Thứ Năm, 16 tháng 5, 2024
THI ĐUA ĐỂ MỌI NGƯỜI ĐỀU LÀM VIỆC TỐT HƠN…
Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” - yêu cầu quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẦM NHÌN VĂN HOÁ SÂU SẮC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TỪ LỜI KÊU GỌI THI ĐUA ÁI QUỐC!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH SÁCH “CHIÊU HIỀN ĐÃI SĨ” CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CHẾ ĐỘ MỚI SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM!
Việt Nam bác bỏ nhận định không chính xác trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ
Việt Nam bác bỏ
những nhận định không khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về
tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong Báo cáo tự do tôn giáo
quốc tế năm 2024 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF).
Tại buổi họp báo thường kỳ ngày 9/5, bình luận về nội
dung Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của USCIRF, Người phát ngôn Bộ Ngoại
giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: "Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính
sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc
không theo tôn giáo của người dân".
Tại Việt Nam, không có ai bị phân biệt đối xử vì lý
do tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo được bảo đảm
theo đúng các quy định của pháp luật. Điều này được thể hiện rất rõ trong Hiến
pháp Việt Nam năm 2013, hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng như được tôn
trọng trên thực tế.
Các chính sách, nỗ lực và thành tựu Việt Nam trong bảo
đảm quyền con người, trong đó có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng đã được nhiều
nước ghi nhận và đánh giá cao. Đây cũng là những đánh giá, nhận xét của các nước
tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam về bảo vệ và thúc đẩy
quyền con người theo cơ chế UPR chu kỳ IV.
"Việt Nam bác bỏ những nhận định không khách
quan mang tính định kiến và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt
Nam được nêu trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2024 của Ủy ban Tự
do Tôn giáo quốc tế Mỹ", Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu rõ.
Cũng theo bà Phạm Thu Hằng, Việt Nam đã, đang và
sẽ tiếp tục trao đổi với phía Mỹ về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm
trên tinh thần cởi mở, thẳng thắn, tôn trọng lẫn nhau để đóng góp vào việc thúc
đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền
vững giữa Việt Nam và Mỹ.
*Liên quan đến báo cáo về "Chỉ số tự do báo
chí thế giới năm 2024” mà tổ chức Phóng viên không biên giới đưa ra tuần
qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định:
"Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc
đẩy các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do biểu đạt, tự
do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tiếp cận thông tin. Điều này được quy định
rất rõ ràng trong Hiến pháp năm 2013 cũng như các văn bản pháp luật khác của Việt
Nam".
Theo bà Phạm Thu Hằng, những nỗ lực và thành tựu của
Việt Nam trong lĩnh vực này được các nước ghi nhận, đánh giá cao, được trình
bày rõ ràng, toàn diện, minh bạch tại Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy
quyền con người theo cơ chế UPR chu kỳ IV.
"Tuy nhiên, một số tổ chức cố tình đưa ra những
luận điệu vu cáo, định kiến nhắm vào Việt Nam nhằm âm mưu phá hoại sự phát triển
kinh tế xã hội, chia rẽ Việt nam với cộng đồng quốc tế. Chúng tôi kiên quyết
phản đối", Người phát ngôn Bộ Ngoại giao bày tỏ.
L.Chi
Lật tẩy những luận điệu sai trái về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
Những ngày
qua, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ
niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024) thì trên mạng
xã hội, các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn tìm
cách xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Những luận điệu
xuyên tạc lịch sử
Họ cho rằng “đó chỉ là cuộc chiến của hai bên hiếu
chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do”; “yếu tố
quyết định là Việt Nam nhờ sự viện trợ từ bên ngoài chứ bộ đội, dân công thì
không thể “làm nên chuyện””! Đây là những luận điệu nhằm công kích, xuyên tạc bản
chất, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; tạo sự hoài
nghi trong quần chúng nhân dân về chiến thắng lịch sử vĩ đại của dân tộc; hạ thấp
uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những hi sinh mất mát trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.
Thậm chí càng gần đến ngày lễ lớn của dân tộc thì
càng nhiều clip, video được chia sẻ trên mạng xã hội; nhiều trang báo của các
thế lực thù địch đăng tải thông tin về Chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân
Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo rằng: “Chiến thắng Điện Biên Phủ không gắn liền với
sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Chiến thắng
Điện Biên Phủ giành được do thực dân Pháp mắc những sai lầm chiến lược”;
“Điện Biên Phủ là sản phẩm ưa thích bạo lực cách mạng của chủ nghĩa cộng sản”…
Họ xảo biện rằng, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là
“khai hóa văn minh”; sự kiện Điện Biên Phủ đã chấm dứt “khai hóa văn minh”. Mặt
khác, có những kẻ ảo vọng về lòng từ bi của chủ nghĩa thực dân, đế quốc khi cho
rằng, làm gì phải phát động chiến tranh, chỉ cần đợi đến lúc nào đó thực dân họ
khai hóa văn minh xong rồi sẽ trả lại chủ quyền đất nước!
Tính chất thâm độc, nguy hiểm trong âm mưu, thủ đoạn
chống phá của số đối tượng xấu là hướng đến giới trẻ, nhất là những người thiếu
hiểu biết lịch sử để gieo rắc tâm lý hoài nghi, thiếu niềm tin về tính chính
danh, chính nghĩa của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Việc đánh lận bản chất của cuộc
chiến tranh là rất nguy hại vì thông qua đó, họ tìm cách hướng lái đến những nhận
thức mơ hồ, lệch lạc, làm cho một số người nhẹ dạ, cả tin dễ mất cảnh giác,
không nhận thức đúng bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân,
trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Bên cạnh việc tập trung xuyên tạc vào bản chất, tính
chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, các
thế lực thù địch, phản động còn vu cáo Việt Nam “hiếu chiến”, từ đó phủ nhận cuộc
kháng chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc ta. Một số bài viết
phủ nhận công lao của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba
của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; tìm cách phủ nhận tấm gương anh dũng hy sinh của
Anh hùng Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn… Mục đích của các thế lực thù
địch, phản động nhằm làm cho người dân Việt Nam phân tâm, lung lay tư tưởng;
gieo rắc tâm lý hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam
và sự phát triển của các lực lượng vũ trang cách mạng.
Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong
và một số đối tượng chống đối còn lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở
các tỉnh phía Nam thời gian qua để xuyên tạc rằng: “Thay vì tổ chức sự kiện to
lãng phí tiền của, sao không lấy tiền đó cấp nước cứu dân”; “tiền thuế của dân,
thay vì mang nước đến cho dân lại mang đi phô trương lực lượng”; “lực lượng
Quân đội, Công an từ dân mà ra nhưng bỏ mặc dân chết khát”; “Đảng chỉ lo phô
trương quyền lực thanh thế mà không đoái hoài gì đến người dân đói khát”...
Thậm chí, các đối tượng còn lồng ghép nội dung kích động,
phân biệt, kỳ thị vùng miền, cho rằng người miền Nam chỉ giúp người miền Nam, rồi
đòi chia lại “Bắc kỳ”, “Nam kỳ”… Từ đó cho rằng, người dân phải đứng lên đấu
tranh lật đổ chế độ hiện tại ở Việt Nam thì mới có cơ hội được sống trong một
chế độ tự do, dân chủ, có cuộc sống no ấm, hạnh phúc chứ không phải canh cánh
lo toan với đói nghèo, thiên tai, lụt bão!
Với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo nêu trên, các
thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối
đã cố tình “bẻ lái”, lồng ghép và đưa ra những thông tin xuyên tạc, sai sự thật
hòng đánh tráo bản chất, xuyên tạc ý nghĩa, tầm vóc, giá trị lịch sử dân tộc và
thời đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ, xuyên tạc nghệ thuật quân sự Việt Nam,
chiến công và sự hy sinh anh dũng của quân và dân ta; kích động, chia rẽ khối đại
đoàn kết dân tộc, phủ định lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử các lực lượng
vũ trang cách mạng.
Từ truyền thống
ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đến chiến thắng lừng lẫy địa cầu
Từ ngày 13/3-7/5/1954, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo
của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành trận quyết chiến chiến
lược Điện Biên Phủ. Vượt qua bom đạn của kẻ thù, vượt qua điều kiện khắc nghiệt
của địa hình, thời tiết, hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vũ khí,
đạn dược được quân và dân cả nước vận chuyển đến mặt trận Điện Biên Phủ cho bộ
đội bằng những phương tiện thô sơ để góp phần vào thắng lợi cuối cùng. Kỳ tích
đó nằm ngoài suy nghĩ của thế lực vốn lấy sức mạnh vũ khí làm cơ sở giải quyết
chiến tranh và không hiểu được sự đồng lòng, ủng hộ toàn tâm, toàn ý của cả dân
tộc.
Cùng với Chiến thắng Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền,
Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang (1427) của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, Chiến thắng
Ngọc Hồi - Đống Đa của Quang Trung (1789), Chiến thắng Điện Biên Phủ là một bản
hùng ca bất hủ, là một trong những chiến thắng hiển hách của lịch sử hàng ngàn
năm đấu tranh chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Là thắng
lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, của ý chí tự lực, tự cường; thắng lợi
của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân trên thế giới và của lương
tri thời đại.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, chấm
dứt gần 100 năm Việt Nam là thuộc địa của Pháp, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp
định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng
Việt Nam; đồng thời là một sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa
thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định:
“Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”.
Trên phương diện quốc tế, cuộc kháng chiến trường kỳ,
gian khổ, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, sự giúp đỡ quý báu
của các nước XHCN anh em, nhận được sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc bị áp bức
ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh, đặc biệt là liên minh chiến đấu giữa ba nước
Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó
có nhân dân tiến bộ Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã mang một ý nghĩa rất lớn
và đã đi vào lịch sử nhân loại, bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng
là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc
châu Âu, được hỗ trợ bởi đế quốc Mỹ trong một chiến dịch quân sự lớn.
Kết cục chiến dịch này được xem là một thảm họa bất
ngờ đối với thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương
Tây, đã đánh bại âm mưu duy trì chế độ thuộc địa ở Đông Dương của Pháp. Chiến
thắng góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại;
thôi thúc, cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latin đứng lên tự
giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất cứ lịch sử xâm chiếm
thực dân nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của những người bản xứ.
Đó không phải là công cuộc “khai hóa văn minh” mà chỉ mượn đó làm tấm bình
phong để thực hiện dã tâm áp bức, nô dịch. Trong “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án chế độ thực
dân: “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân nghèo
nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ,
nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân
cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta được giàu
lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”… Do đó, không thể gọi
là “khai hóa văn minh” khi biến một dân tộc độc lập, có chủ quyền thành quốc
gia thuộc địa, nửa phong kiến. Những kẻ rêu rao Pháp xâm lược Việt Nam là “khai
hóa văn minh”, chiến thắng Điện Biên Phủ là chấm dứt sự “khai hóa văn minh”, đó
là những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong lịch sử.
70 năm, thời gian lùi xa nhưng ý nghĩa và bài học lịch
sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn vang vọng mãi, tiếp thêm sức mạnh, động
lực cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên con đường đổi mới, hội nhập và
phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi trái tim người Việt Nam nói
chung và thế hệ trẻ ngày nay nói riêng đều dâng trào niềm kiêu hãnh, tự hào về
chiến công hiển hách, tinh thần quật khởi của cha anh, có sức lan tỏa mạnh mẽ,
trở thành một trong những động lực tinh thần to lớn giúp thế hệ trẻ ngày nay có
thêm điểm tựa để tích cực rèn luyện, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước ngày
càng giàu mạnh.
Ngày nay, Việt Nam và Pháp cũng đã vun đắp nên mối
quan hệ Đối tác chiến lược, cùng hợp tác, phát triển. Trong dịp kỷ niệm 70 năm
Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ trưởng Quân đội Pháp Sébastien Lecornu cùng Quốc
Vụ khanh phụ trách Cựu Chiến binh và Ký ức chiến tranh đã đến thăm Việt Nam và
dự Lễ Kỷ niệm tháng tại Điện Biên Phủ, điều đó thể hiện tinh thần “khép lại quá
khứ, hướng tới tương lai”, cùng hợp tác vì sự phát triển của quốc gia và nhân
dân hai nước.
Đại sứ Pháp tại Hà Nội Olivier Brochet khẳng định,
Pháp đánh giá cao vị thế, vai trò của Việt Nam và mong muốn tiếp tục thúc đẩy
quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước phát triển sâu rộng, toàn diện hơn nữa
trong thời gian tới. Do đó, việc tổ chức lễ kỷ niệm hoàn toàn không phải là để
chia rẽ mối quan hệ Việt - Pháp như những giọng điệu xảo trá, âm mưu, thủ đoạn
thâm độc
Tuệ Thiên - Bình Nguyên – Đại Thắng
Nhận diện thủ đoạn bôi lem công tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam
Xuyên tạc, chống
phá vấn đề nhân quyền là một trong những âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của các thế
lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Trong thời gian qua, lợi dụng các hoạt
động đối ngoại nhân quyền của Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội
chính trị lại đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc.
Tái diễn những
trò lố
Mới đây, ngày 7/5/2024, tại trụ sở Liên hợp quốc
(Geneva, Thụy Sỹ), đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng
Việt dẫn đầu đã tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo
cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp
quốc. Trước sự kiện này, các đối tượng xấu lại tung ra những trò lố, hướng lái
xuyên tạc trên mạng xã hội. Thông qua các bài viết, hình ảnh, video hay
livestream, các tổ chức Việt Tân, Hội anh em dân chủ… xuyên tạc rằng “Việt Nam
nhận được nhiều khuyến nghị cho thấy mức độ tồi tệ nhân quyền”, từ đó giở lại
chiêu bài “Việt Nam cần chấm dứt đàn áp nhân quyền”! Trang mạng xã hội của Việt
Tân livestream, rêu rao “Biểu tình trước Geneva Thụy Sỹ: Người Việt Nam đòi
nhân quyền cho Việt Nam”. Trước đó, tổ chức này đăng nhiều thông tin kêu gọi tụ
tập buổi biểu tình diễn ra ngày 7/5/2024 trước trụ sở Liên hợp quốc tại Geneva
“nhằm lên án những vi phạm nhân quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam”!
Trò hề này được số này “nhai đi nhai lại”. Ngày
3/10/2023, tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) vu cáo, kêu gọi “Việt Nam cần khẩn
cấp cải tổ quyền con người trước chu kỳ rà soát định kỳ phổ quát (UPR)”. Điều
đáng nói là những kêu gọi trên của HRW hoàn toàn không có cơ sở và lý lẽ xác thực,
tổ chức này phớt lờ về tình hình quyền con người ở Việt Nam, dựa vào những
thông tin sai trái, cóp nhặt từ những cá nhân, tổ chức bất mãn, chống đối trong
nước cung cấp. Đến ngày 11/1/2024, HRW lại công bố báo cáo thường niên về thực
hành nhân quyền tại hơn 100 quốc gia năm 2023, trong đó có Việt Nam. Báo cáo
này tiếp tục đưa ra các nhận định về nhân quyền tại Việt Nam một cách phiến diện,
quy chụp.
Có thể thấy, mỗi khi Việt Nam ứng cử, trúng cử thành
viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc hay trước các phiên đối thoại về báo cáo
các quốc gia theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR), khi Hội đồng Nhân quyền
thông qua kết quả rà soát… thì những chiêu trò vu khống, chống phá Việt Nam lại
diễn ra quyết liệt. Âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của một số hội nhóm
phản động, tổ chức đội lốt nhân quyền là thường đưa ra các bản khuyến nghị, thư
ngỏ, báo cáo, nêu yêu sách để xuyên tạc ở nước ta không có tự do ngôn luận, tự
do tôn giáo; các quyền về dân sự, chính trị bị hạn chế, bị “chà đạp”. Thậm chí
họ bịa đặt rằng, những người bất đồng chính kiến bị bắt giam một cách vô cớ, bị
ngược đãi; vu cáo chính quyền bắt bớ tùy tiện, đàn áp công dân, xâm phạm quyền
con người; đòi thả tự do cho những đối tượng phạm tội bị tạm giam hay bị kết
án, nhất là số đối tượng có các hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền
thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Bên cạnh đó,
họ bịa đặt Việt Nam thực hiện không đúng cam kết quốc tế, không có đóng góp gì
cho hoạt động nhân quyền quốc tế, kêu gọi các quốc gia không bầu Việt Nam vào Hội
đồng Nhân quyền. Trong quá trình bầu cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc
và trong các phiên đối thoại nhân quyền thường niên, lực lượng thù địch tổ chức
các cuộc biểu tình ở hải ngoại để phản đối phái đoàn của Việt Nam, gây sức ép tới
các quốc gia khi lựa chọn lá phiếu bầu cử.
Những chiêu trò này diễn đi, diễn lại nhiều lần, từ
năm này qua năm khác, nội dung được biến tấu theo bối cảnh sự kiện nhưng ý đồ
thì không thay đổi. Mục đích là làm lu mờ những nỗ lực, thành tựu trong công
tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam; làm cho cộng đồng quốc tế hiểu sai, hiểu
không đầy đủ về tình hình nhân quyền và các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về nhân quyền; hạ thấp, phớt lờ những thành tựu đã được công nhận
trong bảo đảm, thúc đẩy quyền công dân, quyền con người; hạ bệ vị thế, uy tín của
Việt Nam trên trường quốc tế, tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới…
Thành tựu về
nhân quyền và những đóng góp của Việt Nam là khách quan, được quốc tế ghi nhận,
đánh giá cao
Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho
đến nay, việc bảo đảm, thúc đẩy quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước ta chú
trọng và không ngừng bổ sung, phát triển qua các thời kỳ. Không chỉ quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo, dành nhiều nguồn lực, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp
luật về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Đảng, Nhà nước ta còn chú trọng đẩy mạnh
công tác đối ngoại nhân quyền. Với sự cố gắng không ngừng, Việt Nam có quyền tự
hào khi đạt được nhiều thành tựu quan trọng về công tác đối ngoại nhân quyền.
Trong quá trình đổi mới đất nước, Việt Nam thường
xuyên hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về quyền con người và đạt được
nhiều thành tựu trên thực tế. Các quyền dân sự, chính trị, y tế, giáo dục, bảo
đảm an sinh xã hội, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí,
Internet, bình đẳng giới đều đạt những tiến bộ rõ rệt. Việt Nam đã vươn lên từ
một nước nghèo để trở thành một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng
nhanh nhất trên thế giới, hội nhập quốc tế sâu rộng. Các chỉ số về phát triển
con người (HDI), bình đẳng giới (GEI) của Việt Nam do các cơ quan Liên hợp quốc
xếp hạng liên tục được cải thiện. Năm 1977, nước ta gia nhập Liên hợp quốc,
đây là dấu mốc quan trọng trong công tác đối ngoại nhân quyền, một mặt Việt Nam
tranh thủ các nguồn lực có giá trị đối với công tác nhân quyền trong nước, mặt
khác là cơ sở để Việt Nam đóng góp nhiều hơn cho công tác nhân quyền thế giới.
Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN đã trúng cử Hội đồng Nhân
quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 với số phiếu cao, đây là lần thứ 2 chúng
ta trở thành thành viên của tổ chức này. Thực tế cho thấy, quốc gia trúng cử
vào Hội đồng Nhân quyền là điều không hề dễ dàng bởi bên cạnh việc quốc gia đó
phải đạt những tiến bộ vượt bậc về bảo vệ quyền con người trong nước còn phải
có đóng góp tích cực, hiệu quả thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu.
Việc Việt Nam đã hai lần trở thành thành viên Hội đồng
Nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng rõ nhất về thành tựu liên quan quyền con
người ở nước ta. Đồng thời cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc
tế, không chỉ những thành tựu nhân quyền trong nước mà những đóng góp của nước
ta đối với công tác nhân quyền của Liên hợp quốc. Đây là minh chứng rõ nét nhất
phản bác lại những luận điệu sai trái, thù địch. Vào ngày 3/4/2023, tại Geneva
(Thụy Sỹ), Việt Nam soạn thảo và đề xuất với Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc
thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và
30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA). Nghị quyết do Việt Nam
khởi xướng đã tập hợp được 98 nước tham gia đồng bảo trợ. Đến nay, Việt
Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con
người. Đồng thời, chúng ta phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động
quốc tế (ILO). Việt Nam luôn chủ động trong công tác đối thoại nhân quyền.
Tháng 6/2023, tại Maroc, đoàn đại biểu Quốc hội do ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ
nhiệm Ủy ban Đối ngoại làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị Nghị viện về đối thoại
tôn giáo do Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) tổ chức, quy tụ 163 quốc gia.
Tham vấn tại hội nghị, đoàn đại biểu Việt Nam đã thông tin cho bạn bè quốc tế
biết về những nỗ lực, thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
ghi nhận những đóng góp của các tổ chức tôn giáo trên các lĩnh vực đời sống xã
hội.
Ngày 27/7/2023, đoàn Việt Nam đã thăm chính thức Tòa
thánh Vatican theo lời mời của Giáo hoàng Francis. Trong chuyến thăm này, Chính
phủ Việt Nam và Tòa thánh Vatican đã thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của
đại diện thường trú và Văn phòng đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam”.
Đây là hình mẫu của sự tin tưởng lẫn nhau và là cơ sở để thúc đẩy, mở rộng quan
hệ hơn nữa giữa Việt Nam và các tổ chức, nhà nước tôn giáo. Đối với Hoa Kỳ, EU,
Việt Nam luôn chủ động trong đối thoại nhân quyền, đưa công tác này ngày càng
đi vào chiều sâu, thực chất. Hằng năm, nước ta đều chủ động cử các phái đoàn
trao đổi, thảo luận về vấn đề nhân quyền để đi đến tháo gỡ những vướng mắc, thống
nhất nhận thức chung, tôn trọng tính đặc thù về nhân quyền của các bên, thúc đẩy
sự phát triển.
Việt Nam cũng tích cực tham gia duy trì hòa bình, cứu
trợ nhân đạo. Từ năm 2014 đến nay, hằng năm Việt Nam đều cử hàng trăm lượt cán
bộ, nhân viên thuộc lực lượng vũ tranh nhân dân Việt Nam đi làm nhiệm vụ gìn giữ
hòa bình Liên hợp quốc. Đặc biệt, ngày 9/2/2023, 100 cán bộ, chiến sĩ của Bộ Quốc
phòng và Bộ Công an đã sang Thổ Nhĩ Kỳ để tham gia công tác cứu nạn vụ động đất,
được Chính phủ và nhân dân nước bạn, cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Trở lại với phiên đối thoại ngày 7/5 vừa qua, Việt
Nam tái khẳng định chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người,
luôn xác định con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình đổi
mới, phát triển đất nước. Các vấn đề được các nước quan tâm, Việt Nam đã trình
bày, phúc đáp, thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời. Trong chu kỳ IV của Hội đồng
Nhân quyền Liên hợp quốc, quá trình triển khai các khuyến nghị, Việt Nam đã tổ
chức tham vấn rộng rãi với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, trong đó
có các tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức xã hội, các quốc gia thành viên, đối
tác phát triển, và người dân. Hằng trăm các ý kiến, phản hồi đã được thu thập
và được thể hiện rõ nét trong Báo cáo này. Đến nay có 239/241 khuyến nghị
(tương đương 99,2%) đã được hoàn thành hoặc triển khai một phần. Cũng trong chu
kỳ này đã có 45 luật và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến
vấn đề quyền con người đã được thông qua hoặc sửa đổi, trong đó có một số luật
quan trọng như Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống ma túy và Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình.
Đối với một số ý kiến dựa trên những nguồn tin chưa
được kiểm chứng, đoàn Việt Nam đã giải đáp, cung cấp thông tin xác thực. Việt
Nam nhấn mạnh nguyên tắc đối thoại, hợp tác, tôn trọng khác biệt; đồng thời nêu
rõ không có một mô hình chung cho tất cả các nước mà mỗi nước tùy theo đặc thù,
điều kiện của mình sẽ có con đường phát triển riêng. Việt Nam tự tin tiếp bước
trên con đường đã chọn hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, người dân được thụ hưởng các quyền con người cơ bản. Việt
Nam sẽ tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ và cam kết của mình trong khuôn khổ các
điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
Trịnh Thúy – Chu Thắng
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng về chủ quyền biển, đảo Việt Nam
(TG) - Trong
những năm qua, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của Internet và các nền tảng mạng
xã hội, các đối tượng phản động, thù địch triệt để lợi dụng để tung ra những luận
điệu sai trái, xuyên tạc về tình hình Biển Đông và chủ quyền biển, đảo của Việt
Nam, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm
mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.
CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC
TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Thứ nhất, xuyên tạc Việt Nam nhu nhược, làm ngơ trước những vấn
đề liên quan đến Biển Đông.
Các đối tượng thù địch, phản động lợi dụng những sự
kiện như: tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và
2012; dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển
Đông năm 2014; Mỹ và các nước đồng minh ngày càng can dự sâu hơn vào vấn đề Biển
Đông; sự cố môi trường do Formosa gây ra đối với các tỉnh miền Trung;
nước ngoài triển khai trên thực địa, tăng cường các biện pháp nhằm gia tăng sức
mạnh quân sự và thực hiện ý đồ kiểm soát, hiện thực hóa các yêu sách phi pháp tại
Biển Đông; tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp;
các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục kiểm soát, ngăn cản, xua đuổi, khống chế,
thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở
khu vực quần đảo Hoàng Sa, vùng biển giáp ranh giữa Việt Nam và Indonesia; tình
hình ngư dân Việt Nam đánh bắt trái phép hải sản ở vùng biển của quốc gia khác,
bị lực lượng quản lý biển của các nước bắt giữ, xử lý… để tung ra các
luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và công tác đấu tranh bảo
vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; gây hoang mang dư luận, đánh lạc hướng dư
luận; “tung hỏa mù” hòng “che mắt” và gây mất niềm tin trong nhân dân.
Chúng tung ra những “khẩu hiệu” sặc mùi gây hấn và kích động nhằm ý
đồ - mục đích: kêu gọi những người nhẹ dạ, thiếu chín chắn, bất mãn tham
gia biểu tình, gây rối nhằm tạo sự chia rẽ, bất ổn trong nước
cũng như làm phức tạp mối quan hệ quốc tế giữa Việt
Nam với Trung Quốc và các nước láng giềng trong khu vực; sâu xa
hơn là hô hào biểu tình gây bạo loạn lật đổ...
Thứ hai, vừa xuyên tạc vừa “khuyến cáo” Việt Nam “bài Trung, thân
Mỹ” hòng gây bất ổn chính trị, mất đoàn kết trong nước và
quốc tế, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Chúng lấy cớ việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bác bỏ
hầu hết yêu sách chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc để tái diễn nhiều
chiêu trò, luận điệu xuyên tạc về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước Việt Nam; cổ súy cho việc “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây mất ổn định,
mất đoàn kết trong nước và quốc tế làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cùng
với đó, chúng tung ra các bài viết, bình luận, phỏng vấn của những “chuyên gia”
từ hải ngoại với những “luận điểm trọng tâm” là phê phán Việt Nam thực hiện
chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc
phòng - an ninh Việt Nam hiện nay quá yếu, không thể “ba không, bốn
không” mà xoay xở được. Vì thế, chỉ có “một viễn cảnh tươi đẹp” cho Việt
Nam là cần phải liên minh với Mỹ để “giữ được chủ quyền biển, đảo và
bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”(!)…
Thứ ba, lợi dụng vấn đề Biển Đông và chủ quyền biển, đảo để xuyên
tạc, gắn với những vấn đề chính trị khác như công tác nhân sự Đại
hội Đảng toàn quốc; các “mật ước bán nước”...
Chúng “dựng chuyện” trên một số nền
tảng mạng xã hội như Youtube, rêu rao rằng một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Việt Nam “im lặng” “thỏa hiệp” với nước ngoài để đổi lấy vị
trí cao trong Đảng; chúng tìm mọi cách kích động nhân
dân “hãy lên tiếng”, “hãy tham gia biểu tình”, “hãy tẩy chay Trung Quốc”...
Thứ tư, tối ưu hóa, đa dạng hóa các thủ đoạn tuyên truyền
xuyên tạc, phản động trên không gian mạng.
Cùng với tăng cường các nội dung xuyên tạc, chống
phá trên các cơ quan báo chí hải ngoại lâu nay vẫn đưa tin tức thiếu thiện
chí về Việt Nam như: BBC, RFA, VOA, RFI.... các tổ chức phản động
lưu vong như “Việt Tân”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều Đại
Việt”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên” cùng những hội nhóm trá hình trong
nước như “Lập Quyền Dân”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Tập hợp Quốc dân Việt”… đã
không ngừng duy trì và phát triển các website, tăng cường đưa ra những
thông tin bịa đặt, bình luận bát nháo, hình ảnh cắt ghép... để xuyên tạc về vấn
đề Biển Đông và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. “Cộng hưởng” với những giọng
điệu chống phá đó là những tài khoản mạng xã hội trở thành những “trợ thủ
đắc lực” trong tuyên truyền xuyên tạc, chống phá, vi pham pháp luật Việt Nam.
Nhiều website phản động, chống phá Việt
Nam được “nuôi dưỡng” khá mạnh về tài chính, có hệ thống máy chủ, đội
ngũ kỹ thuật và chuyên gia bảo mật riêng. Vì thế, “việc của chúng” chỉ là ra
sức tung tin, phát tán các “tài liệu” xuyên tạc tình hình biển,
đảo; thủ đoạn quen thuộc của chúng vẫn là lợi dụng, tranh thủ những
“điểm nóng” trên Biển Đông để “nhai đi nhai lại” các giọng điệu bóp
méo, bịa đặt, ngụy tạo về quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước
trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo...
Thứ năm, thông qua mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi
cách móc nối, cấu kết với một số cán bộ, đảng viên tha hóa, biến
chất; lôi kéo, mua chuộc, tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá từ
bên trong...
Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền các
luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới
trẻ để tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước. Dưới danh nghĩa “đấu tranh
bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “yêu nước”,... các đối tượng ở nước ngoài cấu kết
với số đối tượng trong nước tìm cách hình thành, phát triển cái gọi là “xã hội
dân sự” cùng các tổ chức, hội nhóm bất hợp pháp. Trong đó, các thế lực bên
ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập
hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận
điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt
Nam. Ngoài ra, chúng còn tìm cách tiếp cận, mua chuộc cán bộ, đảng viên thoái
hóa, biến chất đang làm việc trong các bộ phận trọng yếu, cơ mật để cung cấp tài
liệu, thông tin bí mật quốc gia cho chúng sử dụng chống phá Việt Nam.
LUẬN CỨ TRONG ĐẤU TRANH PHẢN
BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
Một là, thực tế đã chứng minh rằng, trong quá trình xây dựng và phát triển
đất nước, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền quốc gia trên
biển là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta: “Nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. “Mọi
hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”(1).
Vì thế, cần khẳng định rằng, Việt
Nam thường xuyên lên tiếng hoặc lên án đối với các hành vi,
hoạt động xâm lấn trái phép trên Biển Đông của Trung Quốc và
các nước khác trong khu vực; phản đối công khai, rộng rãi và vận động dư
luận quốc tế, sự ủng hộ của các nước; tăng cường trao đổi, tích cực đối
thoại song phương. Trong một số trường hợp, Việt Nam đã gửi Công
hàm phản đối, bày tỏ lập trường rõ ràng, nhất quán của Việt
Nam...
Trước sau như một, chủ trương giải quyết của
Việt Nam là: “Mọi hoạt động trên biển cần được tiến hành dựa trên cơ sở của
UNCLOS 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc
gia ven biển, tại các vùng biển được xác lập theo công ước. Việt Nam mong các
nước sẽ nỗ lực đóng góp, thực hiện mục tiêu, nguyện vọng chung của các nước
trong khu vực và cộng đồng quốc tế, về việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh,
thượng tôn pháp luật ở Biển Đông”.
Hai là, Việt Nam ngày càng hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản
lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Nhận thức rõ tầm quan trọng, vị trí chiến lược
của biển, đảo Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách đúng đắn và nhất quán về biển, đảo. Với việc thông qua Nghị quyết số
09-NQ/TW (khóa X), ngày 9/2/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020”, lần đầu tiên chúng ta có một Chiến lược biển toàn diện, tầm
nhìn rộng, bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an
ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường... Cùng với đó, Nhà nước cũng
đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ
trương lớn của Đảng về quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, như: Bộ Luật Hàng
hải năm 1991; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991; Luật Dầu khí năm
1993; Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997; Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển
Việt Nam năm 1998; Luật Biển Việt Nam 2012; Luật Tài nguyên, môi trường biển và
hải đảo năm 2015...
Đặc biệt, tại Hội nghị Trung
ương 8, khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 36-NQ/TW về “Chiến lược
phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”,
trong đó xác định các mục tiêu tổng quát như: đưa Việt
Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững
kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi
khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển,
tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh
thái biển quan trọng; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn
đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương...
Ba là, Việt Nam luôn ý thức rất rõ, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
hiện nay, phải luôn tự chủ, độc lập, tự cường, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, chứ
không thể chỉ dựa vào việc liên minh quân sự với một cường quốc.
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu
rõ chủ trương: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước
này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng
lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
trong quan hệ quốc tế”.
Đảng ta cũng xác định: “Kiên quyết,
kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát
triển đất nước”. Theo đó, phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của
toàn dân tộc, của hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh
thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập
chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước,
nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Bảo
vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.
Quan điểm thống nhất, xuyên suốt của Việt Nam
là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp
pháp trên Biển Đông, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng
và phát triển đất nước, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, các
nước ASEAN và các nước khác.
Bốn là, trong giai đoạn mới, Đảng, Nhà nước và cả hệ thống
chính trị không ngừng điều chỉnh, tăng cường, bổ sung các giải pháp hiệu
quả, phù hợp hơn để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển cũng như
loại bỏ các thông tin xấu độc, chống phá. Xác định binh chủng thông tin -
tuyên truyền là một trong những mũi nhọn xung kích, cùng với các binh chủng
khác giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo an ninh quốc gia - dân tộc.
Theo đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin
- tuyên truyền, chú trọng hơn nữa đến công tác thông tin đối ngoại, trên cơ sở
đảm bảo các nguyên tắc: 1) Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo. 2) Tăng cường công tác tuyên truyền,
giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về bảo vệ chủ quyền
biển, đảo cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, minh bạch các chính
sách, chính xác hóa và cụ thể hóa thông tin về tình hình biển, đảo của Việt
Nam. 3) Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông internet trong việc đấu
tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, tăng cường bảo đảm an ninh mạng và
áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những
thông tin xấu độc về tình hình biển Đông nói chung và vấn đề chủ quyền biển, đảo
của Việt Nam nói riêng.../.
Nguyễn
Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Nga


