu tranh” dân chủ phương Tây là “hình thành ý thức dân chủ trong tâm thức người dân Việt Nam”. Thực tế là, ở phương Tây, một số nghị sĩ cực đoan và một số tổ chức phi chính phủ: Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW); Tổ chức Ân xá quốc tế (AI); Tổ chức Freedom House (FH)… luôn “khoác áo  dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo” để kích động, gây rối, phá hoại, gây mất trật tự an toàn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phủ nhận, xuyên tạc giá trị nhân văn, nhân đạo, dân chủ và văn minh của Việt Nam, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

          Hiếu đã liên tục viện dẫn các lý do rồi nhặt nhạnh, cắt ghép, “làm cơ sở” cho cái “sáng kiến” cũ rích là: “giảm biên chế an ninh, giải thể lực lượng dư luận viên” thành lập cái gọi là “tổ, ban tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân theo địa phương, ngành” để “tổ chức đối thoại hàng tuần, hàng tháng hay quý” và được khéo léo vẽ nên chiếc bánh “tranh luận công bằng trên mục đích là phát triển đất nước” để lừa phỉnh đồng bọn, lôi kéo người nhẹ dạ, cả tin. Từ đó hòng đưa nước ta đi theo vết xe đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, để rồi mất kiểm soát, loạn lạc. Đây là mưu đồ hết sức nham hiểm nhưng không khó để nhận ra. Bộ mặt cơ hội, phản động của Bùi Thanh Hiếu đã hoàn toàn lộ rõ.

          Ở Việt Nam mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân – dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng

          Hơn 94 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang lắng nghe và nguyện chiến đấu, hy sinh vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân, nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ. Đảng, Nhà nước Việt Nam không ngăn cản tranh biện hay hạn chế quyền dân chủ biểu đạt ý kiến của nhân dân. Và hơn ai hết, Nhân dân Việt Nam hiểu rõ cái giá của độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc và đang hàng ngày, hàng giờ đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam nỗ lực xây dựng đất nước ngày một phồn vinh, hạnh phúc. Trong đó, nhân dân là người được biết, được bàn, được làm, tự giám sát và trực tiếp thụ hưởng mọi thành quả. Nhân dân “biết”, “bàn”, “làm”, “kiểm tra”, “giám sát”, “thụ hưởng” là quá trình tiếp nối biện chứng, có quan hệ chặt chẽ, chuyển hoá với nhau, gắn liền với vai trò chủ thể là nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Phương châm này bắt nguồn từ truyền thống “lấy dân làm gốc”, coi trọng sức mạnh của nhân dân trong văn hóa Việt Nam, được tiếp nối, phát triển trong thời đại Hồ Chí Minh và trở thành mục tiêu, động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóa định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới, hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời, đó cũng là mục tiêu hướng tới của chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta lựa chọn, xây dựng, phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

          Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ trước đến nay luôn luôn coi trọng ý kiến đóng góp phê bình, kiến nghị của mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội về các vấn đề quốc kế, dân sinh, những chủ chương, chính sách, quyết sách lớn của đất nước. Đồng thời, mỗi người dân cần tỉnh táo, thận trọng, trang bị cho mình “bộ lọc” và thông tin cần thiết giúp nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng phản biện xã hội để gây nhiễu thông tin, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động. Đặc biệt, cần chú ý trước những thông tin không rõ nguồn, được viện dẫn rất vu vơ, mơ hồ, xuất phát từ các ý kiến của những người mượn danh phản biện, các “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến” vốn có thành kiến và luôn ấp ủ âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam./.

 

QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI CUỘC XUNG ĐỘT QUÂN SỰ NGA – UKRAINA, NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CẦN BÁC BỎ

          Ngày 26/3 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã điện đàm, chúc mừng Tổng thống Putin được nhân dân Nga tín nhiệm bầu lại làm Tổng thống Liên bang Nga nhiệm kỳ 2024-2030 với số phiếu cao kỷ lục, thể hiện niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân Nga đối với Tổng thống Putin trong lãnh đạo nước Nga phát triển giai đoạn mới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng gửi lời thăm hỏi và lời chia buồn sâu sắc đến Tổng thống Putin, nhân dân Nga và thân nhân những người bị nạn trong vụ khủng bố tại Moskva vào chiều tối 22/3/2024. Tại cuộc điện đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định Việt Nam trân trọng sự giúp đỡ to lớn của Liên bang Nga trong Liên Xô trước đây cũng như ngày nay đối với đất nước và nhân dân Việt Nam, nhấn mạnh Việt Nam xác định quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình.

          Thế nhưng, lợi dụng cuộc điện đàm giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với Tổng thống Putin, một số cá nhân, tổ chức phản động như Việt Tân, RFA, RFI, BBC, VOA, Chân trời mới… đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận đường lối đối ngoại của Việt Nam, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với cuộc xung đột quân sự giữa Nga – Ukraina. Chúng cho rằng, Việt Nam có nên “sợ cô lập” vì chủ trương “4 không, 4 tránh”, “Việt Nam trước ngã ba đường và các bài học lịch sử”… Vì vậy, mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng nói chung, đường lối đối ngoại của Việt Nam nói riêng, tiếp tục phát huy truyền thống, đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

          Như chúng ta đã biết, cuộc điện đàm giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với Tổng thống Putin là thể hiện tinh thần chia sẻ khó khăn, nhân văn, nhân ái của dân tộc Việt Nam với nhân dân Liên bang Nga; khẳng định rõ quan điểm, lập trường, đường lối đối ngoại độc đáo “cây tre Việt Nam” trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới. Còn về cuộc xung đột quân sự Nga – Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình, như Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc nhấn mạnh: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Việt Nam chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột và cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, đứng về chính nghĩa và luật pháp quốc tế.

          Thực tiễn trên một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại của Việt Nam là hết sức rõ ràng và thể hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Việt Nam luôn ủng hộ và sẵn sàng tham gia vào các nỗ lực, sáng kiến của cộng đồng quốc tế trong việc tạo điều kiện để các bên đối thoại, tìm kiếm giải pháp lâu dài, bền vững. Qua đó, góp phần khẳng định vị thế, vai trò và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời, bác bỏ luận điệu xuyên tạc, suy diễn, bịa đặt của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng cuộc xung đột quân sự Nga – Ukraine để chống phá cách mạng Việt Nam./.

 

BÀI 5: GIÁO DỤC VIỆT NAM - NHỮNG CÁI NHÌN LỆCH LẠC

          Với sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn dân, nền giáo dục Việt Nam đã có nhiều đổi mới, đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong xây dựng con người mới và sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước; được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đi ngược với tinh thần đó, các phần tử cơ hội, phản động vẫn ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu giáo dục mà đất nước ta đã đạt được trong những năm qua. Trong bài viết “Tị nạn giáo dục” được phát tán trên nhiều diễn đàn phản động, với cái nhìn lệch lạc, Châu Nam Việt đã viện dẫn ý kiến của người nọ, người kia để đưa ra những luận điệu sai trái: “năng lực giáo dục trong nước đã tụt hậu, lạc hướng”, “du học nhưng thực ra là tị nạn giáo dục”, “sự thất bại của chính sách giáo dục trong hệ thống “độc quyền” dưới sự lãnh đạo tuyệt đối”… Mục đích của y không phải là đánh giá khách quan, không phải vì sự phát triển của giáo dục Việt Nam, mà thực chất là  phủ nhận thành tựu của giáo dục, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với giáo dục.

          Thứ nhất, du học không phải là tị nạn giáo dục.

          Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là vấn đề khách quan đối với mọi quốc gia, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hội nhập giáo dục là xu thế tất yếu khách quan, việc học sinh, sinh viên của Việt Nam đi du học nước ngoài là điều bình thường, du học là để học tập kiến thức, kỹ thuật, tiếp thu những tinh hoa văn minh của nhân loại để xây dựng đất nước. Điều này không phải do chất lượng giáo dục của Việt Nam thấp kém, tụt hậu. Thực tế cho thấy, đi du học ở nước ngoài không chỉ ở Việt Nam mới có, mà ngay cả những nước phát triển, có các trường đại học thuộc diện tốt nhất khu vực và nằm trong top các trường đại học hàng đầu trên thế giới vẫn có học sinh, sinh viên đi du học nước ngoài, thậm chí với số lượng còn lớn hơn Việt Nam. Năm 2021 – 2022, đi du học tại Mỹ: Việt Nam có 20.713, Hàn Quốc là 40.755, Canada 27.013, Nhật Bản 13.949…

          Mặt khác, không chỉ có học sinh, sinh viên Việt Nam đi du học nước ngoài, mà học sinh, sinh viên các nước khác cũng đến Việt Nam du học. Hàng năm có khoảng 4.000 đến 6.000 học sinh, sinh viên nước ngoài đến Việt Nam học tập, trong đó có cả những người đến từ các nước phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp.

          Mặc dù giáo dục của Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định, nhưng đó không phải là tất cả của nền giáo dục. Nếu có cái nhìn khách quan và không định kiến thì dễ dàng nhận thấy rằng, giáo dục Việt Nam những năm qua có nhiều gam màu tươi sáng góp phần xây dựng con người mới, phát triển đất nước và mở rông hợp tác quốc tế. Nên, việc vin vào một số hạn chế của hệ thống giáo dục Việt Nam để “than khóc” rằng, học sinh, sinh viên Việt Nam đi du học thực chất là “tị nạn giáo dục” chỉ là những luận điệu lệch lạc, sai trái.

          Thứ hai, những tiếng nói khách quan của các tổ chức, cá nhân trên thế giới về giáo dục Việt Nam. Với sự quan tâm, chăm lo, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, của thầy cô giáo, gia đình và xã hội, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, không chỉ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân vui mừng phấn khởi, mà còn được các cá nhân, tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Giáo sư, tiến sĩ Paul Glewwe, Trường Đại học Minesota (Hoa Kỳ), chuyên gia và nghiên cứu viên chính của dự án Nghiên cứu cải thiện hệ thống giáo dục Việt Nam nhận xét: Giáo dục Việt Nam đã có nhiều bước tiến, luôn thuộc nhóm những nước có kết quả tốt. Giáo sư, tiến sĩ Joan Dejaeghere Trường Đại học Minesota (Hoa Kỳ) đánh giá “Tôi nhận thấy một bước tiến quan trọng của giáo dục Việt Nam là chương trình mới thể hiện sự chuyển dịch theo hướng tiếp cận phát triển năng lực… Rõ ràng đây là nỗ lực rất lớn của Chính phủ nằm trong kế hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”.

Bà Irina Bokova, Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đánh giá, “trong lần thứ ba đến Việt Nam, tôi thấy Việt Nam có nhiều thay đổi, nhất là sự phát triển tích cực về kinh tế cũng như chất lượng giáo dục, trong đó có thành tựu về đào tạo giáo viên và thúc đẩy sự công bằng, bình đẳng về giáo dục”. Cố vấn cao cấp của Viện đo lường giáo dục Cito (Hà Lan) – ông Nico Dieteren chia sẻ “Việt Nam đang đi đúng hướng phát triển của giáo dục thế giới”.

          The Economist – một tạp chí nổi tiếng của Anh đã viết, mặc dù GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp nhưng con cái của các gia đình ở Việt Nam lại đang được hưởng “một trong những nền giáo dục tốt nhất thế giới”. Theo báo cáo Giáo dục thế giới năm 2020 của (UNESCO), Việt Nam là một trong những quốc gia có tiến bộ lớn nhất trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn cầu của Liên hợp quốc. Cùng với đó, năm 2021, Việt Nam lần thứ 5 trúng cử thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), đã khẳng định vai trò, vị thế, uy tín và những đóng góp tích cực, hiệu quả của nước ta đối với UNESCO trên các lĩnh vực, trong đó có giáo dục.

          Từ thực tế sinh động của giáo dục Việt Nam và trên thế giới, cùng những nhận xét khách quan của các cá nhân, tổ chức quốc tế là minh chứng đanh thép bác bỏ mọi luận điệu sai trái, lệch lạc của Châu Nam Việt và đồng bọn về giáo dục của Việt Nam./.

 

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CẦN ĐƯỢC LÊN ÁN

          Trong lịch sử nhân loại, hiếm có học thuyết, tư tưởng nào mà trong suốt quá trình hình thành và phát triển lại chịu nhiều sự đả kích, xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch như chủ nghĩa Mác – Lênin. Hành trình gần hai thế kỷ kể từ khi C.Mác, Ph.Ăngghen đặt nền móng đầu tiên tại Đức, V.I.Lênin kế tục và phát triển tại Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, cho đến nay, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng vững chắc của các Đảng Cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam.

          Vừa qua, trên trang “thongluan-rdp” có đăng tải nội dung “Văn hóa Marx – Lenin độc tài và lừa đảo còn kìm kẹp dân tộc ta bao lâu nữa” của đối tượng Âu Dương Thệ với những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, cho rằng “văn hóa Mác – Lênin rủ ngủ, làm ngu dân”; đồng thời tôn vinh cái gọi là “văn hóa chính trị dân chủ đa nguyên”. Mục đích của chúng nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, đòi “đa nguyên, đa đảng”. Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn về chủ nghĩa Mác – Lênin. Do đó, cần có nhận thức đúng đắn về những giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, là cơ sở để vạch trần những luận điệu sai trái của những kẻ thù địch như Âu Dương Thệ.

          Lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới đương đại ghi nhận rằng: Không có sự lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 của Nguyễn Ái Quốc; không có việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam những năm thập niên 1920 thì tất yếu cũng không có một Đảng cách mạng để tập hợp, quy tụ, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh và giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Và nếu không có thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam vào mùa Thu năm 1945 thì cũng không có một cuộc đổi đời lịch sử của những người nô lệ trở thành chủ nhân một nước Việt Nam độc lập, tự do trong thế kỷ XX. Bởi rằng, thắng lợi có ý nghĩa thời đại đó đã đưa đất nước Việt Nam trở lại bản đồ chính trị thế giới; đồng thời đưa nhân dân Việt Nam trở thành những người có quyền tự quyết định con đường phát triển của dân tộc mình và thụ hưởng những giá trị đích thực của độc lập, tự do, quyền con người mà trước đó họ chưa bao giờ có được…

          Đặc biệt, sau gần 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu đạt được của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, tin tưởng và kỳ vọng chính là minh chứng sinh động nhất khẳng định ý nghĩa, giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cộng đồng quốc tế bày tỏ ấn tượng trước tốc độ phát triển ngoạn mục của Việt Nam. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ghi nhận, kể từ năm 1986 tới nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng gấp 50 lần, đạt 434 tỷ USD. Các tổ chức quốc tế cũng đánh giá cao việc Việt Nam phát triển kinh tế luôn gắn liền với cải thiện đời sống người dân. Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ) chỉ ra, giá trị tài sản bình quân của một người trưởng thành ở Việt Nam đã đạt 14.569 USD vào năm 2022, vượt xa mốc 1.595 USD hồi năm 2000. Cũng theo truyền thông quốc tế, Việt Nam đang chi khoảng 6% GDP hằng năm cho cải thiện hạ tầng, cao hơn nhiều so với trung bình 2,3% trong khu vực. Trong khi đó, báo cáo “Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, đói nghèo ở Việt Nam tiếp tục giảm, đặc biệt là trong các dân tộc thiểu số, với tỷ lệ giảm mạnh tới 13%. Đây là mức giảm lớn nhất trong thập niên vừa qua. Cùng với những điểm sáng về kinh tế, Việt Nam tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào đời sống chính trị và quan hệ quốc tế. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm cương vị thành viên một số cơ quan của tổ chức quốc tế quan trọng như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (hai nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021); thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (hai nhiệm kỳ 2014-2016 và 2023-2025); thành viên Hội đồng chấp hành Tổ chức Y tế thế giới – WHO (nhiệm kỳ 2016-2019).

          Thực tế, những luận điệu của Âu Dương Thệ và các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhằm hướng tới mục tiêu xóa bỏ hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Do đó, chúng ta cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới./.