Thứ Năm, 16 tháng 5, 2024

QUỐC KHÍ VÀ NGUYÊN KHÍ VIỆT NAM VỚI KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

 

Mỗi quốc gia, dân tộc với tư cách là một quốc gia hay quốc gia dân tộc, dù trong thời đại nào và nhất là trong thế giới ngày nay, đều mang thể diện của riêng mình. Đó là danh dự, uy tín của quốc gia, nhất là trong quan hệ với các nước khác. Ấy là Quốc thể.

Không một quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển và thịnh vượng không có, không gìn giữ và không nối đời vun đắp phẩm giá, tư chất, bản lĩnh, khí phách… làm nên địa vị, sức mạnh và uy tín quốc gia. Ấy là Quốc khí.

Việt Nam không nằm ngoài quy luật muôn đời, muôn thời ấy.

Nếu vị thế, hình ảnh, sức mạnh, danh dự, uy tín và ảnh hưởng của đất nước thể hiện một cách toàn vẹn, đa diện và thống nhất nằm ở mỗi người ngay từ bên trong và quốc gia trên tất cả các mối bang giao với các nước khác trên trường quốc tế làm nên Quốc thể Việt Nam thì Quốc khí Việt Nam là sự hàm chứa và tỏa sáng toàn bộ những tư chất mang tính chung và riêng, tính phổ quát và đặc thù làm nên dung mạo, hun đúc hồn phách quốc gia, làm nên thần thái, tỏa ra sức mạnh hiện hữu và hướng tới tương lai dân tộc, nhìn từ mọi phía một cách mạnh mẽ và vững bền. Và, nhân tố căn bản và quyết định cùng với hồn thiêng sông núi làm nên Quốc khí Việt Nam là gần 100 triệu đồng bào, trong đó rường cột là nhân tài, thì ấy là Nguyên khí Việt Nam.

Do thế, gần 100 triệu đồng bào nước Việt ta, nhất là những người đại diện của quốc gia không thể và càng không được phép làm một điều gì có thể làm tổn hại Quốc thể thì chính là vun đắp cho Quốc khí thịnh vượng, làm cho đất nước cường thịnh và xứng đáng với thế giới, lại cũng chính là góp phần chăm lo Nguyên khí vững bền để Đất nước phồn vinh, Dân tộc mãi mãi trường tồn. Ấy là vận khí và khí vận của Quốc gia.

Sinh ra, phát triển và khẳng định mình ở một vị trí mang tầm vóc địa chính trị, địa kinh tế án ngữ ngã ba con đường giao lưu từ Á sang Âu, cũng là địa quân sự hiểm yếu nhìn ra Biển Đông, nối khắp những biển lớn: từ Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương, đồng thời là nơi hợp lưu tiếp biến và thâu hóa những dòng văn hóa lớn lên mặt Bắc, xuống phương Nam, ra phía Đông… Việt Nam không chỉ đơn thuần bồi tụ và phát triển Quốc khí, mà bước theo tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước và giao lưu quốc tế của mình, còn chăm lo Quốc khí ấy thành nguyên khí quốc gia.

Quốc khí, tức cái khí vận và vận khí của quốc gia, thì nguyên khí là khí đầu tiên, là thiên khí vậy. Ấy chính là tinh thần, tinh khí của con người Việt Nam vậy. Nó hàm chứa trong cả lực lượng vật chất và lực lượng tinh thần của quốc gia. Bởi thế, cổ nhân nói: “Đạo trị nước, trước tiên là bồi dưỡng nguyên khí” (Trị quốc chi đạo, tiên tại dưỡng kỳ nguyên khí). Cổ nhân lại nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” cũng là vậy.

Nhìn lại lịch sử mấy ngàn năm, có thể nói, dường như đất nước Việt Nam sinh ra cùng với lịch sử chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhưng đầy máu và nước mắt của mình cùng sự tận cùng sinh tử của công cuộc bảo vệ, xây đắp và thống nhất giang san. Chỉ tính trong 2020 năm sau Công nguyên, dân tộc Việt Nam bước qua ngót nghìn năm Bắc thuộc. Trên thế giới, cho tới nay, chưa thấy một dân tộc nào sau cả nghìn năm lệ thuộc vẫn không bị đồng hóa, không mất giống nòi, vùng dậy và quét sạch làu vết nhơ nô lệ, giành lại giang san. Dân tộc tiếp tục kết liễu 13 cuộc đại chiến tranh xâm lược, đánh bại đủ loại giặc ngoại xâm hung bạo nhất của mọi thời đại đến từ phương Bắc, phương Đông tới phương Tây, vì Tổ quốc Việt Nam độc lập và thống nhất. Từ “Nam quốc sơn hà” qua “Bình Ngô đại cáo” tới “Tuyên ngôn độc lập”… tất cả dồn tụ, kết tinh và tỏa sáng Quốc khí Việt Nam: Đoàn kết - Quật khởi - Nhân ái - Hòa mục - Cầu thị - Thủy chung -Thích ứng - Can trường… Hệ giá trị Đất nước ấy theo thời gian trường cửu làm nên sức mạnh văn hóa vô địch giữ vững độc lập, tự do, thống nhất quốc gia, trở thành cái nôi nuôi dưỡng, phát triển dân tộc trường tồn và hòa nhập, trưởng thành cùng nhân loại mấy nghìn năm nay. Quốc khí còn thì Đất nước còn, Dân tộc còn.

Vì thế hiện nay, hơn hết bao giờ, chúng ta càng phải tự mình trở nên hùng mạnh. Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, dù kẻ thù tàn bạo thế nào, dù hung hiểm bao nhiêu suốt mấy nghìn năm qua, cũng không thể khuất phục và tiêu diệt được dân tộc Việt Nam độc lập và thống nhất. Chúng ta hiểu rằng, nước không độc lập, thống nhất tất biệt phái, phân ly và mất tự do; quốc gia không hùng mạnh thì nước khó lòng độc lập, thống nhất và nhân dân càng không có tự do, hạnh phúc. Đây chính là dân chủ và thước đo phát triển dân chủ và dân chủ phát triển tôn vinh Quốc thể Việt Nam.

Nếu không biết giữ lấy, đau đáu và chăm lo vun đắp Quốc khí ấy để Đất nước ngày càng tự mình độc lập, thống nhất, dân chủ và hùng cường, thì họa quốc gia suy vong, lệ thuộc mới sẽ tới và theo đó, thân phận mỗi người lâm vào vòng vong quốc nô mới, sẽ cận kề! Gần 100 triệu người Việt Nam, dù ở khắp hoàn cầu, cần một chữ Đồng, để giữ vững và tôn vinh vị thế, sức mạnh, danh dự và uy tín Việt Nam trước hoàn cầu! Đó là ý chí, lương tri, là nhân phẩm, đạo lý là bản lĩnh và khí phách Dân tộc ta suốt mấy ngàn năm dồn tụ, kết tinh và trở thành Quốc bảo Việt Nam, vì độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.

Hơn bao giờ hết, hiện nay, thời kỳ cạnh tranh và phát triển mới của thế giới, với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong không gian phẳng và tốc độ toàn cầu hóa, đã và đang mở ra những cơ hội phát triển mới mẻ chưa từng có, với quy mô, tốc độ đột phá nhưng cũng đặt ra những thách thức tụt hậu nan giải đối với tất cả các quốc gia, dân tộc, trên quy mô toàn cầu trong một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh mới, gay gắt của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Việt Nam càng phải độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.

Đó là con đường phát triển duy nhất đúng, nếu muốn bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ tương dung với xu thế phát triển của thế giới. Càng không thể chờ đợi, cầu toàn hoặc thái độ do dự, ngập ngừng và càng không thể chấp nhận hành động nửa vời, chắp vá. Lúc này, đất nước chỉ có hoặc tụt hậu hoặc phát triển; trong thế giới hiện nay, không thể đứng im, cũng bởi hơn hết bao giờ, đứng im, dù ở bất cứ phương diện nào, cũng chính là tụt hậu, trong thế giới biến động khôn lường ngày nay.

Chúng ta phải đổi mới không chỉ tầm nhìn, quyết sách mà còn chỉnh đốn, sửa sang về nền móng căn bản, kế sách lâu dài, cơ chế chiến lược phát triển phù hợp với đất nước và thời đại: Đổi mới tầm nhìn chiến lược, trỗi dậy toàn diện, đồng bộ sức mạnh dân tộc, thâu thái sức mạnh thời đại xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và bền vững, với khát vọng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và nhân văn, giữ vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Nếu chúng ta không định vị chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa dân tộc mình, đất nước mình, nhất định sẽ càng khó tìm được chỗ đứng xứng đáng trên trường quốc tế, và càng khó có cơ hội góp phần mình cùng nhân loại xây dựng thế giới. Đó là vận mệnh quốc gia, là danh dự của dân tộc! Pháp tốt nhất để định vị đất nước!

Khi thế giới càng toàn cầu hóa thì vấn đề dân tộc đối với mỗi quốc gia càng nổi lên như một mệnh đề quan thiết. Do đó, xử lý vấn đề dân tộc vì sự phát triển toàn cầu và chủ động tiên lượng nắm lấy tổng thể sự vận động toàn cầu để giải quyết cụ thể, thiết thực những công việc của dân tộc phải và đang trở thành mệnh lệnh hành động song trùng một cách tự nhiên và tất yếu.

Không có phương lược phát triển nào khác hơn là, trên đường văn hóa, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, phải trở thành động lực căn bản và to lớn trong tiến trình phát triển đất nước hiện nay và tương lai. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước; và trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách, vạch ra những phương pháp và những biện pháp riêng của mình. Chúng ta đi con đường của mình một cách độc lập và sáng tạo trên đường lớn nhân loại. Buông lơi, coi nhẹ điều đó là cầm chắc sự thất bại từ nền móng và từ ưu thế.

Vì thế, 22 năm tới, trong tầm nhìn tới năm 2045, trước mắt năm 2030, với công cuộc đổi mới sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam phải trở thành một nước công nghiệp, hiện đại phát triển, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, với bản lĩnh Việt Nam; nơi hội tụ của niềm tin, tri thức và tấm lòng rất mực thủy chung, nhân ái, chan hòa với bạn bè quốc tế; thành viên của thế giới nhân văn, hòa bình và tiến bộ trong chỉnh thể hoàn cầu.

Đó là sự kết tinh Quốc khí thành danh hiệu Việt Nam, bắt đầu từ chỗ đứng Việt Nam, là sự lựa chọn mang tầm chiến lược, là lòng tin chính trị mang tầm quốc tế của đất nước trong thế giới đương đại.

Đó chính là văn hóa Việt Nam.

Bước vào thập kỷ thứ ba của thế kỷ XXI, thế giới càng biến đổi khôn lường và không ngừng tái cơ cấu, theo đó hình thành những xu hướng phát triển mới mẻ.

Một cách tự nhiên, phải đổi mới tư duy và giải quyết hài hòa vấn đề cốt lõi của tất cả các mối quan hệ của Đất nước dù trong nước hay quốc tế mới có thể xây dựng và động lực phát triển quốc gia. Dù muốn hay không, càng tiếp tục đổi mới càng phải lại nhận thức và hành động đúng quy luật vận động của đất nước một cách tổng thể, trước hết và trực tiếp trong việc giải quyết vấn đề trung tâm là lợi ích và chung quanh lợi ích một cách tổng hòa, cụ thể từ cá nhân, giai cấp, giai tầng… tới quốc gia, dân tộc và với các nước trên tầm quốc tế mang tính thống nhất chỉnh thể và đa dạng.

Trải mấy ngàn năm qua, lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là mục tiêu tối thượng. Hiện nay, càng phải bảo vệ nó trước bất cứ ai, trong bất cứ cảnh huống nào. Chân lý “Không có gì quý hơn Độc lập tự do” càng phải tỏa sáng trong ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người. Làm trái đi chính là rước lấy nguy cơ có ngày mất nước. Không có độc lập, tự do và thống nhất không có bất cứ một sự tự quyết chính trị nào, càng không thể nói tới bất cứ một sự phát triển Đất nước xứng đáng nào.

Tất cả nhằm mục tiêu cao cả: Bảo vệ và phát triển lợi ích tối thượng của mỗi người, của từng tổ chức trong xã hội, của quốc gia dân tộc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thế giới đương đại. Lợi ích chính trị của đất nước Việt Nam phải là hạt nhân mà mọi sự đổi mới, dù ở phương diện nào, góc độ nào, mức độ tới đâu… đều xoay chung quanh nó, chứ tuyệt đối không phải ngược lại. Đây là cái bất biến chúng ta cần nắm chắc, để chủ động hành xử trước mọi sự đổi thay của thời cuộc, của thế giới trong lộ trình đổi mới toàn diện, đồng bộ, vì chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Quốc khí Việt Nam theo đó mà thịnh vượng.

Đồng thời, phải chủ động đón bắt thời cơ phát triển. Hơn bao giờ hết, hiện nay, thời cơ chính là lực lượng. Phải nhất định chủ động nắm lấy một cách kiên quyết và hiệu quả cuộc cách mạng 4.0 để thực hiện công cuộc đổi mới vì sự phồn vinh của Tổ quốc, để đưa nước ta từ nước phát triển trung bình thấp thành nước phát triển, có thu nhập cao, bằng sự hóa giải thành công mâu thuẫn gay gắt bậc nhất giữa sự phát triển chậm chạp, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tụt hậu về kinh tế với yêu cầu trở thành nước phát triển cao trong tầm nhìn năm 2045.

Vì thế, con đường tất yếu là đẩy nhanh cuộc đổi mới thời kỳ 4.0 mạnh mẽ, sáng tạo hơn nữa, với khát vọng trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI và giữ vững độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ quốc gia, tiếp tục nâng cao hơn vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.

Hiện nay, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt và phát triển của thế giới, thực tiễn xác tín, lãng phí lớn nhất là lãng phí nhân tài, cạnh tranh lớn nhất là cạnh tranh nhân tài. Không một quốc gia nào trở nên hùng cường mà không thu hút và trọng dụng nhân tài. Mặt khác, kinh nghiệm cũng xác tín, muốn phát triển khác thường, phải có những con người khác thường. Việt Nam với khát vọng hùng cường, không thể đứng ngoài quy luật này.

Chúng ta không thể trở nên và trường tồn, nếu buông lơi việc trọng dụng con người, nhất là chưa đối đãi xứng đáng với những bậc hiền tài. “…Muốn thịnh trị phải được người hiền tài... Cho nên người đứng đầu thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên”. Năm 1429, trong “Chiếu cầu hiền”, Lê Lợi đã tổng kết như thế. Ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Nhân tài và kiến quốc”, với lời kêu gọi: “Kiến thiết thì phải có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Đó là Nguyên khí Việt Nam.

Xưa nay, ở nước ta, đây là nhân tố tiên phong phát triển của bất cứ phương diện nào, ở bất cứ thể chế nào. Các bậc tiền hiền, kiệt hiệt: Chu Văn An, Hưng Đạo Vương, Nguyễn Trãi… chính là những người như vậy. Những khuyến nghị cải cách của Chu Văn An với “Thất trảm sớ”, Nguyễn Trường Tộ với “Tế cấp bát điều”, Nguyễn Lộ Trạch với “Thời vụ sách”… vẫn đang là những bài học lớn trên phương diện này đối với chúng ta. Đất nước hai lần bỏ lỡ thời cơ cất cánh chỉ trong gần 200 năm suốt thế kỷ 18, 19. Đó là những sự phát kiến “bất thường” của những bậc kỳ tài vượt hẳn lên đương thời vị quốc vị dân nhưng “cô độc”.

Càng về cuối thế kỷ XX, lịch sử của chúng ta là lịch sử của sự phát triển rút ngắn, thậm chí là phát triển nhảy vọt, khi thời cơ lịch sử chín muồi và thế lực phát triển tới độ. Trong hai nhân tố thời cơ và lực lượng, những con người viễn kiến, đi tiên phong giữ vai trò đột phá thậm chí quyết định sự phát triển. Đó cũng chính là thời cơ phát triển. Bởi vậy, càng phải chăm lo Quốc khí ngay từ gốc, vun đắp Nguyên khí ngay từ căn bản. Đó là bài học lớn về trọng dụng con người và phát triển nhân tài và cũng là yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ trong tầm nhìn năm 2045.

Do đó, khâu đột phá của đột phá về phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển nhân tài mà rường cột là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược và đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Công cuộc đổi mới cần những người có cá tính sáng tạo khác thường: nhìn thấy những điều chưa ai nhìn thấy, nói những điều ít ai dám nói, làm những việc không ai dám làm; chịu trách nhiệm khi không ai dám chịu trách nhiệm…; càng cần sự đột phá, sáng tạo, vượt trước… hoặc làm thay đổi thực trạng hoặc tạo ra điều mới chưa từng có hoặc tạo ra thời thế hoặc chuyển vần lịch sử hoặc tạo ra vận khí quốc gia hoặc thậm chí đảo lộn đời sống quốc gia, quốc tế, vượt thời đại… Nói gọn lại, cần những người có óc nghĩ trước, dũng cảm đi trước, tiên phong chịu trách nhiệm, thậm chí chấp nhận hy sinh trước, vì quốc gia dân tộc, một cách xứng đáng và ngang tầm. Đây là lực lượng có vai trò quyết định dẫn dắt quốc gia và đi tiên phong hội nhập quốc tế, bảo đảm song hành sự phát triển bền vững chính trị đồng bộ với phát triển kinh tế, chính trị với kỹ trị… phù hợp với quy mô, tốc độ, yêu cầu đổi mới và hội nhập toàn cầu.

Hoàn thiện và thực thi Chiến lược Phát triển nhân tài quốc gia trong tầm nhìn 2045, trước mắt tới năm 2030, trong đó đội ngũ nhân tài quốc gia giữ vị thế xứng đáng, với tư cách là một quốc sách xứng tầm. Đổi mới cơ chế, hoàn thiện bộ thể chế tương dung bảo đảm sự hoạt động sáng tạo và thống nhất đội ngũ chính trị gia - chiến lược gia - quản trị gia - kỹ trị gia và khoa học gia, không kể nguồn gốc xuất thân một cách cách tổng thể, với phương châm: Trọng thị - Trọng dụng - Trọng đãi thật cầu thị và chân thành, thật công bình và chính trực, thật dân chủ và khoa học, thật quang minh và chính đại mang tầm chiến lược. Ở đây, không có chỗ cho sự hẹp hòi, thiển cận, cục bộ, càng không dung thứ cho sự kỳ thị, sợ hãi và vô nhân văn.

Hơn hết bao giờ, giữ vững bản lĩnh chính trị quốc gia, trước hết định vị và tập trung ở bản lĩnh chính trị, văn hóa chính trị của đội ngũ lãnh đạo quốc gia, giữ vai trò tiên phong và động lực cực kỳ quan trọng. Nó phải là sự kết tinh và hội tụ ở đó không chỉ trách nhiệm chính trị, trí tuệ, sự tinh tế, tinh thần dân tộc mà thấm đẫm cả lương tri, sự kinh lịch, sự khoan dung và chủ nghĩa nhân văn, mang hồn cốt, tinh hoa và khí phách của văn hóa truyền thống và hiện đại Việt Nam, trong tầm nhìn toàn cầu.

Công cuộc đổi mới trong tầm nhìn năm 2045 đang thách thức, nếu không dũng cảm đổi mới sáng tạo, không phát huy Quốc khí, không nâng niu Nguyên khí, nhất định không có sự đột phá giải phóng mọi tiềm năng và thực lực phát triển nào như mong muốn, càng rất khó có sự bứt tốc thành công nào như mơ ước.

Đó là cương lĩnh hành động, là thước đo hiệu quả của công cuộc đổi mới, là nhân tố tiếp tục phát triển hệ giá trị vì Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.

Lịch sử không chờ đợi!./.

DÂN LÀ GỐC - BÀI 1: CÓ DÂN LÀ CÓ TẤT CẢ


“Dân là gốc” luôn là kim chỉ nam xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Sức mạnh lòng dân đã đưa đất nước ta vượt qua những thác ghềnh, gian nan suốt hàng nghìn năm lịch sử.
Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được Đảng, Nhà nước ta thấu triệt, vận dụng, là cơ sở tạo nên cội nguồn sức mạnh đoàn kết, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đảng ra đời là vì lợi ích của nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng là nhằm “lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân”, chứ không phải vì lợi ích của người lãnh đạo.
Trong bối cảnh đất nước đang tiếp tục phát triển và đổi mới hiện nay, “dân là gốc” tiếp tục là kim chỉ nam trong tư tưởng, phương châm hành động của Đảng, Nhà nước ta.
Bài 1: Có dân là có tất cả
“Dân là gốc”, tức dân là nền tảng cho mọi thành tựu của một quốc gia, dân tộc. Lịch sử của đất nước cho thấy, từ thời phong kiến, triều đại nào biết thực thi chính sách an dân, lấy dân làm gốc ắt quy tụ được lòng dân, đất nước hưng thịnh, thái bình.
Đi ngược lại với điều này, đất nước rơi vào loạn lạc, bị các thế lực ngoại bang xâm lăng bờ cõi…
Sức mạnh từ nội lực nhân dân
Bộ luật Hình thư đầu tiên của nước ta dưới triều nhà Lý công bố năm 1042 đã xác định: “Chăm lo đến đời sống người dân trăm họ, chỉnh đốn pháp luật sao cho giảm bớt nỗi khổ của dân, xóa bớt bất công trong thiên hạ”. Sự ra đời của Bộ luật Hình thư đầu tiên đã ghi nhận những thay đổi trong nhận thức của triều Lý so với các triều đại trước đó về tầm quan trọng của lòng dân đối với vận mệnh của một quốc gia. Những quyết sách quan trọng của triều Lý về chính trị, kinh tế, giáo dục, luật pháp cũng rất chú trọng chăm lo đến cuộc sống người dân. Nền tảng vững chắc ấy đã giúp triều Lý phát triển hưng thịnh trong hơn 200 năm.
Kế thừa những di sản triều Lý, triều đại nhà Trần trong hoàn cảnh đất nước bị giặc xâm lăng, bài học “lấy dân làm gốc” đã được vua tôi nhà Trần thấm nhuần, thể hiện qua Hội nghị Diên Hồng năm 1284, tập hợp được sức mạnh, thống nhất được ý chí của quân dân, nhờ đó đã ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Một câu chuyện minh chứng cho chân lý “lấy dân làm gốc” là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn từng dốc lòng tâu vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.
Lịch sử đã minh chứng, có dân là có tất cả, không biết dựa vào dân sẽ phải chịu thất bại. Nhà Hồ lâm vào cảnh nước mất, nhà tan, thất bại trước giặc Minh hung tàn cũng bởi không thấu triệt chân lý này. Đến thời Hậu Lê, tư tưởng “lấy dân làm gốc” được phát huy, sau 9 năm trường kỳ kháng chiến, quân dân nhà Lê đã đánh bại giặc Minh, khôi phục xã tắc. Nguyễn Trãi, khi thay mặt Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” đã nêu rõ: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Bản Tuyên ngôn độc lập của triều Lê đã khẳng định tư tưởng vì dân và an dân. Nhà chính trị, quân sự kiệt xuất Nguyễn Trãi cũng khẳng định: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, thể hiện quan điểm quốc gia muốn tồn tại dài lâu và vững mạnh đều phải dựa vào dân, đặt mục đích yên dân lên hàng đầu, bởi dân có yên thì nước mới thịnh.
Không chỉ là tư tưởng xuyên suốt qua các triều đại phong kiến, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ đất nước của dân tộc thế kỷ XX, sức mạnh của quần chúng đã được minh chứng ngay từ những năm 1930-1940 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ-Tĩnh của công nhân, nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng triệu người dân đang sống trong cảnh lầm than nô lệ đã được khích lệ, gắn kết với nhau để nhất tề đứng lên. Tinh thần ấy đã làm nên thành công cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân - phong kiến trên đất nước ta, dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử có đoạn: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đây chính là khát vọng cháy bỏng, là mục tiêu sống của mỗi con người. Bài học nằm lòng “lấy dân làm gốc” của cha ông đến thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục là ngọn đuốc soi đường.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn đặc biệt coi trọng sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, quyết giữ vững nền độc lập dân tộc, đưa kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ở cuộc kháng chiến đó, có những dân công hỏa tuyến, những bà mẹ Việt Nam ngày đêm đào hầm nuôi giấu cán bộ, những nắm gạo sẻ chia của từng gia đình được gom lại, giúp bộ đội ta có thêm sức mạnh, niềm tin để vững bước vào trận đánh lớn. Đó chính là minh chứng rõ nét nhất cho ý chí và sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, cũng là một trong những nhân tố quyết định để làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sức mạnh từ nội lực nhân dân một lần nữa làm nên đỉnh cao Đại thắng mùa Xuân năm 1975, non sông thu về một mối.
Có thể thấy, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ, chăm lo đời sống nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong sự lãnh đạo của Đảng. Có dân là có tất cả đã trở thành phương pháp luận, phương châm hoạt động cách mạng của Người: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”...
Nhân dân là trung tâm, là chủ thể
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn lấy nhân dân là trung tâm, là chủ thể. Tại Đại hội VI của Đảng, một trong bốn bài học lớn được Đảng rút ra trong toàn bộ hoạt động của mình là Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bài học này tiếp tục được quán triệt sâu sắc trong các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng.
Đánh giá quá trình đổi mới, Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Đến Đại hội Đảng lần thứ XII, một trong năm bài học mà Đại hội đúc kết là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định “Dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Tại Đại hội XIII, tư tưởng dân là gốc đã được đúc kết thành bài học riêng, với những nguyên tắc cơ bản, đồng thời tiếp tục được phát triển bổ sung. Theo đó, để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng với thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, văn kiện Đại hội nhấn mạnh việc dân giám sát và dân thụ hưởng.
Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013 - văn bản chính trị, pháp lý cao nhất của đất nước - cụm từ “nhân dân” được viết hoa một cách trang trọng, điều mà các bản Hiến pháp trước đó chưa thể hiện đã cho thấy sự tôn vinh của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân - chủ thể của đất nước, đồng thời khẳng định bản chất Nhà nước do dân, vì dân và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Theo nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý - người trực tiếp tham gia vào quá trình sửa đổi Hiến pháp, từ khi nghiên cứu chủ trương sửa đổi đến khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, hai chữ nhân dân được viết hoa, khẳng định mạnh mẽ quan điểm “lấy dân làm gốc”. Nhân dân là chủ thể của Hiến pháp, chủ thể của quyền lực Nhà nước. Tầm vóc của Hiến pháp, sức sống của Hiến pháp cũng chính từ hai chữ “Nhân dân” đó.
Thông điệp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta muốn khẳng định đến toàn thể nhân dân và bạn bè quốc tế rằng, ở Việt Nam, mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đất nước ta vì thế mà đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành quả này thuộc về nhân dân.
Qua đại dịch COVID-19, điều này càng được khẳng định mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Quan điểm “vì dân” được thể hiện xuyên suốt trong chiến lược của Đảng, Nhà nước về phòng, chống đại dịch COVID-19. Với một đất nước đang nỗ lực vươn lên, rất nhiều khó khăn phía trước, nhưng trong mọi đường lối của Đảng, sự điều hành của Nhà nước đều trước sau như một, chấp nhận thiệt hại về kinh tế nhưng bằng mọi giá, phải bảo vệ tính mạng nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội. Khó có thể kể hết ra đây những chỉ đạo, những quyết sách kịp thời trong hơn hai năm qua để hỗ trợ người dân vượt qua đại dịch, hay phục hồi kinh tế đất nước. Tuy là một nước còn nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam là 1 trong 6 nước có tỷ lệ bao phủ vaccine phòng COVID-19 cao nhất thế giới.
Khẳng định "dân là gốc" tiếp tục là tư tưởng, phương châm hành động của Đảng, Nhà nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mới đây đã nêu rõ, cán bộ, đảng viên phải tôn trọng nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, học hỏi nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. “Phải kiên quyết loại bỏ thái độ bàng quan, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân; kiên quyết loại bỏ mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền lực để xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh./.

CÓ ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG MỚI THÀNH CÔNG


Một trong những nội dung quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong tác phẩm Đường Cách mệnh và Thường thức chính trị chính là về Đảng và xây dựng Đảng. Thực tế, những chỉ dẫn cụ thể của Người trong 2 tác phẩm này vẫn vẹn nguyên giá trị; không chỉ góp phần đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong.
ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 93 năm qua đã chứng minh nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(1) đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong tác phẩm Đường Cách mệnh năm 1927. Đồng thời, thực tiễn cũng đã khẳng định lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo” như Người viết trong mục 31 của tác phẩm Thường thức chính trị.
Bởi rằng, theo Người thì “cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt” và “sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm làm cái xã hội mới, ấy là rất khó (Đường Cách mệnh), cho nên, “cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng” (mục 31, Thường thức chính trị). Hơn nữa, “cách mệnh trước phải làm cho dân giác ngộ”(2)(Đường Cách mệnh). Cho nên, để tiến hành thắng lợi sự nghiệp cách mạng thì “Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi”(mục 31, Thường thức chính trị). Đồng thời, hiện thực cách mạng Việt Nam cũng cho thấy “cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo, vì: Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn. Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn” và để “cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”(3)(mục 31, Thường thức chính trị)…
Có thể nói, những tri thức phổ thông nhưng quan trọng và cần thiết này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày rất giản dị, cụ thể, rõ ràng trong Mục 31 của tác phẩm Thường thức chính trị không chỉ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu được, hiểu đúng về Đảng Cộng sản và vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn khẳng định Đảng chính là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc.
Minh chứng sinh động nhất chính là ngay từ khi mới ra đời, với đường lối, chủ trương đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định được vai trò của mình; đã lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Song, đứng trước dã tâm quay trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa của thực dân Pháp và để bảo vệ nền độc lập vừa giành được cũng như kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào, chiến sĩ cả nước lại tiếp tục cuộc trường chinh vừa kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, vừa xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội… Đó chính là thực hiện sự nghiệp vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa xây dựng, bảo vệ vừa phát triển đất nước theo con đường đã chọn.
Vì thế, để Đảng luôn giữ vững được vị thế của mình, hoàn thành được trọng trách trước Tổ quốc và nhân dân, thì trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, Cộng sản Việt Nam phải là một tổ chức của những con người ưu tú. Đó là: 1) “Đảng là bộ đội tiền tiến của nhân dân lao động (công nhân, nông dân và lao động trí óc)”; 2) “Toàn thể đảng viên phải giữ vững kỷ luật của Đảng, phải phục tùng sự lãnh đạo và chấp hành những nghị quyết của Đảng”; 3) “Đảng phải lãnh đạo tất cả những tổ chức khác của nhân dân lao động”; 4) “Đảng phải liên lạc thật chặt chẽ với quần chúng”; 5) “Đảng phải tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung”; 6) Trong Đảng, bất kỳ cấp trên hoặc cấp dưới, đảng viên cũ hoặc đảng viên mới, đều nhất định phải giữ kỷ luật của giai cấp vô sản”… Đây chính là 6 điều cơ bản, nền tảng tổ chức của Đảng để Đảng “thật mạnh mẽ, trong sạch, sáng suốt, thống nhất”(mục 32, Thường thức chính trị)(4).
Đặc biệt, không chỉ nhấn mạnh rằng “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5) và “cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(Đường Cách mệnh) mà ở trong mục 32 của tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, mỗi đảng viên đều phải nghiên cứu. Mỗi đảng viên đều phải thật thà tự phê bình và phê bình để tiến bộ mãi”; đồng thời yêu cầu “đảng viên phải toàn tâm, toàn lực phụng sự lợi ích của nhân dân, phải làm gương mẫu trong mọi công tác kháng chiến và kiến quốc”(6).
Tiếp đó, để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh rằng “Đảng kết hợp phong trào cách mạng Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng giác ngộ giai cấp công nhân rành mạch, lập trường giai cấp dứt khoát, tác phong giai cấp đúng đắn”, mà còn khẳng định: “Tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân” (mục 33, Thường thức chính trị). Để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, “Đảng có Chính cương rõ rệt: Hiện nay thì giai cấp công nhân lãnh đạo toàn dân chống đế quốc và phong kiến, để giải phóng dân tộc và thực hiện dân chủ mới. Ngày sau thì tiến đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”. Đồng thời, “Đảng có kỷ luật rất nghiêm khắc, tất cả đảng viên đều tuân theo. Tư tưởng, chính trị và tổ chức của Đảng đều phải thống nhất. Trong Đảng không thể có những phần tử lạc hậu và đầu cơ… Trong Đảng không thể có những phần tử hèn nhát, lung lay” và “Đảng phải luôn giáo dục đảng viên về lý luận cách mạng” cũng như “Đảng phải ra sức cải tạo tư tưởng” cho những đảng viên xuất thân là trí thức, tiểu tư sản, nông dân để các đồng chí ấy “thành những chiến sĩ của giai cấp công nhân”(mục 33, Thường thức chính trị)(7).
Tư tưởng và những chỉ dẫn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927) đến Thường thức chính trị (1953) đã được quán triệt, triển khai nghiêm túc, đảm bảo để Đảng luôn là một tổ chức thống nhất trong tư tưởng và hành động từ Trung ương đến địa phương, từ Ban Chấp hành Trung ương đến từng tổ chức cơ sở Đảng trên địa bàn cả nước; đảm bảo để Đảng luôn được mạnh khỏe, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với trọng trách “kép”- vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
ĐẢNG PHẢI THƯỜNG XUYÊN CHỈNH ĐỐN VÀ ĐỔI MỚI, XỨNG ĐÁNG VỚI VAI TRÒ TIỀN PHONG
Được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc của một Đảng Mácxít Lêninnít kiểu mới, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhu cầu mà còn là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên để Đảng ngày càng hoàn thiện mình. Thực tế, từ một Đảng hoạt động bí mật trở thành Đảng cầm quyền, Đảng không chỉ đứng trước những yêu cầu mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, nhất là khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) đã và đang bước vào giai đoạn chuẩn bị tổng phản công để “đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi”, mà còn phải tự chỉnh đốn và đổi mới để Đảng “mạnh khỏe, chắc chắn”, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Thời kỳ này, cùng với việc bị tinh thần và lực lượng (kinh tế, quân sự, chính trị, cán bộ,v.v..) để tổng phản công, vấn đề “coi công tác chỉnh Đảng chỉnh quân là công tác trung tâm về xây dựng Đảng và xây dựng quân đội” nhằm tăng cường sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với kháng chiến theo đúng tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa II (22-28/4/1952) đã được triển khai. Thông qua đó, “đề cao trình độ tư tưởng và ý thức chính trị của đảng viên, làm cho toàn Đảng thống nhất tư tưởng và hành động. Nâng cao tổ chức tính, kỷ luật tính, làm cho tổ chức của Đảng được trong sạch, tác phong của Đảng được đúng đắn, khiến Đảng đủ sức lãnh đạo toàn dân tiến lên giành thắng lợi cuối cùng”(😎. Thực tế, Đảng đã “truyền bá lý luận Mác - Lênin vào trong nhân dân” vì “lý luận rất quan trọng. Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm. Lý luận làm cho quần chúng giác ngộ, bày cho quần chúng tổ chức, động viên quần chúng để đấu tranh cho đúng. Nhờ lý luận mà quần chúng hiểu rõ nguyên nhân vì sao mà cực khổ, thấy rõ đường lối đấu tranh để giải phóng mình, hiểu rõ phương pháp đấu tranh với địch…) và trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn “đã kết hợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành của cách mạng Việt Nam”, “đã áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lênin mà giải quyết các vấn đề thực tế của cách mạng Việt Nam”(mục 34, Thường thức chính trị).
Song vì “Đảng có trách nhiệm vô cùng to lớn”, cho nên Đảng cần phải căn cứ vào tình hình trong nước và trên thế giới để không chỉ linh hoạt, chủ động “đề ra những khẩu hiệu, mục đích và kế hoạch đấu tranh”, mà còn phải đồng thời “quy định ở giai đoạn nào thì phải dựa vào lực lượng nào, đoàn kết lực lượng nào, cô lập và phân hóa lực lượng nào, để tiêu diệt kẻ thù của giai cấp, của nhân dân”. Điều đó cũng có nghĩa là việc đề ra “khẩu hiệu chính trị đúng, thì toàn dân thấy rõ phương hướng, nhận rõ ai là bạn, ai là thù, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng, để đánh thắng kẻ thù của cách mạng”. Tuy nhiên, cũng theo chỉ dẫn của Người thì “có khẩu hiệu chung, cũng chưa đủ, Đảng còn phải căn cứ theo lợi ích của nhân dân trong giai đoạn đó, đề ra những khẩu hiệu mới, để động viên quần chúng, để làm mục đích và vạch đường lối cho quần chúng đấu tranh; đồng thời để huấn luyện, giáo dục quần chúng” (mục 35, Thường thức chính trị). Đồng thời, để Đảng xứng đáng với vị thế của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định “xây dựng Đảng là một nhiệm vụ quan trọng”, mà Người còn nhấn mạnh nhiệm vụ của đảng viên và cán bộ là “nhất định phải làm cho quần chúng thấm nhuần tư tưởng cách mạng… Nhất định phải làm gương mẫu trong mọi công việc kháng chiến kiến quốc. Nhất định phải vào sâu trong quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho quần chúng mến Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và tự giác tự nguyện chịu Đảng lãnh đạo”(mục 35, Thường thức chính trị). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, “đảng viên và cán bộ phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu” và “phải nắm vững chính sách của Đảng và của Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng” thì “mới xứng đáng là đảng viên và cán bộ của Đảng, như thế mới lãnh đạo được quần chúng”(mục 35, Thường thức chính trị)(9).
Là một Đảng lãnh đạo, Đảng cần phải mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng. Việc hiểu rõ, hiểu đúng về Đảng, về mục đích của xây dựng và “chỉnh Đảng” chính là nhằm nâng cao tư tưởng, trình độ chính trị, đạo đức cách mạng của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ theo đúng quan điểm và lập trường vô sản. Vì thế, trong mục 36, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng Đảng, có ba mặt: tư tưởng, chính trị và tổ chức”, cho nên Đảng “phải nâng cao trình độ độ lý luận và chính trị của đảng viên. Phải tăng cường tính tổ chức và tính kỷ luật của đảng viên. Phải phát triển tính hăng hái và hoạt động chính trị của đảng viên”(mục 38). Cụ thể, “Đảng cần phải phát triển và củng cố. Cần phải phát triển thêm thành phần công nhân. Cần phải giáo dục đảng viên mới. Cần phải cải tạo tư tưởng cho đảng viên nông dân và tiểu tư sản”; trong đó, “về tư tưởng, nhất định phải học tập lý luận Mác - Lênin” vì “không phải chỉ học thuộc lòng vài bộ sách Mác - Lênin mà làm được”. Theo Người, công tác “giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng” và “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(10). Đồng thời, “mỗi đảng viên cần phải luôn luôn thực hành thật thà tự phê bình và phê bình. Đảng thì dung cách chỉnh Đảng, chỉnh huấn để giáo dục đảng viên” vì “nâng cao trình độ lý luận chính trị, cải tạo mình là một việc trường kỳ và gian khổ” (mục 37, Thường thức chính trị)
Cũng trong tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết luận: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”, cho nên” Đảng cần phải làm cho thành phần đảng viên trong sạch, phải bồi dưỡng và hấp thụ vào Đảng những người tốt trong giai cấp lao động”/phải “lựa chọn đảng viên” đúng tiêu chuẩn, vì đó là “nền tảng của tổ chức Đảng” (mục 38). Đồng thời, nguyên tắc của Đảng là toàn thể các cấp ủy các cấp, toàn thể đảng viên đều phải tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc thống nhất - Đó chính là “dân chủ tập trung”- là “tập trung trên nền tảng dân chủ” và “dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung” và “để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật” (mục 42)(11). Điều đó cũng có nghĩa là, để đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công, thì Đảng không chỉ phải “có kỷ luật rất nghiêm. Kiên quyết chống những hiện tượng phớt kỷ luật, phớt tổ chức”, mà còn luôn “phải giữ vững chế độ dân chủ tập trung. Phải luôn luôn chỉnh đốn tổ chức, loại bỏ những phần tử xấu ra khỏi Đảng. Phải bồi dưỡng, lựa chọn và dùng cán bộ một cách đúng đắn”…
Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ cần: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể” như yêu cầu trong tác phẩm Đường Cách mệnh, mà còn phải thực hiện “kỷ luật nghiêm khắc, thật thà tự phê bình và phê bình”; đồng thời “liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối. Chống bộp chộp, nóng nảy, quan liêu, mệnh lệnh” như Người chỉ rõ tại mục 37(12) và phải “ra sức phụng sự nhân dân, củng cố mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, kịp thời cho Đảng biết những nhu cầu của nhân dân, giải thích cho nhân dân thấm nhuần và thực hiện chính sách của Đảng” (mục 40, Thường thức chính trị)(13) để được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, đi theo, góp ý kiến...
Tư tưởng và những chỉ dẫn trong tác phẩm Đường Cách mệnh và Thường thức chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những điều căn cốt về Đảng, về vai trò lãnh đạo của Đảng và xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Thực hiện theo đúng những chỉ dẫn của Người, Đảng Cộng sản đã không chỉ chú trọng xây dựng Đảng về mọi mặt mà còn thường xuyên chỉnh đốn để “sữa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Quyết tâm vượt khó khăn gian khổ, làm tròn nhiệm vụ” để xứng đáng là một Đảng cách mạng chân chính, “là đạo đức, là văn minh”; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội như đã hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013./.

ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ


Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là đặc điểm cơ bản nhất, thể hiện bản chất của chế độ ta, của hệ thống chính trị nước ta, là cơ chế vận hành của xã hội ta.
Mối quan hệ này được xuất phát từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Đảng lãnh đạo - cái gốc thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) dành nhiều thời gian tìm hiểu về các cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới là cách mạng Mỹ (1776) với bản “Tuyên ngôn Độc lập”, ly khai khỏi nước Anh và cách mạng tư sản Pháp (1789) với bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền”. Người khâm phục tinh thần của các cuộc cách mạng này, nhưng không thể đi theo những con đường đó. Bởi vì, theo Người: “Cách mệnh Mỹ cũng như cách mệnh Pháp là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Theo Người, tại Pháp và Mỹ thời điểm đó, “cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”. Như vậy, những người dân đứng lên, hy sinh xương máu làm các cuộc cách mạng do giai cấp tư sản lãnh đạo, đã bị phản bội.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Bản Luận cương như luồng ánh sáng, đem đến cho Người một nhãn quan chính trị mới. Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Từ đó, Người xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” xuất bản năm 1927, Người khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Vấn đề được Người quan tâm hàng đầu về mặt tổ chức là sớm lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với vai trò tích cực của Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về mặt tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức. Sự ra đời của Đảng là kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ 20, là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Về bản chất của Đảng ta, tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam (tên Đảng ta thời điểm đó-PV) là Đảng của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo cách mạng trong điều kiện đã có chính quyền. Đảng ta cầm quyền, nhưng Đảng không thay đổi bản chất, không thay đổi mục đích lý tưởng của mình. Đảng cầm quyền để mang lại lợi ích cho dân tộc, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, mục đích, tôn chỉ của Đảng là “tận tâm”, “tận lực”, “phụng sự” và “trung thành với lợi ích của dân tộc Việt Nam”.
Do đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, Đảng phải lấy “dân làm gốc”. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân". Tuy nhiên, cũng theo Người, dân chỉ có thể làm chủ thực sự khi có sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi người dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh là để bảo đảm quyền làm chủ thực sự của mình.
Tất cả thành tựu của đất nước suốt từ khi Đảng thành lập cho tới nay đã cho thấy rõ, vai trò lãnh đạo của Đảng ta luôn quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tới công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới. Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, Đảng luôn nắm bắt, lắng nghe mọi nguyện vọng, ý kiến, đề xuất chính đáng của quần chúng Nhân dân, từ đó đề ra những nghị quyết, chủ trương, đường lối, dẫn dắt dân tộc, dẫn dắt đất nước và Nhân dân đi tới thắng lợi. Chính vì Đảng luôn vì dân, dân tin yêu Đảng nên Việt Nam luôn được quốc tế ngưỡng mộ vì có một môi trường chính trị ổn định, an ninh, an toàn, là tiền đề rất thuận lợi cho phát triển.
Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”, tổng kết ấy của V.I.Lênin đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đảng viên khắc cốt, ghi tâm từ những ngày đầu giành chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai. Do đó, sau khi cách mạng thành công, phải thiết lập được chính quyền nhà nước của đại bộ phận Nhân dân trong xã hội. Bởi theo Người, “nước lấy dân làm gốc… gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”. Nhà nước vì dân là Nhà nước coi việc đem lại quyền lợi chính đáng cho Nhân dân là mục tiêu hoạt động của mình. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải hướng tới phục vụ Nhân dân. Một Nhà nước vì dân, theo Người đơn giản là: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Một Nhà nước vì dân phải là một Nhà nước trong sạch, luôn chống lại những tiêu cực từ trong bộ máy của Nhà nước ấy.
Khi Đảng ta là Đảng cầm quyền thì việc thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước là thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước, Đảng lãnh đạo hoạt động mọi mặt của đất nước, của xã hội. Nhà nước trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có uy tín với Nhân dân, đất nước ổn định, phát triển thì Đảng có uy tín với Nhân dân, duy trì, củng cố được vai trò, vị trí cầm quyền của mình.
Đảng lựa chọn, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, đạo đức và năng lực vào trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền theo đúng quy trình, thủ tục và pháp luật của Nhà nước. Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, liên hệ mật thiết với Nhân dân và luôn chịu sự giám sát của Nhân dân. Là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân về độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, về sự phát triển của đất nước, về hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Tựu trung tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân và có tính chất của một Nhà nước pháp quyền, thể hiện ở những điểm sau: Một là, Nhà nước do dân làm chủ trên thực tế. Hai là, tất cả quyền lực nhà nước phải thuộc về Nhân dân, tuyệt đối không để cho các quyền đó nằm trong tay một nhóm cá nhân độc quyền và lũng đoạn. Ba là, để thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, những người làm việc trong bộ máy nhà nước phải luôn luôn ý thức được họ vừa là người lãnh đạo, đồng thời là đầy tớ của Nhân dân, lãnh đạo bằng tài năng, trí tuệ, bằng tấm gương, phong cách làm việc “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, chứ không phải là “ông quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, công chức phải thương yêu dân, dựa vào dân, gần gũi dân, lắng nghe học hỏi dân, tin tưởng dân. Bốn là, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tính Nhân dân và bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước XHCN Việt Nam là thống nhất tạo nên bản sắc riêng của Nhà nước XHCN Việt Nam.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đều phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân… Nhân dân không những là người bầu ra mà còn là người kiểm soát Nhà nước. Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm. Nhân dân còn là người có quyền bãi miễn không chỉ quan chức các cấp của Nhà nước mà còn có quyền bãi miễn toàn thể Chính phủ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.
Nhân dân làm chủ đất nước - quyền lợi và nghĩa vụ
63 năm trước đây, ngày 16-9-1961, Bác Hồ về thăm và nói chuyện với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, Bác dạy: "Nghĩa Dân là dân có nghĩa, phải tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm tốt để làm gương cho các xã khác".
Nhân dân, con người trong tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể. Đó là người nông dân, người công nhân, nhà trí thức, các chiến sĩ bộ đội, công an, các cháu thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài... Theo Người, Nhân dân bao gồm mọi tầng lớp người trong xã hội cùng có chung một vận mệnh, một cuộc sống, một tương lai, tiền đồ, một truyền thống lịch sử, một nền văn minh, văn hóa. Khi đất nước có ngoại xâm, Nhân dân có chung một kẻ thù, một nhiệm vụ là cùng đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Khi hòa bình xây dựng đất nước, Nhân dân có chung một nhiệm vụ kiến quốc bảo vệ xây dựng giang sơn gấm vóc ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng, nhưng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân đông đảo. Người nhắc nhở, công tác dân vận của Đảng phải tìm mọi cách giải thích cho từng người dân hiểu rõ, việc mình làm là vì lợi ích của chính họ, nên họ phải hăng hái làm cho kỳ được. Người cũng chỉ rõ làm bất cứ việc gì cũng phải bàn với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành. Đảng phải lãnh đạo để Nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ. Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạnh của Nhân dân. Nhân dân mới chính là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ thể của lịch sử, là người làm nên lịch sử. Theo Người, cá nhân dù có tài giỏi mấy cũng không thay thế được Nhân dân. Trong những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng về sức mạnh của Nhân dân là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn rất quan trọng, lâu dài.
Thực hiện theo tư tưởng của Người trong suốt các giai đoạn lịch sử của cách mạng nước ta, Nhân dân luôn được đặt ở vị trí là chủ của đất nước. Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định điều này: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Trước tác động của bối cảnh hiện nay, cần có sự đổi mới, tiếp tục hoàn thiện mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, trước hết thể hiện ở mấy khía cạnh như:
Một là, tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới theo định hướng tạo lập điều kiện và môi trường thuận lợi hơn để bộ máy nhà nước năng động, sáng tạo, làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không dựa dẫm, ỷ lại. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm soát quyền lực nhà nước để kịp thời phòng, chống sự thao túng quyền lực của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng.
Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân thực sự là một Nhà nước dân chủ, pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Tiếp tục nâng cao nhận thức, thực hiện đúng đắn nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước nhằm hình thành một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng một Quốc hội mạnh và thực quyền về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; một Chính phủ năng động, liêm chính, kiến tạo, hành động vì người dân và doanh nghiệp, quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả; một nền tư pháp vì công lý, vì quyền con người, quyền công dân.
Ba là, Đảng và Nhà nước phải thực sự tạo điều kiện và môi trường để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật cởi mở, thân thiện, dễ dàng. Trong đó sớm xây dựng và hoàn thiện các đạo luật về các quyền làm chủ trực tiếp của công dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội nâng cao nhận thức, thực hiện mạnh mẽ, thực chất chức năng giám sát và phản biện xã hội, coi đó là phương tiện của những tổ chức đại diện Nhân dân kiểm soát trước và sau đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Bốn là, tiếp tục tuyên truyền để Nhân dân hiểu về đường lối, chủ trương của Đảng, hiểu về vai trò làm chủ của Nhân dân đối với các công việc của đất nước, từ đó chủ động, tự giác tham gia, đóng góp vào công việc chung./.

CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC, GIẢI PHÓNG DÂN TỘC ĐỘC LẬP, TỰ CƯỜNG VÀ SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH Ngày lãnh tụ Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, là dịp để chúng ta tôn vinh nhữ

Những cống hiến vĩ đại của Người. Con đường cứu nước, giải phóng dân tộc độc lập, tự cường, sáng tạo Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua đã giành được những thành tựu to lớn, là minh chứng khẳng định đi theo con đường mà Người đã lựa chọn, dân tộc Việt Nam sánh vai vẻ vang với cường quốc năm châu.

1. Trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan, cả dân tộc bị dìm trong máu lửa, tình hình đen tối như không có đường ra. Với ý chí, hoài bão lớn lao và tư duy mới, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, đã rời đất nước ra nước ngoài (phương Tây) đi tìm con đường cứu nước phù hợp, đúng đắn “xem người ta làm thế nào để rồi trở về giúp đồng bào mình”. Người đi tìm một con đường đúng đắn chứ không đi cầu ngoại viện. Điều đó đã thể hiện ý chí tự lực, tự cường và một khát vọng lớn, tầm nhìn thời đại. Sau khi đi qua nhiều nước, nhiều châu lục, đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp (thành viên của Quốc tế II), tìm hiểu về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga. Ngày 18-6-1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới Nguyễn Ái Quốc gửi Bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Verssailles (Vecxây) đòi những quyền dân tộc tự quyết. Sự kiện đó tạo ra tiếng vang lớn cho Việt Nam và Đông Dương, thức tỉnh cả dân tộc về quyền sống của mình. Ý chí tự lực, tự cường và khát vọng về quyền sống chân chính của dân tộc mình được bồi đắp trong tư tưởng và sự nghiệp đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc và lan tỏa trong mọi người Việt Nam yêu nước.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc toàn văn tác phẩm Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin và nhận thấy tác phẩm “là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Điều này đã làm chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở lý luận cách mạng, khoa học đó con đường cứu nước đúng đắn, gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người của chủ nghĩa cộng sản.
Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không ngoài mục tiêu nào khác - là giành độc lập cho dân tộc gắn liền tất yếu với thực hiện quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc của đồng bào. Cuối tháng 12-1920, tại Đại hội XVIII của Đảng Xã hội Pháp (Thành phố Tours), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành quan điểm của V.I.Lênin, đường lối của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Trả lời câu hỏi của một đồng chí Pháp, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu”. Trong những năm hoạt động ở Pháp (1917-1923), Nguyễn Ái Quốc đã kiên quyết phản đối sự cai trị thực dân của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương, quyết tâm đòi quyền độc lập. Trong lần gặp ông Xarô tháng 6-1922, Nguyễn Ái Quốc nói rõ: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”. Trước đó (2-1921), Nguyễn Ái Quốc nói với Bộ trưởng Thuộc địa Pháp: “Nếu nước Pháp trả lại nền độc lập cho chúng tôi, ông sẽ thấy là chúng tôi biết cầm quyền cai trị lấy”.
Ý chí tự lực, tự cường, quyết tâm đấu tranh vì nền độc lập và phát triển đất nước của Nguyễn Ái Quốc là kiên quyết, kiên cường, không thế lực cường quyền nào có thể đe dọa và dập tắt.
2. Tự lực, tự cường của Nguyễn Ái Quốc là không phụ thuộc vào người khác, vào lực lượng bên ngoài, có quan điểm độc lập về những vấn đề quan hệ quốc tế. Hầu hết các Đảng Cộng sản ở Châu Âu tức ở các nước tư bản chủ nghĩa đi chiếm các thuộc địa, đều có quan điểm là cách mạng ở các thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng ở các nước tư bản (chính quốc), cách mạng ở các thuộc địa không thể thắng lợi khi cách mạng vô sản ở chính quốc chưa thắng lợi. Nguyễn Ái Quốc không tán thành quan điểm đó. Người cho rằng, với ý chí đấu tranh và khát vọng độc lập, tự do, cách mạng ở các nước thuộc địa (trong đó có Việt Nam) hoàn toàn có thể chủ động giành thắng lợi, không phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc có thắng lợi hay không. Chẳng những cách mạng ở thuộc địa có thể thắng lợi mà còn giúp đỡ giai cấp vô sản ở chính quốc trong sự nghiệp đấu tranh. Tháng 5-1921, tại Paris, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.
Với tư duy mới và sự nhìn nhận thực tế, Nguyễn Ái Quốc đặt vấn đề, chế độ cộng sản có thể áp dụng được ở Châu Á nói chung và Đông Dương nói riêng không, ngay từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”. Tư duy khoa học và sự phân tích sâu sắc thực tiễn lịch sử, Nguyễn Ái Quốc luôn nuôi dưỡng ý chí đấu tranh và phát triển đất nước theo con đường mới - con đường xã hội chủ nghĩa. Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp sang Liên Xô tiếp tục sự nghiệp đấu tranh cách mạng theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản cũng với những nhận thức mới mẻ của bản thân mình. Nguyễn Ái Quốc đã có thư gửi lại các bạn cùng hoạt động ở Pháp, nêu rõ quyết tâm, ý chí và phương pháp đấu tranh để giải phóng dân tộc mình khỏi ách cai trị thực dân: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”.
3. Khẳng định ý chí độc lập, tự cường, nhưng Nguyễn Ái Quốc luôn nhận rõ mối quan hệ mật thiết, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng của các dân tộc thuộc địa. Người coi hai cuộc cách mạng đó như hai cánh của con chim. Cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa cần thiết do một Đảng cách mạng chân chính - Đảng Cộng sản lãnh đạo theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin hoàn toàn có thể chuyển hóa, phát triển theo con đường cách mạng vô sản. Điều đó bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc hoàn toàn và triệt để, đồng thời đi tới giải phóng xã hội, giải phóng con người. Tư tưởng đó là nhất quán trong Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và mang giá trị biện chứng trong sự vận động xã hội của thời kỳ mới. Khi hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc thường xuyên đề nghị Quốc tế Cộng sản đặt đúng vị trí, vai trò của cách mạng thuộc địa. Quốc tế cộng sản cần tích cực giúp đỡ cách mạng thuộc địa về lý luận và phương pháp đấu tranh, đào tạo cán bộ cho các dân tộc thuộc địa. Phát biểu tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản trong phiên họp ngày 1-7-1924, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn phê phán các Đảng Cộng sản ở các nước Châu Âu mà giai cấp tư sản ở đây chiếm giữ thuộc địa, đã làm rất ít để giúp đỡ cho phong trào cách mạng ở các thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc cho rằng V.I.Lênin là người quan tâm đầy đủ và luôn luôn cổ vũ, hướng dẫn phong trào cách mạng thuộc địa phát triển đúng đắn: “Theo Lênin, cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc, như Lênin đã dạy chúng ta, chỉ là một bộ phận của vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản”.
Ý chí tự lực, tự cường trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc có điều đặc biệt là phải đánh giá và thấy rõ sức mạnh của tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc chân chính của người Việt Nam. Từ người yêu nước nhiệt thành, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản kiên trung, từ người đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc mình trở thành chiến sĩ quốc tế tiêu biểu. Ở Nguyễn Ái Quốc là sự hòa quyện, thống nhất giữa lập trường giai cấp với lập trường dân tộc, giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Hoạt động quốc tế sôi nổi khi Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp (1919) và tiếp đó là Đảng Cộng sản Pháp (1920). Tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc cùng với các nhà hoạt động cách mạng các nước Angiêri, Marốc, Tuynidi, Mađagatxca… thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa (4-10-1921) và xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ). Khi hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc càng thấm nhuần sâu sắc và thấy rõ vai trò, bản chất của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế Cộng sản giao nhiệm vụ tới Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người thực hiện cả hai trách nhiệm dân tộc và quốc tế. Với cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đào tạo cán bộ, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức phong trào cách mạng, chuẩn bị những điều kiện để thành lập Đảng cách mạng, xuất bản báo Thanh niên (21-6-1925). Về trách nhiệm quốc tế, Nguyễn Ái Quốc liên lạc với các nhà cách mạng ở Châu Á: Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Xiêm (Thái Lan), Inđônêxia, Miến Điện,… và tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức (9-7-1925).
Nhận thức của Nguyễn Ái Quốc về ý chí tự lực, tự cường đòi hỏi phải phát triển sức mạnh của toàn dân tộc và kết hợp với sự đoàn kết và ủng hộ quốc tế. Trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927), Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh “cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải của một hai người”. Ý chí của người dẫn đường phải trở thành ý chí của toàn dân. Phải có sách, báo để tuyên truyền, giác ngộ mọi người. Cuốn sách Đường Kách mệnh: “chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh. Cách mạng Việt Nam phát triển trong xu thế phát triển chung của cách mạng thế giới, do vậy Quốc tế Cộng sản, giai cấp vô sản các nước và các dân tộc thuộc địa trên khắp thế giới sẽ hết lòng giúp cho. “Nhưng muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã. Mùa Xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Cương lĩnh ngắn gọn, rõ ràng và thể hiện rõ tinh thần độc lập, tự chủ, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, được Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc thực dân và chế độ phong kiến đã suy tàn, để cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời; dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai cuộc kháng chiến thắng lợi, đất nước thống nhất, nhân dân Bắc - Nam sum họp một nhà. Đó là thành quả của cuộc đấu tranh kiên cường của cả dân tộc Việt Nam, là thành quả của ý chí tự lực, tự cường, khát vọng độc lập, tự do, phát triển đất nước mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nêu cao và được cả dân tộc nhận thức và hành động. Ý chí tự lực tự cường, khát vọng độc lập, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân được Hồ Chí Minh giáo dục sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã mang lại độc lập cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, thỏa niềm khát khao, ước nguyện cả cuộc đời của Bác Hồ./.