Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2024

 

QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI CUỘC XUNG ĐỘT QUÂN SỰ NGA – UKRAINA, NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CẦN BÁC BỎ

          Ngày 26/3 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã điện đàm, chúc mừng Tổng thống Putin được nhân dân Nga tín nhiệm bầu lại làm Tổng thống Liên bang Nga nhiệm kỳ 2024-2030 với số phiếu cao kỷ lục, thể hiện niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân Nga đối với Tổng thống Putin trong lãnh đạo nước Nga phát triển giai đoạn mới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng gửi lời thăm hỏi và lời chia buồn sâu sắc đến Tổng thống Putin, nhân dân Nga và thân nhân những người bị nạn trong vụ khủng bố tại Moskva vào chiều tối 22/3/2024. Tại cuộc điện đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định Việt Nam trân trọng sự giúp đỡ to lớn của Liên bang Nga trong Liên Xô trước đây cũng như ngày nay đối với đất nước và nhân dân Việt Nam, nhấn mạnh Việt Nam xác định quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình.

          Thế nhưng, lợi dụng cuộc điện đàm giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với Tổng thống Putin, một số cá nhân, tổ chức phản động như Việt Tân, RFA, RFI, BBC, VOA, Chân trời mới… đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận đường lối đối ngoại của Việt Nam, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với cuộc xung đột quân sự giữa Nga – Ukraina. Chúng cho rằng, Việt Nam có nên “sợ cô lập” vì chủ trương “4 không, 4 tránh”, “Việt Nam trước ngã ba đường và các bài học lịch sử”… Vì vậy, mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng nói chung, đường lối đối ngoại của Việt Nam nói riêng, tiếp tục phát huy truyền thống, đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

          Như chúng ta đã biết, cuộc điện đàm giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với Tổng thống Putin là thể hiện tinh thần chia sẻ khó khăn, nhân văn, nhân ái của dân tộc Việt Nam với nhân dân Liên bang Nga; khẳng định rõ quan điểm, lập trường, đường lối đối ngoại độc đáo “cây tre Việt Nam” trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới. Còn về cuộc xung đột quân sự Nga – Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình, như Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc nhấn mạnh: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Việt Nam chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột và cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, đứng về chính nghĩa và luật pháp quốc tế.

          Thực tiễn trên một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại của Việt Nam là hết sức rõ ràng và thể hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Việt Nam luôn ủng hộ và sẵn sàng tham gia vào các nỗ lực, sáng kiến của cộng đồng quốc tế trong việc tạo điều kiện để các bên đối thoại, tìm kiếm giải pháp lâu dài, bền vững. Qua đó, góp phần khẳng định vị thế, vai trò và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời, bác bỏ luận điệu xuyên tạc, suy diễn, bịa đặt của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng cuộc xung đột quân sự Nga – Ukraine để chống phá cách mạng Việt Nam./.

 

BÀI 5: GIÁO DỤC VIỆT NAM - NHỮNG CÁI NHÌN LỆCH LẠC

          Với sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn dân, nền giáo dục Việt Nam đã có nhiều đổi mới, đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong xây dựng con người mới và sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước; được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đi ngược với tinh thần đó, các phần tử cơ hội, phản động vẫn ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu giáo dục mà đất nước ta đã đạt được trong những năm qua. Trong bài viết “Tị nạn giáo dục” được phát tán trên nhiều diễn đàn phản động, với cái nhìn lệch lạc, Châu Nam Việt đã viện dẫn ý kiến của người nọ, người kia để đưa ra những luận điệu sai trái: “năng lực giáo dục trong nước đã tụt hậu, lạc hướng”, “du học nhưng thực ra là tị nạn giáo dục”, “sự thất bại của chính sách giáo dục trong hệ thống “độc quyền” dưới sự lãnh đạo tuyệt đối”… Mục đích của y không phải là đánh giá khách quan, không phải vì sự phát triển của giáo dục Việt Nam, mà thực chất là  phủ nhận thành tựu của giáo dục, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với giáo dục.

          Thứ nhất, du học không phải là tị nạn giáo dục.

          Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là vấn đề khách quan đối với mọi quốc gia, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hội nhập giáo dục là xu thế tất yếu khách quan, việc học sinh, sinh viên của Việt Nam đi du học nước ngoài là điều bình thường, du học là để học tập kiến thức, kỹ thuật, tiếp thu những tinh hoa văn minh của nhân loại để xây dựng đất nước. Điều này không phải do chất lượng giáo dục của Việt Nam thấp kém, tụt hậu. Thực tế cho thấy, đi du học ở nước ngoài không chỉ ở Việt Nam mới có, mà ngay cả những nước phát triển, có các trường đại học thuộc diện tốt nhất khu vực và nằm trong top các trường đại học hàng đầu trên thế giới vẫn có học sinh, sinh viên đi du học nước ngoài, thậm chí với số lượng còn lớn hơn Việt Nam. Năm 2021 – 2022, đi du học tại Mỹ: Việt Nam có 20.713, Hàn Quốc là 40.755, Canada 27.013, Nhật Bản 13.949…

          Mặt khác, không chỉ có học sinh, sinh viên Việt Nam đi du học nước ngoài, mà học sinh, sinh viên các nước khác cũng đến Việt Nam du học. Hàng năm có khoảng 4.000 đến 6.000 học sinh, sinh viên nước ngoài đến Việt Nam học tập, trong đó có cả những người đến từ các nước phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp.

          Mặc dù giáo dục của Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định, nhưng đó không phải là tất cả của nền giáo dục. Nếu có cái nhìn khách quan và không định kiến thì dễ dàng nhận thấy rằng, giáo dục Việt Nam những năm qua có nhiều gam màu tươi sáng góp phần xây dựng con người mới, phát triển đất nước và mở rông hợp tác quốc tế. Nên, việc vin vào một số hạn chế của hệ thống giáo dục Việt Nam để “than khóc” rằng, học sinh, sinh viên Việt Nam đi du học thực chất là “tị nạn giáo dục” chỉ là những luận điệu lệch lạc, sai trái.

          Thứ hai, những tiếng nói khách quan của các tổ chức, cá nhân trên thế giới về giáo dục Việt Nam. Với sự quan tâm, chăm lo, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, của thầy cô giáo, gia đình và xã hội, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, không chỉ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân vui mừng phấn khởi, mà còn được các cá nhân, tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Giáo sư, tiến sĩ Paul Glewwe, Trường Đại học Minesota (Hoa Kỳ), chuyên gia và nghiên cứu viên chính của dự án Nghiên cứu cải thiện hệ thống giáo dục Việt Nam nhận xét: Giáo dục Việt Nam đã có nhiều bước tiến, luôn thuộc nhóm những nước có kết quả tốt. Giáo sư, tiến sĩ Joan Dejaeghere Trường Đại học Minesota (Hoa Kỳ) đánh giá “Tôi nhận thấy một bước tiến quan trọng của giáo dục Việt Nam là chương trình mới thể hiện sự chuyển dịch theo hướng tiếp cận phát triển năng lực… Rõ ràng đây là nỗ lực rất lớn của Chính phủ nằm trong kế hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”.

Bà Irina Bokova, Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đánh giá, “trong lần thứ ba đến Việt Nam, tôi thấy Việt Nam có nhiều thay đổi, nhất là sự phát triển tích cực về kinh tế cũng như chất lượng giáo dục, trong đó có thành tựu về đào tạo giáo viên và thúc đẩy sự công bằng, bình đẳng về giáo dục”. Cố vấn cao cấp của Viện đo lường giáo dục Cito (Hà Lan) – ông Nico Dieteren chia sẻ “Việt Nam đang đi đúng hướng phát triển của giáo dục thế giới”.

          The Economist – một tạp chí nổi tiếng của Anh đã viết, mặc dù GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp nhưng con cái của các gia đình ở Việt Nam lại đang được hưởng “một trong những nền giáo dục tốt nhất thế giới”. Theo báo cáo Giáo dục thế giới năm 2020 của (UNESCO), Việt Nam là một trong những quốc gia có tiến bộ lớn nhất trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn cầu của Liên hợp quốc. Cùng với đó, năm 2021, Việt Nam lần thứ 5 trúng cử thành viên Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), đã khẳng định vai trò, vị thế, uy tín và những đóng góp tích cực, hiệu quả của nước ta đối với UNESCO trên các lĩnh vực, trong đó có giáo dục.

          Từ thực tế sinh động của giáo dục Việt Nam và trên thế giới, cùng những nhận xét khách quan của các cá nhân, tổ chức quốc tế là minh chứng đanh thép bác bỏ mọi luận điệu sai trái, lệch lạc của Châu Nam Việt và đồng bọn về giáo dục của Việt Nam./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét