Thứ Tư, 15 tháng 5, 2024

Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật một số tổ chức Đảng, đảng viên.

 Ngày 14/5/2024, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã xem xét, thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm, khuyết điểm.

Sau khi xem xét đề nghị của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhận thấy:

1. Đối với vi phạm của Ban Thường vụ Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010 - 2015 và các cá nhân có liên quan

Ban Thường vụ Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong công tác quản lý nhà nước về quản lý, sử dụng đất, tài chính, tài sản, đầu tư, quy hoạch, xây dựng trên địa bàn, kéo dài qua các thời kỳ, gây hậu quả nghiêm trọng; nguy cơ thiệt hại, thất thoát rất lớn tiền, tài sản của Nhà nước và nguồn lực xã hội, để xảy ra các vụ án hình sự nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, nhiều tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, xử lý hình sự, gây dư luận bức xúc, làm giảm uy tín của tổ chức đảng và chính quyền Thành phố.

Sau khi xem xét đề nghị của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật các tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm thuộc thẩm quyền. 

Đồng chí Lê Thanh Hải, nguyên: Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương, Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm tại Đảng bộ, Chính quyền Thành phố, gây hậu quả rất nghiêm trọng, nguy cơ thiệt hại, thất thoát, lãng phí rất lớn tiền, tài sản của Nhà nước, để xảy ra nhiều vụ án hình sự, trong đó có vụ án rất nghiêm trọng, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, bị kỷ luật, xử lý hình sự, gây dư luận xấu, bức xúc, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tổ chức đảng và chính quyền Thành phố.

Các đồng chí: Lê Hoàng Quân, nguyên: Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành uỷ, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thành Phong, nguyên: Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành uỷ, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương, Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả nghiêm trọng, nguy cơ thiệt hại, thất thoát, lãng phí rất lớn tiền, tài sản của Nhà nước, để xảy ra nhiều vụ án hình sự nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, bị kỷ luật, xử lý hình sự, gây dư luận bức xúc, làm giảm uy tín của tổ chức đảng và chính quyền Thành phố.

2. Đối với vi phạm của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, Quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát để Đảng đoàn Hội đồng nhân dân, Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2016 - 2021 có nhiều vi phạm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các dự án/gói thầu liên quan đến Công ty cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC), "hệ sinh thái" AIC, Công ty cổ phần Tập đoàn FLC và tại một số dự án sử dụng đất, gây hậu quả nghiêm trọng, nguy cơ thiệt hại rất lớn về tiền, tài sản của Nhà nước, dư luận bức xúc, làm giảm uy tín của tổ chức đảng và chính quyền địa phương.

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, Quy chế làm việc, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong công tác cán bộ, giảm sút sức chiến đấu; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục, dư luận bức xúc. Ban Thường vụ, trực tiếp là Thường trực Tỉnh uỷ để doanh nghiệp lũng đoạn, chi phối, can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế - xã hội và công tác cán bộ; Thường trực Tỉnh uỷ mất đoàn kết nghiêm trọng; nhiều cán bộ, đảng viên trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, nhận hối lộ, bị kỷ luật, xử lý hình sự làm giảm uy tín của tổ chức đảng và chính quyền địa phương.

3. Đối với vi phạm của một số đảng viên tại các Đảng bộ: Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Gia Lai, Văn phòng Chính phủ, Cơ quan Văn phòng Quốc hội

Các đồng chí: Dương Văn Thái, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang; Mai Tiến Dũng, nguyên: Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Phạm Thái Hà, Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ Cơ quan, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Trợ lý Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Văn Khước, Tỉnh uỷ viên, Uỷ viên Ban cán sự đảng, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; Lê Tuấn Hồng, nguyên: Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; Hồ Văn Điềm, nguyên: Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vi phạm Quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương, gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận bức xúc, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tổ chức đảng, chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm của các tổ chức đảng và các cá nhân nêu trên; theo Quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật Cảnh cáo: Ban Thường vụ Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2010 - 2015; Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc các nhiệm kỳ 2015 - 2020, 2020 - 2025 và các đồng chí: Lê Hoàng Quân, Nguyễn Thành Phong; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thi hành kỷ luật Khai trừ ra khỏi Đảng các đồng chí Dương Văn Thái và Mai Tiến Dũng, xem xét thi hành kỷ luật đồng chí Lê Thanh Hải. Ban Bí thư quyết định Khai trừ ra khỏi Đảng các đồng chí: Phạm Thái Hà, Nguyễn Văn Khước, Lê Tuấn Hồng và Hồ Văn Điềm.

Đề nghị các cơ quan chức năng thi hành kỷ luật hành chính kịp thời, đồng bộ với kỷ luật đảng.

Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội sẽ xem xét 39 nội dung.

 Dự kiến tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội sẽ xem xét 39 nội dung, trong đó, có 24 nội dung thuộc công tác lập pháp; 15 nội dung về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, giám sát và các vấn đề quan trọng khác.

Sáng 15/5, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về chuẩn bị Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV.

 Tổng Thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường báo cáo về việc chuẩn bị Kỳ họp thứ 7 (Ảnh: QH)

Báo cáo về việc chuẩn bị Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV, Tổng Thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường cho biết, dự kiến tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội sẽ xem xét 39 nội dung, trong đó, có 24 nội dung thuộc công tác lập pháp; 15 nội dung về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, giám sát và các vấn đề quan trọng khác. 

Dự kiến tổng thời gian làm việc của Quốc hội là 26 ngày; khai mạc vào ngày 20/5/2024 và dự kiến bế mạc vào chiều ngày 27/6/2024 (trong đó Quốc hội làm việc thứ Bảy ngày 25/5 và thứ Bảy ngày 08/6). 

Quốc hội sẽ họp tập trung tại Nhà Quốc hội; Kỳ họp tiến hành theo 02 đợt. Cụ thể, đợt 1: từ ngày 20/5 đến ngày 08/6/2024; đợt 2: từ ngày 17/6 đến ngày 27/6/2024; dự phòng ngày 28/6/2024.

Giải trình về một số vấn đề theo ý kiến của đại biểu Quốc hội, ông Bùi Văn Cường cho biết, có ý kiến đề nghị cân nhắc thời điểm thông qua dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) do chính sách bảo hiểm xã hội là chính sách đi sau cải cách tiền lương (trong khi cải cách tiền lương sẽ được thực hiện từ ngày 01/7/2024); ý kiến khác đề nghị lùi thời điểm trình Quốc hội thông qua dự án Luật này sang Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV. 

Tổng Thư ký Quốc hội nhận thấy, dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đã được UBTVQH chỉ đạo các cơ quan phối hợp chặt chẽ để hoàn thiện, bảo đảm được đa số đồng thuận trước khi trình Quốc hội; “đánh giá kỹ tác động của cải cách chính sách tiền lương đối với lương hưu của người nghỉ hưu trước và sau ngày 01/7/2024; những người có mức lương hưu thấp, nhất là nhóm nghỉ hưu trước năm 1995”; “trình Quốc hội xem xét việc thông qua dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 7 nếu bảo đảm đủ điều kiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật”. 

Do đó, Tổng Thư ký Quốc hội đề nghị trong dự kiến Chương trình Kỳ họp vẫn thể hiện quy trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật này; trường hợp qua thảo luận còn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa đạt được sự đồng thuận cao thì UBTVQH sẽ xem xét báo cáo Quốc hội quyết định điều chỉnh thời điểm thông qua đối với dự án Luật này theo ý kiến của đại biểu Quốc hội.

Cũng theo Tổng Thư ký Quốc hội, có ý kiến cho rằng việc thực hiện cải cách tiền lương bắt đầu triển khai từ ngày 01/7/2024, nhưng đến nay chưa có Đề án và chưa bố trí trong chương trình Kỳ họp là chậm, trường hợp trình Quốc hội tại Kỳ họp này sẽ không đủ thời gian để các Ủy ban tiến hành thẩm tra.

Về vấn đề này, Tổng Thư ký Quốc hội khẳng định, để triển khai kịp thời, hiệu quả phương án cải cách chính sách tiền lương từ ngày 01/7/2024, hiện nay, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ đang chỉ đạo các cơ quan khẩn trương xây dựng và hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về chế độ tiền lương mới đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện, các ngành Tòa án, Kiểm sát, Kiểm toán và dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang…
 
Tổng Thư ký Quốc hội cho biết, thời gian qua, các cơ quan hữu quan đã tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ để chuẩn bị các nội dung bảo đảm yêu cầu để kịp trình Quốc hội. Đến thời điểm này các nội dung của kỳ họp đã được UBTVQH xem xét, cho ý kiến.

Mặc dù công tác chuẩn bị kỳ họp đã được UBTVQH chỉ đạo sát sao, các cơ quan hữu quan chuẩn bị từ sớm nhưng hiện nay, trừ các nội dung được UBTVQH xem xét, cho ý kiến tại phiên họp này, nhiều báo cáo thẩm tra và tài liệu một số dự án Luật trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp đang tiếp tục được hoàn thiện. Do đó, Tổng Thư ký Quốc hội đề nghị các cơ quan hữu quan khẩn trương hơn nữa để hoàn tất việc chuẩn bị các nội dung, kịp gửi tài liệu đến đại biểu Quốc hội trước khi khai mạc Kỳ họp.

Những thành tựu lý luận lớn của Đảng qua gần 40 năm đổi mới.

 Những thành tựu lý luận lớn của Đảng qua gần 40 năm đổi mới thể hiện sự kiên định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Theo đó, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là cần tăng cường tổng kết những thành tựu lý luận của Đảng, nhằm góp phần phát triển, hoàn thiện, nâng tầm lý luận của Đảng, nhất là những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đặc thù, riêng có ở Việt Nam, hướng đến thực hiện thắng lợi những mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đến nay thu được những thắng lợi, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đưa đất nước ta từ một nước nghèo trên thế giới trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Đất nước ta được xây dựng ngày càng đàng hoàng hơn, đời sống của nhân dân ta ngày càng được cải thiện căn bản, toàn diện hơn, vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Có được những thành tựu to lớn, đáng tự hào đó, là do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là do Đảng ta đã kiên định vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam; thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn phát triển của từng thời kỳ, dẫn dắt dân tộc ta vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không ngừng đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Từ thực tế xây dựng, phát triển đất nước và quá trình nhận thức lý luận của Đảng ta qua gần 40 năm đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN, có thể tổng kết những thành tựu lý luận lớn của Đảng ta với những nội dung chính yếu sau:

Một là, xác định, bổ sung, định hình ngày càng rõ hơn nội dung các đặc trưng của CNXH Việt Nam trên cơ sở nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ lên CNXH trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Trong quá trình đổi mới, Đảng đã xác định mô hình CNXH bao gồm 6 đặc trưng, rồi tiếp tục bổ sung, phát triển thành 8 đặc trưng, thể hiện những bước phát triển không ngừng trong nhận thức lý luận của Đảng về mô hình CNXH, đồng thời cũng là mục tiêu của CNXH Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), được thông qua tại Đại hội XI của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam, đã khẳng định xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: 1- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2- Do nhân dân làm chủ; 3- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; 4- Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng; 7- Có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; 8- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Với tinh thần và tư duy biện chứng về phát triển xã hội, Đảng ta quan niệm: Tiến lên CNXH là một quá trình vận động, chuyển hóa liên tục, không ngừng phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Các đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu xây dựng cũng sẽ luôn luôn vận động, chuyển hóa và phát triển không ngừng. Do vậy, từ nay đến năm 2030 và năm 2045, các đặc trưng của xã hội XHCN Việt Nam chắc chắn sẽ có những bổ sung mới về chất, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng CNXH ở trình độ cao hơn nhiều.

Có được việc xác lập đúng đắn các đặc trưng của mô hình CNXH đặc thù riêng có của Việt Nam là xuất phát từ sự nhận thức sâu sắc về thời kỳ quá độ lên CNXH trong điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta. Vượt qua những giáo điều, hạn chế do điều kiện khách quan ở thời kỳ bao cấp, với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta đã trở về với căn nguyên của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhìn nhận đánh giá một cách khách quan những vấn đề thực tiễn đang đặt ra để định hình những nhận thức lý luận quan trọng về thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đó chính là cơ sở để Đảng ta có những quyết sách về đường lối thể hiện trong các đặc trưng mô hình CNXH Việt Nam, trong đó có những vấn đề, nội dung mang tính chất đột phá, như đặc trưng tổng quát, đặc trưng về kinh tế, đặc trưng về Nhà nước.

Hai là, Đảng ta đã tiến hành đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo lý luận CNXH khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới, xác lập mục tiêu phát triển trong xây dựng CNXH.

Sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá độ lên CNXH là kết quả của quá trình đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn và sự vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển lý luận của CNXH khoa học, những luận điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam trong mỗi thời kỳ phát triển.

Đại hội VI của Đảng là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp cách mạng XHCN của nhân dân ta. Trên cơ sở những thành tựu đổi mới từ Đại hội VI của Đảng, Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Đây là văn kiện quan trọng mang tầm định hướng chiến lược. Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1986 đến nay tiếp tục nhất quán với mục tiêu và con đường ấy; vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng, hình thành nhận thức mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phù hợp với bối cảnh quốc gia và thời đại ngày nay. Qua mỗi kỳ đại hội, Đảng ta lại có bước phát triển mới về vấn đề căn cốt này trên cơ sở tổng kết việc thực hiện mục tiêu CNXH và bảo đảm định hướng XHCN, định hình từng bước mục tiêu, giá trị CNXH trong quá trình đổi mới, phát triển đất nước. Đánh giá chung về 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(1).

Đại hội XIII của Đảng hướng tầm nhìn xa hơn đến giữa thế kỷ XXI, phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN, xác định mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể phải hoàn thành cho mỗi chặng đường. Các mục tiêu hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên họp đầu tiên Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng _Ảnh: TTXVN

Ba là, tổng kết, kế thừa, làm rõ phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Cương lĩnh năm 1991 đã đề ra 7 phương hướng cơ bản và cũng là nội dung cần thiết của cách mạng XHCN và xây dựng CNXH trong thời kỳ đổi mới. Cách xác định phương hướng cơ bản xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong Cương lĩnh năm 1991 đã đề cập, bao hàm cả phương hướng phát triển. Sau đó, Đại hội X của Đảng (năm 2006), qua tổng kết 20 năm đổi mới, đã cân nhắc, xác định 8 phương hướng nhưng gọn hơn(2).

Kế thừa tinh thần của Đại hội X, tại Đại hội XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ hơn mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thông qua việc bổ sung, phát triển các phương hướng cơ bản. Cương lĩnh năm 2011 viết: “Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây: Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”(3).

Tám phương hướng cơ bản nêu trên đã thể hiện tính hệ thống, đồng bộ của con đường đi lên CNXH ở nước ta, vừa đúng xu thế thời đại, vừa phù hợp với thực tiễn Việt Nam và tiếp tục được bổ sung, cụ thể hóa trong các văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng.

Khái quát toàn bộ phương hướng cơ bản xây dựng CNXH trong gần 40 năm đổi mới cho thấy, sau mỗi kỳ đại hội, trên cơ sở thực tiễn thực hiện phương hướng xây dựng CNXH trên từng lĩnh vực cơ bản, Đảng lại có sự bổ sung, phát triển lý luận về phương hướng rất rõ rệt và ngày càng sâu sắc, đầy đủ, toàn diện hơn trên tất cả lĩnh vực. Đây là sự tìm tòi, đổi mới và cống hiến lý luận của Đảng nhằm mục tiêu phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN, phục vụ nhân dân trong bối cảnh mới.

Bốn là, phát hiện và xác định các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình thực hiện các phương hướng xây dựng, phát triển đất nước.

Ngoài các phương hướng xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Cương lĩnh năm 2011 còn bổ sung nội dung về việc nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: “quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”(4).

Đến Đại hội XII của Đảng (năm 2016), Đảng ta đã bổ sung mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ, đó là quan hệ giữa nhà nước và thị trường; đồng thời, đã điều chỉnh mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN thành quan hệ giữa tuân theo quy luật của thị trường với bảo đảm định hướng XHCN; đến Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường được bổ sung thành quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng bổ sung mối quan hệ lớn thứ mười là: mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Đến nay, Đảng ta đã xác định 10 mối quan hệ lớn cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt trong quá trình xây dựng CNXH Việt Nam; cụ thể là các quan hệ: 1- Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; 2- Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; 3- Giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; 4- Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; 5- Giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; 6- Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; 7- Giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; 8- Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; 9- Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; 10- Giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội(5).

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng nhấn mạnh, đó là các mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, hiệu quả(6). Mười mối quan hệ lớn là sự khái quát cao nhận thức lý luận của Đảng về thời kỳ quá độ lên CNXH, góp phần làm sáng rõ thêm các quy luật xây dựng CNXH Việt Nam nói chung, quy luật cầm quyền khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

Năm là, hình thành khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” là sự đổi mới căn bản nhận thức, sự đột phá trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH ở nước ta.

Tinh thần đổi mới đã được thể hiện trong Cương lĩnh năm 1991 và Văn kiện Đại hội VII của Đảng, khi Đảng chỉ rõ: xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; đồng thời, cũng cụ thể hóa khái niệm chế độ công hữu, xác định rõ, đó chỉ là công hữu “về các tư liệu sản xuất chủ yếu”. Đến Đại hội IX của Đảng, khái niệm “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” được khẳng định dứt khoát với quan niệm rằng, “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(7).

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Việt Nam thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

Đất nước ta sau gần 40 năm đổi mới đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới, từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường hiện đại, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo định hướng XHCN, xây dựng nền dân chủ XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; nhờ đó, mức sống và chất lượng sống của nhân dân được nâng cao hơn nhiều lần so với vài thập niên trước đây.

Khai mạc Năm Du lịch quốc gia - Điện Biên và Lễ hội Hoa Ban năm 2024 _Nguồn: chinhphu.vn

Sáu là, nhận thức ngày càng toàn diện hơn, sâu sắc hơn về động lực và nguồn lực xây dựng CNXH mang bản sắc Việt Nam, đặc biệt là đề cao vai trò của văn hóa với tư cách là sức mạnh nội sinh, xung lực quan trọng của quá trình phát triển đất nước.

Trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã xác định và chỉ rõ những động lực chủ yếu để xây dựng CNXH Việt Nam, bao gồm phát huy dân chủ XHCN; đại đoàn kết toàn dân tộc; văn hóa (mà cốt lõi là phát huy nhân tố con người); kết hợp hài hòa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, quan tâm lợi ích thiết thân của con người; giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; công bằng xã hội, đổi mới sáng tạo. Đó là kết quả của quá trình tìm tòi, nghiên cứu lý luận, gắn với tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH để điều chỉnh nhận thức, bổ sung và phát triển lý luận cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới.

Tinh thần ấy tiếp tục được kế thừa, khẳng định và hiện thực hóa qua các kỳ Đại hội lần thứ XI, XII của Đảng. Đến Đại hội XIII của Đảng, quan điểm về 3 động lực phát triển được coi là một trong những điểm mới nổi bật. Theo đó, Đảng ta nhấn mạnh tới “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(8); phát huy dân chủ XHCN, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó có nguồn lực nội sinh, tạo động lực mới cho quá trình phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, tư duy lý luận của Đảng về nguồn lực nội sinh được phát triển theo hướng nhấn mạnh đến vai trò ngày càng lớn của văn hóa trong bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Lần đầu tiên, tại Đại hội XIII của Đảng, giá trị văn hóa trở thành một nội dung quan trọng trong ba “đột phá chiến lược”, là điểm khác so với trước đây khi chỉ đề cập đến đột phá về kinh tế là chính. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra nhiệm vụ mới cần thực hiện, mà trước đó mới chỉ dừng lại như một sự gợi mở, định hướng, đó là “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”(9).

Bảy là, tập trung xác lập mục tiêu, hệ giá trị nhân văn của CNXH Việt Nam trong bối cảnh mới; xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường trong từng bước phát triển.

Trong bài viết rất quan trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ một cách đầy thuyết phục về mục tiêu và đồng thời cũng là những giá trị nhân văn, đích thực của CNXH Việt Nam: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và huỷ hoại môi trường”(10).

Đảng chủ trương “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển và từng chính sách” trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Yêu cầu “tiến bộ và công bằng” được triển khai bao quát toàn diện các lĩnh vực xã hội, từ giáo dục, y tế, gia đình, môi trường, xóa đói, giảm nghèo, đến an sinh, phúc lợi xã hội, thể dục - thể thao, văn hóa giải trí, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm quyền con người, phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội. Nhà nước giữ vai trò trung tâm, đồng thời huy động mọi nguồn lực xã hội cùng tham gia việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm cho mọi người dân được thụ hưởng xứng đáng, công bằng thành tựu của phát triển và đổi mới, tạo lập một xã hội văn minh, hài hòa, phấn đấu mang lại hạnh phúc ngày càng nhiều hơn, cuộc sống ngày càng ấm no hơn cho nhân dân.

Tám là, phát triển lý luận về quốc gia - dân tộc hiện đại và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng nặng nề, phức tạp hơn trong giai đoạn phát triển mới.

Những thành tựu phát triển lý luận của Đảng về phương hướng cơ bản đi lên CNXH ở Việt Nam và các mối quan hệ lớn cần nhận thức và giải quyết tốt trong công cuộc đổi mới, thời kỳ quá độ lên CNXH đã được cụ thể hóa và vận dụng vào hoạch định và thực thi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước qua từng giai đoạn cụ thể trong suốt thời kỳ đổi mới và đã mang lại những thành tựu vô cùng to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Yêu cầu đặt ra ở tầm lý luận là cần bổ sung những nhận thức mới về quốc gia - dân tộc hiện đại, như chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng, lợi ích cơ bản của quốc gia - dân tộc; chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán phù hợp với luật pháp quốc tế trong lợi ích chiến lược; hòa bình, hợp tác, tự do, an toàn hàng hải, hàng không trong lợi ích phát triển; hình thái đa quốc tịch của dân cư thời kỳ toàn cầu hóa; trách nhiệm quản trị toàn cầu, tự quản xã hội trong tương quan với quản trị của Nhà nước.

Một trong những thành tựu nhận thức lý luận nổi bật của Đảng trên lĩnh vực này là về “đối tượng” và “đối tác”. Đối tượng và đối tác trong tình hình mới phải theo diễn biến tình hình, trong đối tác có mặt có thể đấu tranh, trong đối tượng có mặt có thể hợp tác. Đấu tranh để thúc đẩy hợp tác, giảm thiểu mặt khác biệt, xung đột; hợp tác bằng thái độ chân thành, tôn trọng lợi ích chính đáng, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhưng cảnh giác với mọi thỏa hiệp giữa các nước lớn gây tổn hại lợi ích của Việt Nam. Đấu tranh phải kiên trì, kiên quyết, nhưng mềm dẻo, linh hoạt, bằng nhiều phương pháp khác nhau, mục đích là để giữ vững hòa bình, thúc đẩy hợp tác, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.

Tổng kết thực tiễn, Đảng đã đúc kết thành chiến lược: Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, dựa vào sức mạnh tổng hợp. Sức mạnh tổng hợp là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh của quân đội nhân dân và công an nhân dân làm nòng cốt, ngày càng được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tạo ra khả năng răn đe cần thiết, bảo đảm triệt tiêu các nguy cơ từ sớm, từ xa, từ gốc, bảo vệ hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh; sức mạnh của nền văn hóa Việt Nam; sức mạnh của nền kinh tế liên tục tăng trưởng; sức mạnh của chính nghĩa, tận dụng, tranh thủ các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình, bảo vệ công lý, bảo vệ luật pháp quốc tế trên thế giới.

Sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc (ảnh: Nguyễn Văn Đông) _Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Chín là, lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ngày càng được củng cố, phát triển nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, tăng cường thực hành dân chủ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xác định bởi thuộc tính bản chất, trở thành nguyên tắc trong thiết kế mô hình nhà nước ta, đó là: Tất cả quyền lực là của nhân dân, thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước tập trung thống nhất bởi nhân dân, không phân chia quyền lực, càng không phải “dùng quyền lực để đối trọng quyền lực”. Quyền lực tập trung thống nhất, không phân chia, nhưng trong cơ cấu quyền lực nhà nước phải có sự phân công, phối hợp  kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm sự thống nhất, đồng quy về một mục tiêu “thực hiện và bảo vệ quyền lực của nhân dân”. Mục tiêu căn bản của công cuộc đổi mới nói chung, của đổi mới chính trị và đổi mới hệ thống chính trị nói riêng ở nước ta chính là xây dựng nền dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Theo đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Khái niệm “Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được sử dụng trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994). Tuy nhiên, đến Đại hội IX của Đảng (năm 2001), “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” mới được coi là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược và xuyên suốt của thời kỳ quá độ lên CNXH. Tinh thần này được khẳng định trong Văn kiện Đại hội X, XI, XII của Đảng, khi Đảng ta coi “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo” là một trong 8 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Những nội dung về xây dựng Nhà nước được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện những bước tiến quan trọng của Đảng về quan điểm, nhận thức lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Đại hội XIII của Đảng khẳng định, “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(11). Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII đánh giá: “Mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(12).

Mười là, phát triển hơn nữa lý luận về vai trò, sứ mệnh của Đảng, đặc biệt là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Qua gần 40 năm đổi mới, hệ thống lý luận của Đảng xác định ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò của từng lĩnh vực trong tổng thể đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên; xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Sở dĩ xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, bởi có xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, Đảng mới đưa ra và tổ chức thực hiện thành công đường lối chính trị đúng đắn, xử lý thỏa đáng và kịp thời những vấn đề do công cuộc đổi mới đất nước đặt ra, xứng đáng với vai trò của một đảng duy nhất cầm quyền, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Đóng vai trò then chốt, do đó công tác xây dựng Đảng thành công sẽ quyết định đến toàn bộ sức mạnh của hệ thống chính trị, đến toàn bộ sự nghiệp đổi mới và giữ vững định hướng XHCN. Xây dựng Đảng, vì thế trở thành khâu đột phá, mở đường cho mọi đổi mới trên các lĩnh vực khác. Các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương cùng các chỉ thị, quy chế, quy định do Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành liên quan đến công tác xây dựng Đảng thể hiện rõ sự chú trọng đặc biệt của Đảng ta đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, từ Đại hội XI của Đảng đến nay, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thật sự được đặt ở vị trí then chốt, có vai trò quan trọng đối với những thành công to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới.

Lý luận về Đảng lãnh đạo, cầm quyền được làm sáng rõcụ thể hơn qua các nội dung, khía cạnh chủ yếu: 1- Đảng lãnh đạo là xuyên suốt mọi thời kỳ cách mạng, còn Đảng cầm quyền chỉ trong giai đoạn Đảng đã giành được chính quyền, nắm lấy chính quyền nhà nước, sử dụng chính quyền phục vụ cho mục đích, lý tưởng của mình; 2- Đảng lãnh đạo chủ yếu và trước hết ở vai trò, sứ mệnh tiền phong, dẫn đường, chỉ lối dựa trên trí tuệ sáng suốt, đạo đức trong sáng, đường lối khoa học, tổ chức chặt chẽ; còn Đảng cầm quyền là hoạt động mà thông qua đó, Đảng nắm giữ, thực thi, kiểm soát quyền lực, trước hết là quyền lực nhà nước, để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng; 3- Phân tách, phân định rõ hơn chức năng lãnh đạo, cầm quyền của Đảng với chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước, chức năng đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tổ chức chính trị - xã hội đối với mỗi giai tầng xã hội.

Lý luận về cấu trúc công tác xây dựng Đảng ngày càng được phát triển, cụ thể hóa. Từ chỗ xác định công tác xây dựng Đảng bao gồm 3 mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức đã phân khai, phát triển thành 5 mặt công tác: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Việc Đại hội XII của Đảng đặt xây dựng Đảng về đạo đức thành một nội dung trong cấu trúc công tác xây dựng Đảng là dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lý luận về đạo đức cầm quyền và văn hóa chính trị của Đảng; góp phần bổ sung, làm sáng rõ hơn vai trò, tầm vóc, tính tiên phong của Đảng. Đại hội XIII của Đảng còn tách công tác xây dựng Đảng về cán bộ khỏi công tác xây dựng Đảng về tổ chức; đồng thời, đã tổng kết 5 bài học lớn, mà trong đó, bài học hàng đầu chính là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục bổ sung những nhận thức mới quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhấn mạnh tới việc phải gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây cũng là nhiệm vụ, phương hướng trọng tâm của cả nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng và những năm tiếp theo.

***

Những thành tựu phát triển lý luận lớn của Đảng trong gần 40 năm đổi mới thể hiện sự kiên định mục tiêu xây dựng CNXH, sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, có vai trò, ý nghĩa quyết định đối với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ta trong gần 40 năm qua. Đây cũng sẽ là cơ sở khoa học, thực tiễn quan trọng giúp cho Đảng ta hoạch định đường lối, chủ trương xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới, hướng tới thực hiện thắng lợi mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN./.

----------------------

* Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp quốc gia: “Những thành tựu phát triển lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới”, mã số: KX.04.02/21-25

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 103
(2) Xem: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, t. 65, tr. 139 – 140
(3), (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 71 - 72, 72 - 73
(5), (6) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 119, 39
(7) Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 60, tr. 181
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 34
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 143
(10) Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 966 (5-2021), tr. 5 - 6
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 174
(12)  Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 36

Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới (kỳ 2).

 Trong giai đoạn tới, tuy còn nhiều biến động về địa - chính trị, nhưng xu thế chung là khoa học - công nghệ trên thế giới sẽ phát triển rất nhanh cùng với toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của các quốc gia. Các quốc gia đều điều chỉnh chiến lược phát triển, tăng cường liên kết, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, nhất là trong thương mại, đầu tư, nhân lực, khoa học - công nghệ. Tình hình này đòi hỏi Đảng ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, hành động quyết liệt, năng động và sáng tạo, tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức để lãnh đạo phát triển kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Bối cảnh mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen

Trên cơ sở vừa kế thừa mục tiêu được các đại hội trước đề ra, vừa tiếp thu các tiêu chí theo thông lệ quốc tế, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra các mục tiêu cụ thể phát triển đất nước trong những năm tới: “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(1).

Đảng lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện mục tiêu, khát vọng đó trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến động, tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế của Việt Nam, đó là:

Về bối cảnh quốc tế:

Bối cảnh quốc tế giai đoạn hiện nay có một số đặc điểm quan trọng:

Một là, thế giới đang đứng trước nhiều bất ổn khó lường. Gia tăng các xung đột, biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hưởng nặng nề; tình trạng lạm phát và nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu. Lạm phát ở một số nền kinh tế lớn chưa đi vào ổn định, thậm chí đang có xu hướng gia tăng. Hơn nữa, thế giới đang đối mặt với nguy cơ một cuộc suy thoái mới. Việc thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu đứng trước nguy cơ suy giảm.

Hai là, thế giới đang diễn ra quá trình hội nhập và chia tách đan xen. Một mặt, các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, kết nối khu vực được đẩy mạnh. Hai trong số những hiệp định điển hình là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); mặt khác, xu thế chia tách cũng đang xuất hiện, như sự kiện nước Anh ra khỏi Liên minh châu Âu (Brexit) và xung đột Nga - U-crai-na, Nga bị cấm vận và thế giới bị chia tách, hay xung đột ở Trung Cận Đông thời gian gần đây. Hệ quả là, các nước châu Âu gặp khó khăn về nguồn cung năng lượng và nhiều hệ lụy khác.

Ba là, dòng vốn đang dịch chuyển khỏi một số quốc gia truyền thống và đến một số quốc gia mới nổi. Việc các quốc gia điều chỉnh mục tiêu chiến lược để ứng phó với các rủi ro địa - chính trị khiến các luồng vốn có xu hướng dịch chuyển khỏi các quốc gia truyền thống (chẳng hạn Trung Quốc) và đến các nền kinh tế mới nổi (như ASEAN). Điều này, một mặt, gây tác động đến phát triển kinh tế của các quốc gia có dòng vốn dịch chuyển đi; mặt khác, tạo ra một cuộc cạnh tranh thu hút luồng vốn mới. Hệ quả là, các quốc gia đều phải điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế.

Bốn là, thế giới đang trong thời đại cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với nhiều cơ hội và thách thức. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra nhiều cơ hội: Không gian kinh tế mới; công nghệ mới; sản phẩm mới... Thế giới sẽ được mở rộng hơn đi liền với liên kết mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo ra các thách thức, nguy cơ tiềm tàng về dịch chuyển vốn; về cạnh tranh giữa thế giới thực và thế giới ảo. Đặc biệt, cùng với việc điều chỉnh mục tiêu và chiến lược kinh doanh, một loạt doanh nghiệp công nghệ đang sa thải hàng nghìn lao động. Hơn nữa, có những tập đoàn công nghệ số đã bị phá sản, tác động không nhỏ đối với sản phẩm số nói riêng và kinh tế thế giới nói chung.

Dây chuyền sản xuất các sản phẩm cảm biến thông minh, thân thiện với môi trường của Công ty TNHH Hyundai Kefico Việt Nam (vốn đầu tư của Hàn Quốc) tại Khu công nghiệp Đại An II, tỉnh Hải Dương_Ảnh: TTXVN

Năm là, các nguy cơ an ninh phi truyền thống diễn biến ngày càng gay gắt. Các mối nguy cơ an ninh phi truyền thống như đại dịch COVID-19 là chưa có tiền lệ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng do việc tiến hành giãn cách. Hơn nữa, biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn, khó dự báo hơn cũng tác động sâu sắc đến an ninh và phát triển của các quốc gia.

Về bối cảnh trong nước:

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung từ những năm cuối thập niên 80 thế kỷ XX. Xây dựng nền kinh tế thị trường, với nòng cốt là tạo điều kiện cho cơ chế thị trường vận hành, làm nền tảng cho cạnh tranh - từ đó, nguồn lực được phân bổ cho địa bàn, khu vực, chủ thể nào sử dụng nguồn lực đó hiệu quả nhất. Trong suốt gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đặc biệt, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được hình thành ngày càng rõ nét. Trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, việc tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi tiếp tục đổi mới, cải cách, trong đó có việc hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tựu trung lại, cần tạo lập môi trường kinh doanh dựa trên cạnh tranh bình đẳng và hiệu quả.

Thứ hai, Việt Nam đang trở thành một trong những quốc gia đi đầu trong giai đoạn hội nhập thế hệ mới. Hội nhập quốc tế của Việt Nam đồng hành với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hội nhập kinh tế quốc tế - với nòng cốt là việc mở rộng thị trường, mở rộng địa bàn kinh tế, mà đòi hỏi cơ bản của nó là tăng cường năng lực cạnh tranh, trong đó có năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành hàng và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp, ngành hàng trong nước kết nối với chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Việt Nam là quốc gia đến sau trong hội nhập, nhưng là một trong những quốc gia khởi xướng hợp tác thương mại thế hệ mới. Việt Nam là thành viên sáng lập của các hiệp định CPTPP, RCEP và nhiều hiệp định FTA song phương thế hệ mới. Việt Nam cũng ký kết hợp tác với hầu hết quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Độ mở của nền kinh tế Việt Nam thuộc nhóm cao trong các quốc gia trên thế giới. Để tiếp tục “gặt hái” thành công với công cuộc hội nhập, Việt Nam cần tiến hành đồng thời nhiều giải pháp đồng bộ, nhưng then chốt nhất là cần không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành hàng và doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ ba, là quốc gia đang công nghiệp hóa mạnh mẽ, đồng thời đang là quốc gia nhận vốn trong quá trình di chuyển vốn trên thế giới. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, các quan hệ kinh tế đang được điều chỉnh cho phù hợp. Một trong những khía cạnh rõ nét là vốn dịch chuyển khỏi các quốc gia truyền thống và đến các quốc gia mới nổi. Việt Nam là một quốc gia đón nhận dòng vốn đến. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để cạnh tranh, thu hút được nguồn vốn đó. Và khi nguồn vốn đã đến, làm thế nào để giữ nguồn vốn ở lại. Hơn nữa, làm thế nào để huy động được nguồn vốn nội địa tham gia quá trình sản xuất cùng với doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Vấn đề quan trọng nhất là phải làm sao để nguồn vốn nước ngoài không lấn át, chèn ép nguồn vốn trong nước mà hợp tác để cùng phát triển (nguyên lý Win - Win, các bên cùng có lợi).

Thứ tư, là quốc gia đến sau trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước, nhưng đồng hành với thế giới trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - hiện đại hóa. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với nòng cốt là số hóa, tạo cơ hội mở rộng không gian kinh tế. Đồng hành với thế giới, Việt Nam đang tiến hành xây dựng hệ thống công nghiệp hiện đại. Các sản phẩm công nghệ mới được đưa vào vận hành. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vượt qua “bẫy gia công”, nghĩa là mãi nằm ở khâu gia công giá trị gia tăng thấp mà không vươn lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn. Việc tạo lập chuỗi sản xuất và phân phối gắn với thương hiệu Việt, đồng thời tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu là một trong những trọng tâm của công nghiệp hóa.

Thứ năm, Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Cùng với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập sâu rộng, quá trình dân cư dịch chuyển đến các trung tâm, các địa bàn đô thị quan trọng là xu thế tất yếu. Quá trình đô thị hóa là hệ quả tất yếu của các quá trình công nghiệp hóa, thị trường hóa, hội nhập hóa và số hóa. Thực chất của đô thị hóa là tăng cường tập trung nhân tài, vật lực trong một địa bàn có lợi thế để tối ưu hóa kinh tế về quy mô. Hiện nay, Việt Nam đang có quy mô đô thị hóa trên 40%, triển vọng 50% vào năm 2030. Việc Việt Nam được đánh giá thành công trong phát triển đô thị mà tránh việc hình thành các khu ổ chuột được thế giới đánh giá cao. Từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, việc đáp ứng được nhu cầu đô thị hóa là một thách thức thật sự đối với phát triển kinh tế.

Thứ sáu, sự gia tăng mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu, kéo theo là tỷ lệ tiết kiệm tăng cao, có nguồn lực tiềm năng cho phát triển. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp). Đi liền với đó, Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng. Như là hệ quả, tỷ lệ tầng lớp trung lưu của Việt Nam tăng nhanh hàng đầu châu Á. Ngân hàng Thế giới đánh giá sự gia tăng tầng lớp trung lưu ở Việt Nam là thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Hàng triệu người ở Việt Nam thoát nghèo và dịch chuyển lên một “nấc thang kinh tế” cao hơn, đó là tầng lớp trung lưu.

Thứ bảy, Việt Nam đã là quốc gia có thu nhập trung bình (thấp), kết cấu hạ tầng đang vào giai đoạn đầu tư nâng cấp mạnh mẽ. Để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, một trong những yêu cầu là đầu tư mạnh để không ngừng cải thiện và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông vận tải, điều này đòi hỏi có cơ chế mạnh mẽ, hiệu quả để thu hút nguồn vốn đầu tư. Vấn đề là làm sao để có thể nâng cấp kết cấu hạ tầng, nhưng không rơi vào bẫy nợ nước ngoài. Đây thực sự là vấn đề quan trọng trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thứ tám, Việt Nam đang là quốc gia có tỷ lệ dân số vàng, nhưng đã xuất hiện tín hiệu sẽ sớm chuyển sang giai đoạn già hóa dân số. Theo các kết quả nghiên cứu xã hội học, thời kỳ dân số vàng của Việt Nam bắt đầu từ năm 2006 và kết thúc vào năm 2039. Thời kỳ dân số vàng được hiểu là giai đoạn phát triển vàng của mỗi quốc gia khi tỷ lệ người lao động gấp đôi số người phụ thuộc. Chúng ta còn khoảng 15 năm để tận dụng lợi thế này cũng như chuẩn bị ứng phó với giai đoạn già hóa dân số.

Thứ chín, là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất bởi biến đổi khí hậu, Việt Nam được Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) xác định là một trong những quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu do có bờ biển dài, diện tích biển rộng, đồng bằng và đồng bằng ngập lụt rộng lớn, vị trí nằm trên đường đi của bão cũng như dân số nghèo đói lớn. Việc ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn và xói lở bờ biển tại đồng bằng sông Cửu Long đang là những vấn đề hết sức quan trọng. Điều quan trọng nhất là cần thích ứng và vượt qua các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Điều này đòi hỏi Việt Nam nỗ lực rất nhiều trong quá trình phát triển.

Bà Rịa - Vũng Tàu - điểm đến của những siêu du thuyền quốc tế_Ảnh: Tư liệu

Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước

Để đạt được các mục tiêu phát triển đất nước như Văn kiện Đại hội XIII đã đề ra, Đảng cần tiếp tục thể hiện bản lĩnh, tư duy sáng tạo trong giai đoạn phát triển mới này. Theo đó, sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực kinh tế cần bám sát các định hướng sau:

Một là, tiếp tục đổi mới tư duy về kinh tế, đề ra đường lối, chủ trương phát triển kinh tế đúng đắn và lãnh đạo thực hiện thành công đường lối, chủ trương đó.

Qua gần 40 năm đổi mới, Đảng không ngừng đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy mọi nguồn lực, đặc biệt là năng lực sáng tạo của tất cả giai cấp, các tầng lớp nhân dân... Trong thời gian tới, để quyết định đường lối, chính sách và chủ trương lớn về kinh tế một cách đúng đắn, Đảng cần tiếp tục phát huy dân chủ trong toàn xã hội, xuất phát từ lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy trí tuệ của toàn dân trong việc xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng. Để nâng cao chất lượng ban hành đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế... cần khắc phục sự áp đặt chủ quan, duy ý chí và giáo điều, tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn.

Bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị. Chính sách, chủ trương, đường lối kinh tế phải được luận chứng về kinh tế và chính trị trong sự thống nhất biện chứng, khắc phục sai lầm tách rời kinh tế với chính trị; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích trước mắt với lâu dài, lợi ích bộ phận, cục bộ với toàn cục, lợi ích toàn xã hội với lợi ích giai cấp, mỗi tầng lớp và mỗi cá nhân. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Để thực hiện thành công chủ trương, đường lối của mình, Đảng phải lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN để làm tốt chức năng quản lý và tổ chức xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Với vai trò này, Đảng lãnh đạo xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh; chuyển từ tư duy Nhà nước quản trị sang Nhà nước kiến tạo phát triển; phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm sự vận hành thông suốt của bộ máy đó. Đảng không quyết định những vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Xác định rõ ràng vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm khắc phục tình trạng có lúc, có nơi đã xảy ra là cơ quan đảng làm thay chức năng quản lý nhà nước, còn cơ quan nhà nước lại lấn át quyền quản lý của doanh nghiệp.

Hai là, tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, giám sát trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về kinh tế.

Kiểm tra, giám sát là một trong những phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng. Thông qua công tác này, Đảng nắm vững tình hình mọi mặt của các tổ chức đảng, nắm chắc đội ngũ cán bộ, đảng viên chấp hành quan điểm, đường lối của Đảng để có giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp. Ngoài ra, còn để kiểm chứng tính đúng đắn, chính xác của chủ trương, đường lối về kinh tế, uốn nắn việc tổ chức, thực hiện và điều chỉnh nếu cần thiết.

Một chức năng quan trọng của kiểm tra, giám sát là để chống tham nhũng, tiêu cực, trước hết là tham nhũng, tiêu cực trên lĩnh vực kinh tế. Thực tế thời gian qua cho thấy, khó khăn lớn nhất của nhiệm vụ quan trọng này là việc đấu tranh chống hành vi tham nhũng của đảng viên giữ trọng trách lãnh đạo, quản lý chủ chốt trên các lĩnh vực, các ngành, các cấp... Để làm được điều này, cần quy định chặt chẽ hơn về kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ có chức vụ, quyền hạn; làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng chức danh cán bộ, công chức; kiểm soát thu, chi tài chính của cơ quan, tổ chức... Minh bạch và công khai thông tin nhằm phát huy dân chủ, tạo điều kiện cho các tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng và đông đảo nhân dân phát hiện, báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xác minh, xử lý hành vi tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Rất cần thiết có một cơ chế phòng ngừa, trừng trị, răn đe, bảo đảm để không muốn tham nhũng, không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng.

Ba là, chú trọng công tác tổng kết thực tiễn.

Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phát triển lý luận, góp phần xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế trước mắt cũng như lâu dài là nhiệm vụ quan trọng. Thực tiễn gần 40 năm đổi mới cho thấy, Đảng thường xuyên tổng kết thực tiễn, xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống lý luận vững chắc trên lĩnh vực kinh tế. Đảng chú trọng lãnh đạo toàn diện, nhưng những chủ trương lớn, quan trọng cần qua thí điểm, tổng kết thành bài học kinh nghiệm có tính lý luận để chỉ đạo trên diện rộng. Trong thời gian tới, đối với công tác này cần tập trung theo hướng coi trọng tổng kết thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, nghiên cứu lý luận cần tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Coi trọng vận dụng, nhận thức đúng quy luật kinh tế khách quan, nâng cao năng lực dự báo và tầm nhìn dài hạn.

Bốn là, nâng cao vai trò và hiệu quả lãnh đạo kinh tế của tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước và tổ chức kinh tế.

Các tổ chức đảng và đảng viên trực tiếp quán triệt và triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tiến hành công tác chính trị, tư tưởng đối với quần chúng trong doanh nghiệp và cơ quan. Thông qua các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên, các tổ chức đảng lãnh đạo các tổ chức quần chúng chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, trong đó có đường lối, chính sách về kinh tế. Do đó, cần nâng cao vai trò tiên phong, gương mẫu, có năng lực quản lý kinh tế của đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên nắm giữ vị trí quan trọng trong bộ máy quản lý kinh tế.

Năm là, đổi mới công tác cán bộ trên lĩnh vực lãnh đạo, quản lý nền kinh tế.

Để đáp ứng yêu cầu của hội nhập ngày càng sâu rộng, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho cả nền kinh tế, đặc biệt là phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủ chốt trên lĩnh vực kinh tế.

Đổi mới công tác cán bộ; có cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ. Hoàn thiện hệ thống quy định xác định quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp ủy viên, đảng viên, nhất là chức danh lãnh đạo, quản lý kinh tế để có căn cứ nhận xét, đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý trên lĩnh vực kinh tế. Cùng với đó, có biện pháp hữu hiệu để xử lý nghiêm minh, đồng thời đề xuất bãi nhiệm đảng viên là cán bộ giữ trọng trách trong lĩnh vực kinh tế có năng lực yếu kém, có hành vi tham nhũng, lãng phí./.