Thứ Tư, 15 tháng 5, 2024

Nhận thức và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Kỳ I).

 Các mối quan hệ lớn là những vấn đề lý luận cốt lõi, phản ánh những quy luật mang tính biện chứng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là những mối liên hệ bản chất, tất yếu; những vấn đề lớn, hệ trọng, được đúc kết ở chiều sâu nhận thức lý luận, mang tính dẫn dắt đối với cách mạng nước ta, vận dụng trong tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng ở phạm vi rộng lớn. Mười mối quan hệ lớn được Đảng ta nhận thức, khái quát hóa thành lý luận có giá trị và ý nghĩa to lớn, quan trọng, gắn với hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội, các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa, các phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo thành hệ thống quan điểm căn cốt nhất về lý luận đổi mới Việt Nam, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mang bản sắc, đặc trưng Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm mô hình thâm canh sản xuất chè VIET GAP ở bản Cốc Phát, xã nông thôn mới Bản Bo, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu_Ảnh: TTXVN

Việc nhận diện các mối quan hệ lớn ngày càng sáng rõ, đầy đủ, bao quát hơn, từ chỉnh thể hệ thống đến bộ phận cấu thành

Công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là cuộc cải biến cách mạng vĩ đại, toàn diện, sâu sắc, từ kinh tế đến chính trị - xã hội, từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng..., song điều này chưa có tiền lệ trong lịch sử, lại trong bối cảnh đi lên từ lực lượng sản xuất rất thấp..., nên chúng ta phải tự tìm con đường cho phù hợp với thực tiễn đất nước và phù hợp với xu thế chung của thời đại. Đây là cuộc trường chinh đầy khó khăn, gian khổ, phức tạp, lâu dài, vừa tiến hành, vừa đúc rút kinh nghiệm. Đặc biệt, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các yếu tố của chủ nghĩa xã hội và phi chủ nghĩa xã hội đan xen nhau hết sức đa dạng, phức tạp. Do đó, cần hết sức coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để vạch rõ những vấn đề có tính quy luật khách quan của sự phát triển, dự báo những khuynh hướng cơ bản của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam, là cơ sở lý luận soi đường và bảo đảm cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, có vai trò đặc biệt quan trọng định hướng và từng bước định hình chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Việt Nam; tránh tư duy, cách làm chủ quan theo chủ nghĩa kinh nghiệm và siêu hình sẽ dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm, gây cản trở, làm kéo dài, thậm chí chệch hướng, tổn thất cho cách mạng và quá trình phát triển của đất nước. Công cuộc đổi mới đất nước cũng để lại nhiều bài học đắt giá từ việc chậm phát hiện, nhận thức thiếu đầy đủ hoặc do nắm chưa vững, giải quyết không thấu đáo, tả khuynh, nôn nóng những vấn đề có tính quy luật khách quan...

Chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ - là một chỉnh thể cấu thành từ nhiều yếu tố, mối quan hệ tạo nên một hệ thống, cấu trúc. Bên trong cấu trúc đó, các yếu tố cấu thành vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn, vừa tương hỗ, vừa đấu tranh; trong đó có những cặp quan hệ chủ đạo, phản ánh bản chất, mối liên hệ tất nhiên chi phối sự tồn tại, vận động và phát triển của đổi mới, của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - đó chính là các mối quan hệ lớn.

Tuy nhiên, trong sự vận động vô tận và phức tạp của sự vật, hiện tượng, những cái chung, bản chất, nội dung thường bị che mờ bởi những cái bề ngoài, hình thức, đơn nhất, ngẫu nhiên, tạo nên những “điểm mờ” của nhận thức; sự phát triển ẩn đằng sau sự vận động quanh co, khúc khuỷu và có cả sự thoái bộ, thụt lùi... Do đó, việc nhận diện các mối quan hệ lớn là quá trình khái quát hóa rất cao về nhận thức lý luận, tìm ra khuynh hướng phát triển chung, cái bên trong, những mâu thuẫn, xung đột lớn, mối liên hệ phổ biến mang tính quy luật không thể một sớm, một chiều, mà là một quá trình đầy khó khăn, lâu dài, thậm chí có cả những sai lầm trước khi đến được với nhận thức đúng đắn, đầy đủ, bao quát, sâu sắc hơn, thể hiện rõ từng nấc thang, từng bước đổi mới, phát triển trong tư duy lý luận, là biểu hiện sinh động phản ánh trình độ trưởng thành và phát triển về lý luận của Đảng ta.

Nhận thức về các mối quan hệ lớn là một quá trình thống nhất, xuyên suốt, không ngừng tìm tòi, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn, manh nha ngay từ sớm, trước đổi mới.

Thuật ngữ “các mối quan hệ lớn” xuất hiện chính thức lần đầu tiên trong văn kiện Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (tháng 12-1964) về thương nghiệp và giá cả. Khi đó, trong phân tích về những đặc điểm kinh tế cơ bản và nội dung cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong những năm đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội, Ban Chấp hành Trung ương lần đầu tiên đặt ra yêu cầu: “Xây dựng đúng đắn những mối quan hệ lớn, giải quyết tốt những mâu thuẫn lớn...”(1). Trong những buổi đầu tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tuy tư duy lý luận của Đảng tại thời điểm này chưa phản ánh đầy đủ những mối quan hệ mang tính quy luật, chưa xác định chính xác về tính chất và cách thức giải quyết các mối quan hệ lớn, song đây là sự manh nha, điểm khởi đầu có ý nghĩa, có tính chất tiền đề trong tư duy lý luận của Đảng về “các mối quan hệ lớn” trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (năm 1975) cho đến trước Đại hội XI của Đảng (năm 2011), các văn kiện của Đảng gần như không trực tiếp xác định, gọi tên “các mối quan hệ lớn”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) lần đầu tiên đề cập tới các mối quan hệ lớn như một chỉnh thể mang tính hệ thống, khi xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, gồm: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Đại hội XII của Đảng điều chỉnh mối quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” thành quan hệ “giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đồng thời, từ tám mối quan hệ lớn phát triển thành chín mối quan hệ lớn khi bổ sung mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường”, sau đó mối quan hệ này được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII nhận diện đầy đủ hơn (bổ sung thành tố thứ ba là “xã hội”) thành mối quan hệ “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những nhận thức, bổ sung mới về các mối quan hệ lớn. Đó là điều chỉnh trật tự mối quan hệ “giữa đổi mới, ổn định và phát triển” thành “giữa ổn định, đổi mới và phát triển”; bổ sung mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”, thành “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”; điều chỉnh mối quan hệ “giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, thành “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”; điều chỉnh mối quan hệ “giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, thành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng bổ sung mối quan hệ lớn giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, hợp thành chỉnh thể hệ thống mười mối quan hệ lớn có tính quy luật của đổi mới và phát triển của Việt Nam.

Như vậy, đến nay, Đảng ta đã xác định mười mối quan hệ lớn cần tiếp tục nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, gồm: 1- Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; 2- giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; 3- giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; 4- giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; 5- giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; 6- giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; 7- giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; 8- giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; 9- giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; 10- giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Rõ ràng, từng sự thay đổi, bổ sung chỉnh thể hay nội tại từng mối quan hệ trên đều mang ý nghĩa sâu sắc, là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận công phu, lâu dài. Hệ thống mười mối quan hệ lớn tạo thành một chỉnh thể tương đối đầy đủ, có ý nghĩa quan trọng mang tính phương pháp luận để chỉ đạo, dẫn dắt các hoạt động thực tiễn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Văn kiện Đại hội XIII cũng nhấn mạnh, đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, đòi hỏi chúng ta nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả.

Từ nhận diện, các mối quan hệ lớn ngày càng được nhận thức sâu sắc, nắm vững bản chất các mối liên hệ phức hợp bên ngoài, bên trong, hình thành hệ thống quan điểm mang tính nguyên tắc phương pháp luận để định hướng giải quyết tốt các vấn đề thực tiễn, góp phần hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội Việt Nam

Thứ nhất, về bản chất các mối liên hệ phức hợp bên ngoài, bên trong của các mối quan hệ lớn.

Trước hết, việc giải quyết các mối quan hệ lớn được đặt trong tổng thể mối quan hệ chặt chẽ với hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội, tám đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa, tám phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự thống nhất chỉnh thể của bốn nội dung trên có thể nói chính là những vấn đề cốt lõi trong cấu trúc hệ thống lý luận đổi mới Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cũng là lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Các mối quan hệ lớn chính là phương tiện, phương pháp để nhận thức và tổ chức thực hiện đúng nhằm đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện thành công các đặc trưng và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều nội dung của từng mối quan hệ lớn có liên hệ chặt chẽ, thậm chí chuyển hóa lẫn nhau với nội dung của các đặc trưng hay phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Như vậy, trong nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn phải luôn đặt trong tổng thể mối quan hệ với phương hướng, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa; nếu tách biệt sẽ đánh mất tính hệ thống, tính mục đích, không thấy rõ những quy luật phát triển khách quan bên trong các mối quan hệ lớn. Việc tìm ra các quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội không phải là đích cuối, mà là phương pháp, phương tiện nhận thức ở tầm lý luận để Đảng ta thực hành cầm quyền khoa học đúng với các quy luật phát triển khách quan, hóa giải những mâu thuẫn lớn, từng bước đạt mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội và hiện thực hóa những đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Từng mối quan hệ lớn trong chỉnh thể các mối quan hệ lớn cũng ngày càng được nhận thức sâu sắc hơn. Hệ thống các mối quan hệ lớn cấu thành bởi mười mối quan hệ lớn cùng hướng đích, song mỗi mối quan hệ lớn có những đặc điểm, vị trí riêng.

Mối quan hệ lớn giữa đổi mới, ổn định và phát triển là mối quan hệ có vị trí đầu tiên, tiên phong, khởi nguồn trong hệ thống các mối quan hệ lớn. Trong ba thành tố của mối quan hệ này, đổi mới phải thực thi trước tiên, là phương thức để phát triển, ổn định là điều kiện và phát triển là mục tiêu - đây là mối quan hệ chế ước, ràng buộc giữa điều kiện, phương thức và mục tiêu phát triển lâu dài. Phát triển phải dựa trên ổn định và bằng phương thức đổi mới; không có nền móng ổn định không thể phát triển được và chính nhờ phát triển mới tạo điều kiện để ổn định vững chắc và tiếp tục đổi mới ở yêu cầu, trình độ cao hơn. Từ xác định đổi mới là quan trọng nhất, Đại hội XIII của Đảng hoán đổi vị trí của “ổn định” cho “đổi mới”, hàm ý trong bối cảnh hiện nay cần đề cao hơn việc giữ ổn định các mặt của đời sống chính trị - xã hội nhằm tạo tiền đề, điều kiện cho sự phát triển.

Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị giữ vai trò trung tâm, cơ bản, bởi việc giải quyết mối quan hệ này sẽ tác động và quyết định tới việc giải quyết các mối quan hệ lớn khác, khi “yếu tố kinh tế được xem như nền tảng số một của sự phát triển, đồng thời chính trị là yếu tố nhạy cảm, phức tạp nhất trong đời sống xã hội”(2). Đổi mới kinh tế là khâu đột phá cho quá trình đổi mới ở nước ta, tập trung phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo dựng nền tảng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Quá trình đổi mới kinh tế phải tiến hành đồng thời với từng bước đổi mới chính trị; đổi mới chính trị tập trung vào đổi mới tư duy chính trị và hệ thống chính trị. Đổi mới kinh tế đi trước, song không vì thế mà chậm đổi mới chính trị; đổi mới chính trị cần làm từng bước, thận trọng, bảo đảm nguyên tắc cái gì đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh hiệu quả, đa số đồng tình thì tiếp tục thực hiện, cái gì chưa có quy định hoặc vượt quy định thì mạnh dạn thí điểm, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, không cầu toàn, nhưng không nóng vội.

Mối quan hệ giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc tuân theo các quy luật của nền kinh tế thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh...) là một tất yếu khi chúng ta phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường. Nếu không tuân thủ các quy luật thị trường, tính chất thị trường của nền kinh tế thì nền kinh tế sẽ vận hành méo mó, phát triển duy ý chí, rất dễ quay trở lại với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Mặt khác, tính chất định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường là nhằm bảo đảm các mục tiêu xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. Đây không phải là vế ghép khiên cưỡng, mà là tính chất quy định bản chất của nền kinh tế thị trường chúng ta xây dựng, phát triển; nếu thiếu bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế phát triển tự do vô độ, chạy theo lợi ích của thiểu số, tính chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có nguy cơ trỗi dậy, làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa.

Vận hành dây chuyền dệt bằng công nghệ hiện đại_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là quy luật cơ bản nhất, xuyên suốt và chi phối sự phát triển của xã hội loài người, cũng như quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Lực lượng sản xuất quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất; ngược lại, quan hệ sản xuất tác động trở lại, quy định mục tiêu xã hội của sản xuất, từ đó hình thành những yếu tố thúc đẩy lực lượng sản xuất nếu phù hợp hoặc kìm hãm nếu không phù hợp. Với xuất phát điểm thấp của nền kinh tế, nên nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa sống còn đối với việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là phải phát triển không ngừng lực lượng sản xuất để tạo dựng cơ sở vật chất hiện đại. Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ lâu dài. Không thể nóng vội tạo ra quan hệ sản xuất vượt trước, thậm chí thoát ly khỏi trình độ lực lượng sản xuất, khiến mâu thuẫn giữa hai mặt của phương thức sản xuất trở nên gay gắt, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng như trước đổi mới. Do đó, cùng với việc tìm phương cách phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng mọi nguồn lực để phát triển, với nhiều thành phần kinh tế, thì quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác định “hoàn thiện từng bước”, với đa hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, tiếp thu trình độ tổ chức - quản lý kinh tế vĩ mô và quản trị doanh nghiệp hiện đại, hoàn thiện chế độ phân phối. Đồng thời, quan hệ sản xuất được xác định “tiến bộ phù hợp”, tức không chỉ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại như quan điểm trước đây, mà còn phù hợp với bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là mối quan hệ mới, được Đại hội XII của Đảng chính thức xác lập, là ba chủ thể tạo nên thế kiềng “ba chân” trong quản lý phát triển xã hội, vừa có quan hệ cạnh tranh, vừa hợp tác, vừa chế ước lẫn nhau, mà về bản chất chính là xử lý mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước, quyền lực kinh tế và quyền lực đạo đức - văn hóa, với đại diện là Nhà nước - doanh nghiệp - tổ chức xã hội. Theo đó, Nhà nước vừa là chủ thể quản lý, vừa là chủ thể trên thị trường, đối tác của thị trường, tập trung chức năng kiến tạo phát triển, tạo lập môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch, không thiên vị cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội phát triển; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong phân bổ hiệu quả các nguồn lực; các tổ chức xã hội ngày càng có vai trò chủ động, tham gia sâu hơn, hiệu quả hơn trong quản lý phát triển, giám sát và phản biện xã hội. Để hài hòa hóa trong giải quyết quan hệ giữa Nhà nước - thị trường và xã hội, sự phân vai hợp lý và cơ chế tự điều tiết nội bộ giữa ba chủ thể có vai trò quyết định, đồng thời không thể không tính tới nhân tố từ bên ngoài là vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng trong điều tiết, sử dụng, phát huy đúng đắn vai trò, chức năng của Nhà nước, thị trường và xã hội.

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường là mối quan hệ lớn trọng tâm thể hiện sự phát triển bền vững phù hợp với xu thế của thời đại, đồng thời thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là mối quan hệ lớn có nhiều thành tố cấu thành nhất, trong đó “tăng trưởng kinh tế” là hạt nhân có quan hệ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với bốn thành tố còn lại; tăng trưởng kinh tế gắn chặt với thực hiện các nội dung khác trong mối quan hệ lớn trên sẽ trở thành phát triển bền vững, ngược lại, tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, xem nhẹ hoặc tách rời các nội dung còn lại sẽ làm các giá trị văn hóa xuống cấp, gây bất bình đẳng, xung đột, bất ổn xã hội, hủy hoại môi trường và những hệ lụy khôn lường khác, kéo lùi sự phát triển và tiến bộ xã hội. Từ sự phát triển thiên về chiều rộng, chúng ta ngày càng quan tâm hơn đến chiều sâu và chất lượng tăng trưởng. Thực hiện phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Đặc biệt, bảo vệ môi trường chính thức trở thành một thành tố của mối quan hệ lớn trên cho thấy nhận thức đúng đắn và ngày càng đề cao việc tôn trọng, bảo vệ và nuôi dưỡng môi trường, với những quan điểm về phát triển hài hòa, thuận thiên, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn... Đây là những xu thế phát triển tất yếu, là bước tiến quan trọng về nhận thức lý luận của Đảng ta để kịp thời định hướng đúng đắn cho sự phát triển bền vững thời gian tới.

Giáo dục các em học sinh ý thức bảo vệ môi trường_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn 

Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phản ánh hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, có quan hệ biện chứng sâu sắc, mang tầm chiến lược, có ảnh hưởng và chi phối tới các mối quan hệ lớn khác, tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa hai mục tiêu lớn: Vừa xây dựng đất nước phồn vinh, giàu mạnh, vừa phải giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Việc giải quyết mối quan hệ lớn trên được Đảng ta vận dụng trong tất cả lĩnh vực, khi chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại... đều “lưỡng dụng” gắn với các nhiệm vụ, mục tiêu quốc phòng, an ninh; thực hiện nhất quán quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên; huy động và dựa vào sức mạnh tổng hợp cao nhất của mọi lực lượng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó rường cột là lực lượng vũ trang. Xây dựng đất nước giàu mạnh chính là tạo lực và thế để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; bảo vệ vững chắc Tổ quốc chính là điều kiện quan trọng nhất để xây dựng đất nước, không được xem nhẹ bất kỳ một nhiệm vụ nào, không một phút lơ là. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về mối quan hệ lớn trên, nhiều vấn đề về quốc phòng, an ninh trong thời kỳ đổi mới được Đảng ta vận dụng linh hoạt, bảo đảm nguyên tắc, để giải quyết tốt, qua đó ngăn chặn, hóa giải và loại trừ các xung đột lớn, nguy cơ chiến tranh, giữ vững môi trường ổn định, hòa bình để phát triển đất nước, tạo dựng thế chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế thể hiện chiến lược kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Đảng ta ngay từ sớm, trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, càng rõ nét trong công cuộc đổi mới đất nước. Ba thành tố của mối quan hệ lớn trên vừa tạo tiền đề cho nhau, vừa thống nhất, thúc đẩy nhau. Độc lập là chủ quyền pháp lý, tự chủ là chủ quyền thực tế; độc lập, tự chủ là sức mạnh bên trong, là nội lực. Hội nhập là tham gia và trở thành một bộ phận cấu thành của cộng đồng quốc tế, là sức mạnh ngoại lực. Giữ vững độc lập, tự chủ bằng sức mạnh tổng hợp quốc gia và bản sắc quốc gia trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... thì mới hội nhập thành công, nếu không sẽ bị lệ thuộc, hòa tan; ngược lại, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả giúp nâng cao vị thế quốc gia, tận dụng các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển đất nước, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, đa dạng hóa, đan cài các quan hệ lợi ích, từ đó càng giúp gia tăng độc lập, tự chủ, nội lực. Nếu tuyệt đối hóa yếu tố độc lập, tự chủ thì sẽ thành biệt lập, “đóng cửa”, bỏ qua cơ hội tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài, khiến nội lực không được bồi tụ, suy yếu; hoặc quá đề cao hội nhập, trong khi nội lực còn mỏng, dẫn đến bị lệ thuộc, đánh mất tự chủ, độc lập. Nhận thức sâu sắc mối quan hệ lớn trên, Đảng ta lãnh đạo giải quyết tốt giữa việc không ngừng gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, sự độc lập, tự chủ trong mọi lĩnh vực, quyết sách quan trọng, với việc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiếng nói và vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế, “ngoại giao cây tre” tiên phong xử lý khéo léo, mở rộng và đi vào chiều sâu các mối quan hệ quốc tế, chủ động tham gia nhiều hơn trong việc hình thành các cơ chế hợp tác, xây dựng luật lệ, chuẩn mực chung có tính chất định hình “cuộc chơi” trong quan hệ quốc tế...  

Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ là mối quan hệ tổng quát, bao trùm, rộng lớn nhất trong chính trị và trong đời sống xã hội, khẳng định bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa do nhân dân làm chủ. Đây cũng là nguyên tắc chính trị tổng quát của chế độ chính trị của Việt Nam, mà trung tâm là cấu trúc và cơ chế vận hành của quyền lực chính trị - quyền lực nhà nước - quyền lực nhân dân, tương ứng với ba chủ thể quyền lực: Đảng - Nhà nước - nhân dân. Trong đó, Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, thực thi quyền lực chính trị của mình trước hết bằng Nhà nước và thông qua quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước ở vị trí trung tâm, có vai trò trọng yếu; là đối tượng chịu sự lãnh đạo của Đảng, nhưng Nhà nước lại có những chức năng đặc thù của một tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước do nhân dân ủy quyền, phát huy vai trò chủ động và không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Xây dựng cơ chế phát huy thực chất vai trò chủ thể quyền lực của nhân dân, với tư cách quyền lực nhân dân là quyền lực tối cao, quyền lực gốc.

Mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là mối quan hệ thứ mười, mới được Đại hội XIII của Đảng chính thức bổ sung. Mặc dù được xác lập sau, nhưng đây là mối quan hệ lớn có vị trí quan trọng đặc biệt vì dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ chính trị nước ta và sự ảnh hưởng rộng lớn của mối quan hệ này đối với mọi mặt của đời sống xã hội, mọi người dân, cần được chú trọng nhận thức và giải quyết tốt, trong tổng thể việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xã hội pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. “Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm kỷ cương xã hội có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, nương tựa và làm tiền đề tồn tại cho nhau. Thực hiện pháp chế nghiêm minh là yếu tố bảo đảm, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân được thực hành thực chất trong thực tiễn; đồng thời, thực hành dân chủ của nhân dân được mở rộng và phát huy sẽ càng làm cho pháp chế được tăng cường và kỷ cương trong xã hội được tôn trọng. Kỷ cương xã hội là kết quả và biểu hiện ra bên ngoài của pháp chế”(3). Cần tránh cả hai thái cực, mất dân chủ, dân chủ giả hiệu, hình thức, dân túy hoặc dân chủ quá trớn, tự do phường hội, vô chính phủ, khinh nhờn pháp luật. Sự đối lập hay tách rời giữa thực hành dân chủ với tăng cường pháp chế sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường, đe dọa tới sự ổn định chính trị và kỷ cương, trật tự xã hội...

                                            (Còn nữa)

---------------------------
* Bài viết là sản phẩm của Đề tài cấp nhà nước KX.04.02/21-25: "Những thành tựu phát triển lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới"
(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t. 25, tr. 295
(2) Nguyễn Phú Trọng: Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 52
(3) Lê Hải: “Giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội đặt trong tổng thể việc nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn của Đảng ta” (Kỳ 2), Tạp chí Cộng sản, số 946 (7-2020), tr. 54

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.

 Những biến đổi văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng những năm gần đây cho thấy, văn hóa là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, sẽ cho thấy những “phản ứng” sớm trước các tác động, cho dù là tích cực hay tiêu cực. Môi trường văn hóa là môi trường hình thành đạo đức, nhân cách con người, hình thành các mối quan hệ, từ phạm vi gia đình đến nhà trường và ngoài xã hội. Do đó, xây tạo môi trường văn hóa lành mạnh là tạo điều kiện cho phát triển bền vững.

Đặc trưng văn hóa và những biến đổi văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đồng bằng sông Hồng

Vùng đồng bằng sông Hồng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội nói chung ở Việt Nam. Là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi, có cửa ngõ thông thương lớn và quan trọng, là vùng có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa với các khu vực lân cận và thế giới. Có tài nguyên thiên nhiên phong phú, là vựa lúa lớn thứ hai của Việt Nam, có trữ lượng than, khí đốt lớn. Dân cư đông đúc, đặc biệt là có trình độ cao. Có những trung tâm lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, có hệ thống đô thị phát triển...

Về văn hóa, vùng đồng bằng sông Hồng có đặc trưng nổi trội về cả ẩm thực, trang phục, đến các làng nghề truyền thống,… Các món ăn đậm nét đồng bằng Bắc Bộ, như phở Nam Định, bánh cuốn Thanh Trì, cá kho Hà Nam,… đã trở thành các món ăn truyền thống của Việt Nam được thế giới biết đến. Đặc biệt, các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng là hiện thân sinh động của lịch sử lâu đời của người Việt cổ, nhiều làng nghề thủ công đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm, như làng Ngũ Xã Tràng (Hà Nội) nổi tiếng với nghề đúc đồng, làng gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), lụa Hà Đông (Hà Nội), gốm Chu Đậu (Hải Dương)…

Đặc trưng văn hóa tinh thần cũng được hình thành từ môi trường sống cộng đồng. Đó là chân ái, kính trên nhường dưới, coi trọng tình làng nghĩa xóm, truyền thống thờ cúng tổ tiên, cúng giỗ…, tín ngưỡng thờ thành hoàng, thờ mẫu, thờ cụ tổ nghề… Đó là văn hóa dân gian múa rối nước, quan họ…; là lễ hội chùa Hương (Hà Nội), hội Đền Hùng (Phú Thọ), Hội Lim (Bắc Ninh),...

Làng gốm Chu Đậu (tỉnh Hải Dương)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Trong tiến trình lịch sử, người Việt vùng đồng bằng sông Hồng luôn giữ được những nét văn hóa độc đáo, những phong cách sống riêng biệt trên cơ sở tiếp nhận, sàng lọc những yếu tố văn hóa Đông - Tây. Từ thực tế phức tạp, sống động, đa dạng và diễn ra lâu dài trong suốt hàng ngàn năm, môi trường văn hóa của người Việt ở đồng bằng sông Hồng với hạt nhân là văn hóa gia đình vẫn bảo lưu được những nền nếp gia phong truyền thống, có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt của gia đình, xã hội.

Những đặc điểm lịch sử - xã hội, môi trường văn hóa của cộng đồng dân cư đồng bằng sông Hồng cũng chủ yếu giới hạn sinh hoạt văn hóa của cá nhân, gia đình, dòng họ và cộng đồng xã hội trong bốn tiểu không gian văn hóa của làng: Không gian văn hóa cư trú; không gian văn hóa sinh kế; không gian văn hóa tâm linh; không gian văn hóa sinh hoạt cộng đồng. Sự hợp nhất và tương tác hài hòa của các tiểu không gian văn hóa trên, tạo nên một môi trường văn hóa đáp ứng nhu cầu tối thiểu của cộng đồng, hướng về con người, cho con người và con người chính là hạt nhân trung tâm. Và trong không gian môi trường văn hóa đó, sự hiện diện của văn hóa gia đình luôn luôn giữ vai trò nòng cột, bên cạnh đó, các thành tố dòng họ cũng có ảnh hưởng lớn đến ý thức và hành vi của từng cá nhân trong cuộc đời. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, trước tác động của hội nhập quốc tế, của đô thị hóa, của biến đổi cơ cấu xã hội, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, đặc biệt là những tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường…, các biểu hiện văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng cũng có những biến đổi. Trước hết, đó là những tác động sâu, rộng đến lối sống, đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân. Con người vốn là chủ thể các quan hệ xã hội, tạo nên các giá trị xã hội và khi cá nhân, lợi ích cá nhân không còn chịu tác động nhiều của các yếu tố gia đình, dòng họ, cộng đồng mà vượt lên thể hiện có lúc, có việc thái quá, làm mất đi các chuẩn mực giá trị vốn đã được xã hội truyền thống công nhận, coi trọng, làm biến đổi các thang giá trị chuẩn mực chung. Sự thay đổi có tính bước ngoặt và lịch sử đó diễn ra trong bối cảnh chủ thể là đại bộ phận thế hệ nông dân đã gắn bó với phương thức tự quản khép kín, những chuẩn mực đạo đức trong quan hệ ứng xử còn nặng tính truyền thống cố hữu, trọng nghĩa, trọng tình. Với chủ thể của một nền kinh tế tồn tại theo phương thức truyền thống như vậy, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế, phương thức quản lý kinh tế và chính sách kinh tế nói chung đã có những tác động đa diện và sâu sắc, vừa có mặt tích cực, vừa mang những tiêu cực, hiện diện vào đời sống xã hội, trở thành thách thức đối với bộ máy quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa.

Một số giải pháp gìn giữ, phát huy các đặc trưng văn hóa trong cộng đồng dân cư vùng đồng bằng sông Hồng

Để khắc phục tình trạng trên, một trong những yêu cầu cấp thiết được đặt ra là xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách đủ sức “ứng phó” với tình hình mới, phù hợp với điều kiện tiếp biến cái mới (đang còn chưa định hình) với sự chọn lọc, kế thừa giá trị văn hóa truyền thống mà hạt nhân là những chuẩn mực đạo đức được xã hội công nhận (hiện đã và đang có nguy cơ bị phân hóa, biến thái). Cụ thể:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của các cấp chính quyền trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa.

Trước hết, cần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về xây dựng đời sống văn hóa; có kiến thức và khả năng vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tế địa phương để chủ động đề ra giải pháp kịp thời, đúng đắn. Tăng cường vai trò của tổ chức đảng, tích cực kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, giúp đỡ, đẩy mạnh hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; thường xuyên đúc rút kinh nghiệm, triển khai nhân rộng những điển hình tiên tiến; khen thưởng thường xuyên và đột xuất để kịp thời động viên phong trào phát triển; lồng ghép việc lấy kết quả phong trào làm một trong những tiêu chí thi đua để xếp loại đảng viên.

Đổi mới, tăng cường, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; thể chế hóa các quan điểm, đường lối, định hướng của Đảng về phát triển văn hóa; đưa nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, thực thi pháp luật về văn hóa thành những chương trình, mục tiêu cụ thể và hằng năm có sơ kết, tổng kết chuyên đề công tác này.

Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị đặc trưng gắn với các phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.

Khi xây dựng hương ước, quy ước, xây dựng các quy định nếp sống văn hóa, quy định hoạt động các phố nghề, làng nghề…, cần gắn với thuần phong mĩ tục của dân tộc, địa phương, gắn với việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở và không trái với các quy định khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Xây dựng và hoàn thiện quy định về xét tặng các danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Khu phố văn hóa”..., trong đó làm rõ các tiêu chí, tiêu chuẩn bình xét, bảo đảm dễ nhớ, dễ thực hiện, thực chất, tránh hình thức, bao trùm được tất cả các giá trị cốt lõi của văn hóa và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Người dân và du khách tham gia lễ hội vật phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội, năm 2023_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Ba là, chú trọng đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực có chất lượng trong xây dựng văn hóa từ cơ sở.

Cần xây dựng một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa trong thời kỳ mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng động, sáng tạo, sử dụng tốt cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động, có khả năng thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đưa đời sống văn hóa ở các địa phương không ngừng phát triển. Bên cạnh đó, mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ văn hóa và tìm hiểu pháp luật cho cán bộ cơ sở (cán bộ phụ trách tư pháp và văn hóa); bổ sung, hoàn thiện chế độ, chính sách về lương, chế độ thù lao đối với đối tượng làm công tác văn hóa - thông tin cơ sở, các lĩnh vực mang tính đặc thù, giúp họ yên tâm công tác, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa tại cơ sở, địa phương.

Bốn là, đổi mới nội dung và hình thức tổ chức, hoạt động các phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

Để phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đạt được hiệu quả thực tế, có bước phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, thực sự tạo động lực quan trọng góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, cần đổi mới về nội dung và hình thức tổ chức, hoạt động. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng, củng cố và hoàn thiện mạng lưới hoạt động văn hóa các cấp, khai thác, phát huy nguồn lực to lớn từ cộng đồng, đặc biệt thực hiện tốt các mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, gắn với “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

Định hướng đổi mới là: góp phần dẫn hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa, hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng vào thực tiễn, kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch, vi phạm trong quá trình thực thi các cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, bảo vệ tài nguyên văn hóa của làng quê nói riêng và của cộng đồng xã hội nói chung.

Năm là, đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực đầu tư, xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở đáp ứng yêu cầu.

Bên cạnh việc đầu tư của Nhà nước và chính quyền địa phương, cần tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về xã hội hóa hoạt động văn hóa, huy động các nguồn lực từ cộng đồng để đầu tư xây dựng, tôn tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng, như trung tâm văn hóa, đài phát thanh, nhà văn hóa, hệ thống điểm bưu điện văn hóa, tủ sách, trường học, trạm y tế, cơ sở rèn luyện thể chất... đáp ứng nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Sáu là, thực hiện thường xuyên, đột xuất công tác thanh tra, kiểm tra, thi đua - khen thưởng.

Thực hiện thường xuyên, đột xuất và đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá các hoạt động văn hóa và việc công nhận cơ quan, đơn vị, tổ dân phố văn hóa, làng văn hóa, gia đình văn hóa… bảo đảm công bằng, thiết thực. Thực hiện thi đua, khen thưởng đúng người, đúng việc, phát huy tầm ảnh hưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, tấm gương người tốt, việc tốt trong cộng đồng. Công tác khen thưởng cũng cần được đổi mới, hướng về cơ sở, tăng cường khen thưởng cho người trực tiếp lao động, sản xuất, công tác, tập thể, cá nhân điển hình. Bám sát các quy định về đối tượng, tiêu chuẩn, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị; đặc biệt khen thưởng đột xuất cần được thực hiện kịp thời đối với cá nhân, tập thể có thành tích đặc biệt xuất sắc./.

Bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí góp phần bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay.

 Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vai trò của truyền thông, báo chí ngày càng lớn, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của con người. Chính vì vậy, việc bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí trở thành một phần hết sức quan trọng của an ninh con người.

Vai trò của an ninh truyền thông, báo chí đối với an ninh con người ở Việt Nam

An ninh con người và bảo đảm an ninh con người là những khái niệm mới được hình thành trên cơ sở phát triển tư duy về sự mở rộng nội hàm an ninh quốc gia. Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) quan niệm: “An ninh con người là sự an toàn của con người trước những mối đe dọa kinh niên như nghèo đói, bệnh tật, đàn áp và những biến cố bất ngờ, bất lợi trong cuộc sống hằng ngày”(1); có 7 mặt tạo nên an ninh con người, đó là: An ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị.

Phóng viên đưa tin trẻ em vùng cao tỉnh Sơn La khai giảng năm học mới_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Tại Việt Nam, thuật ngữ an ninh con người và bảo đảm an ninh con người lần đầu tiên được đề cập tại Văn kiện Đại hội XII: “Kịp thời kiểm soát và xử lý các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội. Đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; giảm thiểu tai nạn giao thông; bảo đảm an toàn xã hội, an ninh con người”(2). Đến Đại hội XIII, an ninh con người được xác định là một thành tố trong an ninh quốc gia, có mối quan hệ mật thiết với an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa - tư tưởng… Văn kiện nhấn mạnh: “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”(3) và cụ thể hóa thành 2 định hướng trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030. Như vậy, an ninh con người nhận được nhiều sự quan tâm của các diễn đàn trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Dù có một số điểm khác nhau về cách tiếp cận, các nghiên cứu đều khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa an ninh quốc gia và an ninh con người, đồng thời, nội hàm của khái niệm này cũng không ngừng được mở rộng, phát triển.

Truyền thông, báo chí là lĩnh vực có chức năng, vai trò hết sức quan trọng, ra đời là để thỏa mãn nhu cầu thông tin, giao tiếp của con người và xã hội. Ở Việt Nam, chức năng tư tưởng của báo chí, truyền thông là chức năng xuyên suốt, quan trọng hàng đầu, với nhiệm vụ truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm cho hệ tư tưởng - lý luận này trở thành chủ đạo trong đời sống tinh thần, tư tưởng của quần chúng nhân dân. Ngoài ra, truyền thông, báo chí còn có chức năng giám sát và phản biện xã hội, thể hiện ở chỗ báo chí duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản lý bằng thông tin hai chiều, bảo đảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi hiệu quả.

An ninh truyền thông, báo chí là trạng thái ổn định, an toàn, thực hiện đúng chức năng của hệ thống truyền thông, báo chí, bảo đảm cho mọi hoạt động trao đổi thông tin giữa mọi đối tượng trong xã hội diễn ra bình thường, góp phần tích cực vào sự phát triển đất nước. Trước hết, nó trực tiếp tham gia định hướng dư luận xã hội, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, lành mạnh cho con người hoạt động. Nếu như trước khi có internet, hệ thống truyền thông, báo chí cơ bản chỉ mang tính một chiều, đơn tuyến (từ phía Nhà nước đến phía người dân), thì ngày nay, mỗi một người dân đều có thể trở thành một “nhà truyền thông”, “người đưa tin”, đồng thời cũng có thể nắm bắt được thông tin ở mọi nơi trên thế giới chỉ với một chiếc điện thoại có kết nối mạng. Chính vì vậy, chỉ cần một thông tin “nóng” được đưa ra, có thể được lan tỏa rất lớn, rất nhanh, tạo ra dư luận xã hội mạnh mẽ, ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý, tư tưởng, cuộc sống của nhiều người trong xã hội. Do đó, ngăn chặn, lọc bỏ các thông tin không đúng, thông tin tiêu cực và thực hiện tuyên truyền theo hướng “làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”(4) sẽ phục vụ đắc lực cho bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay.

An ninh truyền thông, báo chí góp phần bảo đảm an ninh chính trị của con người. Mặc dù trong xã hội thông tin, song trong thực tế, các kênh phát thanh, truyền hình, báo chí của Đảng, Nhà nước và các cơ quan trong hệ thống chính trị vẫn luôn được người dân quan tâm, theo dõi và coi đây là những thông tin chính thống. Với chức năng tư tưởng của mình, truyền thông, báo chí thực hiện truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, đồng thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua đó, góp phần quan trọng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững an ninh chính trị, xây dựng niềm tin, khơi dậy những nhân tố tích cực trong tư tưởng, tinh thần con người và tạo sự đồng thuận trong quần chúng nhân dân.

Trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ của đất nước hiện nay, bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hóa con người Việt Nam. Lợi dụng sự phát triển của các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch không ngừng thực hiện mưu đồ “xâm lăng văn hóa”, cổ xúy nhiều xu hướng, lối sống lai căng, phản văn hóa, nhất là tác động tới giới trẻ Việt Nam. Bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí một mặt giúp tuyên truyền, quảng bá những nét giá trị văn hóa truyền thống quý báu của con người Việt Nam không chỉ ở trong nước mà còn với bạn bè thế giới; mặt khác, giúp người dùng có thể kết nối, tương tác an toàn thuận tiện trên các không gian, môi trường truyền thông, góp phần thực hiện phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và định hình ngày càng vững chắc hơn những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam hiện đại.

Nếu như thông tin có vai trò ngày càng to lớn và toàn diện đối với xã hội thì rõ ràng, mức độ bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí cũng thể hiện vai trò hết sức toàn diện đối với an ninh con người ở Việt Nam. Nếu những thông tin trên hệ thống truyền thông, báo chí mất an toàn, có thể tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra “hiệu ứng đô-mi-nô”, gây nên hậu quả khôn lường, mà người cuối cùng gánh chịu chính là người dân. Trong trường hợp các cơ quan truyền thông, báo chí bị tấn công, bị chiếm đoạt, đánh cắp tài liệu, bí mật từ hệ thống cơ sở dữ liệu, để đưa lên những thông tin giả, thậm chí kêu gọi, hướng dẫn người dân tiến hành các hoạt động sai phạm, thì sẽ gây rối loạn hệ thống thông tin quốc gia và gây thiệt hại vô cùng to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội.

Phóng viên tác nghiệp tại một sự kiện_Nguồn: congluan.vn

Một số giải pháp trong thời gian tới

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, công tác bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí đã được quan tâm thực hiện ngày càng tốt hơn. Theo đó, số lượng địa chỉ IP trong năm 2023 của Việt Nam nằm trong mạng Botnet tiếp tục giảm liên tục trong 5 năm qua (giảm gần 70% kể từ năm 2018). Năm 2023 cũng là năm đổi mới cách tiếp cận về bảo vệ người dân trên không gian mạng. Gần 125 nghìn nguồn website đã được thiết lập và kết nối, tích hợp với các giải pháp an toàn thông tin mạng. Hệ thống cảnh báo, ngăn chặn tên miền độc hại quốc gia đã chặn 9.073 website vi phạm pháp luật, trong đó có 2.603 website lừa đảo. Bảo vệ hơn 10 triệu người dân khỏi truy cập các website vi phạm, lừa đảo trực tuyến(5). Hiện cả nước có 6 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình(6). Tuy nhiên, đứng trước nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bối cảnh sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay, cần tiến hành nhiều biện pháp nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn an ninh truyền thông, báo chí theo đúng quan điểm của Đảng: “Nâng cao chất lượng, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thông tin, báo chí, internet, xuất bản; tăng cường năng lực quản lý không gian mạng. Xây dựng các cơ quan báo chí, tổ hợp truyền thông chủ lực đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền thiết yếu, làm chủ mặt trận thông tin”(7).

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí. Tập trung quán triệt, triển khai thực hiện các quan điểm, đường lối về công tác tuyên truyền, báo chí, xuất bản, về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đi đôi với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, nhất là một số nghị quyết, chỉ thị như: Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013, của Ban Bí thư, “Về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”; Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 25-12-2013, của Bộ Chính trị, “Về phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên internet”; Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; Chỉ thị số 09/CT-TTg, ngày 31-3-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin thiết yếu của các cơ quan báo chí giai đoạn 2021 – 2025”… Song song với đó, các địa phương, đơn vị cũng cần kịp thời xây dựng, kiện toàn các cơ quan, lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí, để có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ.

Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí. Trước hết cần rà soát, bổ sung, cụ thể hóa hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí, nhất là đối với những vấn đề mới, “nhạy cảm”. Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong bảo vệ an toàn, an ninh truyền thông, báo chí và có chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Tăng cường tiềm lực quản lý an ninh truyền thông, báo chí, đặc biệt là trong việc ngăn chặn, đối phó đối với các hoạt động tấn công làm tê liệt hệ thống thông tin, truyền thông quốc gia; ý đồ sử dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn để thao túng, kích động dư luận xã hội; âm mưu và hoạt động của các đối tượng phản động, chống đối lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để kích động quần chúng tham gia khiếu kiện, biểu tình gây phức tạp về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội… Quản lý chặt chẽ các cơ quan báo chí, nâng cao hiệu quả hoạt động cung cấp thông tin, định hướng dư luận đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các sự kiện lớn, sự kiện phức tạp, nhạy cảm.

Ba là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức, kỹ năng của người dân trong tiếp cận, khai thác thông tin. Tập trung tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về quyền và nghĩa vụ công dân trong hoạt động truyền thông, báo chí, an ninh mạng, giúp họ ý thức được ranh giới giữa quyền tự do ngôn luận, phản biện xã hội với hành vi bình luận, phát ngôn mang tính chất bôi nhọ, thù địch, vi phạm pháp luật. Nâng cao nhận thức của nhân dân về âm mưu chống phá đất nước ta của các thế lực thù địch; động viên và có biện pháp thích hợp huy động nhân dân tham gia bảo vệ an ninh truyền thông, báo chí. Tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng cho nhiều đối tượng, người sử dụng khác nhau những kỹ năng cần thiết, như: kỹ năng kiểm chứng thông tin, lựa chọn, tiếp nhận thông tin, kỹ năng nhận diện, phân biệt thông tin thật - giả, đúng - sai, xây dựng văn hóa ứng xử, giao tiếp trên không gian mạng và các phương tiện truyền thông, báo chí.

Bốn là, chú trọng đào tạo, phát triển và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đi đôi với đẩy mạnh tự chủ về công nghệ, kỹ thuật, cơ sở vật chất bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, chính sách ưu đãi đối với đội ngũ chuyên gia làm việc trong các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí. Hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp và cá nhân tham gia cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực này. Nâng cao chất lượng đào tạo kỹ thuật, công nghệ thông tin, an ninh mạng tại các cơ sở đào tạo. Đầu tư kết cấu hạ tầng hiện đại, xây dựng các quỹ đầu tư, nghiên cứu, phát triển giải pháp bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế về lĩnh vực bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí. Mở rộng liên kết, hợp tác với các quốc gia, tổ chức, tập đoàn có trình độ phát triển cao. Tham gia các công ước, thỏa thuận quốc tế về bảo đảm an toàn, an ninh mạng, phòng, chống tội phạm mạng phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bảo đảm an ninh truyền thông, báo chí là vấn đề cấp thiết và có vai trò ngày càng quan trọng đối với bảo đảm an ninh con người ở Việt Nam hiện nay, cần kíp phải xây dựng chiến lược và triển khai đồng bộ các giải pháp có tính khả thi cao, bằng nhiều hình thức khác nhau, thiết thực góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay./.

---------------------------

(1) United Nations Development Programme (UNDP), Human Developmemt Report 1994, Oxford University Press, New York, 1994, p. 23
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 135
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 156
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 12, tr. 558
(5) NK, “Doanh thu toàn ngành thông tin và truyền thông năm 2023 cán mốc hơn 3,74 triệu tỷ đồng”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2023, https://dangcongsan.vn/kinh-te-va-hoi-nhap/doanh-thu-toan-nganh-thong-tin-va-truyen-thong-nam-2023-can-moc-hon-3-74-trieu-ty-dong-656791.html
(6) “Số liệu về các cơ quan báo chí Việt Nam năm 2023”, Thông tấn xã Việt Nam, 2022, https://infographics.vn/so-lieu-ve-cac-co-quan-bao-chi-viet-nam-nam-2023/209747.vna
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr. 272

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

 Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là chủ trương chiến lược, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần tăng cường sức mạnh quốc phòng cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai thăm hỏi nhân dân xã miền núi Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình_Nguồn: thanhnien.vn

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là quan điểm cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nền quốc phòng của nước ta, thuộc trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Thực tiễn sự nghiệp đổi mới gần 40 năm qua cho thấy, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện, lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, tăng cường; công tác giáo dục quốc phòng và an ninh được chú trọng; kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề huy động các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh về chính trị, sức chiến đấu ngày càng cao, từng bước tiến lên hiện đại, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố được xây dựng ngày càng vững chắc; hệ thống công trình phòng thủ biển, đảo, biên giới, địa bàn chiến lược trọng yếu từng bước hoàn thiện; việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng cơ sở chính trị được chú trọng; thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được gắn kết khá chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong từng ngành, địa bàn và cả nước. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, đó là: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc còn hạn chế; việc kết hợp kinh tế với quốc phòng tại các địa bàn chiến lược, biển, đảo còn có mặt chưa chặt chẽ; sự phối hợp giữa các lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ có lúc, có nơi hiệu quả chưa cao; việc nắm, dự báo, xử lý tình huống về quốc phòng, an ninh ở một số địa phương, cơ sở có lúc còn bị động, bất ngờ, thậm chí có nội dung chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Dự báo trong thời gian tới, tình hình an ninh, chính trị thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, diễn biến nhanh, khó đoán định. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ gia tăng, khó kiểm soát. Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm gia tăng xung đột. Trong nước, “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt sẽ còn diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống; những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội sẽ còn diễn biến phức tạp; phân cực giàu - nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng”(1), nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi, sẽ trở thành nhân tố trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, quân đội, ảnh hưởng đến sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước bối cảnh, tình hình mới, cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo định hướng sau:

Về mục tiêuPhát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; không ngừng nâng cao sức mạnh phòng thủ đất nước, ngăn ngừa, phòng, chống, sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Về quan điểm:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Đây là quan điểm lớn, nhất quán, chủ đạo trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng đề ra đường lối và quyết định các vấn đề liên quan đến quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đảng lãnh đạo, đề ra chủ trương, đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước quản lý quốc phòng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước quản lý, điều hành xây dựng nền quốc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại, chủ động hội nhập quốc tế. Đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển nền quốc phòng toàn dân. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại, không ngừng tăng cường tiềm lực đất nước; đặc biệt coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, văn hóa; xây dựng cơ sở chính trị - xã hội; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước; tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; khai thác tối đa và tận dụng có hiệu quả mọi tiềm năng lao động, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ sở vật chất kỹ thuật của cả nư­ớc, của quân đội; đồng thời, tranh thủ sự hợp tác của các tổ chức quốc tế, khu vực và của các n­ước; sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực từ bên ngoài và các điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân bằng sức mạnh tổng hợp của đất nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là quan điểm chỉ đạo cơ bản trong xây dựng sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nắm vững mục tiêu phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc... Xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang và chiến tranh, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Đây là quan điểm chỉ đạo bảo đảm sự chủ động trong các tình huống chiến lược, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Chủ động phòng ngừa, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị tạo sức mạnh “nội lực” bảo vệ và giữ vững bên trong là chính; chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để tạo sức mạnh “ngoại lực” bảo đảm quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố, nhất là các nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động, tích cực ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang và chiến tranh là một trong các nhiệm vụ quốc phòng trọng yếu trong thời bình; nhằm thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc tối ưu là bảo vệ được chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa và các lợi ích quốc gia - dân tộc. Xây dựng sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... nhằm triệt tiêu các nguyên nhân dẫn đến xung đột vũ trang và chiến tranh; đồng thời, chuẩn bị đầy đủ về tiềm lực, lực lượng, thế trận dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước do toàn thể nhân dân thực hiện, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Xây dựng ngay từ thời bình, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân đánh thắng mọi hình thái chiến tranh của kẻ thù trong mọi tình huống.

Về nội dung:

Một là, xây dựng tiềm lực quốc phòng, tập trung vào những nội dung sau:

(i) Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần. Tập trung xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tinh thần cảnh giác cách mạng; xây dựng nền văn hóa, các giá trị đạo đức; tăng cường các mối quan hệ quốc tế. Xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục quốc phòng cho lực lượng vũ trang và toàn dân; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đội ngũ cán bộ các cấp. Giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng, Nhà nước; phát huy dân chủ rộng rãi, công bằng, văn minh; tạo sự đồng thuận xã hội trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; chủ động ngăn ngừa, phòng, chống, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

(ii) Xây dựng tiềm lực kinh tế. Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao hiệu quả kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng; kết hợp từ chiến lược đến quy hoạch, kế hoạch của quốc gia, ngành nghề, vùng, miền. Phát huy kinh tế nội lực, kinh tế số, tăng cường dự trữ cơ sở vật chất, đầu tư có trọng điểm cho quốc phòng, nhất là việc đầu tư sản xuất, mua sắm vũ khí, trang bị hiện đại cho lực lượng vũ trang. Gắn xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số của nền kinh tế với xây dựng hạ tầng, chuyển đổi số của nền quốc phòng toàn dân. Phát huy thế mạnh kinh tế của từng vùng, miền, địa phương và liên kết kinh tế giữa các vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế. Phát triển kinh tế gắn với coi trọng bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phòng thủ dân sự, tăng cường củng cố quốc phòng. Nâng cao hiệu quả xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các đoàn kinh tế - quốc phòng trên một số vùng chiến lược, biên giới, biển, đảo. Phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đáp ứng yêu cầu bảo đảm vũ khí, trang bị, sản xuất được một số loại vũ khí, trang bị hiện đại, vũ khí chiến lược cho quân đội, dân quân tự vệ...

(iii) Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ. Kết hợp phát triển khoa học - công nghệ quốc gia với xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ quốc phòng. Nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ mới, hiện đại và công nghệ số trong sản xuất, bảo đảm vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật; khoa học quân sự; nghệ thuật quân sự, tổng kết chiến tranh... Đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, sử dụng đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học, kỹ thuật cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng. Tăng cường đầu tư, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển khoa học - công nghệ quân sự, quốc phòng. Mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam, đáp ứng phát triển khoa học - công nghệ quốc gia, khoa học - công nghệ quân sự, quốc phòng.

(iv) Xây dựng tiềm lực quân sự. Xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; lực lượng dự bị động viên hùng hậu; lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền. Chú trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Gắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với quá trình xây dựng tiềm lực quân sự; bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, vũ khí, trang bị, phương tiện cho các lực lượng vũ trang, nhất là quân đội nhân dân. Gắn xây dựng tiềm lực quân sự với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng các tiềm lực khác bảo đảm huy động tạo thành sức mạnh quân sự, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hai là, xây dựng lực lượng quốc phòng. Nền quốc phòng toàn dân Việt Nam dựa vào sức mạnh tổng hợp, toàn diện của quốc gia, dân tộc, nên lực lượng quốc phòng bao gồm lực lượng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Theo đó, cần tập trung xây dựng, củng cố vững chắc hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; trong đó trọng tâm là xây dựng và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân, của cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị các cấp. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển, đảo; đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cả trong thời bình và thời chiến.

Ba là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Cần tập trung xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc thành một thể thống nhất để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quy hoạch, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân luôn gắn với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và các quy hoạch khác; kết hợp chặt chẽ giữa phân vùng kinh tế với phân vùng chiến lược quốc phòng và xây dựng hậu phương chiến lược. Xây dựng thế trận phòng thủ quân khu, xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Xây dựng hệ thống chính trị các cấp vững mạnh, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc.

Bộ đội Biên phòng Trường Sa hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển_Nguồn: vietnamplus.vn

Để tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Viêt Nam xã hội chủ nghĩa, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với quốc phòng.

Quốc phòng là lĩnh vực hoạt động liên quan trực tiếp đến sự an - nguy, thịnh - suy, mất - còn của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, nên cần thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, Nhà nước quản lý, điều hành tập trung, thống nhất đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng thống nhất, đồng bộ cơ cấu tổ chức đảng trong lãnh đạo công tác quốc phòng từ Trung ương đến địa phương. Bổ sung các nội dung lãnh đạo về quốc phòng, cơ chế hoạt động và trách nhiệm phối hợp của từng cấp, ngành, địa phương liên quan đến hoạt động quốc phòng, đặc biệt khi xử lý các tình huống phức tạp. Nhà nước cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thành pháp luật, nghị định và tổ chức chỉ đạo thực hiện các kế hoạch về quốc phòng gắn với chương trình, kế hoạch xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh công tác quy hoạch về quốc phòng và phổ biến tới các bộ, ngành, địa phương tạo sự thống nhất thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng.

Thứ hai, tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn dân, cả hệ thống chính trị về thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục phổ biến nâng cao nhận thức và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tăng cư­­ờng sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, phát huy vai trò của các ban, ngành, đoàn thể, tạo sức mạnh tổng hợp và sự thống nhất, đồng bộ trong triển khai thực hiện công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng. Tiếp tục đổi mới chương trình, giáo trình, tài liệu giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng phù hợp với từng đối t­­ượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp. Phát huy tốt vai trò tham m­­ưu, tư­­­ vấn giúp các cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Thứ ba, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng vững chắc xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc sẽ tạo nên sức mạnh chính trị, quân sự, quốc phòng, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc chính là quy tụ lòng người, tạo đồng thuận, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; quy tụ được lực lượng vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Nhân dân là lực lượng đông đảo, được tổ chức chặt chẽ tham gia xây dựng, quản lý, bảo vệ các công trình quân sự, quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của các địa phương, trên các vùng, miền của đất nước.     

Thứ tư, kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, đối ngoại với tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng.

Trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, đối ngoại của quốc gia, từng ngành và từng địa phương phải luôn kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ và đối ngoại; chú trọng trên hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo; hình thành các khu vực chiến lược vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ..., việc triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng, bố trí các công trình kinh tế, kỹ thuật, văn hóa... có quan hệ rất lớn đến thế trận quốc phòng toàn dân. Do vậy, việc quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ... phải luôn chú trọng kết hợp chặt chẽ với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; củng cố, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ năm, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả thời bình và khi có chiến tranh.

Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, nhất là nghị quyết của Trung ương về nhiệm vụ chiến lược  bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhằm xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng... Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và của các địa phương. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo. Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự chủ, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại để bảo đảm tự chủ và tăng cường vũ khí trang bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại cho quân đội nhân dân, dân quân tự vệ.

Thứ sáu, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, chủ động tạo môi trường hòa bình, ổn định và lợi thế cho xây dựng, củng cố quốc phòng.

Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng; phát huy hiệu quả hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong đó có đối ngoại quốc phòng. Xây dựng tiềm lực và thế trận đối ngoại gắn kết với thiết lập thế trận quốc phòng liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với đối ngoại để thực hiện tốt phương châm chỉ đạo chiến lược “trong ấm, ngoài êm” bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; tạo môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường sức mạnh quốc phòng.

Việc đề xuất định hướng về mục tiêu, quan điểm, nội dung, nhiệm vụ, giải pháp là nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả và hướng tới xây dựng một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045./.

--------------------------

(1) Xem: Toàn văn phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-tieu-diem/-/asset_publisher/s5L7xhQiJeKe/content/trung-uong-thong-nhat-ban-hanh-cac-nghi-quyet-va-quyet-nghi-mot-so-noi-dung-quan-trong-khac-gop-phan-tao-ra-khi-the-moi-xung-luc-moi-cho-su-nghiep-doi