Thứ Năm, 16 tháng 5, 2024

THI ĐUA ĐỂ MỌI NGƯỜI ĐỀU LÀM VIỆC TỐT HƠN…


Theo Hồ Chí Minh, thi đua yêu nước là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều làm việc tốt hơn, nhiều hơn và “những người thi đua là những người yêu nước nhất”.
Ngày 11 tháng 6 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi Thi đua ái quốc”, mở đầu cho phong trào hành động cách mạng mới của toàn dân. Người khẳng định “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Thấm nhuần tư tưởng đó, nhìn lại chặng đường 75 năm qua, có thể khẳng định mọi thành quả của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta đều gắn liền với việc tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước.
Trong các tác phẩm, bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, phương cách thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Đồng thời, bằng chính thực tiễn trải nghiệm của cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một tấm gương cao đẹp cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập trong phong trào thi đua yêu nước. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu đã cảm thấy thân thiết từ lâu”. Đây là những đặc tính nổi bật trong đạo đức, lối sống và phong cách Hồ Chí Minh, sự giản dị, dung dị một cách tự nhiên vốn có của một bậc vĩ nhân, hiền triết mà bất kỳ một người nào từ cán bộ, đảng viên, người dân bình thường đến các lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đều cần thiết học tập và noi theo.
Thi đua yêu nước do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Trong chế độ cũ, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, nai lưng làm việc cho chủ để mình và gia đình mình không bị chết đói, “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”. Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc”.
Tuy thi đua có tính khách quan như vậy nhưng để có phong trào và đạt được những thành tích cao, không hình thức, lãng phí sức người sức của, không đầu voi đuôi chuột, thì “một mặt là vì mọi người lao động đều tư tưởng thông suốt, hăng hái thi đua”, nhưng một mặt nữa phải có sự lãnh đạo chặt chẽ, “sự lãnh đạo thiết thực và toàn diện”. Sự thiết thực và toàn diện của lãnh đạo là ở chỗ tính toán đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan để định mục tiêu, chỉ tiêu thi đua theo yêu cầu phát triển và phù hợp với tiềm năng của địa phương, đơn vị, cơ quan, được cụ thể hóa cho mọi đối tượng lao động trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, vừa quan tâm lãnh đạo chính trị tư tưởng, không để chủ nghĩa thành tích và bệnh hình thức chi phối, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thực hiện kế hoạch thi đua cá nhân và tập thể, làm sao cho “người người thi đua, ngành ngành thi đua” và thi đua đó “chúng ta nhất định thắng lợi, … nhất định thành công”.
Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước không chỉ thuần túy nghiên cứu trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc năm 1948, cũng không chỉ nghiên cứu trong các bài nói bài viết của Người về thi đua yêu nước, mà còn cần phải nghiên cứu hoạt động thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, thực hiện các phong trào thi đua trong quá trình cách mạng Việt Nam của Người và Đảng ta. Có như thế mới có thể hiểu được Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước.
Nội dung cốt lõi, cũng như bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc cách mạng, thực hiện tốt hơn công việc hàng ngày. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nêu trên xuất phát và biểu hiện trên vấn đề cơ bản là: Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và tầm quan trọng của thi đua yêu nước; Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc yêu nước mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hàng ngày.
Mục đích của thi đua yêu nước là làm cho nước nhà nhanh giành được độc lập, tự do, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, lực lượng của phong trào thi đua yêu nước là toàn thể nhân dân “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, Toàn diện kháng chiến”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó phong trào thi đua yêu nước cần phát huy sức mạnh của toàn dân, tạo được sự tham gia tích cực của nhân dân, làm cho thi đua yêu nước trở thành phong trào hành động cách mạng của nhân dân, của mọi tầng lớp xã hội. Người chỉ rõ: “Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to”. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định lực lượng có sức mạnh vô địch trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc đó là do nhân dân. Thi đua yêu nước có trở thành phong trào cách mạng hay không, có mang lại lợi ích thiết thực cho cách mạng hay không phụ thuộc vào quần chúng nhân dân, không có sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân, không được nhân dân tự giác, tự nguyện tham gia thì thi đua yêu nước không thể tồn tại và phát triển.
Thi đua, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với công tác khen thưởng, khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Chính vì vậy, Người vừa khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, vừa quan tâm đến công tác, khen thưởng, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương người tốt, việc tốt. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bởi nó vừa thiết thực, dễ hiểu, dễ đi sâu vào cuộc sống, lại vừa sâu sắc, toàn diện và hệ thống. Người cho rằng, muốn tổ chức tốt phong trào thi đua yêu nước, trước hết phải hiểu rõ bản chất, mục đích, nội dung, cách thức, mức độ và ý nghĩa của thi đua. Nội dung thi đua phải gắn với nhiệm vụ của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng, đó là thi đua tăng gia sản xuất, thi đua thực hành tiết kiệm… thi đua khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cách thức thi đua phải phong phú, đa dạng nhằm gom góp sáng kiến, rút ra kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm. Mức độ thi đua là phải nâng cao dần mãi mãi.
Như vậy, thi đua yêu nước theo Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều là việc tốt hơn, nhiều hơn và “những người thi đua là những người yêu nước nhất”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thi đua yêu nước là một phong trào cách mạng rộng lớn, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến tất cả các thành phần, các tầng lớp xã hội. Thi đua cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức một cách chặt chẽ, thông suốt, liên tục và bền bỉ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước đã có tác dụng to lớn, thiết thực, động viên khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức đoàn kết, phấn đấu, không quản hy sinh gian khổ, đem hết tài năng trí tuệ và sức lực phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp:
Quán triệt sâu sắc tư tưởng về thi đua yêu nước của Hồ Chí Minh, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điểm điển hình tiên tiến tạo nên phong trào rộng khắp ở các ngành, các cấp trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở.
Bồi dưỡng, khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức tự lực tự cường, gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… tạo nên sự đồng thuận trong toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phát động các phong trào thi đua.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, kiên trì, kiên quyết trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tạo ra môi trường lành mạnh, trong sạch để nhân dân yên tâm phấn khởi, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, đồng thời tích cực gắn phong trào thi đua yêu nước với việc phát động toàn dân tăng cường đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thi đua - khen thưởng theo tinh thần Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 7-4-2014 của Bộ Chính trị, thường xuyên đấu tranh phê phán, lên án những hành vi thiếu lành mạnh, những biểu hiện thờ ơ, vô cảm với công tác thi đua; bảo vệ và khen thưởng kịp thời những cán bộ tâm huyết, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân, của đất nước, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua trong cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vì một Việt Nam xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Như vậy, để phong trào thi đua lan tỏa sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, mang lại hiệu quả thiết thực, thời gian tới, các bộ, ban, ngành, các cơ quan, đơn vị, địa phương trong cả nước cần tổ chức phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng và các phong trào thi đua chuyên đề nhằm giải quyết những nhiệm vụ trọng tâm, những khâu và lĩnh vực còn yếu, bất cập, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thi đua, góp phần vào việc hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, đối ngoại. Tập trung thực hiện linh hoạt, hiệu quả mục tiêu và khát vọng phát triển của đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa đẩy mạnh cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững./.

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” - yêu cầu quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị

 

Từ lâu trong lịch sử, dân tộc ta luôn duy trì một truyền thống đẹp - đặt tên để ghi nhớ, tôn vinh những người có công với dân, với nước. “Bộ đội Cụ Hồ” cũng là một cái tên như thế và còn hơn thế nữa, bởi cái tên đó đã vượt qua ý nghĩa của một danh xưng thông thường để trở thành một kiểu mẫu nhân cách người lính của nhân dân (Bộ đội), nhưng được điển hình hóa theo nhân cách của một lãnh tụ vĩ đại, luôn gần gũi với nhân dân (Cụ Hồ).
1. Nguồn gốc, vinh dự và trách nhiệm khi được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ”
Câu hỏi đặt ra là “Bộ đội Cụ Hồ” - cái tên rất thân thương và trìu mến dành cho Quân đội ta được xuất hiện đầu tiên ở đâu và vì sao Nhân dân lại gọi Quân đội ta là “Bộ đội Cụ Hồ”? Theo những sử liệu có được, tên gọi ấy xuất hiện và truyền tụng trong nhân dân được khởi nguồn ở Chiến khu Việt Bắc.
Để bảo toàn lực lượng chiến đấu cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, ngay sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều đơn vị bộ đội được lệnh cơ động lên Việt Bắc. Những ngày đầu trở lại Chiến khu, bộ đội tổ chức trú quân phân tán trong các bản, làng, thôn xóm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân. Chính từ những năm tháng này, đã nảy nở và phát triển mối quan hệ quân dân “cá - nước” giữa nhân dân với những người lính do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Bằng những việc làm cụ thể thông qua thực hiện nghiêm kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, như: không lấy cái kim, sợi chỉ của dân, không gây phiền hà cho nhân dân, kính trọng dân, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân; vừa bảo vệ dân, vừa hết lòng giúp đỡ nhân dân,... cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã nhanh chóng chiếm trọn tình cảm mến mộ của nhân dân, giúp nhân dân nhận thức được sự khác biệt căn bản giữa những chiến sĩ cách mạng với binh sĩ của các đội quân mà trước đó họ đã từng tiếp xúc. Tình cảm và niềm tin của nhân dân được củng cố và nhân lên khi biết những chiến sĩ cách mạng ấy do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện - Người mà từ lâu đã được nhân dân ta hết lòng tôn kính, tin tưởng tuyệt đối vì lòng yêu nước, thương dân. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ở khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ”, khi biết “Ông Ké”, “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Bác Hồ, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Và tên gọi yêu quý ấy từ Chiến khu Việt Bắc đã lan truyền đi khắp nơi và trở thành quen thuộc đến ngày nay1.
Từ lâu trong lịch sử, dân tộc ta luôn duy trì một truyền thống đẹp - đặt tên để ghi nhớ, tôn vinh những người có công với dân, với nước. “Bộ đội Cụ Hồ” cũng là một cái tên như thế và còn hơn thế nữa, bởi cái tên đó đã vượt qua ý nghĩa của một danh xưng thông thường để trở thành một kiểu mẫu nhân cách người lính của nhân dân (Bộ đội), nhưng được điển hình hóa theo nhân cách của một lãnh tụ vĩ đại, luôn gần gũi với nhân dân (Cụ Hồ).
1. Nguồn gốc, vinh dự và trách nhiệm khi được mang tên “Bộ đội Cụ Hồ”
Câu hỏi đặt ra là “Bộ đội Cụ Hồ” - cái tên rất thân thương và trìu mến dành cho Quân đội ta được xuất hiện đầu tiên ở đâu và vì sao Nhân dân lại gọi Quân đội ta là “Bộ đội Cụ Hồ”? Theo những sử liệu có được, tên gọi ấy xuất hiện và truyền tụng trong nhân dân được khởi nguồn ở Chiến khu Việt Bắc.
Để bảo toàn lực lượng chiến đấu cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, ngay sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều đơn vị bộ đội được lệnh cơ động lên Việt Bắc. Những ngày đầu trở lại Chiến khu, bộ đội tổ chức trú quân phân tán trong các bản, làng, thôn xóm, cùng ăn, cùng ở với nhân dân. Chính từ những năm tháng này, đã nảy nở và phát triển mối quan hệ quân dân “cá - nước” giữa nhân dân với những người lính do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Bằng những việc làm cụ thể thông qua thực hiện nghiêm kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, như: không lấy cái kim, sợi chỉ của dân, không gây phiền hà cho nhân dân, kính trọng dân, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân; vừa bảo vệ dân, vừa hết lòng giúp đỡ nhân dân,... cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã nhanh chóng chiếm trọn tình cảm mến mộ của nhân dân, giúp nhân dân nhận thức được sự khác biệt căn bản giữa những chiến sĩ cách mạng với binh sĩ của các đội quân mà trước đó họ đã từng tiếp xúc. Tình cảm và niềm tin của nhân dân được củng cố và nhân lên khi biết những chiến sĩ cách mạng ấy do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện - Người mà từ lâu đã được nhân dân ta hết lòng tôn kính, tin tưởng tuyệt đối vì lòng yêu nước, thương dân. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: ở khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội Ông Ké” hay “Bộ đội Ông Cụ”, khi biết “Ông Ké”, “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Bác Hồ, mọi người đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Và tên gọi yêu quý ấy từ Chiến khu Việt Bắc đã lan truyền đi khắp nơi và trở thành quen thuộc đến ngày nay1.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân”2. Thấm nhuần tư tưởng đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội không chỉ huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, chiến đấu thắng lợi,... mà còn làm tròn chức năng của “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất”. Phải tích cực học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, tri thức, có kiến thức về kinh tế, chính trị; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng, chống và giải quyết hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn kết hợp với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Cùng với đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải là người tiên phong, lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, chống quan điểm sai trái, phản động, luận điệu đòi “phi chính trị hoá” Quân đội của các thế lực thù địch. Phải thực sự nhạy bén về chính trị, có ý chí, năng lực và phương pháp đấu tranh với kẻ thù; có khả năng “miễn dịch” trước mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, sự tấn công của các thế lực thù địch để tham gia tích cực, hiệu quả vào mặt trận đấu tranh phi vũ trang, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng.
Ba là, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, kỷ luật nghiêm. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là tổng hòa các yếu tố hợp thành; trong đó và trước hết phải thể hiện ở đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, lành mạnh; luôn kiên định, vững vàng, không bị sa ngã, tha hóa trước mọi tác động tiêu cực của đời sống xã hội, mặt trái của kinh tế thị trường, sự cám dỗ của lối sống thực dụng, ích kỷ, hẹp hòi, những thị hiếu, dục vọng thấp hèn, không bị gục ngã trước sự tấn công của kẻ thù bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”. “Bộ đội Cụ Hồ” phải là lực lượng tiên phong trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải luôn gương mẫu trong nhận thức, tư tưởng và hành động; nói, viết và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, Điều lệnh, Điều lệ của Quân đội, các chế độ quy định của đơn vị và địa phương nơi đóng quân. Chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết, trước hết, không đắn đo, suy tính thiệt hơn, sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ.
Bốn là, giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải luôn giữ vững và tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh được thể hiện ở việc giúp nhau khắc phục khó khăn, cùng hoàn thành nhiệm vụ; nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng chí, đồng đội; giúp nhau trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất và trong cuộc sống. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; quan liêu, xa rời quần chúng, bởi đó là những tác nhân làm rạn nứt đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh, làm giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong đoàn kết (quan hệ) với nhân dân cần khắc ghi lời Bác dạy “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội, chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Muốn như thế thì phải đốc thúc bộ đội siêng giúp dân, hăng đánh giặc”3, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy và chính quyền địa phương nơi đóng quân, gần gũi, gắn bó với nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn của nhân dân để có biện pháp giúp đỡ; không xâm phạm lợi ích của nhân dân, tích cực giúp đỡ dân phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, biên giới, hải đảo. Tích cực tham gia phòng chống thiên tai, dịch bệnh, thảm họa,... sẵn sàng hy sinh bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chia sẻ những khó khăn, mất mát của dân khi gặp hoạn nạn. Cùng với đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải tăng cường củng cố tình đoàn kết với quân đội các quốc gia, không ngừng mở rộng quan hệ, hợp tác với quân đội, nhân dân và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay phải phân biệt rõ đối tác, đối tượng; chủ động phối hợp đấu tranh giữ vững môi trường hòa bình ổn định, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hợp tác trong giải quyết các vấn đề toàn cầu; phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn,... như lời dạy của Bác: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”4.
Hiện nay, “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng..., làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”5. Vì vậy, để giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, mà trước hết là trách nhiệm của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy trong Quân đội và mọi quân nhân, làm cho những phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục tỏa sáng, nâng lên một tầm cao mới, xây dựng Quân đội vững mạnh, xứng đáng là “Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng” và lòng tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Nhân dân.
Đại tá, TS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Học viện Chính trị
St

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẦM NHÌN VĂN HOÁ SÂU SẮC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TỪ LỜI KÊU GỌI THI ĐUA ÁI QUỐC!

     Toàn văn Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tổng số 448 từ, song hàm chứa một tư tưởng lớn về thi đua yêu nước. Văn bản với những lời ngắn, câu gọn mà vẫn bao quát đầy đủ mục tiêu, ý nghĩa, nội dung, phương pháp, thành phần tham gia thi đua. Hơn thế, lời hiệu triệu này còn hàm chứa những thông điệp văn hóa sâu sắc và có giá trị vượt thời gian!

BỒI DƯỠNG, LÀM GIÀU KIẾN THỨC VĂN HÓA CHO NHÂN DÂN
Trong ba mục đích của phong trào thi đua ái quốc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra là “Diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm”, thì mục tiêu “diệt giặc dốt nát” chỉ đứng sau “diệt giặc đói khổ” và đứng trước cả mục tiêu “diệt giặc ngoại xâm”.

Trong tình thế cách mạng nước nhà đang phải đương đầu với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, có ý kiến cho rằng nên đưa mục đích “diệt giặc ngoại xâm” lên trước thì phù hợp hơn với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Nhưng tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa mục đích “diệt giặc dốt nát” lên trước mục đích “diệt giặc ngoại xâm”? Điều này thể hiện trí tuệ uyên thâm và tầm nhìn xa trông rộng của Người. Vì trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Người đã chỉ ra, kết quả của thi đua ái quốc là “Toàn dân đủ ăn đủ mặc. Toàn dân sẽ biết đọc ,biết viết. Toàn bộ đội sẽ đầy đủ lương thực, khí giới để giết giặc ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn”.

Như vậy, có thể hiểu rằng, muốn kháng chiến thành công thì trước hết phải thanh toán được nạn đói khát, cung cấp đủ lương thực thực phẩm để nuôi dưỡng lực lượng quân hùng tướng mạnh, đồng thời phải xóa bỏ được nạn mù chữ, nâng cao kiến thức văn hóa cho đồng bào, chiến sĩ. Hàm ý thông điệp ở đây là: Muốn làm được bất cứ việc gì lớn lao, cao cả, cũng phải luôn quan tâm đến hai vấn đề căn cốt nhất là việc ăn, việc học hành để con người có đủ sức khỏe, tri thức làm chủ cuộc sống, làm chủ xã hội.

CHĂM LO HẠNH PHÚC CHO NHÂN DÂN
Trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh cách làm là phải dựa vào “lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” và khẳng định sứ mệnh cao cả của thi đua yêu nước chính là để “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”.

Kể từ khi rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước ngày 5/6/1911 đến lúc từ trần ngày 2/9/1969, trong gần 60 năm cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng, một trong những mục tiêu lớn nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo đuổi và thực hiện là mang lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân. Bởi thế, ngay sau khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã chính thức quyết định lấy tên quốc hiệu nước ta là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, kèm theo tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Theo Người, độc lập chủ quyền, thống nhất giang sơn, toàn vẹn lãnh thổ không thể tách rời cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Bởi như Người từng khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” và: “Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc”.

Nhân dân là chủ nhân chân chính của lịch sử, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, muốn phong trào thi đua yêu nước thành công thì phải biết dựa vào sức dân, phát huy nội lực của dân, nhưng đồng thời phải “gây hạnh phúc cho dân”, tức là phải mang lại những lợi ích thiết thực (cả vật chất và tinh thần) cho nhân dân thụ hưởng. Đó là hàm ý sâu xa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhắc nhớ chúng ta là mọi phong trào thi đua đều phải hướng về và phục vụ lợi ích, hạnh phúc của nhân dân.

COI TRỌNG MẶT TRẬN VĂN HÓA
Một trong những nét nổi bật làm nên tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh từ Lời kêu gọi thi đua ái quốc là lần đầu tiên Người đã xác định văn hóa cũng là một mặt trận: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mọi mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa”.

Là lãnh tụ tối cao của dân tộc, thông kim bác cổ, am tường văn hóa Đông Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng yếu tố văn hóa trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Vì con người gắn liền với văn hóa, đấu tranh trên mặt trận văn hóa thực chất là đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ những tàn dư tiêu cực, lạc hậu của xã hội phong kiến, thực dân và những tệ nạn xấu xa của xã hội đương thời, đồng thời quan tâm xây dựng, vun trồng, bồi đắp những giá trị đạo đức, văn hóa mới. Bởi những giá trị văn hóa như Người đã khẳng định: “Cần kiệm liêm chính là nền tảng của đời sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc”. Đặt trong bối cảnh nước nhà còn muôn vàn khó khăn, đời sống nhân dân gặp nhiều thiếu thốn, gian khổ và nhất là đồng bào, chiến sĩ cả nước đang phải đối mặt trực tiếp với sự xâm lăng của kẻ thù, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mỗi người dân không chỉ trở thành chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, mà còn là chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa, chính là khẳng định ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc.

Thông điệp về coi trọng mặt trận văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Vì Người từng khẳng định: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” với hàm ý văn hóa giữ vai trò như là ngọn “đèn pha” soi sáng cho con người đi về phía trước. Đây là một quan điểm sáng tạo, độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa.

ĐỀ CAO VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
Trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua”.

Như vậy, có 5 thành phần cơ bản tham gia thi đua ái quốc là “sĩ, nông, công, thương, binh”. “Sĩ” ở đây là thành phần trí thức, là những người có học vấn, có hiểu biết cao trong xã hội. Đây là lực lượng nòng cốt truyền bá, phổ biến kiến thức trong xã hội và góp phần thúc đẩy sự phát triển tiến bộ xã hội. Cùng với khơi dậy tinh thần hăng hái thi đua của các thành phần nông dân, công dân, thương nhân, công chức, viên chức, người già, trẻ em, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động: “Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh”. “Sáng tác” gắn liền với hoạt động chuyên môn của giới văn nghệ sĩ, “phát minh” gắn với các công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật của giới khoa học, kỹ sư.

Việc đặt đúng vị trí, vai trò cũng như khơi trúng mạch nguồn ý thức, khả năng sáng tạo của giới trí thức trong thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hàm ý gửi gắm một thông điệp: Biết tập hợp, tổ chức, huy động sức lực, tài năng, trí tuệ của đội ngũ trí thức là góp phần cho công cuộc “diệt giặc dốt nát” mau chóng giành thắng lợi và thúc đẩy công cuộc kiến thiết nước nhà đi tới thành công. Với cách tiếp cận này, thêm một lần khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực sự đề cao vị thế xã hội và coi trọng vai trò to lớn của đội ngũ tri thức. Và trên thực tế, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã thuyết phục, lôi cuốn được nhiều học giả, trí thức, nhà khoa học uyên bác đi theo cách mạng và đóng góp nhiều thành tựu cho sự nghiệp cách mạng nước nhà.

KHƠI DẬY SỨC MẠNH VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC
Nhằm khích lệ phong trào thi đua ái quốc của nhân dân ta, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời hiệu triệu: “Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chẳng những chúng ta có thể thắng lợi, mà chúng ta nhất định thắng lợi trong thi đua ái quốc. Hỡi toàn thể đồng bào! Hỡi toàn thể chiến sĩ! Tiến lên!”.

Trong lời hiệu triệu này, Người không nói “Hỡi toàn thể nhân dân!” mà là “Hỡi toàn thể đồng bào!”. Trước đó hai năm, khi ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), ngay từ câu mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hỡi đồng bào toàn quốc!”. Dùng hai tiếng “đồng bào”, Người muốn khơi gợi, đánh thức trong tình cảm mỗi người dân Việt về huyền thoại “cha Rồng, mẹ Tiên đẻ ra bọc trăm trứng”, về cội nguồn “cùng một bào thai” của nòi giống Việt để từ đó bồi đắp tình yêu xứ sở và nhân lên sức mạnh đoàn kết dời non lấp biển, vững tâm quyết chí đánh tan kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất non sông.

Là người thấu hiểu, thấm nhuần sâu sắc lịch sử và văn hóa nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo khơi dậy niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, cội nguồn, truyền thống đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của dân tộc ta để động viên đồng bào, chiến sĩ nhen lên ngọn lửa truyền thống hào hùng của ông cha để đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc. Thông điệp văn hóa mà Người muốn gửi gắm, chuyển tải ở đây là, biết khơi đúng tâm lý, tinh thần dân tộc và mạch nguồn văn hóa truyền thống cũng là một trong những cách phát huy sức mạnh nội sinh để thực hiện thắng lợi phong trào thi đua yêu nước./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH SÁCH “CHIÊU HIỀN ĐÃI SĨ” CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CHẾ ĐỘ MỚI SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM!

         Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng, tài năng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sức hút, sức tác động lạ kỳ. Nếu coi bản chất của cuộc cách mạng chân chính là văn hóa, thì việc thực hành văn hóa, nâng tầm văn hóa của cả dân tộc cũng là thực hành một cuộc cách mạng to lớn và sâu sắc!

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng ta lãnh đạo, nhân dân ta đồng sức đồng lòng, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, làm nên một sự kiện long trời, lở đất, thay đổi căn bản số phận của cả dân tộc và mỗi người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

 Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo bước ngoặt sâu sắc, mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao; xây đắp một chế độ xã hội mới mẻ, tốt tươi, đẹp đẽ ở Việt Nam; thể hiện đầy đủ, sâu sắc và sinh động bản chất dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Thắng lợi vẻ vang đó là động lực, là mục tiêu cao cả, là niềm cảm hứng to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta viết tiếp trang sử mới của một thời đại mới vì niềm tự hào, tự tôn dân tộc, vì phẩm giá con người. Nhà thơ Tố Hữu đã viết những câu thơ hào sảng, lay động: “Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh / Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời” (Huế tháng Tám); Nhà thơ Nguyễn Đình Thi reo vui: “Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới / Trong biếc nói cười thiết tha” (Đất nước). Trong âm nhạc, Nhạc sĩ Bùi Công Kỳ với ca khúc “Ba Đình Nắng”, phổ thơ Vũ Hoàng Địch, đã cất lên những giai điệu tự hào, kiêu hãnh: “Gió vút lên ngọn cờ trên kỳ đài phơi phới/ Gió vút lên đây bao nguồn sống mới dạt dào/ Tôi về đây lắng nghe bao tiếng gọi/ Của mùa thu cách mạng, mùa vàng sao… ”.

Ngay từ những ngày đầu và nhiều năm tháng sau đó, Cách mạng Tháng Tám và nguồn sáng tin yêu từ lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trở thành niềm kiêu hãnh, sức kết nối và lan tỏa của triệu triệu con tim, thành niềm cảm hứng lớn lao, trong trẻo, ào ạt của cả dân tộc đang tự tin vươn về phía trước. Với tầm nhìn thời đại, tầm vóc văn hóa, bản lĩnh chính trị, cùng với việc đề cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã rất yêu quý, tôn trọng nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ. Và như một sự đáp đền, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ tỏ rõ sự yêu kính, ngưỡng mộ và biết ơn cách mạng, biết ơn Chủ tịch Hồ CHí Minh - hiện thân cao cả của Đảng, của Chính phủ và chế độ mới, nhất tâm đi theo con đường sáng mà Cách mạng Tháng Tám đã khai mở.

Để xây dựng chế độ mới, chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến kiến quốc nhiều hy sinh, gian khổ ở phía trước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực thi nhiều biện pháp nhằm phát hiện, tập hợp, sử dụng, trọng dụng nhân tài; giúp đỡ thế hệ trí thức mới tiến bộ, đào tạo họ thành những những trí thức “chính tâm và thân dân”(1). Trong bộ máy của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông Vĩnh Thuỵ (vua Bảo Đại của chế độ cũ) làm cố vấn Chính phủ, khá nhiều bộ trưởng, thứ trưởng là nhân sĩ, trí thức đã tham chính. Cụ Hồ xác định, cùng với chống “giặc đói”, “giặc dốt”, giặc ngoại xâm, thì phải kiên quyết, nhanh chóng củng cố và tăng cường bộ máy chính quyền, thực thi quyền dân chủ của nhân dân “xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức”. Chính phủ lâm thời tổ chức chu đáo, khẩn trương việc soạn thảo Hiến pháp cùng các công việc cho Tổng tuyển cử. Bản dự án Hiến pháp được Hội đồng Chính Phủ thảo luận, sửa đổi, bổ sung, công bố trên báo chí và gửi văn bản đến tận các làng, xã, thôn, bản xin ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời, tiếp tục mở rộng thành phần là những người có tên tuổi, có uy tín, là nhân sĩ, trí thức tiêu biểu như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Tố, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng, Vũ Đình Hoè, Cù Huy Cận… và một số thành viên khác của Việt Quốc, Việt Cách.

Trước ngày diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu: “Ngày mai mồng 6 tháng giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa Quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình…”, “Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, Kiên quyết chống bọn thực dân, Kiên quyết tranh quyền độc lập”.

Qua những lần bổ sung và thông qua Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội, trong thành phần Quốc hội, Chính phủ có thêm sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Bùi Bằng Đoàn… Trong bài viết “Nhân tài và Kiến quốc”, đăng báo Cứu quốc, số ra ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Người nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài... E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ mới, nhiều trí thức, văn nghệ sĩ là người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài đã tự nguyện rời bỏ cuộc sống nơi phồn hoa, trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến kiến quốc đầy gian khổ, thiếu thốn, như Hoàng Minh Giám, Vũ Ðình Tụng, Tạ Quang Bửu, Phan Anh, Phạm Quang Lễ (tức Trần Ðại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Lương Ðịnh Của, Nguyễn Văn Huyên, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch, Ðặng Văn Ngữ, Trịnh Ðình Thảo, Trần Đức Thảo, Ngụy Như Kon Tum... và nhiều người khác.

Câu chuyện nhà khoa học trẻ Phạm Quang Lễ du học ở Pháp từ năm 1935, tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân tại 5 trường đại học danh tiếng của Pháp, từng làm việc tại Trường Quốc gia Hàng không và Vũ trụ Pháp, sau đó sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí của Đức. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến thăm nước Pháp vào ngày 18/9/1946, Phạm Quang Lễ cùng với ba trí thức trẻ khác là Võ Quý Huân, Trần Hữu Tước, Vũ Đình Quỳnh theo Người về nước. Trong điều kiện rất khó khăn, thiếu thốn ở chiến khu Việt Bắc, ông đã triển khai nghiên cứu, chế tạo vũ khí cho quân đội non trẻ của ta. Tên mới Trần Đại Nghĩa là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho ông. Kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã chủ trì nghiên cứu, tổ chức chế tạo thành công nhiều loại vũ khí đang rất cần cho bộ đội ta, phù hợp với thực tế chiến trường và cách đánh của ta. Điển hình là súng và đạn Bazôka để đánh xe tăng, xe bọc thép và lô cốt địch; súng không giật (SKZ) cỡ 60mm gây cho kẻ địch nhiều thất bại và nỗi kinh hoàng.

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ đang sống và làm việc tại Nhật Bản đã nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, trở về nước với tài sản quý nhất là các giống nấm kháng sinh để chế tạo thuốc penicillin và streptomycin đang rất cần cho bộ đội và nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Pháp và sau này là đế quốc Mỹ. Năm 1955, ông sáng lập và làm Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và côn trùng Việt Nam, tập trung nghiên cứu phòng chống và điều trị căn bệnh sốt rét tại Việt Nam. Năm 1967, ông hy sinh ở chiến trường miền Nam khi đang tập trung nghiên cứu việc phòng chống căn bệnh sốt rét.

Nhà nông học Lương Định Của sinh ra ở Sóc Trăng, lên Sài Gòn học xong tú tài, năm 1937, ông sang Hồng Kông học Đại học Y Khoa sau đó sang Thượng Hải, Trung Quốc học Đại học Kinh tế. Đến 1940, trường này đóng cửa do chiến tranh, Lương Định Của sang Nhật, thi vào Đại học Quốc lập Kyushu, khoa Sinh vật thực nghiệm. Năm 1946, ông lên Kyoto tiếp tục theo học ngành nông nghiệp, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ nông học chuyên ngành di truyền chọn giống. Ông còn được nhận Bằng khen của Viện Nghiên cứu sinh học Kihata cho công trình “Sự sinh sản của giống lúa lai tạo từ hai giống lúa Japonica và Indica”. Những nghiên cứu và sáng tạo khoa học của ông được giới chuyên môn quốc tế đánh giá rất cao, coi ông là một trong những nhà nông học hàng đầu của thế giới lúc đó. Đang ở đỉnh cao vinh quang, Lương Định Của quyết định đưa gia đình về nước, vợ ông là bà Nubuko Nakamura, người Nhật Bản. Ông làm việc ở Viện Khảo cứu Bộ Canh nông (Sài Gòn) mấy năm, đến năm 1954, ông cùng gia đình tập kết ra Bắc, làm việc tại Viện Khảo cứu Nông lâm, trường Đại học Nông nghiệp, Viện Cây lương thực và thực phẩm, còn vợ ông - bà Nubuko Nakamura làm phát thanh viên tiếng Nhật tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Lương Định Của đã lai tạo thành công nhiều giống lúa, giống cây, giống rau cho năng suất cao, chất lượng tốt, đào tạo nhiều cán bộ khoa học hàng đầu cho ngành nông nghiệp nước nhà.

Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng, tài năng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sức hút, sức tác động lạ kỳ. Nếu coi bản chất của cuộc cách mạng chân chính là văn hóa, thì việc thực hành văn hóa, nâng tầm văn hóa của cả dân tộc cũng là thực hành một cuộc cách mạng to lớn và sâu sắc. Đường lối văn hoá kháng chiến “văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa” của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện đầy đủ trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ra ngày 25/11/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng; được sáng tỏ, nhấn mạnh trong bức thư “Nhiệm vụ văn hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước hiện nay” của đồng chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”. Người chỉ rõ “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”. Người nhấn mạnh: “Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do”… “Số phận dân ta là ở trong tay ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.

Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (năm 1951) ở chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người đề cao vai trò xung kích của văn hóa trong sứ mệnh giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... phải tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “chính trị, kinh tế, văn hóa đều “phải coi là quan trọng ngang nhau”.

Cũng như giới nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học, đội ngũ những người làm công tác văn hóa, văn nghệ thế hệ Cách mạng Tháng Tám cũng ngập tràn niềm vui và hạnh phúc trước sự đổi vận, đổi đời của dân tộc, của nhân dân mình. “Nước cũ bốn nghìn năm / Theo cờ mới, trẻ như hai mươi tuổi”( Ngọn quốc kì - Xuân Diệu), “Có mối tình nào hơn thế nữa?/ Ăn sâu lòng đất thấm lòng người/ Đượm lều tranh, thơm dậy ngàn khơi/ Khi vui non nước cùng cười/ Khi căm non nước với người đứng lên!” (Tình sông núi - Trần Mai Ninh…). Từ đây, đội ngũ văn nghệ sĩ thuộc nhiều loại hình văn học, nghệ thuật cùng dân tộc đi vào cuộc kháng chiến thần thánh chống xâm lược Pháp. Họ đồng cam cộng khổ, gắn bó bền chặt với đời sống công, nông, binh; khám phá, ngợi ca và góp phần nhân lên niềm tin, sức mạnh, ý chí quyết chiến và quyết thắng của cả dân tộc. Những tên tuổi tiêu biểu được khẳng định và tiếp tục có những sáng tạo mới, thành công mới. Về văn học là các nhà văn, nhà thơ Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Hoài Thanh, Thôi Hữu, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Hồng Nguyên, Võ Huy Tâm, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nông Quốc Chấn, Hồ Phương, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nguyễn Xuân Sanh, Trần Huyền Trân, Lưu Trọng Lư, Anh Thơ, Vũ Tú Nam, Bùi Hiển, Nguyễn Văn Bổng, Kim Lân, Trần Hữu Thung, Tế Hanh, Nguyễn Khải, Giang Nam, Hữu Loan, Bàn Tài Đoàn, Tú Mỡ… Về sân khấu có các nhà biên kịch, đạo diễn như Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Quang Thuận, Ngô Tất Tố, Vũ Lăng ... Về âm nhạc, có các nhạc sỹ Văn Cao, Đinh Nhu, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, Xuân Oanh, Nguyễn Thành, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Đình Thi, Lương Ngọc Trác, Hoàng Việt, Lê Yên, Phan Huỳnh Điểu… Về mỹ thuật có các họa sỹ Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Sĩ Ngọc, Trần Lưu Hậu, Diệp Minh Châu, Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm, Lê Lam, Nguyễn Thị Kim, Lương Xuân Nhị…Về điện ảnh, nhiếp ảnh, trong hoàn cảnh rất thiếu thốn về máy móc, phương tiện, vật liệu, các nghệ sỹ của ta như Nguyễn Bá Khoản, Võ An Ninh, Mai Lộc, Phan Nghiêm, Vũ Năng An, Nguyễn Hồng Nghi, Nguyễn Thế Đoàn, Khương Mễ, Pham Văn Khoa đã chụp và quay được những bức ảnh, những đoạn phim tài liệu rất quý về Ngày Độc lập 2/9/1945, về nạn đói năm Ất Daauh 1945, sự kiện lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pháp trở về (1946), Pháp tấn công phố Hàng Than và Trận đánh tại Ô Cầu Dền (1946), Trận đánh đồn Mộc Hóa của Tiểu đoàn 307 (1948), Chiến dịch Biên giới ở Đông Khê (1950)… Trong số các nhà văn, nghệ sỹ thời kháng chiến chống Pháp, có những người đã hy sinh anh dũng như Nam Cao, Trần Đăng, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Tô Ngọc Vân.

Đồng hành cùng dân tộc, cùng nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng, nhiều thế hệ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ tiếp tục trở thành người chiến sĩ trong các cuộc trường chinh đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đánh thắng bè lúc bành trướng xâm lược và diệt chủng ở hai đầu đất nước, đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng nhiều hội đoàn, tổ chức làm công tác văn hóa, văn nghệ, khoa học, kỹ thuật; các trí thức, văn nghệ sỹ Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, danh hiệu Nghệ sỹ Nhân dân, Nghệ sỹ Ưu tú và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Đến nay, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam liên tục tăng. Các nhà khoa học đang đi đầu trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; hai năm qua là cuộc chiến phòng, chống đại dịch COVID-19, nghiên cứu phát triển bộ kit xét nghiệm, phần mềm ứng dụng khai báo y tế, truy vết người nghi nhiễm, khám chữa bệnh từ xa, điều chế vaccine và thuốc điều trị COVID-19.

Đảng, Nhà ước khẳng định quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn sức mạnh nội sinh, là động lực to lớn để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển đất nước; khâu đột phá đầu tiên và rất quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao, trong đó, tầng lớp trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ là đội ngũ tài năng của dân tộc, từ đó góp phần nâng tầm trí tuệ, tầm văn hóa của dân tộc, sức mạnh nổi trội của đất nước./.
Yêu nước ST.

Việt Nam bác bỏ nhận định không chính xác trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ


Việt Nam bác bỏ những nhận định không khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF).

Tại buổi họp báo thường kỳ ngày 9/5, bình luận về nội dung Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của USCIRF, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: "Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân".

Tại Việt Nam, không có ai bị phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo được bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật. Điều này được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013, hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng như được tôn trọng trên thực tế.

Các chính sách, nỗ lực và thành tựu Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng đã được nhiều nước ghi nhận và đánh giá cao. Đây cũng là những đánh giá, nhận xét của các nước tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế UPR chu kỳ IV.

"Việt Nam bác bỏ những nhận định không khách quan mang tính định kiến và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ", Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu rõ. 

Cũng theo bà Phạm Thu Hằng, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục trao đổi với phía Mỹ về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm trên tinh thần cởi mở, thẳng thắn, tôn trọng lẫn nhau để đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững giữa Việt Nam và Mỹ. 

*Liên quan đến báo cáo về "Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2024” mà tổ chức Phóng viên không biên giới đưa ra tuần qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định:

"Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tiếp cận thông tin. Điều này được quy định rất rõ ràng trong Hiến pháp năm 2013 cũng như các văn bản pháp luật khác của Việt Nam".

Theo bà Phạm Thu Hằng, những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này được các nước ghi nhận, đánh giá cao, được trình bày rõ ràng, toàn diện, minh bạch tại Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế UPR chu kỳ IV.

"Tuy nhiên, một số tổ chức cố tình đưa ra những luận điệu vu cáo, định kiến nhắm vào Việt Nam nhằm âm mưu phá hoại sự phát triển kinh tế xã hội, chia rẽ Việt nam với cộng đồng quốc tế. Chúng tôi kiên quyết phản đối", Người phát ngôn Bộ Ngoại giao bày tỏ.

L.Chi

Lật tẩy những luận điệu sai trái về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ


Những ngày qua, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024) thì trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn tìm cách xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Những luận điệu xuyên tạc lịch sử

Họ cho rằng “đó chỉ là cuộc chiến của hai bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do”; “yếu tố quyết định là Việt Nam nhờ sự viện trợ từ bên ngoài chứ bộ đội, dân công thì không thể “làm nên chuyện””! Đây là những luận điệu nhằm công kích, xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; tạo sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân về chiến thắng lịch sử vĩ đại của dân tộc; hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những hi sinh mất mát trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.

Thậm chí càng gần đến ngày lễ lớn của dân tộc thì càng nhiều clip, video được chia sẻ trên mạng xã hội; nhiều trang báo của các thế lực thù địch đăng tải thông tin về Chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo rằng: “Chiến thắng Điện Biên Phủ không gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Chiến thắng Điện Biên Phủ giành được do thực dân Pháp mắc những sai lầm chiến lược”;  “Điện Biên Phủ là sản phẩm ưa thích bạo lực cách mạng của chủ nghĩa cộng sản”…

Họ xảo biện rằng, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”; sự kiện Điện Biên Phủ đã chấm dứt “khai hóa văn minh”. Mặt khác, có những kẻ ảo vọng về lòng từ bi của chủ nghĩa thực dân, đế quốc khi cho rằng, làm gì phải phát động chiến tranh, chỉ cần đợi đến lúc nào đó thực dân họ khai hóa văn minh xong rồi sẽ trả lại chủ quyền đất nước!

Tính chất thâm độc, nguy hiểm trong âm mưu, thủ đoạn chống phá của số đối tượng xấu là hướng đến giới trẻ, nhất là những người thiếu hiểu biết lịch sử để gieo rắc tâm lý hoài nghi, thiếu niềm tin về tính chính danh, chính nghĩa của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Việc đánh lận bản chất của cuộc chiến tranh là rất nguy hại vì thông qua đó, họ tìm cách hướng lái đến những nhận thức mơ hồ, lệch lạc, làm cho một số người nhẹ dạ, cả tin dễ mất cảnh giác, không nhận thức đúng bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân, trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bên cạnh việc tập trung xuyên tạc vào bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, các thế lực thù địch, phản động còn vu cáo Việt Nam “hiếu chiến”, từ đó phủ nhận cuộc kháng chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc ta. Một số bài viết phủ nhận công lao của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; tìm cách phủ nhận tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn… Mục đích của các thế lực thù địch, phản động nhằm làm cho người dân Việt Nam phân tâm, lung lay tư tưởng; gieo rắc tâm lý hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam và sự phát triển của các lực lượng vũ trang cách mạng.

Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối còn lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh phía Nam thời gian qua để xuyên tạc rằng: “Thay vì tổ chức sự kiện to lãng phí tiền của, sao không lấy tiền đó cấp nước cứu dân”; “tiền thuế của dân, thay vì mang nước đến cho dân lại mang đi phô trương lực lượng”; “lực lượng Quân đội, Công an từ dân mà ra nhưng bỏ mặc dân chết khát”; “Đảng chỉ lo phô trương quyền lực thanh thế mà không đoái hoài gì đến người dân đói khát”...

Thậm chí, các đối tượng còn lồng ghép nội dung kích động, phân biệt, kỳ thị vùng miền, cho rằng người miền Nam chỉ giúp người miền Nam, rồi đòi chia lại “Bắc kỳ”, “Nam kỳ”… Từ đó cho rằng, người dân phải đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ hiện tại ở Việt Nam thì mới có cơ hội được sống trong một chế độ tự do, dân chủ, có cuộc sống no ấm, hạnh phúc chứ không phải canh cánh lo toan với đói nghèo, thiên tai, lụt bão!

Với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo nêu trên, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối đã cố tình “bẻ lái”, lồng ghép và đưa ra những thông tin xuyên tạc, sai sự thật hòng đánh tráo bản chất, xuyên tạc ý nghĩa, tầm vóc, giá trị lịch sử dân tộc và thời đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ, xuyên tạc nghệ thuật quân sự Việt Nam, chiến công và sự hy sinh anh dũng của quân và dân ta; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phủ định lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử các lực lượng vũ trang cách mạng.

Từ truyền thống ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đến chiến thắng lừng lẫy địa cầu

Từ ngày 13/3-7/5/1954, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Vượt qua bom đạn của kẻ thù, vượt qua điều kiện khắc nghiệt của địa hình, thời tiết, hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vũ khí, đạn dược được quân và dân cả nước vận chuyển đến mặt trận Điện Biên Phủ cho bộ đội bằng những phương tiện thô sơ để góp phần vào thắng lợi cuối cùng. Kỳ tích đó nằm ngoài suy nghĩ của thế lực vốn lấy sức mạnh vũ khí làm cơ sở giải quyết chiến tranh và không hiểu được sự đồng lòng, ủng hộ toàn tâm, toàn ý của cả dân tộc.

Cùng với Chiến thắng Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền, Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang (1427) của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa của Quang Trung (1789), Chiến thắng Điện Biên Phủ là một bản hùng ca bất hủ, là một trong những chiến thắng hiển hách của lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, của ý chí tự lực, tự cường; thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân trên thế giới và của lương tri thời đại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, chấm dứt gần 100 năm Việt Nam là thuộc địa của Pháp, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam; đồng thời là một sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”.

Trên phương diện quốc tế, cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, sự giúp đỡ quý báu của các nước XHCN anh em, nhận được sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh, đặc biệt là liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã mang một ý nghĩa rất lớn và đã đi vào lịch sử nhân loại, bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ bởi đế quốc Mỹ trong một chiến dịch quân sự lớn.

Kết cục chiến dịch này được xem là một thảm họa bất ngờ đối với thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại âm mưu duy trì chế độ thuộc địa ở Đông Dương của Pháp. Chiến thắng góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; thôi thúc, cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latin đứng lên tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất cứ lịch sử xâm chiếm thực dân nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của những người bản xứ. Đó không phải là công cuộc “khai hóa văn minh” mà chỉ mượn đó làm tấm bình phong để thực hiện dã tâm áp bức, nô dịch. Trong “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án chế độ thực dân: “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta được giàu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”… Do đó, không thể gọi là “khai hóa văn minh” khi biến một dân tộc độc lập, có chủ quyền thành quốc gia thuộc địa, nửa phong kiến. Những kẻ rêu rao Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”, chiến thắng Điện Biên Phủ là chấm dứt sự “khai hóa văn minh”, đó là những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong lịch sử.

70 năm, thời gian lùi xa nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn vang vọng mãi, tiếp thêm sức mạnh, động lực cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi trái tim người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ ngày nay nói riêng đều dâng trào niềm kiêu hãnh, tự hào về chiến công hiển hách, tinh thần quật khởi của cha anh, có sức lan tỏa mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực tinh thần to lớn giúp thế hệ trẻ ngày nay có thêm điểm tựa để tích cực rèn luyện, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.

Ngày nay, Việt Nam và Pháp cũng đã vun đắp nên mối quan hệ Đối tác chiến lược, cùng hợp tác, phát triển. Trong dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ trưởng Quân đội Pháp Sébastien Lecornu cùng Quốc Vụ khanh phụ trách Cựu Chiến binh và Ký ức chiến tranh đã đến thăm Việt Nam và dự Lễ Kỷ niệm tháng tại Điện Biên Phủ, điều đó thể hiện tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, cùng hợp tác vì sự phát triển của quốc gia và nhân dân hai nước.

Đại sứ Pháp tại Hà Nội Olivier Brochet khẳng định, Pháp đánh giá cao vị thế, vai trò của Việt Nam và mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước phát triển sâu rộng, toàn diện hơn nữa trong thời gian tới. Do đó, việc tổ chức lễ kỷ niệm hoàn toàn không phải là để chia rẽ mối quan hệ Việt - Pháp như những giọng điệu xảo trá, âm mưu, thủ đoạn thâm độc

Tuệ Thiên - Bình Nguyên – Đại Thắng

Nhận diện thủ đoạn bôi lem công tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam


Xuyên tạc, chống phá vấn đề nhân quyền là một trong những âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Trong thời gian qua, lợi dụng các hoạt động đối ngoại nhân quyền của Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc.

Tái diễn những trò lố

Mới đây, ngày 7/5/2024, tại trụ sở Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sỹ), đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu đã tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Trước sự kiện này, các đối tượng xấu lại tung ra những trò lố, hướng lái xuyên tạc trên mạng xã hội. Thông qua các bài viết, hình ảnh, video hay livestream, các tổ chức Việt Tân, Hội anh em dân chủ… xuyên tạc rằng “Việt Nam nhận được nhiều khuyến nghị cho thấy mức độ tồi tệ nhân quyền”, từ đó giở lại chiêu bài “Việt Nam cần chấm dứt đàn áp nhân quyền”! Trang mạng xã hội của Việt Tân livestream, rêu rao “Biểu tình trước Geneva Thụy Sỹ: Người Việt Nam đòi nhân quyền cho Việt Nam”. Trước đó, tổ chức này đăng nhiều thông tin kêu gọi tụ tập buổi biểu tình diễn ra ngày 7/5/2024 trước trụ sở Liên hợp quốc tại Geneva “nhằm lên án những vi phạm nhân quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam”!

Trò hề này được số này “nhai đi nhai lại”. Ngày 3/10/2023, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) vu cáo, kêu gọi “Việt Nam cần khẩn cấp cải tổ quyền con người trước chu kỳ rà soát định kỳ phổ quát (UPR)”. Điều đáng nói là những kêu gọi trên của HRW hoàn toàn không có cơ sở và lý lẽ xác thực, tổ chức này phớt lờ về tình hình quyền con người ở Việt Nam, dựa vào những thông tin sai trái, cóp nhặt từ những cá nhân, tổ chức bất mãn, chống đối trong nước cung cấp. Đến ngày 11/1/2024, HRW lại công bố báo cáo thường niên về thực hành nhân quyền tại hơn 100 quốc gia năm 2023, trong đó có Việt Nam. Báo cáo này tiếp tục đưa ra các nhận định về nhân quyền tại Việt Nam một cách phiến diện, quy chụp.

Có thể thấy, mỗi khi Việt Nam ứng cử, trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc hay trước các phiên đối thoại về báo cáo các quốc gia theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR), khi Hội đồng Nhân quyền thông qua kết quả rà soát… thì những chiêu trò vu khống, chống phá Việt Nam lại diễn ra quyết liệt. Âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của một số hội nhóm phản động, tổ chức đội lốt nhân quyền là thường đưa ra các bản khuyến nghị, thư ngỏ, báo cáo, nêu yêu sách để xuyên tạc ở nước ta không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo; các quyền về dân sự, chính trị bị hạn chế, bị “chà đạp”. Thậm chí họ bịa đặt rằng, những người bất đồng chính kiến bị bắt giam một cách vô cớ, bị ngược đãi; vu cáo chính quyền bắt bớ tùy tiện, đàn áp công dân, xâm phạm quyền con người; đòi thả tự do cho những đối tượng phạm tội bị tạm giam hay bị kết án, nhất là số đối tượng có các hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Bên cạnh đó, họ bịa đặt Việt Nam thực hiện không đúng cam kết quốc tế, không có đóng góp gì cho hoạt động nhân quyền quốc tế, kêu gọi các quốc gia không bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền. Trong quá trình bầu cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc và trong các phiên đối thoại nhân quyền thường niên, lực lượng thù địch tổ chức các cuộc biểu tình ở hải ngoại để phản đối phái đoàn của Việt Nam, gây sức ép tới các quốc gia khi lựa chọn lá phiếu bầu cử.

Những chiêu trò này diễn đi, diễn lại nhiều lần, từ năm này qua năm khác, nội dung được biến tấu theo bối cảnh sự kiện nhưng ý đồ thì không thay đổi. Mục đích là làm lu mờ những nỗ lực, thành tựu trong công tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam; làm cho cộng đồng quốc tế hiểu sai, hiểu không đầy đủ về tình hình nhân quyền và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nhân quyền; hạ thấp, phớt lờ những thành tựu đã được công nhận trong bảo đảm, thúc đẩy quyền công dân, quyền con người; hạ bệ vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới…

Thành tựu về nhân quyền và những đóng góp của Việt Nam là khách quan, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao

Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến nay, việc bảo đảm, thúc đẩy quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước ta chú trọng và không ngừng bổ sung, phát triển qua các thời kỳ. Không chỉ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, dành nhiều nguồn lực, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Đảng, Nhà nước ta còn chú trọng đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân quyền. Với sự cố gắng không ngừng, Việt Nam có quyền tự hào khi đạt được nhiều thành tựu quan trọng về công tác đối ngoại nhân quyền.

 Trong quá trình đổi mới đất nước, Việt Nam thường xuyên hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về quyền con người và đạt được nhiều thành tựu trên thực tế. Các quyền dân sự, chính trị, y tế, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí, Internet, bình đẳng giới đều đạt những tiến bộ rõ rệt. Việt Nam đã vươn lên từ một nước nghèo để trở thành một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, hội nhập quốc tế sâu rộng. Các chỉ số về phát triển con người (HDI), bình đẳng giới (GEI) của Việt Nam do các cơ quan Liên hợp quốc xếp hạng liên tục được cải thiện.  Năm 1977, nước ta gia nhập Liên hợp quốc, đây là dấu mốc quan trọng trong công tác đối ngoại nhân quyền, một mặt Việt Nam tranh thủ các nguồn lực có giá trị đối với công tác nhân quyền trong nước, mặt khác là cơ sở để Việt Nam đóng góp nhiều hơn cho công tác nhân quyền thế giới. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN đã trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 với số phiếu cao, đây là lần thứ 2 chúng ta trở thành thành viên của tổ chức này. Thực tế cho thấy, quốc gia trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền là điều không hề dễ dàng bởi bên cạnh việc quốc gia đó phải đạt những tiến bộ vượt bậc về bảo vệ quyền con người trong nước còn phải có đóng góp tích cực, hiệu quả thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu.

Việc Việt Nam đã hai lần trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng rõ nhất về thành tựu liên quan quyền con người ở nước ta. Đồng thời cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, không chỉ những thành tựu nhân quyền trong nước mà những đóng góp của nước ta đối với công tác nhân quyền của Liên hợp quốc. Đây là minh chứng rõ nét nhất phản bác lại những luận điệu sai trái, thù địch. Vào ngày 3/4/2023, tại Geneva (Thụy Sỹ), Việt Nam soạn thảo và đề xuất với Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA). Nghị quyết do Việt Nam khởi xướng đã tập hợp được 98 nước tham gia đồng bảo trợ.  Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người. Đồng thời, chúng ta phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Việt Nam luôn chủ động trong công tác đối thoại nhân quyền. Tháng 6/2023, tại Maroc, đoàn đại biểu Quốc hội do ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị Nghị viện về đối thoại tôn giáo do Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) tổ chức, quy tụ 163 quốc gia. Tham vấn tại hội nghị, đoàn đại biểu Việt Nam đã thông tin cho bạn bè quốc tế biết về những nỗ lực, thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; ghi nhận những đóng góp của các tổ chức tôn giáo trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Ngày 27/7/2023, đoàn Việt Nam đã thăm chính thức Tòa thánh Vatican theo lời mời của Giáo hoàng Francis. Trong chuyến thăm này, Chính phủ Việt Nam và Tòa thánh Vatican đã thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của đại diện thường trú và Văn phòng đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam”. Đây là hình mẫu của sự tin tưởng lẫn nhau và là cơ sở để thúc đẩy, mở rộng quan hệ hơn nữa giữa Việt Nam và các tổ chức, nhà nước tôn giáo. Đối với Hoa Kỳ, EU, Việt Nam luôn chủ động trong đối thoại nhân quyền, đưa công tác này ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất. Hằng năm, nước ta đều chủ động cử các phái đoàn trao đổi, thảo luận về vấn đề nhân quyền để đi đến tháo gỡ những vướng mắc, thống nhất nhận thức chung, tôn trọng tính đặc thù về nhân quyền của các bên, thúc đẩy sự phát triển.

Việt Nam cũng tích cực tham gia duy trì hòa bình, cứu trợ nhân đạo. Từ năm 2014 đến nay, hằng năm Việt Nam đều cử hàng trăm lượt cán bộ, nhân viên thuộc lực lượng vũ tranh nhân dân Việt Nam đi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đặc biệt, ngày 9/2/2023, 100 cán bộ, chiến sĩ của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đã sang Thổ Nhĩ Kỳ để tham gia công tác cứu nạn vụ động đất, được Chính phủ và nhân dân nước bạn, cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Trở lại với phiên đối thoại ngày 7/5 vừa qua, Việt Nam tái khẳng định chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, luôn xác định con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới, phát triển đất nước. Các vấn đề được các nước quan tâm, Việt Nam đã trình bày, phúc đáp, thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời. Trong chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, quá trình triển khai các khuyến nghị, Việt Nam đã tổ chức tham vấn rộng rãi với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, trong đó có các tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức xã hội, các quốc gia thành viên, đối tác phát triển, và người dân. Hằng trăm các ý kiến, phản hồi đã được thu thập và được thể hiện rõ nét trong Báo cáo này. Đến nay có 239/241 khuyến nghị (tương đương 99,2%) đã được hoàn thành hoặc triển khai một phần. Cũng trong chu kỳ này đã có 45 luật và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề quyền con người đã được thông qua hoặc sửa đổi, trong đó có một số luật quan trọng như Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống ma túy và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.

Đối với một số ý kiến dựa trên những nguồn tin chưa được kiểm chứng, đoàn Việt Nam đã giải đáp, cung cấp thông tin xác thực. Việt Nam nhấn mạnh nguyên tắc đối thoại, hợp tác, tôn trọng khác biệt; đồng thời nêu rõ không có một mô hình chung cho tất cả các nước mà mỗi nước tùy theo đặc thù, điều kiện của mình sẽ có con đường phát triển riêng. Việt Nam tự tin tiếp bước trên con đường đã chọn hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, người dân được thụ hưởng các quyền con người cơ bản. Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ và cam kết của mình trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Trịnh Thúy – Chu Thắng

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng về chủ quyền biển, đảo Việt Nam

(TG) - Trong những năm qua, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của Internet và các nền tảng mạng xã hội, các đối tượng phản động, thù địch triệt để lợi dụng để tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình Biển Đông và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

Thứ nhất, xuyên tạc Việt Nam nhu nhược, làm ngơ trước những vấn đề liên quan đến Biển Đông.

Các đối tượng thù địch, phản động lợi dụng những sự kiện như: tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông năm 2014; Mỹ và các nước đồng minh ngày càng can dự sâu hơn vào vấn đề Biển Đông; sự cố môi trường do Formosa gây ra đối với các tỉnh miền Trung; nước ngoài triển khai trên thực địa, tăng cường các biện pháp nhằm gia tăng sức mạnh quân sự và thực hiện ý đồ kiểm soát, hiện thực hóa các yêu sách phi pháp tại Biển Đông; tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục kiểm soát, ngăn cản, xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, vùng biển giáp ranh giữa Việt Nam và Indonesia; tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt trái phép hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng quản lý biển của các nước bắt giữ, xử lý… để tung ra các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; gây hoang mang dư luận, đánh lạc hướng dư luận; “tung hỏa mù” hòng “che mắt” và gây mất niềm tin trong nhân dân. Chúng tung ra những “khẩu hiệu” sặc mùi gây hấn và kích động nhằm  ý đồ - mục đích: kêu gọi những người nhẹ dạ, thiếu chín chắn, bất mãn tham gia biểu tình, gây rối nhằm tạo sự chia rẽ, bất ổn trong nước cũng như làm phức tạp mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước láng giềng trong khu vực; sâu xa hơn là hô hào biểu tình gây bạo loạn lật đổ...

Thứ hai, vừa xuyên tạc vừa “khuyến cáo” Việt Nam “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây bất ổn chính trị, mất đoàn kết trong nước và quốc tế, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Chúng lấy cớ việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bác bỏ hầu hết yêu sách chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc để tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; cổ súy cho việc “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây mất ổn định, mất đoàn kết trong nước và quốc tế làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cùng với đó, chúng tung ra các bài viết, bình luận, phỏng vấn của những “chuyên gia” từ hải ngoại với những “luận điểm trọng tâm” là phê phán Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay quá yếu, không thể “ba không, bốn không” mà xoay xở được. Vì thế, chỉ có “một viễn cảnh tươi đẹp” cho Việt Nam là cần phải liên minh với Mỹ để “giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”(!)…

Thứ ba, lợi dụng vấn đề Biển Đông và chủ quyền biển, đảo để xuyên tạc, gắn với những vấn đề chính trị khác như công tác nhân sự Đại hội Đảng toàn quốc; các “mật ước bán nước”...

Chúng “dựng chuyện” trên một số nền tảng mạng xã hội như Youtube, rêu rao rằng một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam “im lặng” “thỏa hiệp” với nước ngoài để đổi lấy vị trí cao trong Đảng; chúng tìm mọi cách kích động nhân dân “hãy lên tiếng”, “hãy tham gia biểu tình”, “hãy tẩy chay Trung Quốc”...

Thứ tư, tối ưu hóa, đa dạng hóa các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, phản động trên không gian mạng.

Cùng với tăng cường các nội dung xuyên tạc, chống phá trên các cơ quan báo chí hải ngoại lâu nay vẫn đưa tin tức thiếu thiện chí về Việt Nam như: BBC, RFA, VOA, RFI.... các tổ chức phản động lưu vong như “Việt Tân”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều Đại Việt”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên” cùng những hội nhóm trá hình trong nước như “Lập Quyền Dân”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Tập hợp Quốc dân Việt”… đã không ngừng duy trì và phát triển các website,  tăng cường đưa ra những thông tin bịa đặt, bình luận bát nháo, hình ảnh cắt ghép... để xuyên tạc về vấn đề Biển Đông và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. “Cộng hưởng” với những giọng điệu chống phá đó là những tài khoản mạng xã hội trở thành những “trợ thủ đắc lực” trong tuyên truyền xuyên tạc, chống phá, vi pham pháp luật Việt Nam.

Nhiều website phản động, chống phá Việt Nam được “nuôi dưỡng” khá mạnh về tài chính, có hệ thống máy chủ, đội ngũ kỹ thuật và chuyên gia bảo mật riêng. Vì thế, “việc của chúng” chỉ là ra sức tung tin, phát tán các “tài liệu” xuyên tạc tình hình biển, đảo; thủ đoạn quen thuộc của chúng vẫn là lợi dụng, tranh thủ những “điểm nóng” trên Biển Đông để “nhai đi nhai lại” các giọng điệu bóp méo, bịa đặt, ngụy tạo về quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo...

Thứ năm, thông qua mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi cách móc nối, cấu kết với một số cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất; lôi kéo, mua chuộc, tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá từ bên trong...

Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới trẻ để tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước. Dưới danh nghĩa “đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “yêu nước”,... các đối tượng ở nước ngoài cấu kết với số đối tượng trong nước tìm cách hình thành, phát triển cái gọi là “xã hội dân sự” cùng các tổ chức, hội nhóm bất hợp pháp. Trong đó, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Ngoài ra, chúng còn tìm cách tiếp cận, mua chuộc cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đang làm việc trong các bộ phận trọng yếu, cơ mật để cung cấp tài liệu, thông tin bí mật quốc gia cho chúng sử dụng chống phá Việt Nam.

LUẬN CỨ TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Một là, thực tế đã chứng minh rằng, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền quốc gia trên biển là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. “Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”(1).

Vì thế, cần khẳng định rằng, Việt Nam thường xuyên lên tiếng hoặc lên án đối với các hành vi, hoạt động xâm lấn trái phép trên Biển Đông của Trung Quốc và các nước khác trong khu vực; phản đối công khai, rộng rãi và vận động dư luận quốc tế, sự ủng hộ của các nước; tăng cường trao đổi, tích cực đối thoại song phương. Trong một số trường hợp, Việt Nam đã gửi Công hàm phản đối, bày tỏ lập trường rõ ràng, nhất quán của Việt Nam...

Trước sau như một, chủ trương giải quyết của Việt Nam là: “Mọi hoạt động trên biển cần được tiến hành dựa trên cơ sở của UNCLOS 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển, tại các vùng biển được xác lập theo công ước. Việt Nam mong các nước sẽ nỗ lực đóng góp, thực hiện mục tiêu, nguyện vọng chung của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế, về việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, thượng tôn pháp luật ở Biển Đông”.

Hai là, Việt Nam ngày càng hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nhận thức rõ tầm quan trọng, vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và nhất quán về biển, đảo. Với việc thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW (khóa X), ngày 9/2/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, lần đầu tiên chúng ta có một Chiến lược biển toàn diện, tầm nhìn rộng, bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường... Cùng với đó, Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, như: Bộ Luật Hàng hải năm 1991; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991; Luật Dầu khí năm 1993; Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997; Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 1998; Luật Biển Việt Nam 2012; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015...

Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 8, khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 36-NQ/TW về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trong đó xác định các mục tiêu tổng quát như: đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương...

Ba là, Việt Nam luôn ý thức rất rõ, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hiện nay, phải luôn tự chủ, độc lập, tự cường, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, chứ không thể chỉ dựa vào việc liên minh quân sự với một cường quốc.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ chủ trương: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”.

Đảng ta cũng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Theo đó, phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Quan điểm thống nhất, xuyên suốt của Việt Nam là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp pháp trên Biển Đông, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước khác.

Bốn là, trong giai đoạn mới, Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị không ngừng điều chỉnh, tăng cường, bổ sung các giải pháp hiệu quả, phù hợp hơn để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển cũng như loại bỏ các thông tin xấu độc, chống phá. Xác định binh chủng thông tin - tuyên truyền là một trong những mũi nhọn xung kích, cùng với các binh chủng khác giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo an ninh quốc gia - dân tộc.

Theo đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin - tuyên truyền, chú trọng hơn nữa đến công tác thông tin đối ngoại, trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc: 1) Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo. 2) Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, minh bạch các chính sách, chính xác hóa và cụ thể hóa thông tin về tình hình biển, đảo của Việt Nam. 3) Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông internet trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, tăng cường bảo đảm an ninh mạng và áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình biển Đông nói chung và vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng.../.

                                                                   Nguyễn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Nga