Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

 

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG PHẨM CHẤT LIÊM, CHÍNH CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN


Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm, yêu cầu về liêm, chính đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trên nhiều bình diện, ở nhiều tầng bậc; qua đó, thể hiện một trí tuệ uyên bác, tầm nhìn chiến lược sâu rộng, phẩm chất đạo đức mẫu mực của một lãnh tụ kiệt xuất. Hiện nay, những chỉ dẫn đó của Người có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Thứ nhất, trên bình diện văn hóa - xã hội, liêm, chính là chuẩn mực cơ bản của đạo đức truyền thống và đạo đức cách mạng.

Khi bàn về đức liêm, chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự kế thừa sâu sắc quan niệm đạo đức truyền thống của người phương Đông và phát triển nó lên một tầm cao mới gắn với thời đại mới. Người nhìn nhận liêm, chính trong tổng thể các giá trị đạo đức ở một con người, luôn đồng hành cùng cần, kiệm. Người chỉ rõ: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Người nhấn mạnh, cần - kiệm - liêm - chính có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau; muốn có liêm, chính thì phải thực hành cần, kiệm; không rèn luyện cần, kiệm, sống buông thả, xa hoa thì ắt sẽ mất đi sự liêm, chính. Vậy nên, trong cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cần, kiệm, liêm, chính” luôn làm thành một cụm từ cố định. Hay nói cách khác, nội hàm của liêm, chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã bao gồm cả đức cần, kiệm; và theo đó, một người liêm, chính nhất thiết phải có sự cần cù, chịu khó, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giữ mình liêm khiết, trong sạch, đúng mực trong các mối quan hệ, luôn hướng tới sự đúng đắn trong mọi phương diện của đời sống. Vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính vừa là con đường thực hành đạo đức, vừa là đích đến trong rèn luyện đạo đức truyền thống của người Á Đông.

Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nâng tầm, vận dụng quan điểm truyền thống về liêm, chính vào thời đại mới và khẳng định: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới”. Người nhấn mạnh, liêm, chính là chuẩn mực đạo đức của con người thời đại mới, là thước đo cho mọi giá trị, danh hiệu trong đời sống xã hội mới. Người phân tích: “Ai là anh hùng?... Anh hùng là những người thật cần kiệm liêm chính”; “Chiến sĩ thi đua là những người mới, những người luôn luôn cố gắng thực hành cần kiệm liêm chính”; “Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu nghiêm khắc mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động với tư cách là một công dân của xã hội mới “phải thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải lấy phê bình và tự phê bình mà tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân và bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể”.

Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác nhằm bảo vệ những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc và thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rất rõ ràng, những người cần, kiệm, liêm, chính là những người thuộc phe thiện, tiên phong, tiến bộ; còn những kẻ bất liêm, bất chính, bất nhân là những người thuộc phe ác; phe thiện phải có sứ mệnh đánh bại phe ác, làm cho điều thiện được lan tỏa, trở thành yếu tố chủ đạo trong đời sống xã hội. Người nêu rõ: “Nếu mình cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đấy là phe thiện. Nếu tham ô, hủ hóa, cầu danh, cầu lợi là phe ác. Phe thiện trong mình mà đánh thắng được phe ác, thì ảnh hưởng đến phe thiện trong nước đánh thắng được phe ác, phe thiện thế giới đánh thắng được phe ác”.

Thứ hai, trên bình diện xây dựng Đảng, liêm, chính là đặc trưng bảo đảm bản chất tốt đẹp, “là đạo đức, là văn minh” của Đảng ta; có liêm, chính thì Đảng mới trong sạch, vững mạnh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm, chính không chỉ là đạo đức của cá nhân, của xã hội, mà cao hơn nữa, là đạo đức của Đảng, là sự phản ánh trí tuệ, văn hóa của Đảng ta. Người coi đạo đức là bản chất hàng đầu của Đảng ta, và định nghĩa “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Vậy nên, xây dựng liêm, chính trong Đảng là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm khiết, chính trực, vì nhân dân phục vụ, là góp phần quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức, văn hóa, trí tuệ.

Ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, chăm lo và coi trọng việc rèn luyện đạo đức liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp. Theo Người, nếu như “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” thì đạo đức chính là gốc của người cán bộ. Xây dựng Đảng phải bắt đầu từ xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ phải bắt đầu từ xây dựng nền tảng đạo đức, xây dựng nền tảng đạo đức phải đi từ sự liêm, chính. Một mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, cần đi đầu trong “quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí” để xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Mặt khác, xây dựng liêm, chính trong nội bộ Đảng, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp là nền tảng để bảo đảm an ninh tư tưởng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Có thể thấy, qua quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, liêm, chính được xem là nền tảng để các chính đảng mác-xít duy trì sự trong sạch, vững mạnh; đạo đức liêm, chính là cơ sở để cán bộ, đảng viên trung thực, liêm khiết. Trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người vẫn đau đáu về mối quan hệ mật thiết giữa đạo đức cách mạng (trong đó có đặc trưng liêm, chính) với sứ mệnh cao cả của Đảng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thứ ba, trên bình diện xây dựng nền hành chính quốc gia, liêm, chính là điều kiện, yêu cầu của việc xây dựng Chính phủ tiến bộ, phát triển.

Ngay sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập ở Việt Nam (tháng 9-1945), liêm, chính là mục tiêu hàng đầu của Chính phủ mới, và vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước Quốc hội, quốc dân và thế giới tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I rằng: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”. Đó là một Chính phủ mà tất thảy cán bộ, công chức phải liêm khiết, chính trực; phải hết sức tiết kiệm, minh bạch, phải có trách nhiệm, có cái tâm trong sáng, không bòn rút của dân, không vụ lợi, vị kỷ và phải cải tạo lòng mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: Bất kể ai trong hệ thống công quyền cũng đều phải thực hành liêm, chính, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo bởi “thượng bất chính, hạ tắc loạn”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra khuyến cáo, nếu cán bộ không giữ được mình trong sạch, sẽ sa vào hưởng thụ, tham lam, tham nhũng, tham ô, nhận hối lộ, lạm quyền, lộng quyền, rồi thoái hóa, biến chất; như vậy là có tội với nước, với dân: “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””; “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ... dù cố ý hay không cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến... Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”.  Để răn đe, ngăn chặn những hành vi bất liêm, bất chính, ngày 26-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh, trong đó quy định tội trộm cắp của công phải bị tử hình, giống như tội phản quốc.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liêm, chính là linh hồn, là văn hóa và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống chính trị đất nước, mà đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân”. Chính vì lẽ đó, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tự giác thực hành liêm, chính trong công việc, trong sử dụng quyền lực nhà nước, trong tu dưỡng bản thân và ứng xử với nhân dân. Đây chính là những lời răn dạy rất thấm thía, sâu sắc mà Người đã để lại cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta.

Xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những định hướng giáo dục về đức liêm, chính cũng như những cảnh báo về sự bất liêm, bất chính, tha hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, vẫn mang tính thời sự và đậm chất nhân văn. Điều đó càng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế thị trường đang diễn ra sôi động với đầy rẫy những cám dỗ về vật chất, tiền bạc cũng như sự du nhập của không ít yếu tố văn hóa ngoại lai, trong đó có lối sống ưa hưởng thụ, ham muốn quyền lực, xa hoa, phô trương, hình thức... Trong bối cảnh đó, nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên không thực sự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh, đạo đức cách mạng, không thường xuyên thực hành liêm, chính thì dễ dẫn đến suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đánh mất sự trong sạch của hệ thống chính trị và làm suy giảm uy tín, năng lực, đạo đức, sức chiến đấu của bản thân cán bộ, đảng viên cũng như bản chất tốt đẹp của một chính đảng cách mạng tiên phong.

Chính vì lẽ đó, thấm nhuần và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, nhất là sự liêm, chính của cán bộ, đảng viên, Đảng ta luôn đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi trọng việc tu dưỡng đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; yêu cầu nghiêm túc thực hành “cần, kiệm, liêm, chính”, nhằm giữ gìn sự tôn nghiêm, uy tín của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu liêm, chính trên cả ba cấp độ: 1- Đối với đội ngũ cán bộ; 2- Đối với các cấp ủy và cơ quan nội chính; 3- Đối với bộ máy nhà nước. Cụ thể là: Yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải “rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí”; yêu cầu các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng “kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, bảo đảm liêm chính, trong sạch, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động”; yêu cầu bộ máy nhà nước phải “tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính”.

Muốn thực hiện được những định hướng đó nhằm mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, thì việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là vấn đề trọng tâm, mang tính quyết định và cần phải chú trọng trên các phương diện cụ thể sau:

Thứ nhất, cần xác định rõ liêm, chính là giá trị đạo đức cơ bản, là nguyên tắc, thước đo, chuẩn mực bắt buộc đối với người cán bộ, đảng viên.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tổ chức, thúc đẩy, hướng dẫn thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, là trụ cột của việc điều hành và phát triển đất nước. Trong công cuộc xây dựng đời sống chính trị liêm, chính thời kỳ mới, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải là lực lượng chủ lực, tiên phong, chiếm vị trí chủ đạo. Phẩm chất liêm, chính của người cán bộ, đảng viên cần được thể hiện đầy đủ trên tất cả phương diện, trong công tác cũng như trong cuộc sống thường ngày. Theo đó, họ cần phải hiểu biết sâu sắc về đạo đức chính trị, tuân theo đạo đức công vụ, nghiêm túc về đạo đức cá nhân, luôn có ý thức tu thân bằng đạo đức, tu tài bằng tri thức, thuyết phục người khác bằng sự liêm, chính, trong sạch của bản thân.

Để có đạo đức chính trị liêm, chính thì mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện lý tưởng và niềm tin vững vàng, có tính đảng mạnh mẽ, sâu sắc, biết phân biệt và kiên định trước những điều đúng - sai, không sợ hãi khi đối mặt với thử thách và gian khổ, đứng vững trước những cám dỗ của đời sống.

Đạo đức công vụ liêm, chính của người cán bộ, đảng viên là hết lòng phục vụ nhân dân, triệt để thấm nhuần và chấp hành quan điểm phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; luôn có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, có ý chí tự lực, tự cường.

Đạo đức cá nhân liêm, chính của người cán bộ, đảng viên là nghiêm khắc, kỷ luật, đúng mực trong mọi lời nói, hành vi, cách cư xử; sẵn sàng hy sinh nhu cầu, lợi ích bản thân để phục vụ quần chúng nhân dân, sử dụng quyền lực được nhân dân giao phó đúng chức năng, nhiệm vụ; tăng cường tự tu dưỡng, rèn luyện, tự kiểm tra, tự giám sát; suy nghĩ trung thực, công - tư phân minh.

Thứ hai, cần khẳng định việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; là gốc rễ của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thời gian qua, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì tham vọng quyền lực, ham muốn vật chất mà đánh mất lòng chính trực, sự liêm khiết của bản thân, gây ra không ít sai phạm trong các cơ quan công quyền; không ít cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật, thậm chí phải xử lý hình sự, làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân giảm sút niềm tin vào Đảng, Nhà nước; làm suy giảm danh dự, uy tín của hệ thống chính trị nước ta. Vì vậy, để quản trị nội bộ Đảng một cách nghiêm minh và toàn diện, chúng ta không chỉ cần dựa vào việc “điều trị” các triệu chứng, biểu hiện của tham nhũng, lãng phí và các loại tiêu cực, mà còn phải chỉ ra được nguyên nhân của các loại “bệnh” này, đó là do thiếu tu dưỡng, thiếu “gốc” đạo đức, văn hóa, trong đó chủ yếu là do không ít cán bộ, đảng viên các cấp bất liêm, bất chính. Vì vậy, việc xây dựng phẩm chất liêm, chính cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là nền tảng để xây dựng sự liêm, chính của Đảng và hệ thống chính trị. Kể từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XI với việc ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, và đặc biệt là trong thời gian gần đây, Đảng ta đã thể hiện quyết tâm và ý chí chưa từng có trong việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với phương châm không khoan nhượng, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật, thể chế, cơ chế trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cần phải làm cho liêm, chính trở thành thước đo về đạo đức, sự tuân thủ pháp luật tuyệt đối, để cán bộ, đảng viên không dám, không thể, không muốn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây chính là gốc rễ, nền tảng để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Thứ ba, cần nâng tầm liêm, chính lên thành “văn hóa liêm, chính” trong mọi mặt của đời sống xã hội.

Cần xem việc xây dựng văn hóa liêm, chính là một bộ phận quan trọng của văn hóa chính trị và là bộ phận không thể thiếu của văn hóa xã hội trong thời kỳ mới. Văn hóa liêm, chính cần được triển khai trên mọi phương diện, ở nhiều cấp độ, trong mọi tầng lớp nhân dân, nhằm xây dựng nên “tuyến phòng thủ” đạo đức chống lại tham nhũng, lãng phí và tiêu cực; thiết lập quy tắc ứng xử tôn vinh đạo đức trong sáng, đồng thời tạo ra một hệ sinh thái chính trị và xã hội văn minh, tiến bộ.

Văn hóa chính trị cần được hướng dẫn bởi lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, lấy văn hóa xã hội chủ nghĩa tiên tiến làm chủ đạo và thể hiện đầy đủ tính đảng, tính nhân dân. Một mặt, cần giữ gìn phẩm chất chính trị trong sạch, bản lĩnh chính trị vững vàng, phát triển văn hóa chính trị tích cực, lành mạnh, trong sạch, liêm, chính; mặt khác, cần tăng cường đẩy mạnh xây dựng văn hóa liêm, chính trong mọi tầng lớp xã hội, không chỉ tập trung vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, mà còn phải chú trọng đến sự chuyển hóa của cả môi trường và bầu không khí xã hội. Chỉ khi có sự tương tác và chung tay xây dựng văn hóa xã hội liêm, chính và văn hóa chính trị liêm, chính thì mới có thể thúc đẩy tâm lý không khoan nhượng, “không có vùng cấm” của xã hội đối với các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cần đi đầu trong xây dựng và phát huy phẩm chất liêm, chính, nhằm xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải đi đầu trong việc xây dựng phẩm chất liêm, chính thời đại mới, phải rèn luyện, thực hành liêm, chính từ trong tư tưởng đến hành động, có ý thức thực hiện liêm, chính trong công vụ, trong sử dụng quyền lực, trong tự tu dưỡng, rèn luyện, trong lối sống cá nhân, gia đình... Cán bộ, đảng viên phải giữ vững sứ mệnh, trách nhiệm, giữ vững niềm say mê cống hiến cho lý tưởng và niềm tin cách mạng, tri thức phải gắn với thực tiễn, lời nói phải đi đôi với hành động để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, giàu mạnh. Cụ thể là:

Trước hết, để nuôi dưỡng phẩm chất liêm, chính, trong sạch, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải củng cố niềm tin và lý tưởng cách mạng.

Đây chính là trụ cột tinh thần để người cộng sản có bản lĩnh vững vàng trước mọi thử thách. Một khi đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp lung lay niềm tin, mất tính đảng, mất mục đích chính trị, mất sự trong sáng về lý tưởng, đạo đức cách mạng thì có thể bị sa vào vòng “chệch hướng”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất. Chỉ bằng cách chăm chỉ vun đắp gốc rễ đạo đức và củng cố nền tảng tư tưởng, niềm tin, người cán bộ, đảng viên mới ngăn chặn, vượt qua được sự cám dỗ của những lợi ích vật chất tầm thường và tránh được thói xa hoa, hình thức. Chỉ khi có lý tưởng và niềm tin vững vàng, tầm vóc của những người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo mới cao hơn, tầm nhìn mới bao quát hơn, trí tuệ mới rộng mở hơn; từ đó, kiên định đường lối chính trị đúng đắn, vững vàng trước những thử thách, khó khăn, có ý thức chống lại sự xói mòn về tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống và mãi mãi giữ vững bản lĩnh chính trị của người cộng sản chân chính.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương liêm khiết, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển văn hóa chính trị tích cực, lành mạnh; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Cần nâng cao nhận thức toàn diện về lịch sử của Đảng ta, củng cố ý thức về truyền thống của Đảng và lòng tự hào về Đảng, tăng cường tính liên kết, hiệu quả và sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn xác định hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân là mục đích, sứ mệnh của Đảng; coi liêm, chính là yêu cầu cơ bản đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo trong toàn hệ thống chính trị. Đảng luôn đặt việc thực hiện kỷ luật đảng ở vị trí quan trọng; chính vì thế, hệ thống quy định về liêm, chính cần được coi là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các quy tắc, quy định của Đảng nhằm tạo nên kỷ luật nghiêm minh trong Đảng và kỷ cương trong toàn hệ thống chính trị.

Đảng ta xác định rằng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay là vấn đề sinh tử của Đảng và chế độ. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một hiện tượng toàn cầu, là một căn bệnh nhức nhối, dai dẳng. Vì vậy, việc xây dựng một nền chính trị trong sạch cũng là một vấn đề thực tế, là mục tiêu mà mọi quốc gia và chế độ phải hướng tới. Trong những năm gần đây, một số đảng chính trị trên thế giới mất vị trí cầm quyền, hầu hết đều liên quan đến việc đảng chính trị mất đi sự trong sạch và bản chất tiên tiến, do xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ, không theo kịp yêu cầu của sự phát triển và tiến bộ xã hội, không kiên cường củng cố, xây dựng nội bộ, đánh mất khả năng đối phó, giải quyết các vấn đề phức tạp, và cuối cùng là đánh mất lòng dân. Thực tiễn sinh động này là bài học sâu sắc, nhắc nhở chúng ta rằng, lòng dân như nước, bởi thế nước có thể đẩy thuyền, nhưng cũng có thể lật thuyền. Chính vì lẽ đó, phát triển văn hóa chính trị trong sạch, nêu gương liêm khiết, trung thực, ra sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là kinh nghiệm và bài học vô cùng quý báu mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, bắt buộc phải thực hiện trong quá trình lãnh đạo xã hội, đất nước; đồng thời, cần gắn với phát huy và lan tỏa giá trị của sự liêm, chính thẩm thấu vào hoạt động của chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng và mọi tầng lớp nhân dân./.

Sự thật về Phạm Đoan Trang nhân vật được “vinh danh”, “bảo hộ”

 

Đó là cái tên không còn xa lạ với nhiều người, Phạm Đoan Trang từng là một phóng viên, có thời gian công tác tại các cơ quan báo chí Nhà nước, tuy nhiên, do tiêm nhiễm của các trào lưu, tư tưởng “cấp tiến”, “đổi mới”, “xã hội dân sự” phương Tây, từ đó con người này đã trượt dài trong nhận thức, quan điểm, tư tưởng chính trị, sa vào chống Đảng, Nhà nước, chống chế độ. Với vỏ bọc là “nhà đấu tranh dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, Phạm Đoan Trang đã có nhiều hành vi chống đối quyết liệt, tên tuổi của Phạm Đoan Trang gắn liền với những tài liệu “sặc mùi” phản động như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”,… (từng được các tổ chức chống đối bên ngoài ví như “cẩm nang” để hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam). Phạm Đoan Trang cũng được biết đến với vai trò là “thủ lĩnh” của các hội, nhóm bất hợp pháp như “Du ca Sài Gòn”, “Tuổi trẻ làm đẹp quê hương” - tập hợp thành phần có tư tưởng cực đoan, bất mãn với Đảng, Nhà nước trong trí thức, văn nghệ sĩ. Không những thế, Trang còn lập ra và điều hành nhiều trang mạng để tuyên truyền, tán phát các tin, bài có nội dung phê phán, phủ định, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; phê phán, bác bỏ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…

Ấy thế mà, đây lại chính là nhân vật được lựa chọn để “vinh danh” cho cái gọi là giải thưởng “tự do truyền thông 2022”, “Phụ nữ can đảm thế giới 2022”…, lẽ nào tiêu chí để một cá nhân được “vinh danh”, “bảo hộ” này phải là người có tư tưởng chống đối lại chính quyền và Nhà nước của họ; lẽ nào để là ứng cử viên của sự “vinh danh”, “bảo hộ” phải luôn “đối đầu” với quốc gia, dân tộc của họ; phải luôn “can đảm” đứng lên công khai thách thức chính quyền, vi phạm trắng trợn pháp luật Việt Nam; phải là người cầm đầu một vài hội, nhóm bất hợp pháp có âm mưu lật đổ chính quyền thì mới thực sự là người xứng đáng được “vinh danh”. Những tưởng đó là “vinh danh”, “bảo hộ” nhưng vô tình lại làm tổn hại đến uy tín, hình ảnh, phẩm chất cao đẹp, những tiêu chuẩn tiến bộ, nhăn văn, niềm tự hào của người phụ nữ Việt Nam cũng như toàn thể phụ nữ trên toàn thế giới; việc lựa chọn Phạm Đoan Trang đã vô tình dựng nên một tấm gương phản chiếu, đối lập hoàn toàn với những giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền của Liên hiệp quốc cũng như cộng đồng quốc tế đang theo đuổi…

Mỗi chúng ta luôn hiểu rõ những giá trị trường tồn về văn hóa, con người Việt Nam, về giá trị cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam: Yêu nước, Nhân hậu, tần tảo, thủy chung, “giỏi việc nước, đảm việc nhà” chắc chắn sẽ cảm thấy bị xúc phạm bởi những trò lố bịch ấy.

Đảng cộng sản Việt Nam nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

 

Thực tiễn lịch sử 94 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn.

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH: “Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ 20, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá”(4). Với những thành quả đạt được: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta-Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện-một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”(5).

Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, quy mô nền kinh tế tăng từ 26,88 tỷ USD năm 1986 lên 271,2 tỷ USD năm 2020; thu nhập bình quân đầu người tăng từ 182USD năm 1990 lên 2.779USD năm 2020(6). Sau 25 năm (1995-2020), Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 10 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia.

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam 92 năm qua đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Đồng thời khẳng định một chân lý: “Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(7).

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ

Nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

 

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.      

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Kiên quyết - Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Trong bối cảnh hiện nay, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng.

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Kiên quyết đấu tranh Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị”(1).

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”(2).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930), Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”(3).

Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Nhận diện các luận điệu Xuyên tạc Chiến thắng 30/4/1975

 

 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, xe tăng của quân giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Tổng thống ngụy, đánh dấu Ngày Nam - Bắc sum họp một nhà, miền Nam được giải phóng, cả nước được thống nhất.

Như “nấm mọc sau cơn mưa”, mỗi năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các trang mạng xã hội như Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Vietline.TV, VOA, BBC News, Tin Tức Hoa Kỳ, Hoa Kỳ Channel..., đồng loạt đăng tải các bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc…; đồng thời tổ chức Việt Tân chỉ đạo các phần tử phản động tổ chức livestream để phủ nhận thành quả của cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân cả nước.

Gần đây, chúng rêu rao rằng đó là “ngày quốc hận” khi Đảng Cộng sản Việt Nam cho quân Bắc Việt xâm chiếm miền Nam; “tháng 4 là tháng vo gạo bằng nước mắt”, “tháng 4 đen”; đây “thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào”;....(?!)

Đó là những luận điệu hoàn toàn sai trái, sáo rỗng, mong muốn của những phần tử cơ hội, phản động và những thế hệ “lưu vong” tàn dư của chế độ Việt Nam Cộng hòa về Chiến thắng 30/4/1975. Đồng thời, những luận điệu ấy đã bị chính những giá trị lịch sử, ý nghĩa trọng đại của Chiến thắng 30/4/1975 và thành tựu qua hơn 35 năm đổi mới của đất nước ta phủ nhận, phản biện.

Bởi trên thực tế, để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, quân và dân ta đã phải kinh qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, có những thời điểm tình thế cách mạng như ngàn cân treo sợi tóc, nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của Quân đội và Nhân dân cả nước, cùng tinh thần đoàn kết, triệu người như một “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để chiến thắng”,… Bởi, Nam - Bắc là một nhà, cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta là cuộc kháng chiến chính nghĩa, được cả thế giới và ngay cả người Mỹ ủng hộ. Từ việc kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, ủng hộ của dư luận quốc tế, với đường lối kháng chiến tài ba, quân và dân ta đã tạo nên chiến thắng 30/4/1975 lừng lẫy năm Châu, chấn động địa cầu.

Chiến thắng đó thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức sống mãnh liệt của văn hóa và con người Việt Nam, không chỉ dân tộc Việt Nam mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận, trân trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Chiến thắng 30/4/1975 đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc như một trong những trang sử chói lọi nhất, khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước 47 năm, kể từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và qua hơn 35 năm đổi mới, nhờ thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế phát triển mạnh, quốc phòng an ninh được giữ vững, củng cố và tăng cường. Nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN; thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Năm 2021, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê GDP tăng 2,58% và quý I năm 2022 ước tính tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD, năm 2021 đạt 668,54 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,52% tỷ, từ 2,75% cuối năm 2020 xuống còn 2,23% cuối năm 2021. Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm 0,34%, từ 3,71% cuối năm 2020 xuống còn 3,37% cuối năm 2021. Chỉ số phát triển con người Việt Nam HDI của cả nước tăng từ 0,682 năm 2016 lên 0,687 năm 2017; 0,693 năm 2018; 0,703 năm 2019 và 0,706 năm 2020. Theo đó, Việt Nam từ Nhóm các quốc gia, vùng lãnh thổ có HDI trung bình năm 2018 và những năm trước đó đã gia nhập Nhóm đạt mức cao trong năm 2019 và năm 2020. Thứ hạng HDI của Việt Nam trong các quốc gia, vùng lãnh thổ thế giới tăng từ vị trí 118 năm 2018 lên 117 năm 2019 và có thể tiếp tục được cải thiện trong năm 2020 khi UNDP cập nhật Bảng xếp hạng.

Đáng ghi nhận là Việt Nam cũng đã tích cực, chủ động hội nhập sâu rộng vào mọi mặt đời sống xã hội quốc tế, là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, nhất là có uy tín, vị thế cao trong hoạt động của Liên hợp quốc (gia nhập ngày 20/9/1977), là quốc gia điển hình, được nhân dân thế giới yêu mến khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; thành viên trách nhiệm, tích cực của tổ chức ASEAN (gia nhập ngày 28/7/1995), APEC (gia nhập ngày 14/11/1998), WTO, CICA,…

Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố.

Điều đấy minh chứng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần yêu nước, cố kết cộng đồng, cùng sự tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của đất nước, Việt Nam đã và đang vươn lên, phát triển giàu đẹp, thịnh cường, khẳng định vị thế với các cường quốc. Và chính những thành quả đó sẽ là minh chứng sắc bén bẻ gãy mọi luận điệu xuyên tạc về Chiến thắng 30/4/1975 bất diệt.


 

Phê phán những luận điệu phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Một trong những âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là đưa ra những quan điểm sai trái nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam.

Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ảnh minh họa: Tuyengiao.vn

Ðảng ta luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về tương lai của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Vì thế, việc nhận diện kịp thời và phê phán có cơ sở khoa học, chỉ rõ mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Không ngộ nhận, thờ ơ trước những quan điểm sai trái, phản động

Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động cấu kết với các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra đủ thứ quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Luận điệu chúng thường rêu rao là “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là một sai lầm lịch sử”, là ‘ảo tưởng”, là “thiên đường bánh vẽ”. Chúng cho rằng, nếu lấy mốc thời gian tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời thì đến nay, đã gần 200 năm mà CNXH không trở thành hiện thực, bị sụp đổ ngay ở nước Nga-quê hương của V.I.Lênin và Cách mạng Tháng Mười. Một khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại thì ở Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ.

Một câu hỏi chúng tự đặt ra: “Việt Nam quá độ đi đâu?”, rồi lại tự lèo lái dư luận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; đi lên CNXH phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, chặng đường, có sự đấu tranh giữa “cái cũ và cái mới”, thế nên Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam không bao giờ vượt qua được các chặng đường quá độ gian khổ đó và không thể đi đến cái đích của CNXH .

Sau khi Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, đó chỉ là một thứ “mị dân”. Theo lập luận của chúng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có vai trò lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không đủ khả năng lãnh đạo trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), vì “những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới là do các nước tư bản đầu tư vào, chứ không phải do năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Dưới chiêu trò “bình mới rượu cũ”, các luận điệu nêu trên chủ yếu dựa vào một số lý thuyết chống cộng, chủ nghĩa duy vật máy móc, lý thuyết “hội tụ”, lý thuyết “xã hội hậu công nghiệp”, lý thuyết các nền văn minh... nhằm biện minh cho sự tồn tại của chế độ TBCN, phủ nhận tính khách quan của thời kỳ quá độ đi lên CNXH trong thời đại ngày nay. Không dừng lại ở đó, một số luận điệu còn tinh vi đánh tráo khái niệm, lấy hiện tượng để đánh đồng với bản chất, triệt để lợi dụng sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) để lớn tiếng tuyên truyền “CNXH chỉ là ảo tưởng”; trong khi lại cố tình khuếch trương, thổi phồng những thành quả của chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại, mà không thấy rõ bản chất bóc lột tinh vi của giai cấp tư sản và những bất công chưa thể giải quyết tận gốc trong lòng xã hội tư bản hiện nay.

Mục đích chính trị phản động của các quan điểm sai trái phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam nhằm gây hoang mang, mất niềm tin, ru ngủ tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân; sâu xa hơn, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận khả năng thắng lợi của con đường quá độ bỏ qua chế độ TBCN đi lên CNXH ở Việt Nam, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB.

Việt Nam đi theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã khẳng định một chân lý: Đi theo con đường cách mạng XHCN và đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, phù hợp với khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã luận giải khoa học về sự thay thế của những hình thái KT-XH từ thấp đến cao là quá trình lịch sử-tự nhiên, là do vận động của những quy luật KT-XH khách quan. Với quan điểm duy vật biện chứng khoa học, các nhà kinh điển Mác-xít đã chỉ ra hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa tất yếu ra đời và thay thế hình thái KT-XH TBCN. Nó phải trải qua “một thời kỳ và hai giai đoạn”, đó là thời kỳ quá độ, giai đoạn đầu là CNXH, giai đoạn cao là cộng sản chủ nghĩa. Hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa sẽ phát triển cao hơn và khác về chất so với hình thái KT-XH TBCN nên phải trải qua quá trình cải biến cách mạng lâu dài; không bao giờ tự phát hình thành mà thông qua vận động của các quy luật về KT-XH, con đường đấu tranh cách mạng để xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Hệ thống lý luận cơ bản đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin là cách mạng, khoa học, được vận dụng thành công ở nước Nga từ năm 1917. CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, từ một nước phát triển thành hệ thống chính trị thế giới đối lập với hệ thống TBCN trong hơn 7 thập niên.

Về thực tiễn, CNXH hiện thực ra đời đã thể hiện tính ưu việt hơn CNTB. Công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, sau đó là Liên Xô có thời gian chưa dài, nhưng đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực. Sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới; sản lượng điện đạt 440 tỷ kWh (gấp hơn 300 lần so với năm 1913; bằng 4 nước lớn là Anh, Pháp, Đức, Italy cộng lại); dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than 624 triệu tấn, thép 121 triệu tấn (vượt sản lượng của Mỹ). Có thể thấy, trong một thời gian ngắn, CNXH ra đời ở Liên Xô và nhiều nước XHCN tuy chưa hoàn thiện nhưng đã phát triển lớn mạnh về nhiều mặt, khác hẳn về chất so với CNTB.

Điều đó cho thấy, CNXH là một hiện thực, hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, cũng chẳng phải là “ảo tưởng về một thiên đường” như các thế lực thù địch rêu rao! Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu (trước đây) chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chứ không phải do Chủ nghĩa Mác-Lênin hay lý tưởng về CNXH đã lỗi thời, lạc hậu.

Mặc dù CNTB đạt được những thành tựu to lớn nhưng chủ yếu đem lại lợi ích cho giai cấp tư sản mà không vì lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Những mâu thuẫn nội tại và đối kháng trong xã hội TBCN chỉ giải quyết bằng con đường tất yếu là cách mạng XHCN. Trong bối cảnh hiện nay, CNTB đã có những thích nghi, phát triển nhất định nhờ tận dụng được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Các nước XHCN đang ở giai đoạn khó khăn tạm thời, song theo quy luật phát triển khách quan của lịch sử, CNTB sẽ bị xóa bỏ, chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH ưu việt hơn sẽ ra đời, tồn tại và phát triển.

Đối với cách mạng Việt Nam, những năm nửa đầu thế kỷ 20, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến các nước tư bản phát triển, đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, bóc lột, xâm lược và đô hộ của chủ nghĩa thực dân và phong kiến. Người khẳng định, muốn giành lại được độc lập cho dân tộc thì phải tiến hành con đường cách mạng vô sản và xây dựng chế độ XHCN. Từ năm 1930, “Chánh cương vắn tắt” của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng thảo luận, thông qua đã xác định rõ đường lối của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Năm 1991, Đảng đã ban hành “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”, trong đó chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản của chế độ XHCN ở Việt Nam. Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển sáng tạo thành 8 đặc trưng của CNXH ở Việt Nam, trong đó đặc trưng bao trùm là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hơn 90 năm được rèn giũa, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng sôi động, phong phú, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị, có trí tuệ, có khả năng lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc lớn trong thế kỷ 20, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu (trước đây) bị khủng hoảng, sụp đổ thì Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH, kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc “đổi mới nhưng không đổi màu”. Trải qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được thành tựu rất to lớn, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đánh giá khái quát: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”.

Trong những chặng đường tới, Đảng ta đã có dự báo khoa học về 4 nguy cơ, những thách thức không nhỏ từ bên ngoài và ở trong nước đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Với phương châm vượt qua thách thức, tận dụng những cơ hội, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam phát triển nhanh và bền vững hơn, Đảng ta đặt ra mốc: “Phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng XHCN” là hoàn toàn có cơ sở khoa học đúng đắn và có tính khả thi. 

Với trí tuệ, khả năng và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng, được sự ủng hộ của nhân dân thì việc kiên định lựa chọn con đường đi lên CNXH cũng không ngoài mục đích nhân văn cao đẹp là tiếp nối truyền thống, xứng đáng với các thế hệ cha anh đã chiến đấu anh dũng, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đồng thời đáp ứng lòng mong đợi và phù hợp với khát vọng, mong muốn của gần 100 triệu người dân Việt Nam./.

ST.

Không thể xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam

Có thể nói chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông, cơ sở thờ tự ngày càng khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy định của pháp luật.

Các ni sư tham dự Đại lễ Phật đản. (Nguồn: TTXVN)

Các ni sư tham dự Đại lễ Phật đản. (Nguồn: TTXVN)

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật, vì đây là một trong những quyền cơ bản mọi người, được Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 khẳng định trên nguyên tắc hiến định.

Thực tế đã chứng minh, đó là ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, dù còn bộn bề công việc, ngày 3/9/1945, tại phiên họp của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đồng bào theo đạo. Người nói “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương-giáo đoàn kết".

Ngày 14/6/1955, Người đã ký sắc lệnh 234/SL xác định “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Các tôn giáo phải tuân theo pháp luật của nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn".

Người từng kêu gọi các tôn giáo hãy xóa bỏ hiềm khích, kỳ thị, đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà, và lịch sử đã chứng minh, dù trong điều kiện khó khăn của đất nước, nhưng chức sắc các tôn giáo đồng bào có đạo giáo khẳng định rõ sự gắn bó đồng hành với dân tộc.

Ở miền Bắc, sau ngày độc lập 02/9/1945 không lâu, các Giám mục và đồng bào công giáo Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “dù phải hy sinh xương máu để kiến thiết một nhà nước tự do hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi cũng sẵn sàng không ngần ngại", điều này đã khẳng định sự gắn bó đồng hành của Công giáo với chính quyền trong giai đoạn cách mạng bộn bề khó khăn. Các nhà sư trong Phật giáo đã hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ “toàn dân kháng chiến", đã phát động phong trào, cởi áo cà sa, khoác chiến bào để tham gia cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.

Kế thừa quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, trong mỗi giai đoạn lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo cơ sở pháp lý để các tôn giáo hoạt động ổn định, tăng cường củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và Giáo hội.

Từ Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đến nay, Nhà nước ta đã ban trên 30 văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân.

Cụ thể như: Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH 11 quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP...

Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo mà số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được đảm bảo tốt hơn. Có thể nói chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông, cơ sở thờ tự ngày càng khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy định của pháp luật.

Các hoạt động tôn giáo lớn trở thành lễ hội của người dân như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam 3 lần đăng cai Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc VESAK, với trên 1.000 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ, hàng vạn quần chúng nhân dân tham dự; hay Lễ hội của Công giáo, Tin lành như: Đại hội đồng Giám mục Á châu; Lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam. Ban Tôn giáo Chính phủ đã phối hợp với Liên minh châu Âu (EU) tổ chức Hội thảo “Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ”; tổ chức Đối thoại “Liên tín ngưỡng ASEM lần thứ VI”...

Bên cạnh đó, Ban Tôn giáo Chính phủ cũng đón và làm việc với nhiều tổ chức, chức sắc tôn giáo, kể cả các tổ chức nhân quyền tôn giáo quốc tế, đến trao đổi, tìm hiểu pháp luật, chính sách tôn giáo của Việt Nam như: Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE); tập đoàn truyền thông (WAZ) của Đức. Qua các cuộc làm việc, ta đã chủ động cung cấp thông tin về tình hình tôn giáo và chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, trao đổi tận cùng các vấn đề mà dư luận quốc tế quan tâm, để thấy rõ thực tiễn về đời sống tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, phong phú. Chính sách, pháp luật đã đảm bảo quyền tự do tôn giáo chính đáng của nhân dân.

Thực tế cũng cho thấy gần 20 năm qua (2003-2022), số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự của các tôn giáo gia tăng. Năm 2003 cả nước có 6 tôn giáo với 15 tổ chức, 17 triệu tín đồ, khoảng 20 nghìn cơ sở thờ tự; 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc. Năm 2022, chính quyền đã công nhận 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 26,7 triệu tín đồ, trên 55.000 chức sắc, khoảng 135.000 chức việc; trên 29.000 cơ sở thờ tự…

Ngoài ra, hàng năm có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo, với hàng vạn tín đồ tham gia và trong 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm hécta đất để xây dựng cơ sở thờ tự như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện Thánh kinh thần học; tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; tỉnh Quảng trị giao thêm 15 ha cho Giáo xứ La vang…

Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2022, chính quyền các cấp đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo cho 152 cơ sở thờ tự tôn giáo; cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho 183 điểm nhóm; cấp quyết định xuất bản cho 140 xuất bản phẩm, với 684.250 bản in.

Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm... theo đúng quy định của pháp luật; chấp thuận cho 646 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; 3.238 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc; 424 chức việc các tôn giáo được thuyên chuyển…

So sánh pháp luật của một số nước trong khu vực và thế giới cho thấy, khi tôn giáo tổ chức các hoạt động đông người tại cơ sở thờ tự, phải tự thuê bảo vệ làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm. Nếu để xảy ra vi phạm, chính quyền sẽ căn cứ vào pháp luật và xử phạt tổ chức, cá nhân tôn giáo… Nhưng ở Việt Nam, các hoạt động tôn giáo có đông đảo nhân dân tham gia được chính quyền hỗ trợ với mục tiêu cao nhất, đảm bảo an toàn để nhân dân yên tâm thực hiện nghi lễ tôn giáo. Những kết quả nêu trên trong thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đã đáp ứng tâm tư, tình cảm và nguyện vọng chính đáng của chức sắc, chức việc tôn giáo và đồng bào có đạo.

Để tiếp tục phát huy nguồn lực của các tôn giáo, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”. Nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật mà các tôn giáo hưởng ứng rất sớm các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt “việc đạo, việc đời". Chính vì thế, trong những năm gần đây, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào tôn giáo đã trở thành điểm sáng về phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma túy và các tệ nạn xã hội khác, giữ gìn tốt an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, trong bối cảnh dịch COVID-19, các tôn giáo đã đồng hành với chính quyền, ủng hộ kinh phí hàng trăm tỷ đồng. Nhiều cơ sở thờ tự trở thành điểm cách ly tập trung chăm sóc bệnh nhân… Giá trị nhân văn, yêu thương, chia sẻ, vì cuộc sống tốt đẹp được lan tỏa trong đời sống xã hội, được chính quyền và nhân dân ghi nhận.

Tuy nhiên, thế lực thù địch và một số tổ chức thiếu thiện chí chưa từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình", chúng tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điệu sai trái, cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, xuyên tạc trắng trợn về tình hình, đời sống tôn giáo ở nước ta, nói mãi điều phi thực tế nhằm tạo sự hoài nghi, phá hoại khối đoàn kết tôn giáo.

Qua theo dõi, trong 5 năm qua (2017-2022), Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ vẫn định kỳ ra báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu. Họ cho mình quyền nhận xét, đánh giá, phê phán về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam và một số quốc gia khác. Họ sử dụng thông tin tài liệu cũ từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được nhà nước công nhận, số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để tiếp nhận thông tin không chính xác đưa vào báo cáo đánh giá; khuyến khích, cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Giáo hội và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân.

Với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền, họ kích động với luận điệu, đây là quyền con người, “quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo”; đồng thời lợi dụng mạng xã hội Facebook, Blog… hội luận xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là “bước thụt lùi", “bóp nghẹt tôn giáo", “không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”… Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC) và “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận và nhấn mạnh tiến bộ về tự do tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện quan hệ song phương".

Phải khẳng định ngay rằng những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc nêu trên là hết sức phi lý, với ý đồ mục đích xấu xa, nhằm tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, nhằm tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán của họ chỉ là sự lạc lõng, không được chức sắc tôn giáo ủng hộ.

Song dù các thế lực thù địch có cố tình, xuyên tạc chống phá thế nào chăng nữa cũng không thể chia rẽ chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được chính quyền quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi, chức sắc, tín đồ và nhân dân được tự do hành lễ ở nhà riêng, hay cơ sở thờ tự.

Đặc biệt, trong bối cảnh dịch COVID-19, chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo vẫn sinh hoạt tôn giáo online bình thường, vẫn thể hiện được niềm tin tôn giáo ngay tại tư gia… Thực tiễn đời sống tôn giáo đã chứng minh, khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, khẳng định chính sách nhất quán, củng cố niềm tin tưởng của chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Thời gian tới, thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống đối dưới chiêu bài “đòi tự do tôn giáo", “dân chủ, nhân quyền”; xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; khuyến khích các nhóm, phái tôn giáo mới, “tà đạo, đạo lạ”; gia tăng các hoạt động truyền đạo trên không gian mạng, xuyên biên giới… Khi chính quyền xử lý, họ vu cáo Việt Nam không có tự do tôn giáo, gây cản trở cho tiến trình hội nhập kinh tế của nước ta.

Để ngăn chặn, không để thế lực xấu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo, các cơ quan chức năng cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo Hiến pháp năm 2013; thể chế quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Thực hiện tốt chức năng nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Chính quyền các cấp quan tâm, giải quyết nhu cầu tôn giáo chính đáng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo của nhân dân, phù hợp với công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo nâng cao cảnh giác, không tin, không nghe luận điệu xuyên tạc của thế lực xấu.

Cùng với đó, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về thành tựu thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước; không để thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đối với các vụ việc vi phạm pháp luật, phải chủ động công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trong và ngoài nước, để chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo hiểu rõ bản chất, mưu đồ của các đối tượng cơ hội, bất mãn, thiếu thiện chí lợi dụng tôn giáo vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền", “đàn áp tôn giáo".

Thông qua các hoạt động quốc tế của tôn giáo, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Hướng dẫn tổ chức, cá nhân chức sắc tôn giáo tham gia tại các cơ chế diễn đàn, hội nghị, hội thảo ở khu vực và thế giới, chủ động, trao đổi thống nhất giải quyết những vấn đề tôn giáo, nhân quyền, đặc biệt là những vấn đề có tính chất quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, lên tiếng phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của thế lực xấu, hạn chế sơ hở để thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng vu cáo, xuyên tạc Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo", ảnh hưởng uy tín của Việt Nam.

Các cơ quan chức năng cần định kỳ sơ kết về kết quả đã triển khai thực hiện, khắc phục những hạn chế, bất cập; đặc biệt là công tác thông tin, tuyên truyền, đấu tranh phản bác, xây dựng lập luận chặt chẽ, xác thực để trao đổi với các quốc gia có quan tâm về nhân quyền và tự do tôn giáo, giảm thiểu nhìn nhận khác biệt; tiếp cận các thông tin chính thống của Việt Nam cung cấp, không sử dụng thông tin trái chiều, thiếu khách quan để lợi dụng xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam về tự do tôn giáo./.

ST.