Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

Ổn định chính trị - Vốn quý để phát triển đất nước

 

Đối với đất nước ta, ổn định chính trị là tài sản vô giá. Điều này đã được minh chứng qua kết quả của gần 40 năm đổi mới, ổn định chính trị là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế đất nước, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.

Trong đánh giá của quốc tế về các yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam thì ổn định chính trị luôn là yếu tố hàng đầu.  

Điều kiện sống còn để bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển kinh tế

Ổn định chế độ chính trị là một hình thái đặc biệt của vận động xã hội-sự vận động trong trật tự, kỷ cương, bảo đảm các cấu trúc, chức năng cấu thành bản chất chế độ chính trị được giữ vững, tăng cường, không dẫn tới rối loạn, bất ổn. Ổn định chính trị là một nội dung cấu thành phát triển bền vững đất nước.

Trái lại, bất ổn chính trị có thể đe dọa lợi ích của mọi thành viên xã hội cũng như khả năng phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, các bất ổn về kinh tế có thể được khắc phục thông qua kế hoạch ngắn hạn hoặc trung hạn, còn việc khắc phục bất ổn chính trị khó khăn hơn rất nhiều, không chỉ cần thời gian dài hơn, nguồn lực lớn hơn mà còn phải xử lý các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cực kỳ phức tạp.

Đằng sau các bất ổn chính trị là sự rạn nứt các khối đoàn kết xã hội, thậm chí các lực lượng chính trị, các giai tầng xã hội bị cuốn vào xung đột, chiến tranh, làm hao tổn nguồn lực quốc gia, ly tán lòng người, đất nước chia cắt, các thế lực ngoại bang nhân cơ hội can thiệp, ảnh hưởng đến độc lập và chủ quyền dân tộc, đất nước không chỉ bỏ lỡ các cơ hội phát triển mà còn đứng trước nhiều rủi ro. Phần lớn các cuộc xung đột tàn phá các quốc gia trong những năm gần đây đều khởi nguồn từ những bất ổn chính trị trong nước. Trong đó, có những cuộc xung đột đã kéo dài nhiều năm, không biết bao giờ mới kết thúc. 

Khi đổ vốn vào bất cứ quốc gia nào, nhất là những khoản đầu tư lớn, dài hạn, nhà đầu tư phải tìm hiểu cặn kẽ về môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, dân cư của quốc gia đó. Mọi nguy cơ về bất ổn chính trị đều phải được nhà đầu tư phát hiện từ sớm, để từ đó có biện pháp ứng phó hoặc chọn quốc gia khác để đầu tư. Bởi vì những bất ổn về chính trị dễ dẫn tới những bất ổn về kinh tế, bất ổn về xã hội, gây rủi ro lớn cho nhà đầu tư. Thực tế cho thấy trong các cuộc biểu tình lớn trên thế giới, người biểu tình sẵn sàng tấn công, đập phá cơ sở sản xuất, kinh doanh, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp. Đầu tư vào một quốc gia có môi trường chính trị bất ổn chẳng khác nào ném tiền vào một canh bạc mà nhà đầu tư gần như cầm chắc phần thua.

Trải qua nhiều năm chiến tranh đau thương, đất nước bị chia cắt, bị tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu rất rõ giá trị của hòa bình, độc lập, thống nhất, giá trị của ổn định chính trị để phát triển đất nước, mang lại cuộc sống bình yên. Đối với Việt Nam, ổn định chính trị là điều kiện sống còn để bảo vệ độc lập dân tộc, ứng phó với các thách thức bên trong và bên ngoài. Bảo vệ Tổ quốc có nội dung cơ bản là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị.

Ổn định chính trị - Vốn quý để phát triển đất nước
Ảnh minh họa / TTXVN 

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến động với những lò lửa chiến tranh, xung đột, căng thẳng địa chính trị giữa các nước trên thế giới, nhiều quốc gia bất ổn với những điểm nóng về sắc tộc, tôn giáo... gây e ngại cho nhà đầu tư thì Việt Nam có sức hút lớn nhờ luôn giữ được ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, có vị trí đắc địa trong giao thương và có chính sách ngoại giao đúng đắn, mở ra nhiều cơ hội hợp tác kinh tế. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), quý I-2024, có hơn 6,17 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt hơn 4,77 tỷ USD, tăng 57,9% so với cùng kỳ năm 2023. Vì thế, ổn định chính trị chính là một thành tựu quan trọng từ sự lãnh đạo của Đảng ta.

Ổn định chính trị vì Đảng có uy tín cao với nhân dân

Vậy nguyên nhân nào để đất nước ta có được ổn định chính trị trong suốt bao năm qua?

Có thể nói, Việt Nam luôn giữ được ổn định chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vững vị thế lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chính là vì Đảng có uy tín cao gần như tuyệt đối với nhân dân. Đạo đức của Đảng, trí tuệ của Đảng đã được minh chứng từ sự lãnh đạo tài tình của Đảng trong hơn 94 năm qua, trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển kinh tế. Chính vì tin Đảng, yêu Đảng mà nhân dân Việt Nam luôn theo Đảng, dù thử thách, gian lao đến mấy, khó khăn đến mấy cũng không sờn lòng. Sự lãnh đạo của Đảng không nhằm mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu cao đẹp là phấn đấu đưa đất nước ta thành nước phát triển, có thu nhập cao, sánh vai với các cường quốc năm châu, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Cũng vì niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng nên dù các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ, tiến hành các hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây bất ổn chính trị, bất ổn xã hội, mưu toan thay đổi chế độ chính trị ở nước ta, nhưng các mưu đồ ấy đều thất bại.

Sự ổn định chính trị có được còn là vì Đảng ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, đoàn kết dân tộc và đoàn kết trong Đảng. Cả hệ thống chính trị, xã hội, nhân dân đoàn kết quanh Đảng tạo thành một khối gắn kết vững chắc. Mọi giai cấp, tầng lớp, lực lượng, thành phần đều hiểu rõ giá trị của mình, từ đó đóng góp vì giá trị chung, mục tiêu chung. 

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Cán bộ, đảng viên cần gương mẫu, quét sạch chủ nghĩa cá nhân

Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta quyết liệt thực hiện cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để loại bỏ các biểu hiện suy thoái, làm trong sạch Đảng, trong sạch bộ máy Nhà nước để giữ vững niềm tin của nhân dân, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Cuộc đấu tranh ấy được đại bộ phận nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ và đã mang lại những hiệu quả rất tích cực. Tuy nhiên, trong xã hội thời gian qua cũng xuất hiện những lo ngại về việc “đánh chuột làm vỡ bình” khi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.

Các thế lực thù địch đang tăng cường rêu rao các thông tin xuyên tạc rằng: “Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua chẳng qua là tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng”, họ gieo rắc những đồn đoán, suy luận thiếu căn cứ rằng sắp tới sẽ có thêm lãnh đạo A, lãnh đạo B bị xử lý... hòng gây hoang mang trong nhân dân. Rồi họ kết luận xằng bậy rằng “nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng bị kỷ luật, bị vướng vào lao lý do tham nhũng, tiêu cực chứng tỏ Đảng có lỗi hệ thống không thể khắc phục”. Từ đó, họ kêu gọi rằng “chỉ có thay đổi chế độ tại Việt Nam mới giải quyết được tận gốc vấn đề”.

Đáng tiếc là có những cán bộ, đảng viên và nhân dân đã tin theo những luận điệu sai trái ấy. Đã có những người bày tỏ tâm trạng bi quan, lo lắng cho sự tồn vong của chế độ ta. Cũng có những người vì tò mò, hiếu kỳ, muốn cập nhật các thông tin “nóng sốt”, những việc "thâm cung bí sử”, những "bí mật cung đình” mà không thể tìm thấy các loại thông tin ấy trên báo chí chính thống nên đã lên mạng xã hội để "hóng" và đã vô tình mắc bẫy kẻ xấu, thế lực thù địch.

Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần hết sức tỉnh táo. Thứ nhất là, cần phải thấy rõ những thành tựu nổi bật của Việt Nam trên tất cả lĩnh vực, cùng với đó là uy tín quốc tế rất cao của đất nước ta trong những năm qua, từ đó hiểu được giá trị và vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình hiện nay, phổ biến, lan tỏa ra quần chúng nhân dân. Thứ hai là, nhận thức được ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đối với sự bền vững của Đảng, của đất nước, từ đó thêm kiên trì, quyết tâm và tin tưởng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh này. Thứ ba là, cán bộ, đảng viên cần phải gương mẫu, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ. Cần loại trừ mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Cũng rất cần tránh mọi biểu hiện “cua cậy càng, cá cậy vây”, hành động không vì lợi ích chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân mà chỉ vì lợi ích cục bộ ích kỷ của bộ, ngành, cơ quan của mình và cá nhân mình. Nhân dân ta rất tinh tường, luôn phân biệt được rất rõ tốt-xấu, thật-giả. Cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ rằng: Sức mạnh vô song của Đảng ta, của đất nước ta chính là nhờ niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, từ đó đoàn kết được toàn thể dân tộc, toàn thể nhân dân. Thứ tư là, cần nhận thức rõ giá trị của ổn định chính trị đối với sự phát triển của đất nước; từ đó, trong mọi lời nói và việc làm nên hết sức cân nhắc, tránh tạo những tác động bất lợi. Thứ năm là, không xem, không tin, không tán phát thông tin trên các trang mạng của thế lực thù địch, phản động, các thông tin chưa được kiểm chứng. 

Cần khẳng định rằng, ổn định chính trị là vốn quý để phát triển đất nước. Tuy nhiên, ổn định chính trị không phải là thứ tài nguyên trời ban mà là nhờ năng lực và uy tín lãnh đạo của Đảng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ vấn đề này để có hành động đúng đắn nhằm giữ vững ổn định chính trị vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

HỒ QUANG PHƯƠNG

Tọa đàm Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh

 

Chiều 13-5, tại Công ty 74, Binh đoàn 15 (huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai), Học viện Quốc phòng và Binh đoàn 15 tổ chức Tọa đàm Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên.

Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng và Thiếu tướng Hoàng Văn Sỹ, Tư lệnh Binh đoàn 15 đồng chủ trì buổi tọa đàm.Dự buổi tọa đàm có lãnh đạo một số cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng; cán bộ, giảng viên, học viên Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh Khóa 95, Học viện Quốc phòng; các đồng chí trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thuộc Binh đoàn 15; đại biểu Quân đoàn 3, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai, cấp ủy, chính quyền địa phương; các vị già làng, trưởng thôn tiêu biểu trên địa bàn Binh đoàn 15 đứng chân.Tại buổi tọa đàm, Thiếu tướng Hoàng Văn Sỹ, Tư lệnh Binh đoàn 15 đã báo khái quát về quá trình ra đời, phát triển của Binh đoàn 15; kết quả và những bài học kinh nghiệm, những mô hình, cách làm hay, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên của Binh đoàn 15.

Theo đó, Binh đoàn 15 đứng chân và thực hiện nhiệm vụ chủ yếu trên địa bàn 4 tỉnh trong nước, gồm: Gia Lai, Kon Tum, Quảng Bình, Bình Định và tỉnh Attapeu (Lào), tỉnh Ratanakiri (Campuchia). Hầu hết các địa bàn trong nước đơn vị thực hiện nhiệm vụ là khu vực biên giới với 251km đường biên giới giáp Lào và Campuchia và địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt có nhiều vùng “trắng” dân khi triển khai nhiệm vụ.

Tọa đàm Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh

Trong gần 40 năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, người lao động Binh đoàn 15 đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, giành được nhiều kết quả quan trọng, góp phần làm thay đổi, hồi sinh nhiều vùng đất khó khăn, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; không ngừng củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trên địa bàn…

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã thảo luận làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh nói chung, trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên nói riêng; trao đổi những kết quả, bài học kinh nghiệm quý từ Binh đoàn 15…

Tọa đàm Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh
Các đại biểu tham quan nhà máy chế biến mủ cao su của Công ty 74 (Binh đoàn 15). 

Kết luận buổi tọa đàm, Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa đánh giá cao kết quả thực hiện nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên của Binh đoàn 15; đồng thời đề nghị cán bộ, giảng viên, học viên tiếp tục nghiên cứu và theo phạm vi, cương vị công tác của mình tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; vận dụng hiệu quả vào cơ quan, đơn vị mình công tác. Đồng chí Giám đốc Học viện Quốc phòng cảm ơn Binh đoàn 15 đã tổ chức tiếp đoàn chu đáo, nồng hậu và trọng thị.

Tọa đàm Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh
 Các đại biểu dự buổi tọa đàm trao quà và chụp ảnh chung với các vị già làng, trưởng thôn tiêu biểu.
Tọa đàm Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh
 Đại diện Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh khóa 95, Học viện Quốc phòng trao quà tặng Trường Mầm non Hoa Hồng (Công ty 74).

Trước đó, các đại biểu dự buổi tọa đàm đã tham quan nhà máy chế biến mủ cao su của Công ty 74 (Binh đoàn 15).

Nhân dịp này, cán bộ, giảng viên, học viên Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh khóa 95, Học viện Quốc phòng đã trao 10 máy lọc nước, 10 tủ lạnh, tổng trị giá 120 triệu đồng tặng Trường Mầm non Hoa Hồng (Công ty 74) và trao 60 suất quà, mỗi suất trị giá 1 triệu đồng tặng các vị già làng, trưởng thôn trên địa bàn.

Tin, ảnh: NGUYỄN ANH SƠN

Hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 


Cuộc cách mạng 4.0 với các thành tựu công nghệ mang tính đột phá đã và đang đem lại nhiều tiện ích cho loài người. Bên cạnh những tiện ích to lớn, những thành tựu ứng dụng công nghệ thông tin và các dịch vụ, ứng dụng thông minh trên không gian mạng cũng xuất hiện nhiều nguy cơ tiềm ẩn đe dọa an ninh quốc gia (ANQG) đối với các quốc gia, dân tộc.

Việt Nam một đất nước có tỷ lệ sử dụng Internet chiếm khoảng 70% dân số nên các thế lực thù địch trong và ngoài nước, các đối tượng bất đồng chính kiến đã tận dụng triệt để không gian mạng vào mục đích chống phá.

Lời Bác dạy năm xưa

 


Báo Quân đội nhân dân số 15 ra năm 1951 đăng trang trọng huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Đường số 18. Trong bài Người khẳng định: “Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG - VÀ BÌNH ĐOÀN 15 "TOẠ ĐÀM QUÂN ĐỘI THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI TĂNG CƯỜNG, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH!

     Chiều 13-5, tại Công ty 74, Binh đoàn 15 (huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai), Học viện Quốc phòng và Binh đoàn 15 tổ chức Tọa đàm Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên!
Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng và Thiếu tướng Hoàng Văn Sỹ, Tư lệnh Binh đoàn 15 đồng chủ trì buổi tọa đàm.

Dự buổi tọa đàm có lãnh đạo một số cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng; cán bộ, giảng viên, học viên Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh Khóa 95, Học viện Quốc phòng; các đồng chí trong Đảng ủy, Bộ tư lệnh và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thuộc Binh đoàn 15; đại biểu Quân đoàn 3, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Gia Lai, cấp ủy, chính quyền địa phương; các vị già làng, trưởng thôn tiêu biểu trên địa bàn Binh đoàn 15 đứng chân.

Tại buổi tọa đàm, Thiếu tướng Hoàng Văn Sỹ, Tư lệnh Binh đoàn 15 đã báo khái quát về quá trình ra đời, phát triển của Binh đoàn 15; kết quả và những bài học kinh nghiệm, những mô hình, cách làm hay, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên của Binh đoàn 15.

Theo đó, Binh đoàn 15 đứng chân và thực hiện nhiệm vụ chủ yếu trên địa bàn 4 tỉnh trong nước, gồm: Gia Lai, Kon Tum, Quảng Bình, Bình Định và tỉnh Attapeu (Lào), tỉnh Ratanakiri (Campuchia). Hầu hết các địa bàn trong nước đơn vị thực hiện nhiệm vụ là khu vực biên giới với 251km đường biên giới giáp Lào và Campuchia và địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt có nhiều vùng “trắng” dân khi triển khai nhiệm vụ.

Trong gần 40 năm qua, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, người lao động Binh đoàn 15 đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, giành được nhiều kết quả quan trọng, góp phần làm thay đổi, hồi sinh nhiều vùng đất khó khăn, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; không ngừng củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trên địa bàn…

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã thảo luận làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn Quân đội tham gia phát triển kinh tế gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh nói chung, trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên nói riêng; trao đổi những kết quả, bài học kinh nghiệm quý từ Binh đoàn 15…

Kết luận buổi tọa đàm, Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa đánh giá cao kết quả thực hiện nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên của Binh đoàn 15; đồng thời đề nghị cán bộ, giảng viên, học viên tiếp tục nghiên cứu và theo phạm vi, cương vị công tác của mình tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các chủ trương, chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; vận dụng hiệu quả vào cơ quan, đơn vị mình công tác. Đồng chí Giám đốc Học viện Quốc phòng cảm ơn Binh đoàn 15 đã tổ chức tiếp đoàn chu đáo, nồng hậu và trọng thị.

Trước đó, các đại biểu dự buổi tọa đàm đã tham quan nhà máy chế biến mủ cao su của Công ty 74 (Binh đoàn 15).

Nhân dịp này, cán bộ, giảng viên, học viên Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh khóa 95, Học viện Quốc phòng đã trao 10 máy lọc nước, 10 tủ lạnh, tổng trị giá 120 triệu đồng tặng Trường Mầm non Hoa Hồng (Công ty 74) và trao 60 suất quà, mỗi suất trị giá 1 triệu đồng tặng các vị già làng, trưởng thôn trên địa bàn./.


Yêu nước ST.

GIÁ TRỊ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ TÍNH THỜI SỰ SÂU SẮC CỦA ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975

 


Kỷ niệm 48 năm Đại thắng mùa xuân năm 1975 là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ôn lại quá khứ đấu tranh hào hùng của quân và dân ta; tưởng nhớ, tri ân chiến sĩ, đồng bào anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước và rút ra những bài học kinh nghiệm về phát huy sức mạnh ĐĐKDT của Đảng. Quán triệt, vận dụng bài học đó trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm, tình cảm, niềm tin, niềm tự hào của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, chung sức, đồng lòng thực hiện khát vọng xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

NHỮNG BÀI HỌC QUÝ BÁU VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975

 


Một là, sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, nhạy bén, kịp thời của Đảng là nhân tố quyết định phát huy sức mạnh ĐĐKDT cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975Thắng lợi vang dội của các hướng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam tạo bước ngoặt căn bản về tương quan so sánh giữa lực lượng giữa ta và địch; ta giành thế chủ động tiến công chiến lược, nhất là sau thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên đã xuất hiện nhân tố mới, trực tiếp làm xoay chuyển cục diện chiến trường, đưa chiến tranh cách mạng ở miền Nam phát triển nhảy vọt. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã kịp thời điều chỉnh kế hoạch giải phóng miền Nam từ hai năm (1975 - 1976) lúc đầu, sang kế hoạch rút xuống còn một năm, rồi quyết định kết thúc trước mùa mưa, tốt nhất là trong tháng 4/1975; đồng thời, tổ chức các đòn tiến công chiến lược vào những địa bàn, mục tiêu chiến lược của địch, tạo thời cơ chín muồi cho ta mở trận quyết chiến chiến lược tại Sài Gòn - Gia Định bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh. Những quyết sách đóđã trở thành ngọn cờ hiệu triệu toàn dân, toàn quân phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, tạo “sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc” tiến hành tổng tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường miền Nam, đánh tan ngụy quân, xóa bỏ ngụy quyền, giải phóng, thống nhất đất nước; với khí thế thần tốc, táo bạo, bất ngờ, một ngày bằng hai mươi năm… xốc tới mặt trận quyết chiến, quyết thắng, v.v.. 

Lời Bác dạy ngành Công an nhân dân

 

1.   

“Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ. Làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan, phải có kế hoạch chu đáo, phải có quyết tâm bền bỉ”. Đó là đoạn trích trong bài nói chuyện của Bác tại Hội nghị cán bộ ngành Công an năm 1963.

SỢI NHỚ SỢI THƯƠNG

 "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây/ bên nắng đốt, bên mưa quây/ Em dang tay, em xòe tay/ chẳng thể nào xua tan mây, chẳng thể nào mà che anh được..."

Ca khúc Sợi nhớ sợi thương của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ theo thơ Thúy Bắc, vẫn dạt dào và tràn đầy cảm xúc khiến người nghe bồi hồi khó tả. Lời thơ nồng nàn vẽ nên một tình yêu đầy lãng mạn, trong sáng đến thần kỳ, huyền thoại.
Tác giả đã dùng từ “sợi” của nhà thơ Thúy Bắc. Nỗi nhớ được cụ thể hóa thành đơn vị sợi nhỏ nhoi mà sao bền chặt, dài lâu đến thế! Từng sợi thương li ti kết lại thành mái che rợp đầy nhung nhớ của những cô gái Trường Sơn từ bên đông nắng dội gửi sang phía tây mịt mù mưa gió cho người yêu trên dặm dài chiến đấu. Vô vàn sợi nhớ đan thành vòm xanh mát rượi mong được che mát cho người dấu yêu trên đường hành quân chang chang nắng lửa. Giữa khung cảnh khốc liệt của đạn bom, mất mát, hy sinh vẫn sáng bừng lên tình yêu mãnh liệt. Tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương đất nước hòa quyện vào nhau như không thể nào ngăn cách được.
Tình yêu trong ca khúc ấy của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu sao mà vĩ đại, bao dung đến thế. Cô gái đã quên hết đường mình đi cũng cheo leo đồi dốc, mưa giăng sùi sụt, lũ rừng hung hãn, nắng bỏng cháy da, bom đạn mịt mù cùng trăm ngàn gian khổ khác để chắt lọc hết ngọt ngào, ấm áp, dịu dàng dành cho người yêu. Qua ca khúc Sợi nhớ sợi thương còn thấy được sự cuống quít đáng yêu, nỗi niềm day dứt âu lo của cô gái vì đã dang hết tay, xòe rộng tay vẫn chẳng thể nào che mưa dầm, nắng dãi cho người thương.
Dẫu gian nguy, dẫu cận kề với hy sinh mất mát mà tình yêu những người lính giành cho nhau vẫn lạc quan, yêu đời và nồng nàn đến như vậy.
Với từ “nghiêng” trong bài hát. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã cố ý lặp lại hai lần câu “Mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh” một cách thật tài tình. Từ “nghiêng” chủ đạo trong câu thơ hòa cùng nhịp điệu trữ tình của bản nhạc khiến cho người nghe một cảm xúc dâng trào và cảm thấy cuộc đời đẹp quá vì tình yêu được cho đi với một người biết đón nhận. Tình yêu trong sáng, không vụ lợi làm cỏ hoa tươi hồng trong nắng cháy, khiến chim rừng thánh thót giữa mưa giông. Chỉ có tình yêu như thế thì mới có thể chẻ ra được trăm ngàn sợi nhớ thương, thủy chung và bền bỉ./.
St

PHÒNG CHỐNG LỪA ĐẢO QUA MẠNG TRONG THỜI ĐẠI CHUYỂN ĐỐI SỐ HIỆN NAY

 Trong thời đại chuyển đổi số như hiện nay thì lừa đảo qua mạng là một hình thức phổ biến của tội phạm trực tuyến do tính hiệu quả của nó. Tội phạm mạng đã sử dụng thành công email, tin nhắn văn bản, tin nhắn trực tiếp trên phương tiện truyền thông xã hội hoặc trong trò chơi điện tử để yêu cầu mọi người phản hồi thông tin cá nhân của họ.

Những kẻ lừa đảo không nhắm vào một nhóm người nhất định; Bất kỳ ai cũng có thể trở thành mục tiêu lừa đảo. Dưới đây là một số kiểu lừa đảo trực tuyến phổ biến điển hình như: Lừa đảo tình cảm. Lừa đảo tài chính đánh cắp danh tính.
Các đối tượng thường xuyên đăng tải bài viết quảng cáo bán tour du lịch, phòng khách sạn giá rẻ trên mạng Internet và mạng xã hội với nhiều tiện ích kèm theo, đề nghị nạn nhân chuyển tiền đặt cọc (từ 30-50% giá trị) để đặt cọc tour du lịch, phòng khách sạn, từ đó chiếm đoạt số tiền đặt cọc hoặc đăng bài viết quảng cáo dịch vụ làm visa (thị thực) du lịch nước ngoài, cam kết tỷ lệ thành công cao, hoàn trả 100% số tiền nếu không xin được visa, làm giả website/fanpage của công ty du lịch uy tín, làm giả ảnh chụp biên lai, hóa đơn thanh toán và đề nghị nạn nhân chuyển khoản thanh toán chi phí tour du lịch
Đặc biệt hơn với thời đại chuyển đổi số đi cùng với sự phát triển của dịch vụ Internet Banking, ngày càng có nhiều đối tượng xấu lợi dụng sự cả tin của người dùng để lừa đảo và chiếm đoạt tiền bạc. Theo cảnh báo từ Ngân hàng VPBank, chiêu thức giả mạo nhân viên ngân hàng được tội phạm sử dụng nhiều nhất bởi nhiều khách hàng có tâm lí tin tưởng và không đề phòng đối với nhân viên ngân hàng. Thường thì tội phạm sẽ mạo danh nhân viên ngân hàng gọi điện thông báo tới khách hàng rằng đang có một món tiền treo trên hệ thống chờ nhận và cần cung cấp số chứng minh thư nhân dân và mã OTP để ngân hàng hoàn tất thủ tục nhận tiền.
Để ngăn chặn cho các sự việc trên không xảy ra ta không để các đối tượng dụ dỗ, lôi kéo đầu tư vào các dự án với lãi suất không thể tin được tránh bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nâng cao cảnh giác trước các thủ đoạn huy động vốn, cho vay lãi suất cao; tìm hiểu kỹ thông tin về các dự án, đơn vị, công ty muốn đầu tư và chỉ nên đầu tư vào các đơn vị CTY đã được cấp phép hoạt động. Bên cạnh đó, cảnh giác khi nhận được lời mời chào mua gói du lịch với mức giá quá rẻ (rẻ hơn 30-50% so với giá chung của thị trường); đặc biệt thận trọng khi đơn vị du lịch yêu cầu chuyển tiền đặt cọc để giữ chỗ, nếu có thể nên thực hiện giao dịch thanh toán trực tiếp. Đồng thời, chú ý các dấu hiệu nhận biết website giả mạo thông qua tên website và tên miền.
Do đó khi người dùng sử dụng mạng xã hội cũng như tiếp cận Internet thì phải hết sức cảnh giác hoặc có thể nói Internet như con dao hai lưỡi nó có thể giúp ta trong các nhu cầu cuộc sống, bên cạnh đó nó cũng có thể hại ta từ tinh thần cho đến tài chính hoặc các quyền riêng tư khác./.
ST

KHẲNG ĐỊNH BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ TRÊN BẦU TRỜI TỔ QUỐC

 Sau khi vượt cả nghìn cây số từ TP Phan Rang-Tháp Chàm (Ninh Thuận) ra Thủ đô Hà Nội để nhận danh hiệu “Gương mặt trẻ triển vọng Việt Nam” năm 2023, “Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân” năm 2023 và được thăng quân hàm từ Đại úy lên Thiếu tá trước niên hạn, Thiếu tá Lê Văn Tùng, Phó phi đội trưởng Phi đội 2, Trung đoàn 937, Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) lại trở về với sân bay thân thuộc. Từ nơi ấy, anh được bay lên khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Bộ đội Cụ Hồ trên bầu trời.

Rèn bản lĩnh, nâng cao trình độ
Nhắc tới Phan Rang, thứ người ta nhớ nhất là nắng và gió. Bước ra sân bay mùa này, mắt sẽ ngập màu nắng và dần nhòe đi bởi gió táp ràn rạt. Giữa những dải đường băng dài tít tắp, nắng làm mắt người hoa lên, nhìn phía xa loang loáng bởi ảo ảnh. Hình thái thời tiết khắc nghiệt ấy như muốn vắt kiệt sức người. Ấy thế nhưng với người phi công, nắng gió phi trường không có gì là lạ. Họ làm bạn với nắng, gió, mây, trời, trong mọi điều kiện thời tiết, bất kể ngày đêm.
Tôi trò chuyện với Thiếu tá Lê Văn Tùng khi anh vừa trở về sau ban bay huấn luyện. Anh sải những bước dài trên mặt đường băng bỏng rát, gương mặt sạm đen, mồ hôi lăn dài, mái tóc bết lại. Với phi công quân sự, mỗi chuyến bay là một thử thách đầy gian nan. Khi đó, họ phải huy động tất cả mọi giác quan, dồn hết sức lực và trí lực. Cứ nhìn bộ quần áo kháng áp bó lấy cơ thể vạm vỡ, chắc nịch ướt đẫm là đủ hiểu sự vất vả, nhọc nhằn đến thế nào. “Để bước lên máy bay tự tin cầm lái là một chặng đường vô cùng gian nan và khắc nghiệt. Nếu không có đam mê và khát vọng thì sẽ không có động lực để dấn thân trên hành trình trở thành phi công quân sự”, Tùng đã chia sẻ như vậy.
Nói về đam mê, từ ngày học phổ thông, Lê Văn Tùng đã thần tượng hình mẫu phi công đẹp đẽ, phóng khoáng, can trường. Chẳng thế mà năm 2010, Tùng đọc được thông báo khám tuyển phi công quân sự thì liền đến Ban CHQS huyện Nam Trực (Bộ CHQS tỉnh Nam Định) để khám sức khỏe. Qua sơ tuyển, anh lên Viện Y học PK-KQ tiếp tục kiểm tra sức khỏe. Những thử thách bắt đầu khi anh trải qua nhiều bài kiểm tra chưa từng thấy, trong đó, khó khăn nhất là kiểm tra tiền đình. Anh ngồi trên ghế quay 90 vòng. Khi xuống đất, đầu óc quay cuồng, nghiêng ngả, nhưng anh vẫn cố gắng giữ thăng bằng rồi thực hiện nhắm mắt đi thẳng 10 bước, lùi lại 10 bước. Đến khám tuyển vòng 2, bác sĩ chuyên khoa khám rất kỹ. Anh không thể nào quên bài kiểm tra trong buồng khí áp. Tại đây, anh được đưa vào một buồng kín, bác sĩ sẽ rút dần không khí ra để mô phỏng môi trường không khí ở độ cao 5.000m và phải thực hiện các phép tính toán học. Bài kiểm tra này nhằm kiểm tra sức chịu đựng của phi công trong môi trường không khí loãng, thiếu oxy, khả năng tập trung, tư duy trong điều kiện làm việc khắc nghiệt. Những ai không chịu đựng được có thể sẽ ngất do cơ thể thiếu oxy, bị xuất huyết ở mắt, tai. Dù rất khó thở và luôn bị ù, đau nhức tai nhưng anh quyết không bỏ cuộc, cố gắng vượt qua và tập trung cao độ để làm các bài tập.
Mùa hè năm 2011, Lê Văn Tùng thi đỗ văn hóa và vào thành phố biển Nha Trang (Khánh Hòa) học tập tại Trường Sĩ quan Không quân.
- Vậy là ước mơ trở thành phi công của Tùng đã thành hiện thực? - Tôi hỏi.
- Đâu có dễ dàng như vậy anh, quá trình đào tạo phi công quân sự là quá trình chọn lọc đầy khắc nghiệt, không phải cứ vào học là bay được - Tùng cho biết.
Trong hai năm đầu, nội dung khó và ấn tượng nhất với Tùng là nhảy dù huấn luyện. Đứng trước cửa máy bay nhìn ra là khoảng trời mênh mông, cảm giác chếnh choáng, rợn ngợp giữa không gian bao la dâng lên. Người học viên trẻ đã đấu tranh tư tưởng và thật sự bản lĩnh để rời cửa máy bay. Khi nhảy, cơ thể chịu áp lực rất lớn từ dòng khí và bị xoay, lộn rất nhiều vòng, anh thao tác thật nhanh để dù bung ra và điều khiển tiếp đất. Bước vào giai đoạn thực hành, học viên Lê Văn Tùng bay máy bay Iak-52, sau đó bay chuyển loại máy bay L-39. Chuyến bay đơn đầu tiên trên máy bay L-39 là dấu ấn quan trọng trong hành trình chinh phục loại máy bay mới của anh.
Bay lên làm chủ bầu trời
Để cất cánh bay, phi công phải trải qua quá trình khổ luyện bền bỉ và vô cùng gian nan, chỉ cần đơn giản trong suy nghĩ là có thể phải trả giá bằng cả tính mạng. Chính vì thế, mỗi lần thực hiện nhiệm vụ, phi công Lê Văn Tùng luôn ý thức phía trước là bầu trời, còn dưới mặt đất là Tổ quốc, đồng đội và người thân đang dõi theo, không cho phép mình bất cẩn một giây phút nào. Đơn vị nơi anh công tác được trang bị máy bay Su-22M4 là máy bay phản lực siêu âm nên đòi hỏi rất cao về sức khỏe, kỹ thuật lái dẫn đường. Sau một thời gian dài học tập và bay chuyển loại, phi công Lê Văn Tùng tốt nghiệp đề cương chuyển loại máy bay Su-22M4. Năm 2020, anh tham gia bay các khoa mục ứng dụng chiến đấu và được phê chuẩn nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu, khẳng định những trưởng thành vượt bậc trong sự nghiệp chinh phục bầu trời.
Mỗi lần cất cánh, phi công như bước vào trận chiến đấu thực sự. Tháng 7-2023, Quân chủng PK-KQ tổ chức Hội thao dẫn đường cho lực lượng không quân toàn quân và diễn tập bắn, ném bom đạn thật cho lực lượng không quân. Phi công Lê Văn Tùng mang số hiệu 437 được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ tham gia bắn, ném bom đạn thật. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, hoàn thành được sẽ khẳng định bản lĩnh, trình độ của phi công.
Ngày triển khai bay, khí tượng đúng như dự báo không thuận lợi, trời nhiều mây, tầm nhìn hạn chế. Trên gương mặt người phi công trẻ thoáng hiện những suy tư vì chưa có nhiều kinh nghiệm bay bắn, ném, nhất là bay tại trường bia lạ, chưa quen địa hình, địa tiêu liên quan. Là phi công buồng sau cùng chuyến bay, Đại úy Trần Văn Bách mang số hiệu 415 đứng cạnh nói dứt khoát: “Đồng chí giữ đúng số liệu và yếu lĩnh động tác thì kết quả sẽ tốt”. Lời động viên của đồng đội như tiếp thêm động lực để Tùng tự tin bước lên buồng lái.
Được lệnh cất cánh, máy bay vút lên lấy hướng bay vào trường bia. Khi đó, lượng mây tương đối dày và tầm nhìn hạn chế, ảnh hưởng rất nhiều đến việc quan sát mục tiêu. Nhớ lời đồng đội, anh trung thành giữ tốt số liệu và tăng cường quan sát địa tiêu thẳng đứng để xác định vị trí. Sau khi cải vòng 3 đến vòng 4, tiếng phi công số hiệu 415 vang lên:
- 437 đã quan sát được mục tiêu chưa?
- 437 chưa quan sát được - Lê Văn Tùng trả lời.
- Chú ý thời gian và thời cơ bổ nhào.
- 437 nghe tốt!
Phi công Lê Văn Tùng quan sát thời gian và tiến hành bổ nhào từ độ cao 2.500m. Bổ nhào ném bom trong điều kiện máy bay lao xuống với góc xuống lớn, tốc độ tăng nhanh và độ cao mất nhanh, thời gian ngắm bắn chỉ từ 10 đến 15 giây. Chỉ một sai sót nhỏ là có thể mất an toàn, vì sau khi ném bom, nếu không thoát ly kịp thì sẽ bị sát thương bởi chính mảnh văng của quả bom. Bởi thế, trong quá trình bổ nhào ném bom, phi công phải sửa sai lệch nhanh chóng, động tác dứt khoát, chuẩn xác. Hạ thấp độ cao 1.500m (ở độ cao này, thời gian ngắm bắn còn từ 7 đến 8 giây), phi công Lê Văn Tùng điều chỉnh máy ngắm vào mục tiêu, cắt bom rồi thoát ly về hạ cánh an toàn.
Sau những ban bay sôi động “đấu trí” trên tầng không, Lê Văn Tùng trở về với nhiệm vụ chuyên môn dưới mặt đất. Đêm xuống, căn phòng nhỏ vẫn sáng đèn. Gấp lại cuốn sổ nhật ký, sơ đồ bài bay, Tùng trăn trở với sáng kiến “Thiết kế và chế tạo mô hình hệ thống dẫn đường quán tính không giá” tham gia cùng nhóm thực hiện công tác tại Khoa Kỹ thuật cơ sở, Trường Sĩ quan Không quân. Từ kinh nghiệm học tập, huấn luyện bằng máy bay Su-22M4, anh đề xuất với nhóm thực hiện sáng kiến nhằm giúp giảng viên có thêm công cụ hiện đại để minh họa và thuyết trình, làm rõ nội dung bài giảng. Đặc biệt, mô hình và màn hình hiển thị kết nối không dây rất phù hợp trong giảng dạy trực quan và dễ tiếp cận với học viên. Năm 2022, Hội đồng khoa học Trường Sĩ quan Không quân nghiệm thu sáng kiến và đánh giá cao bởi tính hiệu quả, sáng tạo, tính mới trong thiết kế mô hình. Sáng kiến được trao giải ba Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội lần thứ 23, sau đó được ứng dụng vào phục vụ giảng dạy cho đối tượng học viên phi công quân sự, học viên cao đẳng kỹ thuật hàng không và các thành phần kỹ thuật khác.
Đã có người ví von nhịp sống của người lính bay: "Sáng đi bay, chiều giảng bình/ Tuổi trẻ như ánh bình minh/ 30 tuổi chưa biết ái tình là chi". Nhịp điệu đó cứ tuần hoàn nối tiếp, cuốn theo những trăn trở, nghĩ suy. Đằng sau những ý nghĩ lãng mạn về phi công quân sự là bao vất vả, nhọc nhằn và cả sự hy sinh thầm lặng. Tuổi thanh xuân của Lê Văn Tùng và đồng đội gắn bó với nắng, gió, mây, trời. Mỗi lần cất cánh bay lên là để khẳng định chủ quyền vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc. Thượng tá Lê Hồng Long, Chính ủy Trung đoàn 937 khẳng định: “Lãnh đạo, chỉ huy Trung đoàn rất tin tưởng khi giao nhiệm vụ đối với phi công Lê Văn Tùng. Đồng chí là đại diện cho thế hệ phi công trẻ có trách nhiệm, tinh thần cống hiến, trình độ vững vàng, sẵn sàng bay lên làm chủ bầu trời”.
Chiều sân bay vẫn chang chang nắng và ràn rạt gió nóng. Từng dải cát lóng lánh như những đốm sáng thủy tinh. Giờ nghỉ, tôi thấy Thiếu tá Lê Văn Tùng đang chăm chút cho nhánh xương rồng nở hoa bé xíu. Loài cây ấy mạnh mẽ vươn lên giữa miền cát trắng. Cũng giống như anh cánh chim bằng khát khao bay giữa trời lộng gió./.
St

ĐÔI BỒ TẢI GẠO CỦA NGƯỜI DÂN CÔNG

 Bảo tàng Quân khu 4 hiện lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật về những đóng góp to lớn của quân và dân các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, trong đó có đôi bồ dân công của ông Lê Ngọc Lưu, quê ở thôn Tây Thịnh (nay là thôn Tiến Thắng), xã Cẩm Thịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Ông Lê Ngọc Lưu sinh năm 1920, trong một gia đình bần nông. Tháng 8-1945, ông tham gia cách mạng và lần lượt làm đội viên dân quân, công an viên, Trưởng ban Bình dân học vụ xã Nguyễn Đình Liễn (nay là xã Cẩm Thịnh). Tháng 4-1948, ông xung phong đi dân công hỏa tuyến, gánh lương thực, vũ khí cho chiến trường Bình-Trị-Thiên. Lần đi dân công này kéo dài hơn 4 tháng, đoàn dân công Hà Tĩnh vượt hàng trăm cây số đường rừng vận chuyển lương thực chi viện kịp thời cho cuộc kháng chiến của quân và dân Bình-Trị-Thiên. Đầu năm 1949, ông được giao nhiệm vụ làm Tiểu đội trưởng đoàn dân công đi vận chuyển lương thực phục vụ Chiến dịch Phan Đình Phùng trên Mặt trận Bình-Trị-Thiên. Chiến dịch kết thúc thắng lợi, ông lại xung phong tham gia vận chuyển vũ khí chi viện cho cách mạng Lào anh em trong hai đợt đi dân công liên tục từ tháng 3 đến tháng 7-1949. Với những thành tích xuất sắc, ngày 28-7-1949, Lê Ngọc Lưu được kết nạp Đảng ngay trên đường vận chuyển lương thực, vũ khí chi viện cho cách mạng Lào.
Từ năm 1950 đến 1953, ông vừa công tác tại địa phương vừa xung phong tham gia dân công hỏa tuyến phục vụ các mặt trận: Hòa Bình, Trung Lào, Hạ Lào, Thượng Lào... Trong thời gian từ năm 1948 đến 1953, Lê Ngọc Lưu đã 9 lần tham gia dân công hỏa tuyến, vận chuyển lương thực, vũ khí, góp phần kịp thời phục vụ bộ đội chiến đấu tại các chiến trường. Ghi nhận những thành tích đó, Lê Ngọc Lưu 3 lần được tặng Bằng khen danh dự của Ủy ban Hành chính tỉnh Hà Tĩnh, được tuyên dương Chiến sĩ thi đua cấp liên khu.
Năm 1954, Liên khu ủy 4 tổ chức hội nghị toàn Đảng bộ đánh giá tình hình, vạch kế hoạch công tác, mở cuộc vận động “dốc bồ, thổ thúng” để chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ. Hưởng ứng cuộc vận động của Liên khu, chỉ sau một thời gian ngắn, tỉnh Hà Tĩnh đã đóng góp hơn 1.000 tấn thóc, 5 tấn muối, hàng nghìn mũ lá, khăn tay và cả nghìn lá thư từ hậu phương gửi ra tiền tuyến để cổ vũ, động viên, tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho bộ đội. Ông Lê Ngọc Lưu tiếp tục cùng 20 người dân xã Cẩm Thịnh xung phong tham gia đoàn dân công, thồ muối và gạo tiếp tế cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đoàn dân công hỏa tuyến huyện Cẩm Xuyên đã vượt chặng đường dài từ Cẩm Xuyên lên miền Tây Thanh Hóa, rồi tiếp tục vượt hàng trăm cây số đường rừng lên Điện Biên Phủ. Trên đường vận chuyển, đoàn tự túc lương thực, thực phẩm; ngày nghỉ, đêm đi, tránh bom đạn, máy bay địch đánh phá. Sau hơn một tháng gánh gạo đi bộ liên tục, các gánh gạo của đoàn dân công huyện Cẩm Xuyên đã đến Mặt trận Điện Biên Phủ. Cùng với nhiệm vụ tải gạo, Lê Ngọc Lưu và đoàn dân công hỏa tuyến còn tham gia tải thương, áp giải tù binh, dọn dẹp chiến trường sau ngày toàn thắng.
Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Lê Ngọc Lưu trở về quê hương tiếp tục công tác, giữ nhiều cương vị: Trưởng công an xã, Trưởng ban Kiểm sát hợp tác xã... Đến năm 1965, dù tuổi đã cao nhưng một lần nữa, ông lại xung phong vào phục vụ chiến trường với cương vị Trung đội trưởng gùi thồ trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Năm 1972, ông trở về công tác tại địa phương và nghỉ chế độ năm 1980.
Ông Lê Ngọc Lưu được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huy hiệu Bác Hồ cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Tháng 12-1969, ông là đại biểu dự Đại hội Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược do Quân khu 4 tổ chức và đại diện cho lực lượng dân công hỏa tuyến báo cáo thành tích tại đại hội. Tại đây, ông Lê Ngọc Lưu đã trao tặng Bảo tàng Quân khu 4 hiện vật là đôi bồ dân công mình từng sử dụng để tải gạo lên Điện Biên Phủ.
Đôi bồ được đan từ cây giang, có chiều cao 70cm, miệng rộng 45cm, cùng với chiếc đòn gánh làm bằng cật tre già, đôi ống bương đựng nước, cơm nắm làm từ cây nứa... trưng bày ở Bảo tàng đã thu hút đông đảo thế hệ trẻ đến tham quan, học tập./.
St

HOA KỲ TRAO TRẢ KỶ VẬT CHIẾN TRANH CỦA CÁC LIỆT SĨ VÀ CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

 Ngày 10-5, tại Hà Nội, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã tổ chức lễ trao trả một số kỷ vật chiến tranh cho các cựu chiến binh, gia đình các liệt sĩ và cựu chiến binh Việt Nam.

Tham dự sự kiện này về phía Hoa Kỳ có: Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E. Knapper, Đại tá Thomas Jacob Bouchillon, Tùy viên Quốc phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam và Tiến sĩ Hải Nguyễn thuộc Đại học Harvard.
Phía Việt Nam có đại diện Cục Chính sách/Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam - Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia 515, Cục Đối ngoại/Bộ Quốc phòng, đại diện Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng gia đình các cựu chiến binh.
Tại buổi lễ, Đại sứ Knapper đã trao trả kỷ vật chiến tranh cho các cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ và cựu chiến binh Việt Nam, gồm 2 cựu chiến binh có mặt tại sự kiện, thân nhân của 2 cựu chiến binh qua đời sau chiến tranh và thân nhân của 7 liệt sĩ.
Các kỷ vật chiến tranh được trao trả gồm nhật ký cá nhân, thư, giấy tờ tùy thân, sổ tay, giấy chứng nhận/bằng cấp của các cựu chiến binh và liệt sĩ, do đội ngũ nghiên cứu thuộc Đại học Harvard xác định.
Hoạt động này nằm trong khuôn khổ Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh (VWAI) do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ tài trợ.
Đại sứ Knapper cũng trao thư của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden cho một cựu chiến binh khác là ông Nguyễn Văn Thiện. Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam vào tháng 9-2023 của Tổng thống Biden, cựu chiến binh Nguyễn Văn Thiện đã nhận lại nhật ký cá nhân tại trụ sở Quốc hội. Dịp Tết Nguyên đán vừa qua, Đại sứ đã đến huyện Thường Tín, TP Hà Nội để trực tiếp trao trả cuốn nhật ký cho một cựu chiến binh khác là ông Vũ Đắc Tức.
Phát biểu tại buổi lễ, Đại sứ Knapper bày tỏ xúc động và tự hào khi được đóng góp vào nỗ lực đưa các kỷ vật chiến tranh trở lại với các cựu chiến binh cũng như thân nhân các liệt sĩ và cựu chiến binh Việt Nam.
Đại sứ cũng thay mặt người dân Hoa Kỳ cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ, lãnh đạo và người dân các địa phương của Việt Nam đối với hoạt động tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh suốt thời gian qua; đồng thời bày tỏ hy vọng phía Hoa Kỳ sẽ làm được điều tương tự cho các gia đình Việt Nam trong tương lai./.
ST

XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” TRONG CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC THỜI KỲ MỚI

 Xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân” là một giá trị độc đáo, đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, một vấn đề lý luận và thực tiễn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc được Đảng ta nhận thức và phát triển trong văn kiện các kỳ đại hội Đảng; trong các Nghị quyết Trung ương về chiến lược bảo vệ Tổ quốc theo sự phát triển của tình hình và trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực tiễn nhiều năm qua.

Thấm nhuần quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về “sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”, “đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, “lấy dân làm gốc”; trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và chăm lo yếu tố “yên dân”, “lòng dân”. Đó là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta từ khi ra đời và lãnh đạo cách mạng, nhờ đó mà sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh đuổi các đế quốc lớn, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tổng kết thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X (năm 2006) lần đầu tiên đã nêu lên quan điểm về xây dựng “thế trận lòng dân”: “... làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt”(1). Các Đại hội XI (năm 2011), XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển quan điểm về xây dựng “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến Đại hội XIII (năm 2021), quan điểm đó đã được phát triển hoàn chỉnh với những nội dung cụ thể: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và nền an ninh nhân dân (ANND); xây dựng và củng cố vững chắc thế trận QPTD và thế trận ANND”(2). Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta: Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói riêng, cách mạng nói chung là “của dân, do dân và vì dân”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu cái gì làm trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”, bởi “sức dân như nước, chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Chiến thắng của các cuộc chiến tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc, đặc biệt là trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và Chiến dịch Hồ Chí Minh; những thành công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là những minh chứng hùng hồn nhất cho quan điểm của Đảng ta về xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân”.
“Thế trận lòng dân” chính là biến sức mạnh chính trị-tinh thần thành sức mạnh vật chất; làm nền tảng cho sức mạnh tổng hợp của cách mạng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, chiến thắng mọi kẻ thù. “Thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc chính là việc quy tụ, tập hợp, khơi dậy, phát huy chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nâng cao ý chí chiến đấu quyết chiến, quyết thắng, tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, tinh thần lạc quan cách mạng và sáng tạo làm cơ sở vững chắc xây dựng nền QPTD, nền ANND vững mạnh. “Thế trận lòng dân” là loại hình thế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể như thế trận quân sự, quốc phòng, an ninh mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khác nhau; vừa mang tính định tính, vừa mang tính định lượng cụ thể.
Do vậy, xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân bằng những hoạt động thực tiễn phù hợp với tình hình mới, đặc điểm mới và yêu cầu, nhiệm vụ mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Để “... xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền QPTD, nền ANND...” như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng yêu cầu, cần phải tiến hành đồng bộ một hệ thống các giải pháp cơ bản sau đây:
Về nhận thức, cần làm cho cả hệ thống chính trị và toàn dân, trước hết là các tổ chức đảng, chính quyền, Quân đội và Công an nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí, nội dung của “thế trận lòng dân” và mối quan hệ của “thế trận lòng dân” với thế trận QPTD, thế trận ANND trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã có sự phát triển mới về tư duy đối với “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Vấn đề xây dựng “thế trận lòng dân” được đặt trong tính chỉnh thể với xây dựng nền QPTD, nền ANND; đặt lên hàng đầu trong mối quan hệ với thế trận QPTD và thế trận ANND. Đại hội XII xác định: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền QPTD và ANND”, tới Đại hội XIII đã có sự bổ sung, phát triển khi khẳng định, xây dựng “thế trận lòng dân” ngay trong xây dựng nền QPTD, nền ANND: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận QPTD và thế trận ANND vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”. Đây chính là sự khẳng định, bổ sung và phát triển mới trong tư duy của Đảng ta về đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Có nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí, nội dung và mối quan hệ biện chứng của “thế trận lòng dân” trong sức mạnh và thế trận QPTD, ANND thì chúng ta mới có những giải pháp hữu hiệu tập trung xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Thứ hai, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân làm cơ sở và điều kiện cốt yếu để xây dựng “thế trận lòng dân”.
Nhân tố hàng đầu và cốt yếu nhất trong “thế trận lòng dân” là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; vào sự trong sạch, vững mạnh của hệ thống chính trị; vào chế độ chính trị-xã hội ưu việt; vào việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Thực tiễn lịch sử và cách mạng đã chứng minh: Mất niềm tin là mất tất cả. Vì vậy, cần tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới nói chung và nhiệm vụ xây dựng và phát huy vai trò của “thế trận lòng dân” trong bảo vệ Tổ quốc nói riêng.
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Qua đó, củng cố niềm tin trong Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Đảng cần đổi mới phương thức lãnh đạo, tập hợp, vận động quần chúng theo hướng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, huy động tối đa sức mạnh của nhân dân vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay, cần đặc biệt chú trọng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”, thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong sạch, vững mạnh, thực sự của dân, do dân và vì dân; toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị phải đặt quyền và lợi ích hợp pháp của dân lên hàng đầu; là biện pháp quan trọng nhất nhằm phát huy cao độ vai trò, sức mạnh của “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Cần chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và thực thi có hiệu quả chế độ dân chủ XHCN trong tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; quán triệt và thực hiện nhất quán, xuyên suốt quan điểm “dân là gốc”, “dân là chủ”, bảo đảm mọi việc, mọi lĩnh vực hoạt động: “Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Các quyền con người, quyền tự do, bình đẳng của công dân phải luôn được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; nhân dân phải là chủ thể đích thực và cao nhất của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, mọi thiết chế quyền lực đều được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát, trước hết là của nhân dân...
Thứ ba, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm cho nhân dân có cuộc sống ngày càng no ấm, đủ đầy, hạnh phúc; phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tốt an sinh xã hội, kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh.
Đây là giải pháp căn bản, căn cơ để “yên lòng dân”. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả, chất lượng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đồng thời, tăng cường đầu tư của Nhà nước, huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ. Giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập; khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với an sinh xã hội, phát triển văn hóa, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong từng bước phát triển. Xây dựng, phát triển nền văn hóa, tạo ra môi trường văn hóa tốt đẹp để mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội có điều kiện phát huy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, tự hào, tự tôn dân tộc Việt Nam, phát huy cốt cách, tâm hồn, đạo lý tốt đẹp con người Việt Nam.
Thứ tư, cần “định lượng” rõ ràng những nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân” trong từng lĩnh vực hoạt động của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc phù hợp với tình hình mới, điều kiện mới.
Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là bảo vệ cả hai mặt tự nhiên-lịch sử và chính trị-xã hội trong một chỉnh thể thống nhất; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN. Đây là vấn đề mới mà trong thực tế các cấp, các ngành, các lĩnh vực hoạt động, các lực lượng tham gia bảo vệ Tổ quốc chưa nhận thức rõ ràng, đúng đắn nên chưa quan tâm đúng mức, đến lúc có sự cố xảy ra mới rút kinh nghiệm thì quá muộn. Quan tâm xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc tại các địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, biển, đảo. Đây là cơ sở, nền tảng để phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng thế trận QPTD, thế trận ANND vững chắc, bảo vệ thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Những vụ bạo loạn chính trị xảy ra năm 2001, năm 2004 và vụ khủng bố có vũ trang năm 2023 ở Tây Nguyên; việc xử lý các khiếu kiện, tranh chấp đất đai ở nhiều địa phương; thực tiễn đấu tranh bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo những năm qua cho ta rất nhiều bài học quý về xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân” trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Thứ năm, xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sức mạnh của “thế trận lòng dân” là sức mạnh của khối đại đoàn kết thống nhất toàn dân, đoàn kết các dân tộc, đoàn kết các tôn giáo. Đó là sức mạnh vô địch của sự thống nhất về ý chí và hành động toàn dân tộc để “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Cốt lõi của xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc chính là sự đoàn kết, thống nhất của cả dân tộc thành một khối vững chắc xung quanh Đảng và cùng hành động thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; giữ vững niềm tin, ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vì mục tiêu, lý tưởng XHCN, kiên quyết đập tan mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Do vậy, trước sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, việc quán triệt quan điểm “dân là gốc”, xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là yêu cầu khách quan, là điều kiện tiên quyết góp phần phát huy sức mạnh của dân tộc trong từng thành tố của hệ thống chính trị, từng lĩnh vực của đời sống xã hội, trong mỗi người dân, tạo nền tảng chính trị-xã hội vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Thứ sáu, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục truyền thống, lịch sử, văn hóa; chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng kết hợp với bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công chức, viên chức và toàn dân.
“Thế trận lòng dân” trong bảo vệ Tổ quốc là một tổ hợp thống nhất của các yếu tố chính trị-tinh thần, đạo đức và hành vi được tạo nên bởi một hệ thống các giải pháp cụ thể, trong đó công tác giáo dục nhận thức và kỹ năng cần thiết về bảo vệ Tổ quốc giữ vai trò rất quan trọng. Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành cần tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng tự tôn, tự hào dân tộc, truyền thống lịch sử vẻ vang của Đảng, của Quân đội và Công an trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Cần tăng cường bồi dưỡng đường lối, quan điểm của Đảng về sự cần thiết, mục tiêu, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho nhân dân, làm cho mọi người dân hiểu rõ đối tượng và đối tác, thời cơ và thách thức đối với quốc phòng, an ninh trong điều kiện hiện nay. Tiến hành thường xuyên, toàn diện, hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng, an ninh; lựa chọn và sử dụng hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, chức trách của từng đối tượng. Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng hành động, xử lý các tình huống trong thực thi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thời bình cũng như khi có chiến tranh. Thường xuyên tổ chức có chất lượng những cuộc diễn tập xử lý các tình huống, phối hợp giữa các lực lượng Quân đội, Công an và dân chính đảng. Đổi mới và nâng cao chất lượng huấn luyện dân quân tự vệ, huấn luyện các hình thức tác chiến mới trong chiến tranh công nghệ cao, huấn luyện các phương thức xử lý các tình huống bảo vệ an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới. Phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang tham gia xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, nhất là trên các địa bàn đặc biệt khó khăn, liên hệ, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương, tham gia có hiệu quả vào phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân trên các địa bàn; đi đầu giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng đến các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Quan tâm xây dựng và củng cố đoàn kết quân dân, góp phần quan trọng củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quân dân.
Thứ bảy, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, ngăn chặn, loại trừ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và các hành động cản trở việc xây dựng và phát huy vai trò của “thế trận lòng dân” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong điều kiện hiện nay, các thế lực thù địch đang tăng cường tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để thay đổi chế độ. Vì vậy, cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn và phương thức tiến hành chống phá của các thế lực thù địch hòng gây mất niềm tin của nhân dân, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá vỡ “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN. Tiếp tục đổi mới hình thức, biện pháp tuyên truyền, vận động nhân dân; kịp thời, nhạy bén nhận diện, phân loại và kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn, những quan điểm sai trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Thực hiện nhất quán chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân không tin, không nghe theo kẻ xấu kích động, gây rối trật tự, an toàn xã hội, vượt biên trái phép, tham gia “tà đạo, đạo lạ” và các tổ chức bất hợp pháp. Giải quyết có hiệu quả nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân, tuyệt đối không để kẻ thù lợi dụng. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, mở rộng lực lượng, đa dạng hóa các biện pháp, cách thức đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, chú trọng ứng dụng khoa học-công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, truyền thông, internet, mạng xã hội...
Những giải pháp trên đây là một hệ thống thống nhất có mối quan hệ biện chứng tác động và đòi hỏi lẫn nhau cần được quan tâm thực hiện một cách nhất quán và đồng bộ ở trong tất cả lực lượng, các lĩnh vực hoạt động xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới của Đảng./.
St